Trong suốt nhiều triệu năm về trước, kể từ khi loài người bắt đầu rẽ nhánh khỏi nhóm động vật nhân hình, chúng ta vẫn không có gì đáng tuyên dương hơn tinh tinh trong cách tạo lập cuộc sống. Vào thời điểm cách đây tới 40.000 năm về trước, Tây Âu còn là vùng đất của người Neanderthal, một nhóm người tiền sử mà ở đó, các dạng nghệ thuật và tiến bộ sơ khai vẫn chưa hề xuất hiện. Sau đó, một biến đổi lớn đã nhanh chóng xảy ra, con người với đặc điểm giải phẫu giống người hiện đại đã xuất hiện tại châu Âu, cùng với nghệ thuật, nhạc cụ, phương tiện chiếu sáng, thương mại và sự tiến bộ. Chỉ trong một thời gian ngắn, người Neanderthal đã hoàn toàn biến mất.
Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại đó tại châu Âu có thể là kết quả của một bước tiến tương tự đã xảy ra vài vạn năm về trước ở Trung Đông và châu Phi. Cho dù quá trình này kéo dài tới vài chục triệu năm thì nó cũng chỉ là một quãng ngắn không đáng kể (chiếm dưới 1%) của chặng đường lâu dài trong lịch sử tiến hóa từ động vật nhân hình của chúng ta. Bởi chúng ta cho rằng tồn tại một thời điểm cụ thể mà tại đó chúng ta chính thức trở thành con người, do vậy, thời điểm đó hẳn phải nằm trong quãng thời gian nhảy vọt này. Loài người chỉ mất có vài chục thiên niên kỷ tiếp sau đó để thuần hóa động vật hoang, phát triển một nền nông nghiệp, nghề luyện kim cũng như sáng tạo ra chữ viết. Chỉ trong một thời gian rất ngắn tiếp đó, những thành tựu của nền văn minh nhân loại đã tạo nên khọảng cách - mà thường được gọi là hố sâu ngăn cách không thể lấp bằng giữa loài người và động vật nhờ những sản phẩm có một không hai của con người như bức tranh “Mona Lisa” hay bản giao hưởng Eroica, tháp Eiffel và tàu vũ trụ Sputnik, trại tập trung của phát xít Đức tại Dachau, trận bom tàn phá Dresden của không quân Anh - Mỹ trong Thế chiến thứ hai.
Chương này sẽ trả lời những câu hỏi nảy sinh từ bước nhảy vọt thần tốc của loài người. Động lực nào đã thúc đẩy nó và tại sao nó lại xuất hiện đột ngột đến vậy? Điều gì đã kìm giữ người Neanderthal và số phận của họ đã ra sao? Liệu người Neanderthal và người hiện đại có từng gặp nhau? Nếu vậy, cách thức họ xử sự với nhau như thế nào?
Hiểu về Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại đã là không đơn giản, vậy nên viết về nó lại càng không đơn giản chút nào. Những bằng chứng gần đây thu được từ các chi tiết mang tính kỹ thuật nghiên cứu trên xương và các công cụ bằng đá còn sót lại. Đối với chúng ta, kết quả thu được của các nhà khảo cổ học đa phần là khó hiểu, chẳng hạn như “cơ ngang xương chẩm”, “xương gò má hõm” hay “những con dao có từ giai đoạn Châtelper - ronian”. Điều chúng ta thực sự muốn tìm hiểu chính là đời sống và nhân cách của tổ tiên chúng ta lại không có được câu trả lời trực tiếp mà chỉ có thể suy ra từ những chi tiết kỹ thuật về xương và công cụ đó. Phần lớn các bằng chứng đã biến mất và các nhà khảo cổ học thường bất đồng ý kiến trong việc liệu những bằng chứng đó có tồn tại hay không. Do trong các cuốn sách và bài báo liệt kê ở phần Đọc thêm, nằm ở trang 630 - 671 của cuốn sách này sẽ thỏa mãn trí tò mò của bạn đọc nếu muốn tìm hiểu kỹ hơn về xương gò má, bởi vậy tôi sẽ chỉ nhấn mạnh tới những kết luận hệ quả thu được từ việc nghiên cứu xương và công cụ.
Để xếp quá trình tiến hóa của nhân loại theo thang thời gian, hãy nhớ lại rằng sự sống mới chỉ tồn tại trên Trái Đất vài tỷ năm về trước và sự tuyệt chủng của khủng long diễn ra vào khoảng 65.000.000 năm trước đây. Trong khoảng 6.000.000 tới 10.000.000 năm trước, tổ tiên chúng ta cuối cùng đã tách biệt hẳn với tổ tiên của tinh tinh và gorilla. Do đó, lịch sử loài người chỉ đóng góp một phần nhỏ không mấy quan trọng trong lịch sử sự sống. Những bộ phim khoa học viễn tưởng mô tả những con người tiền sử chạy trốn khủng long chỉ là ảo tưởng mà thôi.
Tổ tiên chung của loài người, tinh tinh và gorilla sinh sống ở châu Phi. Cho đến ngày nay, tinh tinh và gorilla vẫn có quan hệ chặt chẽ với tổ tiên này còn loài người thì đã gắn liền với tổ tiên ấy trong vài triệu năm. Ban đầu, các tổ tiên riêng của chúng ta được phân thành một loài vượn hoàn toàn riêng rẽ nhưng rồi ba thay đổi xảy ra mà kết quả của chúng đã dẫn dắt loài người theo hướng tiến hóa thành người hiện đại. Thay đổi đầu tiên xảy ra khoảng 4.000.000 năm về trước, cấu trúc của xương đùi hóa thạch cho thây rằng tổ tiên chúng ta có thể di chuyển trên hai chân đứng thẳng một cách thành thạo. Trái lại, gorilla và tinh tinh chỉ thỉnh thoảng mới đi thẳng và thường bò bằng cả bốn chân. Dáng đi thẳng giải phóng hai chi trước của tổ tiên loài người để có thể tự do làm những công việc khác, trong số đó phải kể đến khả năng sử dụng công cụ lao động như một đóng góp quan trọng nhất.
Thay đổi thứ hai diễn ra khoảng 3.000.000 năm trước, khi sợi dây tiến hóa của chúng ta phân nhánh ít nhất thành hai loài riêng biệt. Trên lý thuyết, các thành viên thuộc hai loài động vật khác nhau nhưng cùng sinh sống trên một phần lãnh thổ phải đảm nhận các vai trò sinh thái khác nhau và thường không giao phối được với nhau. Ví dụ, sói đồng và sói rừng có quan hệ rất gần gũi (cho tới khi sói rừng bị hủy diệt trên hầu khắp nước Mỹ), chúng cùng chung sống trên một lãnh thổ ở vùng Bắc Mỹ. Tuy nhiên, sói rừng lớn hơn, chủ yếu săn thú lớn như hươu, nai và thường sống trong các hang lớn còn sói đổng nhỏ hơn, thường săn thú nhỏ như thỏ và chuột và thường sống thành từng đôi hoặc các nhóm nhỏ. Sói đồng thường ghép cặp với sói đồng, và sói rừng cũng vậy. Trái lại, mỗi quần thể người trên thế giới ngày nay có thể ghép đôi với bất kỳ quần thể người nào khác miễn là có sự liên hệ. Những khác biệt sinh thái giữa những chủng tộc người đang sống hoàn toàn là do quá trình giáo dục từ thời thơ ấu: nó không giống với việc một số người sinh ra có răng nhọn dùng để săn hươu còn những người khác răng không nhọn nên hái lượm quả và không kết hôn với những người săn hươu. Do đó, tất cả con người hiện đại đều thuộc cùng một loài.
Có thể do hai biến cố xảy ra trong quá khứ đã dẫn tới sự phân chia con người thành hai loài tách biệt giống như trường hợp của sói đồng và sói rừng. Biến cố gần đây nhất mà tôi sẽ đề cập tới sau đây, diễn ra cùng khoảng thời gian với Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại. Biến cố trước đó thì diễn ra từ 3.000.000 năm về trước, khi con đưòng tiến hóa của chúng ta bắt đầu phân nhánh thành hai loài: một loài vượn người có xương sọ phát triển và răng hàm lớn, được giới nghiên cứu cho rằng đã ăn thực vật thô và thường được gọi là Australopithecus robustus (có nghĩa là “vượn người phương Nam phát triển”); và một loài vượn người với não có cấu trúc tinh vi hơn nhưng răng lại nhỏ hơn được giả định là ăn thức ăn tạp, gọi là Australopithecus Africanus (vượn người phương Nam châu Phi). Vượn người tiến hóa sau đó với bộ não lớn hơn được gọi là Homo habilis (“người khéo tay”). Tuy nhiên, các xương hóa thạch mà các nhà cổ sinh vật học phân ra làm xương đàn bà và đàn ông lại cực kỳ khác nhau về kích thước não và răng tới mức chúng ta tưởng rằng còn có một nhánh nữa trên con đường tiến hóa của loài người dẫn tới hai loài giống với chi habilis: đó là chính Homo habilis và một “Người thứ ba” bí ẩn. Do đó, khoảng 2.000.000 năm trước có ít nhất hai mà cũng có thể là ba loài vượn người.
Thay đổi thứ ba và cũng là cuối cùng trong nhóm những thay đổi lớn trên mà sự xuất hiện của nó đã khiến cho tổ tiên chúng ta mang tính người nhiều hơn và giảm bớt tính vượn, đó chính là việc thường xuyên sử dụng các công cụ bằng đá. Đây là đặc điểm đặc trưng cho việc con người có nguồn gốc rất rõ ràng từ động vật: chim gõ kiến, kền kền Ai Cập và rái cá biển đều nằm trong số những động vật tiến hóa độc lập đạt tới khả năng sử dụng công cụ để tìm kiếm và chế biến thức ăn nhưng không loài nào trong số đó lại phụ thuộc chặt chẽ vào công cụ lao động như chúng ta hiện nay. Tinh tinh thường cũng sử dụng công cụ, đôi khi làm từ đá nhưng hành động này không đủ thường xuyên để khiến chúng có thể chiếm lĩnh toàn bộ mặt đất. Nhưng vào khoảng 2.500.000 năm trước, những công cụ bằng đá thô sơ do người tiền sử chế tạo đã xuất hiện hàng loạt tại một số vùng Đông Phi. Vì có tới hai hoặc ba loài người tiền sử, vậy ai đã chế tạo ra các công cụ này? Có thể là loài người Homo habilis với xương sọ bớt thô vì cả loài này và công cụ đá đã song song tồn tại và tiến hóa.
CÂY PHÁT SINH CHỦNG LOẠI NGƯỜI

Hình 2: Một vài nhánh trong cây tiến hóa của chúng ta đã bị tuyệt diệt, bao gồm những chủng tộc thuộc chi robus australopithecines: Người Neanderthal và có thể cả “Người thứ ba” ít được biết tới cũng như một quần thể người châu Á hiện đại gần gũi với người Neanderthal. Một vài nhóm con cháu của loài Homo habilis đã sống sót và tiến hóa thành người hiện đại ngày nay. Được nhận biết thông qua những tên gọi khác nhau, sự biến đổi trong hóa thạch thể hiện sợi dây liên hệ này, họ được phân chia một cách tùy tiện thành các nhóm người Homo habilis, rồi đến Homo erectus xuất hiện cách đây khoảng gần 1.700.000 năm trước đây, và sau đó là Homo sapien bắt đầu tồn tại cách đây khoảng 500.000 năm. A. là ký hiệu thay cho tên chi của Australopithecus, H. ký hiệu cho Homo.
Vì chỉ có một loài người tồn tại được tới ngày nay nhưng lại có tới hai hoặc ba loài sống cách đây vài triệu năm, rõ ràng rằng một hoặc hai loài đã bị tuyệt chủng. Ai là tổ tiên của chúng ta, loài nào đã bị vứt bỏ đống phế thải tiến hóa ấy và khi nào thì sự đào thải đó diễn ra? Kẻ chiến thắng là Homo habilis – loài có kích thước não bộ và cơ thể phát triển. Khoảng 1.700.000 năm về trước, những khác biệt này đủ để các nhà nhân loại học thêm vào nhánh tiến hóa của loài người một cái tên mới Homo erectus, có nghĩa là “người đi thẳng” (các hóa thạch Homo erectus được tìm thấy trước cả những hóa thạch mà tôi đã đề cập tới, do đó, các nhà nhân loại học không nhận thấy rằng Homo erectus không phải là người tiền sử đầu tiên có thể đi thẳng). Vượn người phát triển (Autralopithecus robustus) biến mất vào khoảng 1.200.000 năm về trước và “ Người thứ ba” (nếu loài này tồn tại) hẳn cũng đã biến mất ngay sau đó. Chúng ta chỉ có thể dự đoán tại sao Homo erectus lại tồn tại được trong khi vượn người phát triển lại không thể. Giả thuyết hợp lý được đưa ra là vượn người phát triển không còn khả năng cạnh tranh vì Homo erectus ăn cả thức ăn động vật lẫn thực vật nhờ có công cụ cùng với não phát triển mà Homo erectus có thể chiếm được nguồn thức ăn thực phẩm cần thiết của người anh em vượn người phát triển. Ngoài ra, có thể giả thuyết rằng Homo erectus đã ăn thịt vượn người phát triển từ đó trực tiếp dẫn tới sự tuyệt diệt của vượn người.
Tất cả những bước phát triển mà tôi đề cập ở trên đều diễn ra chỉ trong một đại lục châu Phi. Quá trình đào thải đó đã khiến Homo erectus trở thành loài người tiền sử duy nhất trong giai đoạn châu Phi. Đó là vào khoảng 1.000.000 năm về trước khi mà Homo erectus cuối cùng đã mở rộng lãnh thổ. Các công cụ bằng đá và xương của loài người này cho thấy họ này đã tới vùng Trung Đông rồi sau đó mở rộng ra Viễn Đông (nơi đây, người ta đã tìm thấy hóa thạch nổi tiếng của nhóm người này là người Pecking và người Java) và châu Âu. Loài này lại tiếp tục tiến hóa theo hướng gần với loài người trong đó có sự tăng kích thước não bộ và hộp sọ. Cho tới khoảng 500.000 năm trước, một số tổ tiên của loài người đã khá giống với chúng ta ngày nay và khác nhiều so với Homo erectus trước kia vì thế mà họ được phân thành một loài riêng (Homo sapien, nghĩa là “người tinh khôn”) tuy nhiên, những tổ tiên này vẫn có xương sọ dày hơn và trán dồ hơn so với chúng ta.
Bạn đọc không thông thạo từng chi tiết trong tiến hóa nhân loại hẳn sẽ nghĩ rằng sự xuất hiện của Homo sapien đánh dấu Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại. Liệu sự phát triển nhanh chóng của chúng ta tới vị thế của người tinh khôn vào nửa triệu năm trước có phải là đỉnh cao huy hoàng trong lịch sử Trái đất, khi mà nghệ thuật và công nghệ tinh vi cuối cùng đã thổi bùng lên trên khắp hành tinh của chúng ta từ buổi hồng hoang? Hoàn toàn không phải vậy: sự xuất hiện của Homo sapien không phải là sự kiện quan trọng. Các bức vẽ trong hang động, nhà cửa, cung nỏ, tên bắn vẫn tồn tại hàng trăm nghìn năm sau sự xuất hiện này. Công cụ bằng đá vẫn y như thứ công cụ thô sơ được Homo erectus sử dụng gần 1.000.000 năm trước. Kích thước não bộ đặc biệt của Homo sapien không có ảnh hưởng gì đáng kể tới đời sống của loài này. Quãng thời gian tồn tại của Homo erectus và Homo sapien trước kia bên ngoài châu Phi chỉ là một khoảng thời gian xảy ra sự biến đổi văn hóa vô cùng chậm chạp. Trên thực tế, tiềm năng duy nhất thể hiện bước phát triển cơ bản chính là khả năng chế ngự lửa. Khả năng này chúng ta biết được nhờ có những vết tích như tro, than củi và xương bị cháy - chính là những vật chỉ thị sớm nhất, trong các hang động của người Peking. Thậm chí với bước tiến này - nếu như lửa thực sự là do con người tạo ra chứ không phải do sét đánh - thì cũng là sáng tạo của Homo erectus chứ không phải là Homo sapien.
Sự xuất hiện của Homo sapien đã giải thích cho nghịch lý tôi nêu ra ở chương trước: sự phát triển để hoàn thiện thành con người không trực tiếp tỷ lệ thuận với số biến đổi trong gen. Trên con đường phát triển từ tinh tinh, Homo sapien tiến bộ về mặt giải phẫu nhiều hơn là về thành tựu văn hóa. Một số thành tựu quan trọng vẫn rất đáng kể đến trước khi Loài tinh tinh thứ ba sáng tạo ra những bức tranh trong nhà thờ Sistine tại tòa thánh Vantican.
Bằng cách nào mà tổ tiên của chúng ta có thể tồn tại suốt 1.500.000 năm qua nối tiếp sự phát triển vượt bậc của Homo erectus và Homo sapien?
Những công cụ còn sót lại duy nhất của thời kỳ này là một số vật dụng bằng đá có thể coi là rất thô sơ nếu so sánh với những đồ đá bóng đẹp của người Polynesia, thổ dân da đỏ châu Mỹ và của một số tộc người vẫn sống trong thời kỳ Đồ đá hiện nay. Đồ đá thời kỳ sơ khai có kích thước và hình dáng rất khác nhau, và các nhà khảo cổ học đã dựa theo sự khác nhau đó để gọi tên từng loại như là “rìu tay”, “rìu bổ củi” và “dao rựa”. Những tên gọi này chỉ che đậy sự thật là không một công cụ nào đủ phức tạp hay đặc sắc để có thể đảm nhận một chức năng cụ thể nào đó ví dụ như mũi xiên và mác nhọn còn sót lại từ thời kỳ Cro-Magnon rất lâu sau đó. Dấu vết trên công cụ cho thấy chúng đã được dùng để cắt thịt, xương, da, gỗ và các phần không phải là gỗ trên thân cây. Nhưng đồ vật dù có hình dạng hay kích thước thế nào đều được dùng để cắt các thứ kể trên và tên gọi mà các nhà khảo cổ học đặt cho chúng chỉ là sự phân loại hơi có phần chủ quan về một số dạng đồ đá.
Bằng chứng ngược lại ở đây cũng đóng vai trò quan trọng. Nhiều tiến bộ về công cụ xuất hiện sau Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại vẫn chưa được Homo erectus và Homo sapien biết đến. Họ không có công cụ bằng xương, không có dây đan lưới và cũng không có lưỡi câu. Tất cả những đồ đá nguyên thủy đều được cầm bằng tay, không có dấu hiệu gì cho thấy các đồ này được nâng cấp bằng cách kết hợp với nguyên liệu khác như việc chúng ta gắn lưỡi rìu kim loại vào cán gỗ.
Với những đồ vật thô sơ ấy, tổ tiên chúng ta kiếm được những thức ăn gì và bằng cách nào? Ở điểm này, các sách nhân chủng học thường giải thích bằng một chương dài với tựa đề “Con người - Kẻ săn mồi”. Vấn đề ở đây là khỉ đầu chó, tinh tinh và các linh trường khác hiếm khi ăn động vật cỡ nhỏ nhưng cho tới tận gần đây, những người Đồ đá thời kỳ hiện đại (như thổ dân Bushmen - Nam Phi) vẫn rất hay tiến hành săn mồi. Và theo rất nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy, đó cũng chính là những gì người Cro-Magnon đã làm. Thông qua dấu vết công cụ đá trên xương động vật và dấu vết cắt thịt trên công cụ đá, chúng ta không có gì nghi ngờ rằng tổ tiên của chúng ta trước kia đã biết ăn thịt. Câu hỏi thực sự là: Tổ tiên chúng ta xưa kia săn mồi như thế nào? Liệu rằng kỹ năng săn mồi phải chờ đợi sau 1.500.000 năm mới đạt được tiến bộ cao nhất hay là ngay sau giai đoạn Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại thì các kỹ năng này đã có đóng góp đáng kể trong chế độ dinh dưỡng của chúng ta?
Các nhà nhân chủng học thông thường trả lời rằng phải trải qua một thời gian dài chúng ta mới đạt được thành công trong việc săn mồi. Các bằng chứng ủng hộ cho điều này bắt nguồn chủ yếu từ ba di tích khảo cổ hình thành từ 500.000 năm trước: một hang động ở Chu Khẩu Điểm(7) gần thủ đô Bắc Kinh mà ở đó có xương và đồ dùng của Homo erectus (người Pecking) và xương của nhiều động vật khác; và hai di tích lộ thiên ở Torralba và Ambroma tại Tây Ban Nha, nơi tìm thấy đồ dùng bằng đá cùng với xương voi và các động vật cỡ lớn khác. Người ta thường giả thuyết rằng chủ nhân của các công cụ này đã giết động vật, mang xác chúng về các địa điểm này rồi ăn thịt tại đó. Nhưng cả ba di tích đều có xương và phân sót lại của linh cẩu cho thấy rằng loài này có thể được dùng để đi săn. Đặc biệt, những khúc xương thu được ở các di tích tại Tây Ban Nha dường như có nguồn gốc từ các đống rác, nước thải và xác thối rữa giống như chúng ta vẫn tìm thấy quanh các bãi lầy ở châu Phi ngày nay hơn là từ các trại đi săn tập trung.
Do đó, khi người tiền sử bắt đầu ăn thịt thì chúng ta vẫn không biết họ ăn bao nhiêu hoặc họ săn bắn để lấy thịt hay chỉ ăn xác chết. Phải đến thời điểm rất lâu sau đó, khoảng 100.000 năm trước chúng ta mới có bằng chứng tốt nhất về kỹ năng săn bắt của con người và rõ ràng rằng con người tại thời điểm ấy, vẫn chỉ là những tay thợ săn kém cỏi. Vì thế, những thợ săn cách đây 500.000 năm và cả trước đó chắc hẳn phải hoạt động kém hiệu quả hơn nhiều.
Tính thần bí của Con người - kẻ săn mồi giờ đây đã ăn sâu vào ý thức chúng ta tới mức con người khó mà chối bỏ tầm quan trọng dài lâu của hành động này. Ngày nay, việc bắn giết động vật cỡ lớn chỉ được coi như mức độ biểu hiện cuối cùng của tính hung hãn. Quẩn quanh với sự thần bí này, các nhà nhân chủng học nam giới chỉ muốn nhấn mạnh vào vai trò quan trọng của hành vi săn bắt trong tiến hóa nhân loại. Giả sử rằng, hành vi săn bắt khiến nam giới thời tiền sử tập hợp lại với nhau, phát triển ngôn ngữ và não bộ lớn, thành lập nhóm và cùng chia sẻ thức ăn. Thậm chí phụ nữ cũng được cho là chịu ảnh hưởng từ các cuộc săn của nam giới: phụ nữ kiềm chế được những dấu hiệu bên ngoài của chu kỳ rụng trứng hằng tháng, vốn biểu hiện rất rõ ở tinh tinh, nhờ đó mà nam giới không bị mắc vào những cuộc cạnh tranh tình dục điên cuồng mà phá hỏng mất tính đoàn kết khi cùng săn bắt.
Như một ví dụ cho luận điệu nhàm chán đã nảy sinh thông qua việc con người kiềm chế bản năng lý tính của mình, hãy thử cùng tìm hiểu những dẫn liệu sau về tiến hóa của loài người mà Robert Ardrey đã viết ra trong cuốn Di truyền châu Phi của ông: “Tại một hang động chật hẹp nào đó trên vùng đồng bằng nhỏ bé đã bị lãng quên, có một nhóm động vật chưa thực sự tiến hóa thành người sinh sống, một nguồn phóng xạ không rõ nguồn gốc đã tạo ra một loại gen vô cùng đặc thù và thế là nhóm động vật nhân hình ăn thịt ra đời. Dù tốt hơn hay xấu đi, cho dù đó là tấn thảm kịch hay niềm phấn khích trong chiến thắng, dù là đáng tự hào hay đáng bị nguyền rủa, trí thông minh vẫn luôn đi kèm với cách thức của kẻ sát nhân và Cain (con trai của Adam và Eva) chỉ với mấy cây gậy, vài hòn đá và đôi chân thần tốc của mình đã thống trị toàn bộ vùng cao nguyên savan.” Điều đó hoàn toàn chỉ là tưởng tượng mà thôi!
Các nhà nhân chủng học và các nhà nghiên cứu thuộc phái mạnh ở phương Tây không phải là những người duy nhất có quan điểm mạnh mẽ về việc săn bắt. Tại New Guinea, tôi đã sống với những thợ săn thực thụ, những con người mới xuất hiện và sống trong các điều kiện như ở thời kỳ Đồ đá. Tại các trại săn, người ta tranh luận hàng giờ về từng loại mồi, nơi sống và cách thức săn bắn hiệu quả nhất. Nếu lắng nghe các cuộc trò chuyện của những người bạn New Guinea của tôi, hẳn bạn sẽ nghĩ rằng họ ăn thịt kangaroo sống và cả ngày chẳng làm gì ngoài săn bắn. Thực ra, khi đi sâu vào nghiên cứu thì hầu hết những thợ săn New Guinea khẳng định rằng cả đời họ chỉ săn rất ít kangaroo.
Tôi vẫn nhớ ngày đầu tiên đặt chân đến cao nguyên New Guinea, khi tôi cùng làm việc với một nhóm 12 người đàn ông được trang bị cung và tên. Khi chúng tôi ngang qua một cây trụi lá, bỗng nhiên có tiếng động rất đáng chú ý, những người đàn ông vây quanh cây, một vài người giương cung còn những người khác thì hướng vào bụi cây. Nghĩ rằng có một con lợn lòi hăng máu hay con kangaroo sắp sửa lao ra, tôi kiếm vội một cái cây để có thể trèo lên trú ẩn an toàn. Sau đó, tôi nghe thấy những tiếng reo hoan hỉ, hai thợ săn cường tráng bước ra từ bụi cây tay tóm hai con hồng tước non còn chưa biết bay, mỗi con nặng chừng 10g, chuẩn bị bị vặt lông, nướng và ăn thịt. Cả ngày hôm đó, cuộc săn cũng chỉ thu được vài con ếch và chủ yếu là nấm.
Nghiên cứu những nhóm thợ săn được trang bị vũ khí hiệu quả hơn nhiều những người tinh khôn thời tiền sử cho thấy rằng hầu hết thực phẩm của gia đình họ là hoa quả do phụ nữ hái về. Việc đàn ông săn thỏ và các con thú nhỏ khác không bao giờ được đề cập tới trong các áng hùng văn về những cuộc đi săn. Đôi khi, đàn ông cũng săn những động vật lớn thật sự để có nguồn protein cần thiết. Nhưng chỉ ở Bắc cực, nơi rất ít thực vật sống được thì săn động vật lớn mới mang lại nguồn thức ăn chủ yếu. Mà loài người cũng chưa đặt chân lên Bắc cực mãi tới vài chục triệu năm gần đây.
Tôi chắc rằng săn động vật lớn chỉ cung cấp một phần rất nhỏ cho thành phần dinh dưỡng của con người cho tới tận khi chúng ta đã tiến hóa một cách hoàn thiện về mặt giải phẫu và ý thức. Tôi cũng nghi ngờ về quan điểm thông thường cho rằng săn bắn là động lực chính thúc đẩy não bộ lớn khác thường và xã hội của loài người. Trong hầu hết lịch sử loài người, chúng ta không phải là những người thợ săn dũng mãnh mà chủ yếu là những loài tinh tinh khéo léo, biết sử dụng công cụ bằng đá để kiếm tìm và chế biến thức ăn từ thực vật và động vật cỡ nhỏ. Đôi khi, con người săn động vật lớn và sau đó không ngừng kể lại câu chuyện hiếm hoi đó.
Trong giai đoạn ngay trước khi xuất hiện Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại, có ít nhất ba quần thể người độc lập đã sinh sống ở những nơi khác nhau của Cựu lục địa. Ở thời điểm xảy ra bước nhảy vọt ấy, những người thật sự nguyên thủy cuối cùng đã không thể cạnh tranh nổi với người hiện đại hoàn toàn. Chúng ta hãy thử xem trong số những người nguyên thủy cuối cùng thì ai trong đó có cấu trúc giải phẫu được nghiên cứu kỹ nhất và người nào được sử dụng trong nghiên cứu mô tả về một nhóm người còn hết sức nguyên thủy, đó là người Neanderthal.
Người Neanderthal sống ở đâu và vào thời điểm nào? Ranh giới địa lý của họ mở rộng từ Tây Âu, qua Đông Âu và Trung Đông tới Uzbekistan thuộc vùng Trung Á gần biên giới Afghanistan. (Tên gọi “Neanderthal” cũng bắt nguồn từ tên của thung lũng Neander nằm tại nước Đức [trong tiếng Đức, núi là Thal hoặc Tal], đây là nơi tìm thấy bộ xương người tiền sử đầu tiên.) Về thời điểm xuất hiện của những người này, chỉ là do vấn đề tên gọi mà thôi, do một số hộp sọ cổ thu được có những đặc điểm được biết trước của những người Neanderthal hoàn chỉnh. Di vật đầy đủ đầu tiên thu được có tuổi khoảng 130.000 năm và loài người hiện đại gần nhất hình thành cách đây 74.000 năm. Trong khi thời điểm xuất hiện của người Neanderthal chỉ mang tính phỏng đoán thì sự biến mất của họ lại diễn ra rất đột ngột: người Neanderthal cuối cùng đã chết vào khoảng 40.000 năm trước.
Trong giai đoạn phát triển của người Neanderthal, châu Âu và châu Á đang trải qua thời kỳ Băng hà. Người Neanderthal sống sót phải là những người thích nghi được với khí hậu lạnh nhưng chỉ trong một giới hạn nhất định mà thôi. Họ không thể di cư lên phía bắc quá miền nam nước Anh, bắc nước Đức, đến thành phố Kiev và biển Caspian. Cuộc hành trình tới Siberia và Bắc Cực mãi sau này mới diễn ra và do người đã hoàn toàn hiện đại thực hiện.
Đặc điểm giải phẫu phần đầu của người Neanderthal rất khác biệt, thậm chí nếu có người Neanderthal nào mặc quần áo đi làm hay váy áo kiểu cách như người London hay New York vẫn mặc ngoài phố ngày nay thì những người khác (thuộc nhóm người tinh khôn) chắc hẳn sẽ thấy rất lạ. Thử tưởng tượng ta dùng đất sét hóa trang cho một người hiện đại sao cho vùng giữa khuôn mặt từ sống mũi tới cằm hõm lại còn hai má và trán dày lên. Lúc này, hẳn bạn đã biết phần nào về việc người Neanderthal trông ra sao. Lông mày của họ nhô cao trên xương hốc mắt còn mũi cằm và răng của họ gồ lên phía trước. Mắt của họ nằm sâu trong hốc, lọt thỏm giữa phần mũi và đường lông mày. Trán của họ thấp và dô, không giống với đặc điểm trán thẳng của người hiện đại, quai hàm thấp và gồ mà không hề có lồi cằm. Mặc dù có những đặc điểm vô cùng nguyên thủy này nhưng não của người Neanderthal lại có kích thước lớn hơn não của chúng ta tới gần 10%.
Một nha sỹ khám răng cho người Neanderthal sẽ càng thấy ngạc nhiên hơn. Những người Neanderthal trưởng thành có răng hàm trên nhô hẳn ra ngoài, khác hẳn với bất kỳ người hiện đại nào. Rõ ràng là, sự khác biệt này có được do người Neanderthal sử dụng răng thay cho một công cụ nào đó nhưng cụ thể chức năng đó là gì thì chúng ta chưa biết. Một khả năng có thể là họ dùng răng làm kẹp giữ đồ vật giống như lũ trẻ nhà tôi, chúng giữ bình sữa bằng răng và chạy nhảy mà tay vẫn tự do. Hay người Neanderthal có thể dùng răng để ngậm da thú khi thuộc da hoặc ngậm gỗ khi làm ra những công cụ bằng gỗ.
Trong xã hội hiện đại, khi một người Neanderthal ăn mặc kiểu công sở hay váy dài có thể gây chú ý thì một người mặc quần ngắn hoặc bikini cũng sẽ gây ngạc nhiên bất ngờ. Những người Neanderthal có cơ rắn chắc, đặc biệt là vai và cổ hơn hẳn bất kỳ vận động viên thể hình hiện đại nào. Xương trèo của họ tạo lực lên các cơ tương tác với nhau hẳn phải dày hơn hẳn xương của chúng ta thì mới chịu được áp lực này. Tay và chân của họ trông thô vì bắp chân và bắp tay họ ngắn hơn chúng ta. Thậm chí tay họ cũng khỏe hơn tay chúng ta rất nhiều, một cái bắt tay của người Neanderthal cũng có thể làm ta gãy xương. Trong khi chiều cao trung bình của họ chỉ khoảng 1,55 m thì họ nặng hơn người hiện đại có chiều cao tương đương tới ít nhất là chín kilogram và khối lượng chênh lệch này chủ yếu là do cơ.
Còn một khác biệt nữa rất đáng chú ý, có thể nhận thấy về mặt giải phẫu mặc dù tính xác thực cũng như những lý giải cho nó chưa hề thỏa đáng. Đường sinh dục của phụ nữ Neanderthal lớn hơn so với phụ nữ hiện đại, từ đó cho phép thai nhi phát triển trong bụng mẹ tới kích thước lớn hơn kích thước thường gặp khi sinh. Nếu như vậy, phụ nữ Neanderthal phải mang thai tới ít nhất một năm thay vì chỉ có chín tháng.
Bên cạnh những bộ xương của người Neanderthal thu thập được, thì các nguồn cung cấp thông tin chính khác nữa về chủng người này còn phải kể đến công cụ bằng đá. Như tôi đã mô tả về công cụ của người tiền sử, công cụ của người Neanderthal chỉ là những dụng cụ cầm tay đơn giản chứ không có bộ phận riêng biệt chẳng hạn như tay cầm. Những công cụ này không đạt được tới trình độ của công cụ bằng xương, cũng như chưa có cung hay tên. Hầu như không có một công cụ bằng đá nào dùng để sơ chế gỗ. Một ngoại lệ đáng chú ý duy nhất là những cây giáo đâm bằng gỗ dài hai mét rưỡi, bị cắm vào xương sườn một loài voi đã bị tuyệt chủng từ lâu tại một khu khai quật ở Đức. Mặc dù có được thành công trong tiến hóa (phải chăng là do may mắn?), những người Neanderthal vẫn không giỏi trong việc săn bắt do mật độ quần thể người Neanderthal thấp hơn nhiều so với người Cro-Magnon sau này và thậm chí những người có cấu trúc giải phẫu hiện đại sống ở châu Phi cùng thời kỳ với người Neanderthal cũng không phải là những người thợ săn bắt giỏi giang gì.
Nếu bạn cho rằng những người Neanderthal là bạn bè thân thiết của mình và mong muốn được tham gia vào nhóm nào đó, bạn có thể nhận được câu trả lời là “đồ ăn lông ở lỗ“. Trong khi hầu hết dấu tích về người Neanderthal còn sót lại đều ở trong hang động, nhưng rõ ràng đây chỉ là đồ tạo tác được bảo quản trong điều kiện tốt vì đa số mẫu bảo quản ngoài trời dễ bị phân hủy hơn nhiều. Trong số hàng trăm khu khai quật của tôi tại New Guinea, chỉ có duy nhất một địa điếm nằm trong hang và đó là nơi duy nhất các nhà khảo cổ sau này có thể tìm thấy hàng đống vỏ hộp thiếc mà tôi vứt lại. Những nhà khảo cổ đó cũng có thể cho tôi là người sống trong hang. Những người Neanderthal hẳn phải có những chiếc lều hay thứ gì đó che chắn họ khỏi khí hậu giá buốt nơi họ sống nhưng những thứ che chắn đó còn rất thô sơ vì họ chưa có kim khâu hoặc bất kỳ phương tiện nào để may vá. Tất cả những gì còn sót lại chỉ là một đống đá, vài cái lỗ đục thủng khác hẳn so với những dấu tích phức tạp tìm thấy được trong ngôi nhà của người Cro-Magnon sau này.
Danh sách những điều kiện tiên quyết khác nữa mà người hiện đại có được nhưng chưa hề có ở người Neanderthal còn rất dài. Họ không có nghệ thuật. Họ phải may quần áo vì môi trường khí hậu giá rét nhưng quần áo họ mặc rất thô sơ vì họ không có kim khâu và các dụng cụ may vá khác. Họ rõ ràng là không có thuyền vì không một hóa thạch của người Neanderthal nào được tìm thấy ở các đảo Địa Trung Hải hoặc thậm chí là Bắc Phi nơi chỉ cách quần thể người Neanderthal sinh sống ở Tây Ban Nha khoảng tám dặm dọc theo eo biển Gibraltar. Không hề có sự trao đổi buôn bán giữa các vùng cách xa nhau: công cụ lao động bằng đá của người Neanderthal chỉ tìm thấy được trong khoảng vài dặm quanh vùng.
Giả sử ngày nay chúng ta nêu lên những nét khác biệt về văn hóa của những người sống trong các khu vực khác nhau. Mỗi quần thể người trên Trái đất hôm nay đều có kiểu dạng nhà, đồ dùng và nghệ thuật đặc trưng riêng. Nếu bạn được cho xem những đôi đũa, chai bia Guinness và chiếc ống xì bằng đồng sau đó bạn phải phân loại xem cái nào có nguồn gốc từ Trung Quốc, Ireland và Borneo, tôi đảm bảo là bạn sẽ trả lời đúng. Người Neanderthal không có sự đa dạng văn hóa như vậy. Công cụ lao động của họ trông rất giống nhau cho dù họ sống ở Pháp hay Nga.
Chúng ta cũng đồng thời nghiên cứu tiến trình phát triển văn hóa theo thời gian. Nội thất tại biệt thự của người La Mã, lâu đài có từ thời Trung Cổ và căn hộ New York vào năm 1990 rất khác nhau. Vào năm 2000(8), các con trai của tôi sẽ thấy rất ngạc nhiên khi thấy cái bàn tính của tôi dùng từ suốt những năm 1950: “Bố ơi, bố thật sự lạc hậu thế sao?” Nhưng công cụ của người Neanderthal cách đây 100.000 hay 40.000 năm trông vẫn rất giống nhau. Tóm lại, công cụ của người Neanderthal không có gì thay đổi theo thời gian hay không gian cho thấy đặc điểm nổi bật của con người hiện đại là sáng tạo. Như một nhà khảo cổ học từng nói, người Neanderthal có “công cụ lao động thì đẹp nhưng phương thức tạo ra thì ngu dốt”. Cho dù người Neanderthal có bộ não lớn đi chăng nữa thì họ vẫn còn thiếu cái gì đó.
Ông bà và những người chúng ta cho là lớn tuổi cũng ít gặp trong quần thể người Neanderthal. Các bộ xương của họ cho thấy rõ ràng rằng người lớn chỉ sống tới khoảng 30 hay hơn 40 tuổi, chứ không bao giờ quá 45 tuổi. Nếu chúng ta không biết viết và nếu chẳng ai trong số chúng ta sống tới 45 tuổi, thử tưởng tượng xem làm sao xã hội có thể tích lũy và truyền đạt lại các thông tin cần thiết để duy trì sự tồn tại.
Tôi vừa đề cập tới cả ba đặc tính tiền thân của con người hiện đại ở người Neanderthal nhưng có ba vấn đề mà qua đó chúng ta có thể liên hệ tới nhân tính của họ. Đầu tiên, trong những hang động còn được bảo tồn đến ngày nay của người Neanderthal có tro và than củi, điều này chứng tỏ họ đã có những bếp lửa giản đơn. Vì thế, mặc dù người Pecking có thể sử dụng lửa từ hàng trăm nghìn năm trước nhưng người Neanderthal vẫn là người đầu tiên có bằng chứng không thể bác bỏ về việc sử dụng lửa hằng ngày. Những người Neanderthal cũng có thể là người đầu tiên có tục chôn người chết nhưng điều này cũng chưa chắc chắn và liệu điều này có liên quan tới tôn giáo hay không thì vẫn còn cần được xem xét. Cuối cùng, họ thường chăm sóc người ốm và người già. Hầu hết xương của người lớn tuổi hơn có dấu hiệu của bệnh tật trầm trọng, như teo tay, những chỗ lành lại của phần xương bị vỡ không hoạt động, gãy răng và viêm khớp nặng. Chỉ khi được những người Neanderthal trẻ hơn chăm sóc thì những người già tàn phế đó mới có thể sống với cơ thể hầu như không còn chức năng như vậy. Sau một chuỗi dài những ghi chép của tôi về mặt còn thiếu ở người Neanderthal, chúng ta cuối cùng cũng tìm thấy tia sáng của sự đồng cảm tinh thần của những người sống vào cuối thời kỳ Băng hà đó - những người có đặc điểm bề ngoài thì gần giống nhưng tâm hồn lại chưa hoàn toàn giống với người hiện đại.
Liệu người Neanderthal phải chăng cũng thuộc về cùng một loài với chúng ta? Điều này phụ thuộc vào việc liệu chúng ta có thể kết đôi và sinh sản với người Neanderthal hay không. Những tiểu thuyết khoa học viễn tưởng rất hay tưởng tượng ra cảnh này. Bạn còn nhớ mặt sau của rất nhiều bìa sách thường có đoạn: “Một đoàn thám hiểm lạc vào thung lũng được che phủ kín nằm sâu tận cùng của châu Phi, một thung lũng đã bị thời gian lãng quên. Chính tại thung lũng này họ tìm thấy một bộ lạc với những người nguyên thủy sống như tổ tiên chúng ta từ thời Đồ đá hàng nghìn năm trước. Liệu họ và chúng ta có cùng loài? Chỉ có một cách tìm ra câu trả lời, nhưng liệu ai trong số những nhà thám hiểm dũng cảm kia dám hiến thân cho thử nghiệm đó?” Lúc này một trong số những người phụ nữ sống trong hang và gặm xương kia bỗng được miêu tả là quyến rũ và có vẻ đẹp thật hoang sơ, do đó các độc giả của tác phẩm hiện đại đó sẽ tin vào sự đấu tranh tư tưởng của nhà thám hiểm dũng cảm kia là có thực: Ta nên hay không nên làm tình với cô ta?
Tin hay không tùy bạn, nhưng những thí nghiệm kiểu như vậy thực sự đã xảy ra. Nó xảy ra thường xuyên vào khoảng 40.000 năm trước, vào thời điểm của Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại.
Tôi nhấn mạnh rằng người Neanderthal châu Âu và Tây Á chỉ là một trong số ba quần thể người sống ở những địa điểm khác nhau ở Cựu Thế giới vào khoảng 100.000 năm trước. Một vài mẫu hóa thạch ở vùng Đông Á đủ để cho thấy rằng con người nơi đó khác biệt với người Neanderthal cũng như khác với người hiện đại chúng ta nhưng những bằng chứng này lại quá ít để có thể tìm hiểu sâu hơn về những người châu Á này. Người sống cùng thời hợp lý nhất với người Neanderthal là những người châu Phi, một vài trong số họ có cấu trúc não bộ gần như người hiện đại. Liệu điều này có nghĩa là 100.000 năm trước ở châu Phi, chúng ta đạt được bước ngoặt về phát triển văn hóa nhân loại?
Đáng ngạc nhiên khi câu trả lời vẫn là “Không”. Công cụ bằng đá của những người châu Phi có bề ngoài giống người hiện đại này rất giống với công cụ của những người Neanderthal được mặc định là không hiện đại, do đó chúng ta coi họ như “Người châu Phi trung kỳ Đồ đá”. Họ vẫn chưa có những công cụ bằng đá chuẩn, cung và tên, và cả lưới, móc câu, nghệ thuật cũng như sự đa dạng văn hóa trong các công cụ giữa các vùng địa lý khác nhau. Mặc dù có cấu trúc cơ thể gần như người hiện đại, những người châu Phi này vẫn thiếu cái gì đó để có thể được định nghĩa là người hoàn chỉnh. Một lần nữa, chúng ta đối mặt với nghịch lý là cho dù cấu trúc xương gần như của người hiện đại và bộ gen có thể là gần đạt mức hiện đại nhưng bản thân chúng vẫn không đủ tạo ra những hành vi cư xử hiện đại.
Một hang động ở Nam Phi từng có người sống khoảng 100.000 năm trước cho chúng ta biết mấu chốt đầu tiên trong tiến hóa nhân loại. Bởi từ những thông tin chi tiết thu được tại đó, chúng ta sẽ biết những người châu Phi ấy đã thực sự ăn gì. Điều chúng ta tin chắc này bắt nguồn từ sự thật rằng trong hang của người châu Phi chỉ toàn đồ đá, xương động vật với vết cắt bằng những dụng cụ đá, xương người nhưng hầu như không có xương động vật ăn thịt nào như linh cẩu. Do đó, rõ ràng rằng con người, chứ không phải linh cẩu, đã mang xương đó về hang. Trong số các xương tìm thấy chủ yếu là hải cẩu và chim cánh cụt cùng với động vật hai mảnh vỏ như hà. Điều này đã khiến cho những người châu Phi trung kỳ Đồ đá trở thành người đầu tiên thám hiểm bờ biển. Tuy nhiên, những hang động còn chứa rất ít dấu vết cá và chim biển có thể là do con người hồi đó chưa có cần câu và lưới đánh cá, bắt chim.
Xương động vật có vú trong hang còn bao gồm một số động vật kích thước trung bình, trong số đó nhiều nhất là linh dương châu Phi. Xương linh dương châu Phi trong hang động có ở mọi lứa tuổi như thể con người đã chủ ý bắt cả đàn rồi giết từng con một. Đầu tiên, việc có khá nhiều linh dương trong số các con mồi săn được là rất đáng ngạc nhiên vì môi trường 100.000 năm trước rất giống với ngày nay và vì linh dương giờ đây là một trong số những động vật hiếm gặp nhất trong khu vực này. Bí mật trong sự thành công đó của các tay thợ săn có thể là do linh dương tương đối hiền, không nguy hiểm và thường đi theo đàn. Điều này cho thấy rằng các thợ săn đôi khi lùa đàn linh dương vào vách đá, từ đó giải thích cho sự phân loại lứa tuổi linh dương chết trong hang giống như cấu trúc tuổi của chúng trong đàn sống. Trái lại, những con mồi nguy hiểm hơn như trâu rừng Cape, lợn, voi và tê giác lại bị săn theo kiểu khác hẳn. Xương trâu rừng trong hang thường là của các con rất trẻ hoặc rất già trong khi đó xương lợn, voi và tê giác hầu như không có.
Vì thế những người châu Phi trung kỳ Đồ đá được coi là những thợ đi săn có tổ chức. Họ vừa tránh gặp phải những loài nguy hiểm vừa biết tập trung vào những con già yếu hoặc còn non. Những lựa chọn này cho thấy các thợ săn thời bấy giờ rất thận trọng vì vũ khí của họ chỉ là giáo mác và lao. Hạ độc bằng tinh chất cây mã tiền, hay dùng phi lao để giết tê giác trưởng thành hoặc trâu rừng Cape là một trong số các phương thức giết chóc hiệu quả nhất mà tôi từng biết. Không phải thợ săn lúc nào cũng thành công trong việc lùa cả đàn linh dương vào khe núi vì linh dương không bị con người tiêu diệt hết mà vẫn song song tồn tại với người đi săn. Từ những người thợ săn tiền sử và thời kỳ Đồ đá hiện đại, tôi cho rằng thực vật và đồ săn bắt nhỏ lẻ mới cung cấp phần lớn bữa ăn cho các thợ săn thời trung kỳ Đồ đá. Rõ ràng là, họ hoạt động hiệu quả hơn tinh tinh nhưng vẫn chưa đạt đến trình độ như thổ dân Nam Phi và người lùn Pygme hiện đại.
Đây là toàn cảnh thế giới loài người vào khoảng 100.000 năm cho tới trước 50.000 năm về trước. Vùng Bắc Âu, Siberia, Australia, các đảo ngoài đại dương và toàn bộ Tân Thế giới(9) chưa hề có một bóng người. Người Neanderthal sống ở châu Âu và Tây Á; tại châu Phi là những con người có cấu trúc giải phẫu ngày càng giống người hiện đại hơn, còn ở vùng Đông Á xuất hiện những con người không giống với người Neanderthal mà cũng không giống người châu Phi nhưng dấu vết còn sót lại của họ chỉ là rất ít xương hóa thạch mà thôi. Cả ba quần thể người này đều chỉ sử dụng các công cụ lao động sơ khai và có rất ít phát minh. Giai đoạn này chính là điểm khởi đầu cho Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại. Vậy quần thể nào trong số ba quần thể kể trên đã thực hiện bước nhảy vọt ấy?
Bằng chứng về sự phát triển đột ngột này là rõ ràng nhất ở nước Pháp và Tây Ban Nha, ở giai đoạn cuối thời kỳ Băng hà khoảng 40.000 năm về trước. Nơi mà trước đây từng có người Neanderthal sinh sống, thì nay người hiện đại tuyệt đối về mặt giải phẫu (hay thường được gọi là người Cro-Magnon, tên này được đặt theo tên của một di chỉ khảo cổ phát hiện ở nước Pháp, nơi tìm thấy những mảnh xương đầu tiên của nhóm người này) đã xuất hiện. Và giả sử như một trong những người phụ nữ hay đàn ông đó có tha thẩn xuống đại lộ Champs Élysées vào thời hiện đại, anh hay cô ta cũng không thể bị phát hiện ra trong đám đông dân Paris đó. Như bộ xương của người Cro-Magnon, công cụ của họ cũng được các nhà cổ sinh học tìm hiểu thấu đáo và những công cụ này rõ ràng là cực kỳ phong phú về hình dạng và hiển nhiên là cả về chức năng hơn bất cứ một dẫn liệu cổ nào trước đó.
Rất nhiều các công cụ vẫn tiếp tục được làm từ các hòn đá nhưng giờ chúng được tạo thành từ các phiến đá mỏng, tách ra từ các tảng lớn hơn, qua đó tăng lên sự hoàn chỉnh cao cấp của chất lượng thô của các tảng đá hơn hẳn những sự phát hiện trước đó. Những hòn đá đã được chuẩn hóa và các dụng cụ có nhánh, có cạnh khía xuất hiện lần đầu tiên. Do đó, các công cụ lúc này đã có các thành phần riêng biệt, là sự gắn kết của một số phần với nhau, ví dụ như cây giáo được đặt vào phần cán hay xiên rất phù hợp với tay cầm bằng gỗ. Các công cụ này sau đó được phân ra thành các loại, khác biệt rõ rệt mà thường chức năng là rất rõ ràng, ví dụ như cây kim, cây rùi, hồ vữa và chày, lưõi câu, chỉ lưới và cả dây thừng. Dây thừng được dùng trong các lưới hay bẫy giải thích cho việc thường xuyên tìm thấy các mảnh xương cáo, chồn và thỏ ở các địa điểm khai quật của người Cro-Magnon, trong khi đó các sợi dây thừng, móc câu và cả các vật dụng nổi đã giải thích cho sự tồn tại của các loài cá, các loài chim tại các vùng Nam Phi cùng thời gian ấy.
Những vũ khí tinh xảo được sử dụng để tiêu diệt các động vật lớn nguy hiểm từ xa hiện nay vẫn còn tồn tại, những vũ khí như những cái móc có ngạnh, lao, vật ném xiên và cả những chiếc cung và tên. Các hang động ở Nam Phi nơi con người sinh sống là nguồn cung cấp một lượng xương của các con mồi là thú dữ như các loài trâu trưởng thành và lợn, trong khi đó tại các động được khai quật ở châu Âu thường chứa đầy xương của bò rừng bison, hươu, nai và ngựa. Ngay cả ngày nay, những người thợ săn được trang bị loại súng có kính viễn vọng với độ phân giải rất cao cũng rất khó khăn mới có thể săn được những loài như vậy, một việc đòi hỏi những phương thức săn bắt cộng đồng với kỹ thuật rất cao dựa trên những hiểu biết chi tiết về cách cư xử của từng loài.
Một vài dạng bằng chứng lại chứng tỏ sự hiệu quả của những thợ săn vào cuối thời kỳ Băng hà trong các cuộc săn lớn. Những địa điểm của họ nhiều hơn rất nhiều so với những người Neanderthan đầu tiên hay người châu Phi thuộc trung kỳ Đồ đá, thể hiện sự thành công trong việc tiếp nhận thức ăn. Rất nhiều loài động vật lớn đã sống sót trong rất nhiều năm thuộc thời kỳ Băng hà đã bị tuyệt chủng vào cuối những năm của thời kỳ Băng hà, chứng tỏ rằng chúng đã bị tiêu diệt bởi những kỹ thuật săn bắn mới của người thợ săn. Những nạn nhân trong số này sẽ được nói tới ở chương tiếp theo, bao gồm voi ma mút Bắc Mỹ, tê giác lông mịn châu Âu, hươu khổng lồ, trâu lớn Nam Á, hay ngựa lớn đảo Cape và cả những loài kan - garoo cỡ lớn của châu Úc. Hiển nhiên là, những giai đoạn sáng chói nhất trong sự khởi sắc của con người cũng chứa đựng cả mầm mống tiềm tàng của những điều mà sau này có thể chứng minh cho nguyên nhân thụt lùi của chúng ta.
Những kỹ thuật được cải tiến ngày nay đã cho phép con người chiếm hữu những vùng đất mới, cũng như nhân rộng những khu vực đã được sinh sống trước đó ở châu Âu và châu Phi. Châu Úc lần đầu tiên được con người đặt chân tới khoảng 50.000 năm về trước, cho thấy khả năng đi biển vượt qua những khoảng cách rất dài khoảng 60 dặm từ Đông Indonesia tới Australia. Việc định cư ở những vùng phía Bắc nước Nga và Siberi vào khoảng ít nhất 20.000 năm về trước là nhờ vào rất nhiều tiến bộ: những chiếc kim khâu cho thấy sự tồn tại trang phục may mặc thời này, các bức tranh khắc mô tả áo da có mũ trùm đầu, các vật dụng nhà mồ trong các hang đá đánh dấu sự ra đời của quần áo, những bộ xương cáo và sói không có móng vuốt (được tìm thấy ở nơi khác sau khi bị tách ra vì lột da) cho thấy sự tồn tại của áo lông thú, những ngôi nhà cầu kỳ (với điểm nhấn là các lô trước, nền nhà và tường làm từ xương của voi ma mút), với những bếp lửa cũng rất cầu kỳ và ngọn đèn đá thắp bằng mỡ động vật và chiếu sáng suốt những đêm dài vùng Cực. Việc con người sinh sống ở vùng Siberi và Alaska lần lượt dẫn tới việc họ chuyển đến định cư ở các vùng Bắc và Nam Mỹ 11.000 năm về trước.

Hình 3: Bản đồ này mô tả những giai đoạn trong quá trình trải rộng khu phân bố của tổ tiên chúng ta từ cội nguồn ở châu Phi ra khắp nơi trên thế giới. Những con số thể hiện cho khoảng thời gian ước tính từ thời điểm đó cho tới ngày nay. Những phát hiện về sau này tại những di chỉ khảo cổ học có niên đại lâu hơn cũng có thể chỉ ra rằng ở một số khu vực như là Siberia hay quần đảo Solomon, đã có người đến sinh sống vào thời điểm sớm hơn con số ước đoán được ghi ra tại đây.
Trong khi những người Neanderthan tìm kiếm thức ăn chỉ trong vòng vài dặm xung quanh nhà của họ, thì người Cro - Magnon và những người cùng thời với họ ở khắp châu Âu đã thực hiện những chuyến buôn bán dài, không chỉ là các vật liệu thô để sản xuất các công cụ mà còn là cả các đồ trang trí “chẳng mang lại ích lợi gì”. Các dụng cụ bằng đá có chất lượng cao như đá vỏ chai, ngọc thạch anh hay đá lửa đã được tìm thấy cách nơi khai thác hàng, trăm dặm. Hổ phách thuộc vùng Baltic đã đi tới tận Đông Âu, trong khi các vỏ sò của biển Địa Trung Hải được mang theo tới tận các phần lục địa của nước Pháp, Tây Ban Nha và Ukraina. Tôi đã nhìn thấy những mẫu rất tương đồng trong thời kỳ Đổ đá mới New Guinea, nơi mà những đồng tiền bằng vỏ ốc đáng giá như những đồ vật trang trí được buôn bán, trao đổi từ vùng biển lên tới tận cao nguyên, lông chim thiên đường thì ngược lại, trao đổi xuống tới tận miền biển, và những loại đá vỏ chai dùng để chế tạo các lưỡi đá đã được trao đổi từ một vài các mỏ quặng có giá trị lớn.
Những bằng chứng về cảm thụ nghệ thuật thể hiện trong việc trao đổi, buôn bán vào cuối thời kỳ Băng hà qua các đồ thờ cúng có liên quan tới những thành tựu mà ngày nay chúng ta thường ca ngợi nhiều nhất ở người Cro-Magnon, đó chính là nghệ thuật của họ. Được biết đến nhiều nhất, tất nhiên là các bức tranh khắc trên đá từ các hang động như Lascaux với những mô tả tuyệt vời về các loài vật mà ngày nay đã tuyệt chủng. Nhưng những bức phù điêu, các vòng cổ và mặt dây chuyền, hay các đồ điêu khắc làm bằng gốm nung, bức tượng thần Vệ nữ nhỏ với hình ảnh người phụ nữ với bộ ngực và mông vĩ đại, và cả những nhạc cụ gồm nhiều loại từ sáo đến trống lắc cũng ấn tượng không kém.
Không giống như người Neanderthal, chỉ một số ít có thể sống qua tuổi 40, một vài bộ xương của người Cro-Magnon cho thấy họ có thể thọ tới 60 tuổi. Rất nhiều người Cro-Magnon chứ không chỉ một vài như người Neanderthal vui thích cuộc sống bên con cháu của họ. Một vài trong số chúng ta đã quen với việc thu nhận thông tin từ sách báo hay ti vi sẽ cảm thấy rất khó đánh giá cao tầm quan trọng của việc này ngay cả đối với một vài người già sống trong xã hội chưa có chữ viết. Trong những ngôi làng ở New Guinea, cứ khi tôi hỏi những người đàn ông trẻ về một vài loài chim hay loại hoa quả không phổ biến là họ lại dẫn tôi đi gặp người cao tuổi nhất trong làng. Ví dụ như, khi tôi tới thăm hòn đảo Rennell ở Solomon vào năm 1976, rất nhiều người dân trên đảo chỉ cho tôi các loại quả dại có thể ăn được, nhưng chỉ có duy nhất một cụ già có thể nói cho tôi biết những loại quả dại khác mà có thể ăn được trong trường hợp khẩn cấp để tránh cơn đói. Ông ấy đã nhớ được những thông tin đó từ một trận lốc xoáy đã đổ bộ vào đảo Rennell trong thời thơ ấu của ông (khoảng năm 1905), phá hủy vườn tược và giảm số dân tới mức tuyệt vọng. Một con người đến từ một xã hội thuộc thời kỳ tiền văn minh chữ viết như thế có thể nói lên được điều khác biệt giữa sự sống và cái chết cho toàn bộ phần còn lại của nhân loại. Chính vì thế, sự thật rằng người Cro-Magnon đã sống sót nhiều hơn bất cứ người Neanderthal nào tới 20 năm có thể đã đóng một vai trò rất quan trọng trong thành công của họ. Việc sống thọ hơn đòi hòi không chỉ là kỹ năng sống sót mà còn cả những thay đổi về mặt sinh học, có thể cả về sự tiến hóa của thời kỳ mãn kinh ở nữ giới.
Tôi đã miêu tả Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại như thể tất cả các tiến bộ về công cụ và nghệ thuật đã đồng loạt xuất hiện khoảng 40.000 năm về trước. Nhưng thực tế là, những tiến hóa khác nhau cũng xuất hiện vào những thời điểm khác nhau. Cái xiên đã xuất hiện truớc cả cây lao hay cung và tên, trong khi các chuỗi hạt hay mặt dây chuyền đã xuất hiện còn trước cả những bức tranh khắc trên hang đá. Tôi cũng miêu tả những thay đổi như thể chúng giống nhau ở khắp mọi nơi, nhưng không phải vậy. Cùng sống vào cuối thời kỳ Băng hà là những người châu Âu, người Ukraina hay người Pháp, nhưng chỉ có người châu Phi mới tạo ra các chuỗi hạt từ trứng của đà điểu, chỉ người Ukraina dựng nhà từ xương của voi ma mút, và cũng chỉ người Pháp mới vẽ hình những con hà mã rậm lông lên hang đá.
Những biến thể của văn hóa qua thời gian và không gian hoàn toàn không giống như nền văn hóa bất biến của người Neanderthal. Chúng tạo thành bước đổi mới quan trọng nhất diễn ra cùng với quá trình tiến hóa thành người của chúng ta, cụ thể là khả năng tự đổi mới. Ngày nay, đối với chúng ta - những người không thể hình dung ra một thế giới trong đó, người Niger và người Latvia vào năm 1991 đã gần như có lượng của cải ngang nhau và bằng số tài sản của những người La Mã vào khoảng năm 50 trCN, thì sự đổi mới là hoàn toàn tự nhiên. Còn đối với người Neanderthal thì điều này rõ ràng là không thể tưởng tượng nổi.
Cho dù chúng ta hoàn toàn ngưỡng mộ nghệ thuật của người Cro-Magnon thì những công cụ bằng đá và đời sống săn bắt hái lượm của họ vẫn khiến chúng ta rất khó khăn trong việc nhìn nhận họ khác biệt nhiều so với con người thời kỳ tiền sử. Những công cụ bằng đá gợi lên hình ảnh nhóm đàn ông nguyên thủy đang khua gậy và gầm gừ khi họ kéo một người phụ nữ ra khỏi hang. Nhưng chúng ta có thể hình thành một ấn tượng chính xác hơn về người Cro-Magnon nếu tưởng tượng về những gì các nhà cổ sinh vật học tương lai sẽ kết luận sau khi khai quật một địa điểm khảo cổ trong làng của người New Guine từ những năm 50 của thế kỷ XX này. Các nhà cổ sinh vật học sẽ tìm thấy một vài mẫu vật giản đơn của chiếc cuốc đá. Hiển nhiên là, tất cả những tài sản vật chất khác được làm bằng gỗ và sẽ bị mục nát đến tàn lụi. Không chút gì còn sót lại của những ngôi nhà nhiều phòng, những chiếc hộp đẹp đẽ của nữ giới, trống và sáo, thuyền có mái chèo và những vật dụng chạm trổ được sơn phủ lên có chất lượng mang đẳng cấp thế giới. Sẽ không còn dấu vết của những ngôi làng là phức hợp của ngôn ngữ, những bài ca, các mối quan hệ xã hội và những hiểu biết về thế giới tự nhiên.
Nền văn hóa vật chất của người New Guine ngay cả đến gần đây vẫn còn rất “hoang sơ” (như trong thời kỳ Đồ đá) bởi những lý do lịch sử, nhưng những con người New Guine thì là những người hiện đại thực thụ. Những người New Guine có tổ tiên sống ở thời kỳ Đồ đá giờ có thể lái máy bay, sử dụng máy vi tính và lãnh đạo cả một nhà nước hiện đại. Nếu chúng ta có thể quay về khoảng 40.000 năm trước bằng cỗ máy thời gian, tôi phỏng đoán rằng chúng ta có thể tìm ra một người Cro-Magnon hoàn toàn giống với người hiện đại, có thể học để lái được một chiếc máy bay. Họ đã chế tạo ra các công cụ bằng đá và bằng xương chỉ bởi vì họ không sáng chế ra những công cụ khác và đó là tất cả những gì họ đã có cơ hội để học hỏi.
Người ta thường cho rằng việc người Neanderthal tiến hóa thành người Cro-Magnon chỉ xảy ra ở châu Âu. Khả năng đó đến nay dường như ngày càng không chắc chắn. Những bộ xương người Neanderthal cuối cùng được phát hiện ở một nơi nào đó cách đây khoảng 40.000 năm vẫn hoàn toàn giống với đại bộ phận người Neanderthal, trong khi những người Cro-Magnon đầu tiên xuất hiện ở châu Âu cùng thời điểm, xét về mặt giải phẫu học đã hoàn toàn hiện đại. Vì những con người hiện đại về mặt giải phẫu đã xuất hiện ở châu Phi và vùng Trung Đông trước đó hàng chục nghìn năm, nên có lẽ xác thực hơn khi cho rằng những người hoàn thiện về mặt giải phẫu đó đã xâm nhập vào châu Âu từ những hướng như vậy chứ không phải họ đã tiến hóa trong lòng châu Âu.
Vậy điều gì đã xảy ra khi những người Cro-Magnon di cư đó gặp những người Neanderthal bản địa? Chúng ta chỉ có thể chắc chắn về kết quả cuối cùng, đó là: chỉ trong một thời gian ngắn, đã không còn một người Neanderthal nào nữa. Một kết luận dường như không tránh khỏi là sự xâm lấn của người Cro-Magnon bằng một cách nào đó đã gây ra sự tuyệt diệt của người Neanderthal. Có thể có rất nhiều nhà cổ sinh vật học sẽ phản bác lại kết luận này và cho rằng thay vào đó nguyên nhân là do sự thay đổi của môi trường. Ví dụ như, trong lần ấn bản thứ 15 của cuốn Từ điển Bách khoa toàn thư Britannica đã kết luận trong mục từ dành cho người Neanderthal với một câu: “Sự biến mất của người Neanderthal, cho dù chưa được xác định chắc chắn về mặt thời điểm, có lẽ là do những người này sống vào giai đoạn băng tan rồi sau đó không thể chịu đựng nổi sự khắc nghiệt của giai đoạn Băng hà tiếp theo.” Trên thực tế, người Neanderthal đã sống sót cho tới hết thời kỳ Băng hà cuối cùng rồi đột nhiên biến mất trong vòng trên 30.000 năm sau khi họ xuất hiện, và biến mất hoàn toàn trong một khoảng thời gian tương đương như thế.
Phỏng đoán của tôi là những sự kiện xảy ra ở châu Âu vào thời điểm diễn ra Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại khá tương đồng với những sự kiện đã từng xảy ra lặp lại nhiều lần trong thế giới hiện đại, những điều đã từng xảy ra bất cứ khi nào một số lượng người với công nghệ kỹ thuật tiến bộ hơn xâm chiếm những vùng đất có số người ít hơn và công nghệ kỹ thuật cũng lạc hậu hơn. Ví dụ như, khi thực dân châu Âu xâm lược Bắc Mỹ, phần lớn những thổ dân da đỏ Bắc Mỹ bị chết do gặp phải những trận đại dịch được báo trước, đa số những người còn sống sót sẽ bị giết ngay sau đó hay bị đuổi khỏi mảnh đất của chính họ; một vài người trong số những người sống sót tiếp nhận kỹ thuật của châu Âu (về ngựa và súng) và tồn tại được một thời gian, và rất nhiều người trong số những người còn lại ấy bị dồn vào những vùng đất mà người châu Âu chẳng thích thú gì, một số khác thì lại kết hôn với người châu Âu. Sự thay thế thổ dân châu Úc bởi những người châu Âu đi xâm chiếm, và cả sự diệt vong của các bộ tộc người San ở Nam Phi trước sự xâm lược của người nói tiếng Bantu thuộc thời kỳ kim khí cũng diễn ra tương tự.
Bằng phép loại suy, tôi đoán rằng người Cro-Magnon hẳn cũng đã gây ra các bệnh dịch, chém giết và chiếm chỗ của người Neanderthal. Nếu như vậy, sự thay thế người Neanderthal bằng người Cro-Magnon là dấu hiệu báo trước cho những gì sẽ xảy ra khi con cháu của kẻ chiến thắng ấy bắt đầu xuất hiện những cuộc cạnh tranh lẫn nhau. Việc người Cro-Magnon đánh bại những người Neanderthal có cơ bắp phát triển hơn ban đầu có vẻ như là nghịch lý, nhưng vũ khí nhiều khi là điều quyết định hơn so với sức mạnh thể lực. Tương tự như vậy, không thể có chuyện gorilla có khả năng đe dọa, hủy diệt loài người ở vùng Trung Phi mà chính là ngược lại. Con người với những cơ bắp chắc khỏe đòi hỏi một lượng lớn thức ăn, và họ cũng chẳng có nhiều lợi thế nếu những con người nhỏ nhắn, thông minh hơn lại có thể sử dụng công cụ để làm cùng một công việc ấy.
Giống như những thổ dân da đỏ ở các vùng đồng bằng rộng lớn, một vài người Neanderthal cũng học một số cách của người Cro-Magnon và tiếp tục tồn tại trong một khoảng thời gian. Đây là ý nghĩa duy nhất tôi có thể rút ra được từ một nền văn hóa gây hoang mang với tên gọi là Châtelperronian, đã tồn tại ở Tây Âu cùng lúc với nền văn hóa điển hình của người Cro-Magnon (còn được gọi là văn hóa Aurignacian) trong một khoảng thời gian ngắn sau khi người Cro-Magnon tới. Các công cụ bằng đá của văn hóa Châtelperronian là sự trộn lẫn giữa công cụ điển hình của người Cro-Magnon và người Neanderthal, nhưng thường thiếu các công cụ làm từ xương và nghệ thuật tiêu biểu của người Cro-Magnon, vấn đề xác định người sáng tạo ra nền văn hóa Châtelperronian đã được các nhà cổ sinh vật học bàn luận cho mãi tới khi một bộ xương dưới lòng đất với các hoa văn của nền văn hóa Châtelperronian được tìm thấy ở Saint - Césaire nước Pháp đã chứng tỏ đó là người Neanderthal. Có thể sau đó một vài người Neanderthal cố gắng sử dụng các công cụ của người Cro-Magnon và tồn tại được lâu hơn so với những người cùng nguồn gốc với mình.
Một điều vẫn chưa được sáng tỏ đó là kết quả của những thí nghiệm tạp giao được nhắc tới trong các tiểu thuyết khoa học viễn tưởng. Liệu có thể có một vài người đàn ông Cro-Magnon đến xâm chiếm đã giao phối với một số phụ nữ Neanderthal? Người ta không tìm thấy một bộ xương hóa thạch nào có thể coi là bằng chứng xác thực của con lai giữa người Neanderthal với người Cro-Magnon. Nếu cách cư xử của người Neanderthal là tương đối chưa hoàn chỉnh và đặc điểm giải phẫu học của họ có sự khác biệt rõ rệt đúng như tôi mong đợi, thì có thể rất ít người Cro-Magnon muốn giao phối với người Neanderthal. Tương tự như vậy, mặc dù ngày nay con người và các loài vượn người vẫn tiếp tục song song tồn tại, tôi không nhận thấy có bất cứ khả năng giao phối nào giữa hai bên. Trong khi người Cro-Magnon và người Neanderthal không khác xa nhau tới vậy, nhưng những khác biệt vẫn có thể là điều khiến cả hai giống người này chán ngấy nhau. Và nếu những người phụ nữ Neanderthal có thể điều chỉnh thời gian mang thai trong khoảng 12 tháng thì các bào thai là con lai cũng có thể không sống sót nổi. Tôi nghiêng về hướng thu thập những bằng chứng phủ định một mặt giá trị nào đó để chấp nhận rằng quá trình giao phối giữa hai chủng tộc người nếu có thì cũng diễn ra rất hiếm hoi và nghi ngờ rằng tổ tiên của những người châu Âu ngày nay có thể mang gen nào đó của người Neanderthal.
Đã là quá đủ để nói về Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại diễn ra ở phía Tây châu Âu. Sự thay thế người Neanderthal bởi những người hiện đại bằng cách nào đó đã xảy ra sớm hơn ở phần phía Đông châu Âu và còn sớm hơn ở cả vùng Trung Đông, nơi mà việc sở hữu cùng một khu vực rõ ràng đã được chuyển đổi qua lại giữa người Neanderthal và người hiện đại vào khoảng 60.000 đến 90.000 năm về trước. Sự chậm chạp trong giai đoạn quá độ ở vùng Trung Đông so với tốc độ của nó ở Tây Âu gợi cho chúng ta ý tưởng rằng người hiện đại về mặt giải phẫu sống gần khu vực Trung Đông trên 60.000 năm trước vẫn chưa thực sự phát triển những cách cư xử hiện đại mà cuối cùng đã đưa họ vượt lên hẳn so với người Neanderthal.
Do vậy, chúng ta có một bức phác họa về mặt giải phẫu của con người hiện đại xuất hiện ở châu Phi 100.000 năm về trước, nhưng ban đầu, những người hiện đại ấy vẫn tạo ra các công cụ y hệt của người Neanderthal và không có bước tiến bộ nào vượt qua họ. Khoảng 60.000 năm trước, một vài bước ngoặt thần kỳ trong cách cư xử đã được bổ sung vào cấu trúc giải phẫu hiện đại. Những đột phá này (chúng có thể xảy ra lâu hơn là trong một khoảnh khắc) tạo nên những con người sáng tạo, hoàn toàn hiện đại đã thúc đẩy việc mở rộng về hướng Tây, từ vùng Viễn Đông đi tới châu Âu và nhanh chóng thay thế người Neanderthal ở châu Âu. Có lẽ, những người hiện đại này cũng tản về phía Đông đi vào châu Á và Indonesia thay thế cho nhóm người trước đó đã sống tại đây, những người mà chúng ta có hiểu biết rất ít về họ. Một vài nhà nhân chủng học cho rằng những phần còn sót lại trong đầu lâu của những người đầu tiên đã sống ở khu vực châu Á và Indonesia thể hiện những dấu vết dễ nhận thấy ở người châu Á hiện đại và thổ dân châu Úc. Và nếu như vậy, những người hiện đại xâm chiếm có thể đã không tiêu diệt thổ dân châu Á như họ đã từng làm với người Neanderthal mà thay vào đó đã có sự giao phối giữa họ.
2.000.000 năm về trước, một vài giống người cổ đã cùng tồn tại bên nhau cho tới khi một biến cố lớn làm cho chỉ còn lại một giống người. Ngày nay, người ta nhận ra rằng có một biến động tương tự đã xảy ra trong khoảng 60.000 năm trở về trước, và rằng tất cả chúng ta sống trên Trái đất ngày nay là hậu duệ của những người chiến thắng trong biến cố đó. Vậy nhân tố cuối cùng còn thiếu đã giúp tổ tiên chúng ta chiến thắng là gì?
Việc xác định các nhân tố góp phần tạo nên Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại đã đặt ra một vấn đề khảo cổ mà chưa có câu trả lời thỏa đáng. Nó không được thể hiện trong các bộ xương hóa thạch. Dường như chỉ có một sự thay đổi khoảng 0,1% trong toàn bộ ADN của chúng ta. Thay đổi nhỏ nhoi nào trong gen có thể làm nên những biến đổi vĩ đại đến như vậy?
Giống như một vài nhà khoa học khác đều có những phỏng đoán của riêng mình về vấn đề này, tôi chỉ có thể nghĩ về một câu trả lời đúng nhất: cơ sở giải phẫu của một một thứ ngôn ngữ được phát âm phức tạp. Tinh tinh, gorilla và ngay cả đối với khỉ đều có khả năng giao tiếp bằng biểu tượng mà không phụ thuộc vào lời nói. Cả tinh tinh lẫn gorilla đều đã được dạy dỗ để giao tiếp thông qua các âm điệu của bảng điện tử được điều khiển bởi máy vi tính. Những con vượn người đơn lẻ có thể lĩnh hội một “vốn từ vựng” gồm hàng trăm các biểu tượng. Trong khi các nhà khoa học tranh cãi về mức độ giống nhau của những giao tiếp này so với ngôn ngữ của loài người thì có một chút ít nghi ngờ rằng nó bao gồm một dạng của truyền đạt thông tin bằng biểu tượng. Đó là một dấu hiệu đặc biệt hay phím của máy tính biểu trưng cho một điều gì cụ thể khác nữa.
Các loài linh trưởng có thể sử dụng không chỉ các ký hiệu hay các các nút của máy tính mà còn cả âm thanh như những biểu tượng. Ví dụ như, những chú khỉ hoang dã mượt mà xuất hiện một dạng tự nhiên của các ngôn ngữ biểu tượng, dựa vào những tiếng lẩm bẩm khác nhau rất nhỏ thốt ra với ý nghĩa “báo rừng”, “đại bàng” hay “rắn”. Một con tinh tinh một tháng tuổi có tên là Viki, được một nhà tâm lý học và vợ của mình nhận nuôi và dạy dỗ nó giống như con gái của họ, đã học để “nói” gần như hoàn toàn bốn từ: “papa” (cha), “mama” (mẹ), “cup” (cốc) và “up” (lên). (Tinh tinh thở còn dễ hơn là nói ra những từ này). Nhờ vào khả năng sử dụng âm thanh trong giao tiếp bằng biểu tượng này, tại sao các linh trưởng không đi tới việc phát triển một thứ ngôn ngữ tự nhiên phức tạp hơn của riêng nó?
Câu trả lời dường như liên quan tới cấu trúc của thanh quản, lưỡi và các cơ liên kết, các bộ phận đã cho chúng ta một cơ chế điều khiển tốt những âm thanh được nói ra. Giống như chiếc đồng hồ Thụy Sỹ, tất cả các bộ phận trong đó được thiết kế rất tuyệt vời nhằm chỉ giờ mà thôi, các dây thanh âm của chúng ta phụ thuộc vào các chức năng hết sức chính xác của rất nhiều các cơ quan và hệ cơ. Mọi người cho rằng tinh tinh không có khả năng về mặt cơ học để có thể phát âm một vài nguyên âm phổ biến nhất của loài người. Nếu chúng ta quá bị hạn chế với một vài nguyên âm và phụ âm, thì hệ thống từ vựng của riêng mỗi người sẽ giảm đi rất nhiều. Chẳng hạn như, lấy đoạn văn này làm ví dụ, bạn hãy biến đổi tất cả các nguyên âm khác ngoài “a” và “i” thành một trong hai nguyên âm đó, biến tất cả các phụ âm khác ngoài “d” hay “m” hay “s” thành một trong ba phụ âm trên và thử xem bạn còn có thể hiểu được bao nhiêu phần của đoạn văn này.
Đó là lý do vì sao sẽ thật hợp lý khi cho rằng những thiếu sót đó có lẽ chính là do những khác biệt trong cấu trúc của thanh quản của người tiền sử, khiến cho chúng ta ngày nay có sự điều chỉnh tốt hơn và cho phép hình thành nên những thanh âm có độ đa dạng hơn rất nhiều. Những biến đổi tốt đẹp đó trong cơ không thể phát hiện được từ những đầu lâu hóa thạch.
Thật là đơn giản để đánh giá cao cách thức mà một thay đổi nhỏ nhoi trong giải phẫu đưa đến khả năng nói có thể tạo nên sự thay đổi lớn lao trong cách cư xử. Với ngôn ngữ, chỉ mất có vài giây để có thể truyền đạt được toàn bộ thông điệp: “Hãy rẽ phải ngay ở cái cây thứ tư và dụ con linh dương cái về phía có các hòn đá cuội màu đỏ, tôi sẽ trốn ở đó để đâm nó.” Nếu không có ngôn ngữ, toàn bộ lời nhắn gửi đó không thể trao đổi được. Không có ngôn ngữ, hai người tối cổ không thể cùng nhau động não về cách thức để phát minh ra những công cụ tốt hơn hay bức tranh khắc trên hang động mang ý nghĩa gì? Không có ngôn ngữ, ngay cả một người tối cổ cũng rất khó khăn trong việc nghĩ ra cách để tự cô ấy hay anh ấy cải tiến một công cụ tốt hơn.
Tôi không cho rằng Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại xảy ra ngay khi các đột biến làm thay đổi cấu trúc giải phẫu của lưỡi và thanh quản xuất hiện. Dựa trên cấu trúc giải phẫu đúng đắn, con người phải mất hàng nghìn năm mới đạt tới trình độ hoàn thiện về cấu trúc ngôn ngữ như chúng ta biết tới ngày nay - để đi tới sự công nhận các trật tự từ, các thời và phát triển cả vốn từ vựng. Trong chương 8, tôi sẽ xem xét các giai đoạn có thể xảy ra mà nhờ đó ngôn ngữ của chúng ta dần trở nên hoàn hảo. Nhưng nếu thành phần còn thiếu bao gồm những thay đổi trong cấu trúc dây thanh quản cho phép điều khiển tốt các âm thanh thì khả năng tiến hóa cũng theo đó mà từ từ phát triển. Chính các ngôn ngữ dùng để trao đổi ấy đã khiến chúng ta trở nên tự do.
Cách giải thích này theo tôi dường như đúng cho sự thiếu hụt những bằng chứng về con lai giữa người Neanderthal và người Cro-Magnon. Ngôn ngữ đã đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong mối quan hệ giữa đàn ông và đàn bà, và cả con cái của họ nữa. Điều này không để phủ nhận rằng những người mù hay điếc vẫn có thể học hỏi để thực hiện tốt chức năng của họ trong đời sống hiện nay, nhưng họ làm được như vậy bằng việc học để tìm ra sự thay thế cho ngôn ngữ nói đã luôn tồn tại. Nếu ngôn ngữ Neanderthal có thể đơn giản hơn rất nhiều so với chúng ta ngày nay hay chưa từng xuất hiện lúc đó, thì sẽ không có gì đáng ngạc nhiên khi những người Cro-Magnon đã không lựa chọn kết hôn với người Neanderthal.
Tôi đã biện luận rằng chúng ta đã hoàn toàn hoàn thiện về mặt giải phẫu và cách cư xử cũng như ngôn ngữ trước thời điểm khoảng 40.000 năm trước và rằng người Cro-Magnon có thể học để lái máy bay phản lực. Nếu là như thế, tại sao lại mất nhiều thời gian đến vậy sau Bước nhảy vọt để chúng ta có thể phát minh ra chữ viết và xây dựng điện Phathenon? Câu trả lời có thể khá tương đồng với cách giải thích tại sao những người La Mã, những nhà kiến trúc sư đại tài đã không tạo ra bom nguyên tử. Để đạt tới trình độ có thể tạo ra được một quả bom A đòi hỏi tới những tiến bộ về công nghệ của 2.000 năm sau đó vượt qua trình độ của người La Mã, ví dụ như sự khám phá ra thuốc nổ và ngành toán tích phân - vi phân, sự phát triển của lý thuyết hạt nhân và làm giàu uranium. Tương tự như vậy, chữ viết và ngôi đền Phathenon phụ thuộc vào 10.000 năm tích lũy những tiến triển sau sự chinh phục của người Cro-Magnon - những phát triển mà trong đó bao gồm cả cung, mũi tên, các đồ gốm, thuần hóa các loại thực vật và động vật và rất nhiều những thứ khác nữa.
Cho tới thời điểm của Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại, văn hóa loài người đã phát triển với tốc độ của một con sên bò qua hàng triệu năm. Tốc độ đó được đánh dấu bởi tốc độ chậm chạp của những thay đổi về mặt di truyền. Sau bước nhảy vọt đó, sự phát triển về văn hóa không còn phụ thuộc vào biến đổi di truyền nữa. Bất chấp những thay đổi không đáng kể về mặt giải phẫu của chúng ta, vẫn có những bước tiến xa hơn về mặt văn hóa trong khoảng 40.000 năm cuối cùng so với hàng triệu năm trước đó. Nếu có một du khách từ ngoài vũ trụ tới Trái đất vào thời kỳ của người Neanderthal, con người không thể đứng tách ra như một thực thể độc đáo nhất trong tất cả các loài. Phần lớn những vị khách đó có thể đề cập tới con người cùng với các loài hải ly, chim thiên đường và kiến thợ như một ví dụ về các loài với các tập tính khác nhau, không hơn. Không biết rằng, người khách đó có thể nhìn thấy trước những thay đổi diễn ra không lâu sau đó biến con người thành sinh vật thượng đẳng trong lịch sử sự sống trên Trái đất, có khả năng hủy diệt mọi sự sống hay không?