7 giờ sáng tôi rời khách sạn để tìm cách đi đến làng Choglamsar, nơi tổ chức pháp hội. Anh chàng tiếp tân cho biết nếu đi taxi thì hết 300 rupee (106 nghìn đồng), còn đi xe buýt thì chỉ mất 20 rupee (7 nghìn đồng). Nhưng tôi không biết đường ra trạm xe buýt và được biết từ khách sạn ra trạm xe buýt cũng khá xa thế nên tôi phải đi taxi ra trạm xe buýt. Khi chiếc taxi thả tôi xuống thì đã thấy một đám đông những người từ phương Tây, châu Á, người Ấn, người Tạng... mọi người đứng vẫy xe rồi cùng nhau ào lên một cách rộn ràng và vui vẻ. Tôi đứng tần ngần không dám leo lên cùng vì thấy xe nào cũng chật cứng người. Vừa lúc đó tôi nhìn thấy một bác người phương Tây lớn tuổi có vẻ thân thiện, tôi chạy tới hỏi bác cách bắt xe, bác nói cứ vẫy, xe nào dừng lại là leo lên, đơn giản thế thôi. Tôi nghe lời bác, đứng vẫy mãi, bao nhiêu xe đến rồi đi mà tôi vẫn chưa leo lên được chiếc nào. Khi thấy một chiếc xe tải trườn tới rồi đứng im, mấy chị Tây leo lên, tôi cũng leo theo, bác Tây lớn tuổi bảo tôi đừng leo lên thùng xe tải mà mở cửa vào xe ngồi, chờ mãi nhưng không thấy bác tài xế mở cửa, tôi quyết định phải leo lên thùng xe tải cùng mọi người. Như một trò đùa nghịch ngợm, tôi vừa leo lên thùng xe xong thì bác tài xế nói rằng xe này ko đi Choglamsar, cả đám chúng tôi lại lục tục leo xuống. Cả đám cứ như lũ trẻ con đang chơi trò cùng nhau trong một buổi sáng rộn ràng đầy ánh nắng.
Chợt tôi nghe tiếng hô vang to: “Choglamsar! Choglamsar!”. Lần này thì đúng xe rồi đây, tôi cùng mọi người lên xe, một vài anh chị người Ladakh bảo tôi lên trước chỗ ghế ngay cạnh tài xế mà ngồi. Vậy là tôi lên ghế trước, chỗ này tầm mắt không bị che như các băng ghế phía sau. Tôi nhìn những dòng người đang cùng đi trên một con đường: xe ô tô, xe máy, taxi, xe buýt và cả đi bộ. Tôi ngắm nhìn những bộ áo quần truyền thống rực rỡ sắc màu, trang phục của khách hành hương đến từ nhiều đất nước khác nhau, lẫn vào đó là sắc xanh vằn vện của bộ cảnh phục đứng rải rác suốt dọc đường lướt qua ngoài cửa xe.
Đến cuối trạm, mọi người xuống xe đi bộ cùng nhau vào pháp hội. Tôi lạc giữa những nụ cười và lời râm ran cầu nguyện. Suốt một kilômét đi theo dòng người ngày càng đông, tôi cảm nhận được sự ấm áp đang lan tỏa như những tia nắng mặt trời. Đến cổng, tôi thấy ngay bàn hướng dẫn, tôi bước đến và đưa một bản photo hộ chiếu, hai tấm hình 3x4 xentimét và đóng 20 rupee là đã có một tấm thẻ dành cho khách hành hương đúng như lời dặn chiều hôm trước của anh hướng dẫn. Tôi vừa đeo thẻ xong thì một tình nguyện viên ra hiệu cho tôi đi theo anh ấy. Tôi bước qua khu vực kiểm tra hành lý và máy quét, đeo ba lô lên vai và bước vào trong, tôi choáng ngợp bởi trước mắt là một rừng người. Một cảm giác thiêng liêng bao trùm, tôi nhẹ nhàng bước đi, tưởng chừng bước chân của mình có thể phá vỡ không khí trang nghiêm nơi này nên tôi cố đi thật nhẹ nhàng. Khi đi ngang khu vực trung tâm, tôi nhìn thấy ngài Dalai Lama đang mỉm cười, bất giác tôi mỉm cười, một cảm giác nhẹ tênh.
Hôm nay là ngày thứ hai, ngài Dalai Lama đang giảng về lá thư gửi bạn của ngài Long Thọ [1]. Tôi đeo tai phone, tìm kênh phiên dịch tiếng Việt FM: 92MH. Trời nắng nóng chứ không lạnh như lúc tôi rời khỏi nhà, chiếc áo ấm dày cộp được tôi trùm kín đầu cho khỏi rát da rồi tôi ngủ lúc nào không hay trong tư thế ngồi và tôi đã ngủ ngon lành cho đến giờ nghỉ trưa.
Giờ nghỉ trưa, khi tôi đang chưa biết đi đâu thì nghe í ới tiếng Việt ngay bên tai, tôi đi nhanh tới phía họ và nhận ra đây là đoàn của một công ty du lịch tâm linh đến từ Việt Nam. Mấy người trong đoàn khi biết tôi đi một mình lại cầm máy ảnh thì rất ngạc nhiên vì hầu như không mấy ai trong đoàn dám nghĩ đến chuyện đi Ấn một mình và họ cũng không được phép mang máy ảnh vào pháp hội. Thế là tôi trở thành phó nháy cho mọi người trong đoàn, chụp tới chụp lui vài tấm rồi chào mọi người, tôi lang thang vào bên trong một tu viện. Đang ngồi ngắm những cái chuông chuyển kinh hầu như không được dừng lại ngơi nghỉ phút nào bởi dòng người liên tục đi đến và xoay chuông thì tôi được một nhóm người địa phương mời ăn bánh, uống nước. Có vẻ như tôi đã bỏ quên tính hay ngại ngùng thường ngày ở nơi nào rồi nên tôi nhập chung luôn với mọi người, ngồi ăn và nói chuyện rôm rả. Nhiều lúc không thể hiểu mọi người nói gì bởi tiếng Anh của chúng tôi đều như những đứa trẻ vừa bi bô tập nói.
Được mời ăn thử loại bánh được gọi là kulcha [2], tôi hí hửng đưa lên miệng cắn, hai hàm răng vừa chạm vào cái bánh thì đột ngột ngừng lại trước độ cứng của nó. Tôi phải nhúng bánh vào ly trà sữa cho mềm rồi mới có thể khiến cái bánh trở thành loại thực phẩm có thể nhai và nuốt được. Ăn xong, tôi tựa lưng vào tường và duỗi chân ra, thu vào tầm mắt là những chú chim bồ câu đang đậu trên một tháp chuông, khoảng không gian yên bình đến lạ. Tôi ngồi nghỉ một lúc rồi đứng dậy chào mọi người để quay lại pháp hội, trước khi đi tôi đã kịp quay một vòng chuông chuyển kinh vừa niệm lầm rầm: “Om Mani Padme Hum”.
Hơn 3 giờ chiều đã kết thúc bài học ngày hôm đó. Tôi đang kiếm xe buýt về lại khách sạn thì gặp một sư cô người Úc gốc Việt cùng mẹ sư cô và một chị gái tên là Trinh, vậy là tôi nhập đoàn đi chung về Leh và vào một quán ăn.
Tôi không đói nhưng vì tò mò các món ăn lạ và cũng không muốn làm phật lòng sự nhiệt tình của sư cô nên tôi chọn món thukpa [3]. Chị Trinh kể rằng vừa đến Leh là chị nằm bẹp, đau đầu, nôn mửa mất hai ngày mới ra khỏi khách sạn được bởi sự chênh lệch độ cao. Nghe vậy, tôi thầm nhớ đến ngày đầu tiên mộng mị trong khách sạn, tự nhủ rằng thì ra sức khỏe của mình vẫn tốt hơn chị Trinh. Ăn xong tôi chào mọi người về khách sạn thu dọn hành lý để quay lại nhà bác Tashi theo lời hẹn.
Vừa tung tăng bước vào khách sạn Tso-kar, tôi ngỡ ngàng bởi trước mắt tôi là anh Dehlex chủ khách sạn, bên phải là bác Tashi chủ homestay, bên trái là anh Himanshu bạn của anh Sachin, ba người đàn ông đang ngồi chờ tôi bên những ly trà. Tôi khựng lại và cảm thấy bối rối.
Anh Dehlex mỉm cười mời tôi một ly trà sữa. Bác Tashi nói rằng bác ấy đến đón tôi vì đây là điều tốt nhất mà bác ấy có thể làm cho tôi lúc này. Anh Himanshu không nói gì chỉ lặng im quan sát tôi.
Vừa lúc ấy tôi nhận được tin nhắn của anh bạn Sachin cho biết rằng vì biết tôi đang bị ho nên anh Himanshu đến để xem tình hình sức khỏe của tôi có ổn hay không, nếu không có vấn đề gì thì tôi có thể về làng Saboo và ở nhà bác Tashi.
Sự chăm sóc tận tình của những người không hề quen biết giữa vùng đất hoàn toàn xa lạ, khí hậu khắc nghiệt khiến tôi cảm thấy ấm áp và biết ơn vô cùng.
Sau khi thanh toán tiền khách sạn và chào mọi người, tôi lên xe và bác Tashi đưa tôi về làng Saboo. Khoảng 30 phút sau, chúng tôi đã đến nơi.
Vào nhà, tôi được mời trà sữa cùng bánh pakleb [4] và kulcha (cái bánh khiến tôi suýt gãy răng cửa mà hồi trưa đã được nếm thử). Tôi hỏi thăm con gái bác Tashi đã về chưa thì được cho biết cô ấy ngày mai mới về, hiện tại chỉ có bác Tashi và tôi trong căn nhà này. Bác Tashi dẫn tôi vào phòng. Nhà bác Tashi có ba phòng dành cho khách ở trong những ngày này nhưng hiện tại chỉ có mình tôi nên bác cho phép tôi chọn bất cứ phòng nào mà tôi thích. Như một đứa trẻ con được cho kẹo, tôi lăng xăng chọn ngay căn phòng có cửa sổ nhìn ra núi.
Tôi đem đồ vào phòng, đóng cửa thay đồ mới phát hiện ra phòng này không có khóa bên trong. Tôi chạy ra hỏi bác Tashi về việc này và câu trả lời của bác khiến tôi tròn xoe mắt: “Các phòng khác cũng vậy, căn nhà này không có khóa và cả khu vực này cũng không mấy ai dùng khóa vì không có trộm cắp. Nếu cô muốn, tôi sẽ lắp khóa nhưng điều đó là không cần thiết vì khi cô ở nhà tôi, tôi sẽ chăm sóc cô như chăm sóc con bê sữa của tôi”. Tôi cười, gật đầu nhưng có lẽ là nụ cười méo xệch nên tôi thấy bác Tashi đi ra ngoài chừng 10 phút rồi quay lại với cái chốt cửa và hì hụi đóng cho tôi cái chốt cửa bên trong.
Có một Ấn Độ rất khác đang dần hình thành trong tôi.
❀ ❀ ❀
[1] . Bồ Tát Long Thọ (hay Long Thụ), dịch âm là Na-già-át-thụ-na, thế kỷ I – II, là một trong những luận sư vĩ đại nhất của lịch sử Phật giáo. Sư là người sáng lập Trung quán tông, Sư cũng được xem là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ, truyền thống Mật giáo cũng xếp Sư vào 84 vị Đại thành tựu.
[2] . Một loại bánh ăn kèm giống như bánh mì, được chế biến từ bột maida nở với men.
[3] . Món mì nước của người Tây Tạng, thành phần chủ yếu làm nên món ăn này là một loại mì sợi nhỏ có tên gọi là bhatsa, nó được so sánh như sợi mì gnochi của người Ý.
[4] . Một loại bánh giống như bánh mì, được chế biến từ bột lúa mạch.