Loài Tinh Tinh Thứ Ba

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 90 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nhìn Nhận, Đối Thoại Và Hơn Thế Nữa… Về Tác Giả

❊ ❊ ❊

Jared Diamond - từ một cậu bé say mê quan sát chim muông đến một nhà Sinh địa lý nổi tiếng

Image

“Cũng giống như hầu hết những đứa trẻ khác, khi dần trưởng thành, có rất nhiều thứ làm tôi say mê hơn những gì một người lớn có thể theo đuổi cho công việc chuyên môn của mình.”

Rõ ràng là, việc viết Loài tinh tinh thứ ba đã đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc đời của tôi: một sự chuyển biến từ việc viết những bài báo mang tính chất chuyên môn về một lĩnh vực hẹp, chỉ hướng tới một lượng độc giả nhỏ là các nhà nghiên cứu hàn lâm, đến việc viết những cuốn sách về những chủ đề lớn, hướng tới cả đối tượng chuyên gia và đông đảo công chúng.

Cũng giống như hầu hết những đứa trẻ khác, khi dần trưởng thành, có rất nhiều thứ làm tôi say mê hơn những gì một người lớn có thể theo đuổi cho công việc chuyên môn của mình. Chiến tranh thế giới thứ II diễn ra ác liệt trong suốt những năm tháng ấu thơ cho đến khi tôi lên tám. Trong thời gian này, có hai tấm bản đồ, một của châu Âu và một của Thái Bình Dương được gắn trên tường trong phòng ngủ của tôi. Hằng ngày cha tôi dịch chuyển những chiếc đinh ghim trên hai tấm bản đồ đó để đánh dấu những thay đổi ở mặt trận châu Âu trong cuộc chiến chống lại quân Đức và ở mặt trận Thái Bình Dương chống lại quân Nhật, được đăng tải trên các nhật báo. Điều đó đã nhen nhóm trong tôi niềm đam mê với địa lý và lịch sử, niềm đam mê mà sau đó lại được khơi dậy qua quãng thời gian sống ở châu Âu từ năm 1958 đến năm 1962, cùng những người bạn châu Âu, những người mà cuộc sống của họ đã bị ảnh hưởng theo nhiều hướng khác nhau bởi những biến cố của chiến tranh tương ứng với những thay đổi được đánh dấu trên những tấm bản đồ của tôi tùy thuộc vào họ là người Anh hay người Đức, người Nga hay người Nam Tư.

Nhưng đồng thời như mọi đứa trẻ khác, tôi bắt đầu say mê quan sát chim, dấu chân tôi đã in khắp các cánh rừng thông miền Bắc New England, nơi tôi đã quan sát chim muông suốt những mùa hè ấu thơ, và từ đó cảm nhận rằng tôi sẽ có một công việc ít nhiều liên quan đến Sinh học. Tôi cũng say mê ngắm nhìn các vì sao, làm quen với kính viễn vọng và thậm chí đã tham gia một khóa huấn luyện ngắn hạn về thiên văn học trong năm đầu đại học. Những tố chất từ mẹ tôi, một nhà ngôn ngữ học và một giáo viên dạy ngữ pháp, kết hợp với những khóa học tiếng Latin và Hy Lạp tuyệt vời ở trường trung học và một mùa hè làm công việc rửa chai lọ trong một phòng thí nghiệm mà những người làm cùng là người tị nạn Latvia nói tiếng Đức và Nga, đã gợi lên niềm đam mê suốt cuộc đời trong việc học tập ngôn ngữ. Cho đến khi tốt nghiệp đại học, tôi đã học được bảy ngôn ngữ, và cho đến bây giờ (47 năm sau đó) tôi đang học ngôn ngữ thứ 12. Đồng thời tài năng của một nghệ sĩ dương cầm của mẹ đã mang lại cho tôi một niềm đam mê với âm nhạc cổ điển. Khi tôi nhận tấm bằng Tiến sỹ Sinh lý học thực nghiệm vào năm 1962, tất cả những niềm say mê đó và còn nhiều thứ khác nữa vẫn tiếp tục thu hút tôi.

Nhưng sau đó, một sự thật khắc nghiệt đã xảy đến với tôi. Trong thời gian làm công việc chuyên môn đầu tiên là một nhà nghiên cứu sinh lý học, những tấm gương của những nhà khoa học xung quanh tôi đã cho tôi thấy rõ rằng tôi chỉ có thể cống hiến toàn bộ sức lực của mình cho một mảnh nhỏ trong vô vàn những mảng ghép của cuộc đời - mà trong trường hợp của tôi, đó là cống hiến cho chuyên ngành sinh lý học nghiên cứu về vận chuyển dòng chất lỏng qua túi mật. Khi tôi có lẽ sẽ sớm trở thành chuyên gia hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này thì tôi lại không thể chịu đựng nổi việc phải từ bỏ tất cả những sở thích mà tôi từng say mê ngay cả tới lúc ấy. Tôi loay hoay tìm ra một công việc thứ hai song song bằng cách tìm hiểu nghệ thuật gốm của người Peru và âm nhạc theo trường phái Baroque, cho đến khi buộc phải nhận ra rằng tôi thiếu những phẩm chất cần thiết để theo đuổi chúng một cách chuyên nghiệp. Phải đến năm 1964, tôi mới khám phá ra rằng việc nghiên cứu chim ở New Guinea thực sự trở thành một công việc thứ hai hết sức thú vị.

Cơ hội tình cờ khi viết một bài báo cho một tạp chí nổi tiếng vào năm 1976 đã mang lại cho tôi những lời mời viết cho nhiều tạp chí hơn, về những chủ đề rộng hơn ngoài túi mật và chim ở New Guinea: núi lửa, giới tính, xe chở có bánh, những dân tộc thiểu số và các chủ đề khác nữa. Mặc dù những bài báo này cho tôi lý do để sử dụng thời gian khám phá lại những sở thích từ thời ấu thơ, nhưng tôi vẫn chủ yếu dành thời gian viết về túi mật và chim ở New Guinea cho một số ít chuyên gia quan tâm đến những lĩnh vực này.

Sau đó, vào năm 1985, có một cú điện thoại đã thay đổi cuộc đời tôi. Giám đốc chương trình học bổng của quỹ MacArthur đã gọi điện thông báo rằng tôi vừa mới được nhận học bổng MacArthur trị giá 45.000 đô la một năm trong vòng năm năm, mà không hề có sự ràng buộc nào. Học bổng được trao cho tôi và 24 người khác dựa trên tiêu chí rằng chúng tôi có những tiềm năng đặc biệt để cống hiến cho thế giới, và năm năm hoàn toàn thoải mái ấy có lẽ sẽ khích lệ và cho phép chúng tôi cống hiên hiệu quả hơn.

Thay vì phấn khởi bởi cơ may không trông đợi này, lần đầu tiên trong cuộc đời tôi tự cảm thẫy bị ức chế. Tôi đã mất một tuần để tìm ra nguyên nhân. Học bổng như một lời tuyên bố: Jared, những người ở quỹ MacArthur cho rằng anh có thể đóng góp nhiều cho thế giới hơn là chỉ hiểu biết về túi mật và các loài chim ở New Guinea; anh đã sống chưa tương xứng với những tiềm năng mà anh có; vậy anh dự định sẽ làm gì đây?

Câu trả lời cho bản thân tôi từ từ được hé mở, khích lệ bởi một cú điện thoại khác, lần này từ một người bạn là nhà khoa học, một người đã quyết định dành toàn bộ thời gian cho việc viết cho công chúng. Tôi nhận ra rằng tôi không phải từ bỏ túi mật, chim ở New Guinea, hay việc dạy học của tôi ở trường mà vẫn có thể dành nhiều tâm trí hơn cho việc viết cho công chúng. Những bài báo mà tôi đã viết giữa những năm 1976 và 1985, và phản ứng của độc giả về những bài báo đó đã thuyết phục tôi rằng tôi thực sự có hứng thú với công việc này và công chúng cũng thích những bài viết của tôi. Tôi có thể cống hiến nhiều cho thế giới bằng cách thu thập và giải thích những thông tin chắt lọc từ địa lý, lịch sử, khoa học, ngôn ngữ và âm nhạc hơn là chỉ bằng những khám phá về túi mật và các loài chim ở New Guinea.

Nhưng những nền tảng tri thức và những nghiên cứu vẫn đang tiếp diễn của tôi về túi mật và loài chim ở New Guinea không hề vô ích, bởi vì chúng giúp tôi có một cách nhìn khoa học và phần lớn nền tảng kỹ năng cho việc tổng hợp địa lý và những chủ đề khác. Để thành công, một cuốn sách về khoa học dành cho công chúng phải làm hài lòng hai đối tượng độc giả. Trước hết, nó phải hấp dẫn và dễ hiểu đối với độc giả phổ thông; những sở thích từ thuở ấu thơ của tôi, những ảnh hưởng của mẹ tôi và quá trình đào tạo viết lách ở trường học đã trang bị cho tôi đủ kỹ năng để đáp ứng đối tượng độc giả đầu tiên đó. Thứ hai, cuốn sách phải vượt qua những phê bình nghiêm khắc có tính chuyên môn của những nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực có liên quan đến cuốn sách. Con đường duy nhất mà tôi có thể hy vọng làm thỏa mãn đối tượng độc giả thứ hai này là bằng cách thảo luận có chiều sâu với những chuyên gia đó và yêu cầu họ đọc và chỉnh sửa những bản thảo cho mình. Thông qua việc viết báo, tôi đã phát hiện ra rằng, phần lớn những nhà khoa học tôi yêu cầu giúp đỡ để hiểu về công việc chuyên môn của họ đều sẵn lòng giúp đỡ và phấn khởi chia sẻ với một ai đó niềm say mê nghề nghiệp của bản thân. Họ tỏ ra hào phóng chia sẻ thời gian và kiến thức với tôi.

Tôi bắt đầu viết Loài tinh tinh thứ ba trong suốt thời gian tôi được nhận học bổng MacArthur và đã hoàn thành bản thảo trước khi học bổng kết thúc vào năm 1990, rồi xuất bản cuốn sách vào năm 1992. Cuốn sách viết về những gì đã gây ấn tượng cho tôi như một câu hỏi lớn nhất và thu hút nhất trong khoa học và lịch sử, câu hỏi đã gợi lên những đam mê bao quát nhất trong tôi: con người đã tiến hóa như thế nào từ chỗ chỉ là một loài thú cỡ lớn cho đến khi có khả năng sử dụng ngôn ngữ và âm nhạc, trở nên hiểu biết về lịch sử, địa lý, những loài chim và cả các vì sao. Kể từ năm 1992, tôi đã tiếp tục viết ba cuốn sách về các chủ đề lớn khác (sự phát triển của văn minh, giới tính và sự sụp đổ của các xã hội) và gần đây vừa bắt đầu viết quyển sách thứ tư. Trong khi tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu về các loài chim ở New Guinea, tôi đã kết thúc việc nghiên cứu ở phòng thí nghiệm về sinh lý túi mật vào năm 2002 và hiện nay đang dạy địa lý và lịch sử môi trường cho sinh viên thuộc khối đại học UCLA. Tuy nhiên, tôi không hề tiếc những thập niên nghiên cứu về sinh lý túi mật bởi qua đó tôi đã học cách suy nghĩ một cách khoa học, bao gồm cả những cách thức nghiên cứu như thế nào trong lĩnh vực địa lý và lịch sử môi trường. Khi tôi bắt đầu học chương trình sau đại học về lĩnh vực sinh lý học vào năm 1958, nếu tôi có khả năng tiên đoán rằng tôi sẽ trở thành một nhà địa lý và lịch sử môi trường chuyên viết cho công chúng, có lẽ tôi sẽ không thể hiểu nổi việc đào tạo về sinh lý học có giá trị như thế nào trong việc chuẩn bị cho những nghề nghiệp đó.

Nhìn nhận Loài tinh tinh thứ ba trong mối tương quan với những Khám phá mới

Những kết luận trong cuốn sách của tôi có giá trị như thế nào nếu nó được xuất bản từ 14 năm trước đây? Dĩ nhiên đó là những khám phá mới và được tiếp tục tích lũy. Tôi sẽ thảo luận về những khám phá trong bốn lĩnh vực: nguồn gốc loài người, tình dục, sự phát sinh và sụp đổ của nền văn minh.

NGUỒN GỐC LOÀI NGƯỜI

Những thông tin từ năm 1992, chủ yếu dựa trên sự khác biệt về cấp độ phân tử giữa protein và ADN của người và những loài vượn người cỡ lớn, gợi mở cho chúng ta rằng tổ tiên của loài người đã tiến hóa từ tổ tiên của những loài vượn khác ở châu Phi vào khoảng 6.000.000 đến 8.000.000 năm trước đây. Tất cả các bằng chứng sinh học phân tử có được từ năm 1992 đều ủng hộ kết luận đó. Tuy vậy, hiện nay chúng ta đã có thêm những bằng chứng khác cho cùng kết luận này dựa trên những khám phá gần đây về xương hóa thạch của người tiền sử và vượn tiền sử sống gần thời gian phân hóa đó.

Sau khi nhánh loài người bắt đầu phân hóa từ nhánh tinh tinh ở châu Phi, người tiền sử đã phân tán ra khắp châu Âu và châu Á vào khoảng 2.000.000 năm trước đây. (Hiện nay chúng ta biết rằng sự phân tán này xảy ra ở khoảng thời gian sớm hơn so với thời điểm ước đoán là 1.000.000 năm như tôi đã đề cập đến vào năm 1992.) Cuối cùng, những người tiền sử đó đã tiến hóa thành hay bị thay thể bởi người hiện đại như chúng ta ngày nay. Vậy “Bước Nhảy vọt Vĩ đại” đó liên quan tới điều gì và nó đã xảy ra ở đâu? Vào năm 1992, tôi dự đoán rằng nó liên quan đến sự phát triển khả năng của loài người để có được ngôn ngữ hiện đại trên nền tảng của ngữ pháp, trong khi những nhà khoa học khác thì cho rằng những thay đổi trong cấu trúc bộ não mới quan trọng, và cho đến giờ chúng ta vẫn không biết câu trả lời nào là đúng.

“Khám phá vô cùng kinh ngạc gần đây về sự tiến hóa của loài người mới chỉ được công bố vào năm ngoái: về cuộc khai quật xương hóa thạch của người tiền sử cỡ nhỏ trên hòn đảo Flores ở Indonesia.”

Còn về vấn đề “Bước Nhảy vọt Vĩ đại” đã xảy ra ở đâu, những khám phá từ năm 1992 ngày càng ủng hộ câu trả lời liên quan đến châu Phi mà tôi đã giải thích trong cuốn sách của mình. Đặc biệt, một bước tiến quan trọng gần đây đó là sự tách chiết và giải trình tự ADN của người Neanderthal và người sống ở thời kỳ Băng hà. Những người này đã sinh sống ở châu Âu và Tây Á trong khoảng vài trăm nghìn năm cho đến 30.000 năm trước đây. Họ đã từng được mô tả như “những người tối cổ sống trong hang động” thô lỗ tinh khôn. Trong khi những người Neanderthal có thể không hề thô lỗ như họ thường được mô tả, thì ADN của họ lại tỏ ra rất khác biệt so với ADN của người hiện đại và không gần gũi hơn về mặt ADN với người châu Âu hiện đại so với những nhóm người hiện đại khác. Điều đó cho thấy rằng người Neanderthan ở châu Âu đã không tiến hóa thành người châu Âu hiện đại mà đã bị thay thế bởi người hiện đại đến từ một nơi khác (có lẽ là từ châu Phi) và hầu như có rất ít sự lai tạp. Còn đối với câu hỏi tương tự về người châu Á thời kỳ Băng hà, chúng ta vẫn chưa biết họ đã bị thay thế hay lai tạp tới mức độ nào với người hiện đại có nguồn gốc từ châu Phi.

Khám phá đáng kinh ngạc gần đây về sự tiến hóa của loài người mới chỉ được công bố vào năm ngoái: đó là việc khai quật xương hóa thạch của người tiền sử cỡ nhỏ trên hòn đảo Flores ở Indonesia, gần cực đông của chuỗi đảo trải rộng từ bán đảo Mã Lai đi qua quần đảo Java và Bali trải rộng cho đến tận châu Úc. Flores rất nổi tiếng với các nhà sinh học vì đây là nơi cư ngụ của loài thằn lằn lớn nhất thế giới (Komodo), và trước đây còn có một loài voi lùn. Hiện nay, người ta đã phát hiện ra rằng mới gần đây thôi, Flores còn là nơi cư ngụ của những người cỡ nhỏ hiếm khi cao hơn 90 cm, với kích thước bộ não chỉ bằng một phần tư so với người hiện đại chúng ta và bằng kích thước bộ não của tinh tinh. Những nhà khám phá đồng tình rằng những người tí hon đó có quan hệ gần gũi với Homo erectus (tổ tiên của người tiền sử, những người được cho là đã bị thay thế bởi Homo sapien hàng trăm nghìn năm trước đây), hơn là với giống người tinh khôn (Homosapien), và đã từng tồn tại trong khoảng hàng chục nghìn năm sau sự xuất hiện của Homo sapien ở Indonesia. Tất cả những công bố này hiện đang là chủ đề tranh cãi sôi nổi; một số nhà khoa học nghĩ rằng những bằng chứng hóa thạch thậm chí có thể chỉ là của những người hiện đại bị lùn một cách bất thường hơn là của một loài người tiền sử riêng biệt. Cá nhân tôi thì cho rằng những hóa thạch đó thực sự là của những người tiền sử, những người giống như loài voi, đã tiến hóa thành dạng cơ thể lùn khi di chuyển tới đảo Flores, và sau đó nhanh chóng bị tiêu diệt bởi những người hiện đại di cư tới (mặc dù có những tuyên bố rằng họ đã cùng nhau tồn tại qua hàng chục nghìn năm, điều mà tôi rất nghi ngờ). Nhưng chúng ta sẽ phải xem những khám phá tiếp theo sẽ cho chúng ta biết điều gì. Những hóa thạch ở đảo Flores là minh chứng cho thấy tại sao lại rất thú vị khi ta được sống trong kỷ nguyên của những bước tiến khoa học nhảy vọt.

TÌNH DỤC

“Bản thân tiêu đề của cuốn sách Tại sao tình dục lại thú vị? đã gợi ra một câu trả lời mỉa mai, “Bởi vì chúng ta thấy thích, đồ ngốc! Ông là nhà khoa học ở tận đâu mà không biết điều đó?”

Năm chương (từ chương 3 đến chương 7) trong Loài tinh tinh thứ ba thảo luận về đặc điểm giới tính của loài người và những đặc điểm khác trong vòng đời của chúng ta, những điểm hoàn toàn khác biệt giữa chúng ta với những họ hàng gần gũi nhất là động vật nhân hình có kích thước lớn và khác biệt với những loài thú khác. Những đặc điểm mà tôi đã thảo luận sau này vào năm 1992 bao gồm hệ thống hôn nhân tương đối theo kiểu một vợ một chồng hay hơi mang tính chất đa thê, những đặc điểm giải phẫu giới tính của chúng ta, sự ngăn cản rụng trứng, ngoại tình, việc lựa chọn vợ hoặc chồng và bạn tình ngoài hôn nhân, sự chọn lọc giới tính, quá trình lão hóa và sự mãn kinh.

Nhưng, thảo luận đó khó có thể giải đáp hết được những mối quan tâm đặc biệt trong những chủ đề về tình dục và những đặc điểm giới tính khác của chúng ta vẫn chống lại những hiểu biết vào năm 1992. Do đó, vào năm 1997, tôi đã viết một quyển sách mới mặc dù chỉ có 168 trang đề cập về giới tính của loài người. Với tiêu đề là Tại sao tình dục lại thú vị?, nó mang lại một cách nhìn mới mẻ về những vấn đề gai góc chưa được giải đáp liên quan đến việc ngăn cản rụng trứng và mãn kinh. Nó cũng đề cập đến khả năng cho con bú của đàn ông (chẳng hạn như một vài con dơi đực thuộc loài ăn quả và cả đàn ông có thể sản sinh ra sữa), cũng như chức năng của vú ở phụ nữ, bộ râu ở đàn ông và dương vật tương đối lớn quá cỡ ở đàn ông như những tín hiệu giới tính.

Bản thân tiêu đề cuốn sách Tại sao tình dục lại thú vị? đã gợi ra một câu trả lời mỉa mai, “Bởi vì chúng ta thấy thích, đồ ngốc! Ông là nhà khoa học ở tận đâu mà không biết điều đó?” Dĩ nhiên tôi biết là nó rất được ưa thích, câu hỏi thực sự là tại sao loài người chúng ta trở nên gần như là duy nhất khi đã tiến hóa đến một trạng thái mà tình dục có thể thú vị đối với chúng ta vào bất cứ lúc nào kể cả khi người phụ nữ không sẵn sàng sinh sản (ví dụ như khi người phụ nữ đang mang thai, tiền mãn kinh, hoặc trong giai đoạn kéo dài mà không có rụng trứng trong chu kỳ kinh nguyệt của họ) trong khi đó thì động vật lại tiến hóa theo hướng hình thành những sự cảm nhận rất tốt và tiết kiệm về thời gian cũng như nỗ lực để giao phối chỉ khi con cái đang rụng trứng và có khả năng sinh sản. Câu hỏi tiến hóa về giới tính loài người đó đã cho thấy rằng thật khó để có câu trả lời và vẫn đang là chủ đề cho nhiều học thuyết gây tranh cãi. Ở phần cuối cuốn sách 168 trang về giới tính đó, tôi đã kết luận rằng bản thân tôi vẫn không hiểu được tại sao loài người lại sinh hoạt tình dục để giải trí (có nghĩa là tại sao nó lại tiến hóa như thế), hay tại sao dương vật của người đàn ông (tương quan với kích thước cơ thể) lại lớn tới gấp bốn lần của khỉ đột - dường như là một sự lãng phí lớn chất nguyên sinh trên một phần cơ thể người đàn ông.

Tuy nhiên, người đọc sẽ tìm thấy sự khám phá những câu hỏi chưa được giải đáp đó chứa đầy những điều ngạc nhiên thú vị. Nhưng để tránh cho độc giả có những ảo tưởng hay cáo buộc về những cám dỗ mà tìm đọc cuốn sách với sự kỳ vọng sai lầm, tôi phải nói rõ ở đây rằng cuốn sách Tại sao tình dục thú chỉ tập trung vào những câu hỏi liên quan đến tiến hóa mà không hề cung cấp những chỉ dẫn có tính chất thực hành về những tư thế mới để tình dục trở nên thú vị hơn. Một dẫn chứng của sự hiều lầm đó một phần chính là do người quản lý hiệu sách, một người bạn của tôi đã tìm kiếm cuốn sách trong một hiệu sách ở Berkeley, và không thể tìm thấy nó ở khu vực sách khoa học mà cuối cùng lại phát hiện ra nó ở quầy sách khiêu dâm, dù nội dung cuốn sách thực sự không phải như vậy.

SỰ PHÁT SINH CỦA NỀN VĂN MINH

Cho đến 13.000 năm trước đây, con người chỉ săn bắt, hái lượm, kiếm thức ăn bằng cách săn những loài thú và hái lượm những loài cây mọc hoang dại, sử dụng những công cụ làm từ đá, gỗ và xương, sống thành bộ tộc hay bộ lạc, không hề có chữ viết hay những học giả chuyên biệt, họ sống một cuộc sống du cư hoặc bán du cư. Ngày nay, phần lớn con người nếu không là nông dân thì cũng sống phụ thuộc vào những người nông dân, nuôi sống bản thân bằng cách trồng trọt và chăm sóc đám vật nuôi đã được thuần hóa, sử dụng những công cụ bằng kim loại, sống trong xã hội có tổ chức với chữ viết, dưới sự lãnh đạo của tổng thống hay một ông vua hay những người lãnh đạo chuyên biệt khác và sống định cư trong những ngôi nhà ổn định. Sự khác nhau giữa cuộc sống của 13.000 năm trước và hiện nay tạo nên cái có thể gọi là “sự phát sinh của nền văn minh”. Vì sao sau 7.000.000 năm tồn tại của loài người, thì nền văn minh lại đột nhiên phát sinh? Tại sao nó phát sinh ở một vài nơi lại nhanh hơn những nơi khác để rồi, chẳng hạn như tất cả những thổ dân ở châu Úc thì vẫn chỉ là những người săn bắt hái lượm kém văn minh, sử dụng công cụ Đồ đá vào thời điểm mà người châu Âu đến lục địa này năm 1788 trong khi đó trồng trọt, công cụ bằng kim loại và chữ viết đã phát sinh ở khu vực trù phú Tây Nam Á lần lượt vào khoảng 10.500 năm, 7.000 năm và 5.400 năm trước đây. Tại sao người châu Âu chứ không phải thổ dân châu Úc, người dân bản địa châu Mỹ, người châu Phi hay người Trung Quốc đã chinh phục hầu hết phần còn lại của thế giới.

Những câu hỏi thú vị và quan trọng đó chiếm hết chương 10, 14 và 15 của cuốn sách Loài tinh tinh thứ ba đặc biệt là chương 14 với tiêu đề “Những người chinh phục tình cờ” đã kiểm chứng một phần của sự xung đột liên lục địa giữa các nền văn minh: Tại sao người châu Âu lại chinh phục thổ dân châu Mỹ? Tôi đã đi tới kết luận rằng câu trả lời cho câu hỏi này không liên quan gì đến những sự khác biệt về mặt sinh học (ví dụ chỉ số thông minh như những người phân biệt chủng tộc thường lý giải) giữa người châu Âu và thổ dân châu Mỹ. Thay vào đó, câu trả lời liên quan đến những sự đa dạng hơn và năng suất cao hơn của những cây trồng và vật nuôi hoang dại đã được thuần hóa ở vùng đồng bằng phì nhiêu của lục địa Á-Âu so với ở Tân Thế giới; và đồng thời sự phân bố theo trục đông tây của lục địa Á-Âu cũng hỗ trợ cho sự phát tán của cây trồng và vật nuôi ở cùng một vĩ độ, trái ngược với sự phân bố theo trục bắc nam ở châu Mỹ làm cản trở sự phân tán theo những khu vực khác vĩ độ.

Sự va chạm giữa châu Âu và châu Mỹ chỉ là một phần trong lịch sử mối liên hệ giữa các châu lục. Quyển sách sau đó của tôi Súng, vi trùng và thép đã mở rộng cách phân tích ấy, mà đã được khởi đầu trong chương 14 của cuốn Loài tinh tinh thứ ba ra phạm vi toàn thế giới. Một khoảnh khắc “eureka” đã thúc đẩy tôi khái quát hóa trường hợp của châu Âu và châu Mỹ. Ngay khi tôi kết thúc việc viết cuốn Loài tinh tinh thứ ba, tôi được mời giảng dạy rất nhiều giờ (Những bài giảng Tanner(89)) tại Đại học Utah vào tháng Năm năm 1992. Đó có vẻ là một cơ hội tốt cho tôi để tiếp tục theo đuổi niềm đam mê của bản thân (và cũng là để nói về) lịch sử của lục địa châu Phi, một chủ đề đã thu hút tôi từ lâu. Một điều đặc biệt, đó còn là thách thức để tìm hiểu nghịch lý tại sao người châu Phi hiện tại đang sinh sống ở cái nôi vĩ đại phát sinh ra loài người hiện đại của mọi châu lục khác nhưng châu Phi ngày nay không phải là lục địa phát triển nhất mà chính lại là lục địa nghèo khó nhất.

Vào kỳ nghỉ cuối tuần trước khi tôi phải giảng bài, tôi đã tìm được hàng loạt những cuốn sách viết về châu Phi và bắt đầu đọc. Khi tôi nhìn chăm chú vào tấm bản đồ châu Phi, một điều khiến tôi vô cùng kinh ngạc đã nảy ra: “Lạy Chúa, châu Phi có một sự phân bố theo trục bắc nam cũng giống như châu Mỹ!” Có nghĩa là trong tấm bản đồ ở trang 406 của chương 14 trong cuốn Loài tinh tinh thứ ba, tôi đã phân tích sự đối nghịch giữa phân bố đông tây của lục địa Á-Âu và phân bố bắc nam của lục địa châu Mỹ. Nhưng trục phân bố của châu Phi cũng là theo hướng bắc nam. Điều này cho thấy châu Phi, cũng giống như châu Mỹ, trải dài theo hướng bắc nam hơn là đông tây. Sự thật này đóng một vai trò rất lớn trong lịch sử châu Phi, cũng giống như trong lịch sử của châu Mỹ nguyên thủy. Những cây trồng và vật nuôi được thuần hóa có nguồn gốc từ lục địa Á-Âu đã thâm nhập vào châu Phi từ phía Bắc, còn những cây trồng và vật nuôi xuất xứ từ chính châu Phi, ở vùng Sahel, Ethiopia và vùng nhiệt đới Tây Phi thì hoặc không phân tán hoặc phân tán rất chậm chạp xuống theo trục bắc nam của châu Phi. Kết quả là những xã hội dựa trên nông nghiệp ở vùng cận sa mạc Sahara của châu Phi đã phát triển chậm chạp hơn so với ở lục địa Á-Âu, và không bao giờ phát triển ở khu vực Địa Trung Hải thuộc Nam Phi (trừ những người du mục Khoisan sống không phụ thuộc vào mùa vụ). Sau đó, tôi đã nhận ra rằng những khó khăn trong sự phát tán của cây trồng và vật nuôi từ phía bắc xuống phía nam cũng là một nhân tố dẫn đến quá trình nam tiến chậm chạp của nền nông nghiệp ở tiểu lục địa Ấn Độ. Đồng thời nhân tố đó cũng cản trở của sự phát triển về phía nam của nền nông nghiệp từ New Guinea đến châu Úc trước kia.

Do đó, lịch sử không chỉ là “một sự thật nghiệt ngã sau những sự thật khác”, như những gì mà người bi quan thường hay phàn nàn. Thực sự tồn tại những khuôn mẫu lớn của lịch sử nhưng không dễ dàng gì để nhận thức được. Chúng phụ thuộc vào sự tổng hợp kiến thức từ nhiều chuyên ngành khác nhau bao gồm tập tính học động vật, khảo cổ học, bệnh dịch học, di truyền học, ngôn ngữ học và sinh học phân tử. Đó là nguyên nhân tại sao tôi đã mất chín năm để hoàn thành chương 14 của cuốn Loài tinh tinh thứ ba kể từ khi tôi bắt đầu phác thảo nó, rồi sau tới năm năm kể từ ngày xuất bản cuốn sách ấy và hoàn thành Bài giảng Tanner, tôi mới có thể xuất bản và tổng kết lại trên phạm vi tất cả các châu lục trong cuốn sách Súng, vi trùng và thép.

SỰ SỤP ĐỔ CỦA NỀN VĂN MINH

Ba chương cuối của Loài tinh tinh thứ ba nói về những hủy hại môi trường gây ra bởi các xã hội trong quá khứ và hiện tại cùng những hậu quả của nó. Giống như những chương về giới tính và sự phát sinh của nền văn minh, tôi vẫn phải tiếp tục hoàn thiện ba chương này sau năm 1992. Điều này đã thúc đẩy tôi mở rộng những thảo luận của mình trong một cuốn sách khác có tên là Sụp đổ: Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào, được xuất bản vào năm 2004.

Phần lớn chúng ta bị cuốn hút bởi những bí ẩn đầy lãng mạn của những công trình đã biến mất và những thành phố được dựng nên bởi những con người của những nền văn minh không còn tồn tại mà hiện nay đang bị chôn vùi trong những khu rừng nhiệt đới hay nằm sâu dưới sa mạc và cả những vùng đất bị lãng quên. Trong những thập kỷ gần đây, khám phá của các nhà khảo cổ học đã chứng minh rằng những hủy hoại môi trường gây ra một cách tình cờ bởi chính những người đã xây dựng nên những công trình và thành phố cổ xưa là một trong các nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của các công trình đó. Quyển sách Sụp đổ của tôi trở thành một trong những sự giải thích kịch tính nhất cho sự biến mất của những nền văn minh cổ đại - những bức tượng đá nổi tiếng ở đảo Phục Sinh, đảo Pitcairn trước khi có sự xâm chiếm của những người nổi dậy tàu HMS Bounty, những pho tượng nhân sư cao trọc trời, những thành phố của người Maya và những nhà thờ đá của người Norse ở Greenland.

Nhưng rồi sau đó, tôi nhận ra rằng viết một cuốn sách chỉ về những nền văn minh vẫn là chưa đủ. Ở những phần khác của thế giới như Iceland, Nhật Bản và New Guinea - các xã hội văn minh đã tồn tại một cách thành công qua hàng nghìn năm thậm chí là hàng chục nghìn năm. Vậy tại sao một vài xã hội lại thành công trong việc giải quyết những vấn đề dẫn đến sự suy vong cho các xã hội khác.

Do đó phần lớn nội dung của cuốn Sụp đổ được dành cho những câu chuyện thành công và cả những thất bại, và những lý do cho những kết cục khác nhau. Điều bất ngờ là xã hội chúng ta ngày nay cũng đã phải đối mặt với những vấn đề tương tự liên quan đến môi trường và dân số đã đe dọa những xã hội trong quá khứ, cộng thêm một vài vấn đề mới như sự nóng lên toàn cầu do con người gây ra, hóa chất độc hại và sự cạn kiệt nguồn năng lượng. Những vấn đề này đang ảnh hưởng ở các mức độ khác nhau tới những phần khác nhau của thế giới hiện đại, như đã được tìm hiểu ở chương cuối của cuốn Loài tinh tinh thứ ba và chiếm phần dài hơn trong cuốn Sụp đổ. Một loạt những hậu quả mà tôi đã thảo luận trong cuốn sách thứ hai bao gồm tình hình ở Rwanda và Haiti, những thảm họa ở thế giới thứ ba; hay ở Cộng hòa Dominica, một đất nước thế giới thứ ba chia sẻ hòn đảo Hispaniola với Haiti, nhưng nhờ chính sách về môi trường rất khác biệt, họ đã tạo được một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và bền vững; Trung Quốc, quốc gia đông dân cư nhất thế giới, nơi quy mô lãnh thổ và kinh tế của họ chắc chắn có thể biến những vấn đề môi trường của quốc gia này thành vấn đề của cả thế giới; Montana, một tiểu bang của quốc gia giàu nhất thế giới nhưng vẫn còn giữ được vẻ nguyên sơ, cùng với đó vẫn có những vấn đề về môi trường và dân số ở mức báo động tương tự như các nơi khác; và Australia, đất nước của thế giới thứ nhất với môi trường dễ bị tổn thương nhất và tồn tại nhiều vấn đề về môi trường nhất nhưng đồng thời hiện nay vẫn được đánh giá là một trong các quốc gia có những biện pháp quyết liệt nhất để giải quyết những vấn đề này.

Tôi dành tặng cuốn Loài tinh tinh thứ ba cho hai con trai sinh đôi của tôi (hiện nay 18 tuổi) và cho thế hệ của chúng, với hy vọng rằng chúng ta có thể học tập nhiều từ quá khứ để xây dựng cho mình một tương lai tốt đẹp hơn. Ở cuối cuốn sách Sụp đổ dày 576 trang, tôi vẫn tỏ ra lạc quan một cách thận trọng rằng chúng ta thực sự vẫn có thế đảm bảo cho con cháu chúng ta một tương lai tươi sáng hơn - nhưng chỉ với điều kiện là chúng ta phải lựa chọn để tạo ra những nỗ lực rất lớn.

NHỮNG CHỌN LỰA CỦA TÁC GIẢ

Nghề nghiệp của con người: Nguồn gốc sinh học và văn hóa của loài người (The Human Career: Human Biological and Cultural Origins), ấn bản lần thứ hai, tác giả Richard G. Klein (Nhà xuất bản Đại học Chicago, 1999) Người nông dân đầu tiên: Nguồn gốc của xã hội nông nghiệp (First Farmers: The origins of Agricultural Societies), tác giả Peter Belwood (Nhà xuất bản Blackwell, Oxford, 2005) Ảnh hưởng của con người lên môi trường cổ xưa (Human Impacts on Acient Environments), tác giả Charles L. Redman (Nhà xuất bản Đại học Arizona, Tucson, 1999) “Một giống người cỡ nhỏ từ hậu kỳ kỷ Pleistocene ở đảo Flores, Indonesia” (“A New Small- Bodied Hominin from the Late Pleistocene of Flores, Indonesia”), bài báo trong tạp chí Nature (ngày 28 tháng Mười năm 2004) viết về những người tí hon ở đảo Flores, các tác giả p. Brown T. Sutikna, M. J. Morwood, R. p. Soeojono Jatmiko B. YVayhu Spatomo và Rokus Awe Due. LIỆU BẠN ĐÃ ĐỌC?

Những tác phẩm khác của Jared Diamond

Sụp đổ: Các xã hội đã thất bại hay thành công như thế nào (Hà Trần dịch, NXB Tri thức, 2007)

“Trong cuốn Sụp đổ: Các xã hội đã chọn lựa để thành công hay thất bại như thế nào, Jared Diamiond đã đề xuất những phương pháp có tính tham khảo đầy thú vị được sử dụng bởi các nhà khoa học và lịch sử để phân tích con đường phát triển của những xã hội đã biến mất từ lâu và đưa ra những đánh giá đầy thách thức về các vấn đề môi trường hiện tại ở Australia, Mỹ và Trung Quốc.”

Michiko Kakutani, Thời báo New York

Súng, vi trùng và thép: Định mệnh của các xã hội loài người (Trần Tiễn Cao Đăng dịch, NXB Tri thức 2007)

“Ngược lại với sự giải thích của những người phân biệt chủng tộc cho sự khác biệt về trí thông minh và khả năng làm chủ kỹ thuật, và không bị ảnh hưởng bởi học thuyết coi người châu Âu là trung tâm cả thế giới, ông đã tranh luận một cách thuyết phục rằng sự khác biệt một cách ngẫu nhiên về địa lý và môi trường, cùng với hàng chục thế kỷ bị diệt chủng do chiến tranh và bệnh dịch, đã dẫn đến những quần thể loài người khác biệt của thế giới ngày nay… Tri thức uyên thâm mà Súng, vi trùng và thép mang lại là một thứ lịch sử hiện đại đầy tính tiến bộ.”

Publishers Weekly

Tại sao tình dục lại thú vị: Sự tiến hóa của giới tính loài người (Why is sex fun? The evolution of human sexuality) (Basic Books, New York, 1997)

Tại sao tình dục lại thú vị đã phỏng đoán những động cơ tiến hóa dẫn đến sự hình thành những đặc điểm giới tính riêng biệt ở loài người như sự mãn kinh ở phụ nữ và vai trò của đàn ông trong xã hội, tư tình, và đặc biệt hơn cả: việc quan hệ tình dục để giải trí thay vì để duy trì nòi giống.”

Library Journal

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.