4 giờ sáng, tiếng chuông leng keng đã vang lên đầu dãy nhà, cái lạnh của vùng núi như không muốn tôi rời khỏi chăn ấm. Tiếng chuông trở nên gần hơn, hình như ngay ngoài cửa, tôi bật dậy, bật đèn, vệ sinh cá nhân rồi choàng khăn và bước ra ngoài. Trời tối om, chiếc bóng điện đầu dãy không đủ chiếu sáng đến những căn phòng cuối cùng, tôi đóng cửa và bước đi.
Ngay ngày đầu tiên, thiền sinh cũ đã được vào phòng thiền nhỏ riêng cho từng người, được gọi là thất, đây là lần đầu tiên tôi được thực hành điều này. Bước chân nhẹ nhàng, người hướng dẫn đưa đôi đến phòng số chín rồi lui ra. Tôi đưa tay mở cửa và chợt giật mình, tôi đang đứng trước một căn phòng nhỏ xíu và tối om, tự nhiên tôi có cảm giác mình đang đứng trước những phòng giam còn gọi là “chuồng cọp” ở Côn Đảo, cảm giác sợ hãi xâm chiếm lấy tôi. Tôi lần mò tìm công tắc để bật đèn. Đèn sáng, tôi đã bình tĩnh hơn, cảm giác sợ hãi mất đi, tôi đóng cửa phòng và ngồi xuống, nhắm mắt. Cảm giác lúc này hoàn toàn khác hẳn, yên bình và ấm áp.
Mỗi ngày đều đặn bắt đầu bằng tiếng chuông leng keng lúc 4 gờ sáng và kết thúc vào 9 giờ tối, những bài giảng của thầy tôi đã nghe biết bao lần nhưng mỗi tôi lại nhận ra có điều gì đó mới mẻ trong những điều tưởng chừng đã cũ đó. Đến ngày thứ ba, lúc đứng trước cửa thất tôi chợt nghĩ sao mình lại phải bật đèn trong khi mình nhắm mắt suốt thời gian ở trong thất? Thời gian tôi mở mắt chỉ khoảng chừng vài giây trước khi ngồi xuống hành thiền thì tại sao tôi không cố vượt qua nỗi sợ bóng tối chỉ vài giây đó? Thế là tôi mở cửa, bật đèn, đóng cửa rồi tắt đèn. Bóng tối bao trùm, tôi ngồi xuống và nhắm mắt, chẳng còn nỗi sợ hãi nào nữa. Tôi đã vượt qua nó, nỗi sợ mơ hồ, sợ một điều không đáng sợ, tôi tự nhủ “Mình đang ở trên đất Dhamma cơ mà!”.
Tôi ngồi yên, có vẻ như là bất động nhưng có một nghịch lý rằng, kỳ thực bên trong tôi, tâm thức lại đang chuyển động không ngừng. Những mảnh chắp nối, những trạng thái, những thực chứng của tâm đang xen bởi những cảm giác khó chịu hay khoan khoái của thân khiến tôi bắt đầu phản ứng. Khi nhận ra mình đang phản ứng cũng là lúc tôi làm dịu lại tâm phản ứng để trở về với thực tại, quan sát cảm giác trên thân mình và khi quan sát cảm giác trên thân tôi đồng thời quan sát được cái tâm rong ruổi không ngừng đó. Tiếng chuông báo hiệu hết thời thiền vang lên, tôi từ từ mở mắt và nhìn thấy căn phòng một cách rõ ràng, bóng tối đã không còn.
Dòng chảy tâm linh đã được khởi động trong tôi một cách tự nhiên không hề ép buộc bởi niềm tin tôn giáo bắt nguồn từ gia đình hay nền giáo dục. Tôi đã từng đi đến những đình, miếu lắng nghe những câu chuyện ly kỳ, hấp dẫn có phần ma quái được truyền tai nhau từ đời này sang đời khác. Tôi đã từng đi đến nhà thờ, lặng im trong không khí linh thiêng, vời vợi đầy uy nghi và quỳ mọp dưới chân Đức Chúa Jesu. Tôi đã từng đi đến chùa tụng những thời kinh trong không khí đầm ấm, giữa không gian trầm mặc khói nhang. Tôi đã thực hành những nghi thức khác nhau về niềm tin về một đấng sáng tạo. Tôi đã thực hành vài phương pháp thiền khác. Tôi đã lắng nghe những lời dạy tuyệt vời của những vị thầy khác nhau. Nhưng khi kiến thức đầy ắp mà trái tim vẫn đầy bối rối, những lời dạy tuyệt vời của các vị thầy tôi vẫn học thuộc lòng nhưng khi điều không như ý trong cuộc đời xảy đến tôi lại quên mất lời thầy để chìm vào giận giữ và mù quáng, để sau đó lại rơi vào tiếc nuối đầy tham muốn.
Ngày thứ 10, khi thời thiền Mettapana vừa kết thúc trong phòng thiền chung thì có một điều gì đó kéo tôi nhìn về phía sau và tôi quay lại. Phía bên phải, phía sau tôi hai dãy thiền sinh, ngay hàng ghế thứ ba là một bác gái, chính xác hơn là một quý bà với khuôn mặt tĩnh lặng, đầu tóc búi cao và dáng người thư thái trong bộ đồ sa ri trắng, toát ra vẻ cao quý và đáng kính trọng. Tôi ngẩn ngơ ngắm bác và đột nhiên một nụ cười hiền hậu xuất hiện trên khuôn mặt bác ấy, ánh mắt bác hướng thẳng về phía tôi, tôi mỉm cười và gật đầu đáp trả. Tôi tự hỏi không chắc rằng các bà tiên được mô tả trong truyện cổ tích ngày xưa có đẹp bằng bác này không nhỉ?
Sự im lặng được chấm dứt, dòng “nước lũ” ngôn từ bị kìm nén suốt chín ngày bắt đầu tràn ra từ các thiền sinh. Mọi người gặp nhau nói chuyện với vẻ hân hoan, vui sướng tột độ, đâu đó dưới gốc cây, bên hành lang, trong phòng ngủ là những nhóm nhỏ thiền sinh tụ tập với vẻ hạnh phúc và an lạc ngập tràn, các vị thiền sư mỉm cười hiền dịu nhìn chúng tôi.
Cô bạn Kanchan hàng xóm bắt chuyện, khi biết tôi sẽ ở lại làm tình nguyện viên phục vụ cho khóa thiền tiếp theo thì cô ấy rủ tôi ngày mai, sau khi khóa thiền kết thúc hai đứa sẽ leo lên dãy núi bao bọc thiền trường, bởi mỗi ngày khi mở cửa phòng, cô ấy đều bị màu xanh của dãy núi đó lôi cuốn.
Buổi sáng cuối cùng của khóa thiền, mọi người ríu rít ôm chầm lấy nhau nói lời từ biệt. Sau khi mọi người rời đi, tôi bước vào văn phòng, ngại ngần chưa biết bắt đầu từ đâu thì cô Shashi đã lên tiếng hỏi rằng phải chăng tôi sẽ ở lại làm tình nguyện viên phục vụ khóa thiền tiếp theo. Nếu đúng như vậy thì tôi có thể ở lại trong dãy phòng dành cho người phục vụ phía trên văn phòng của trung tâm nếu như tôi không có kế hoạch gì phải ra ngoài. Cô Shashi phân công công việc của tôi mấy ngày sắp tới sẽ là theo chị Asha chuẩn bị trong phòng thiền và ngoài ra mỗi ngày vào 8 giờ sáng và 6 giờ chiều thì tất cả mọi người sẽ có hai giờ thiền chung tại phòng thiền số bảy. Tôi mạnh dạn nói rõ với cô về việc tôi không thể mua được vé tàu trên mạng bởi đã hết vé còn vé máy bay thì vượt quá khả năng tài chính của tôi lúc này, cô Shashi liền đưa cho tôi điền thông tin vào một mẩu giấy và hứa sẽ nhờ người mua vé tàu giúp tôi. Tôi chào cô Shashi và rời văn phòng trở về phòng lấy hành lý đem lên căn phòng mà cô Shashi đã hướng dẫn.
Kanchan và tôi quyết định dạo quanh khu vực thiền trường nơi hằng ngày chúng tôi nhìn thấy một dãy núi xanh bao quanh trước khi cô ấy trở về Mumbai. Đến ngã ba, hai chúng tôi đang không biết đi về hướng nào thì một anh chàng người Ấn Độ xuất hiện, Kanchan hỏi đường, anh ấy chỉ xong rồi cười: “Hay hai bạn ghé nhà tôi chơi một lúc rồi đi, nhà tôi ngay trên đường lên núi”. Kanchan và tôi nhìn nhau, không hẹn mà cùng gật đầu.
Chúng tôi vừa dừng lại trước nhà anh ấy thì chỉ biết trầm trồ khen ngợi, ngôi nhà đẹp như một bức tranh thủy mặc. Đây là ngôi nhà cổ khoảng chừng 100 năm tuổi nằm gọn dưới những tán cây xanh. Vợ và ba đứa con gái ùa ra đón anh chàng cùng hai người khách lạ. Chúng tôi bước vào nhà, ngồi một lúc thì trà đen được mang lên, nóng hổi, thơm lừng. Một lúc nữa thì món poha được mang lên, dù đã ăn sáng nhưng chúng tôi không thể từ chối được.
Khi chúng tôi đang ăn poha và uống trà thì bất chợt một cơn mưa đổ xuống, vậy là cả buổi sáng chúng tôi chẳng thể rời đi. Tôi ngồi chơi với ba đứa trẻ, ngắm nhìn ngôi nhà, những hàng cây, tôi chẳng biết nói gì bởi cảm giác nồng ấm và sự dễ thương của cả gia đình. Đến gần trưa, sau khi cơn mưa tạnh, Kanchan và tôi bắt đầu lên núi, vợ chồng anh ấy dặn chúng tôi đi xong thì quay lại ăn trưa. Tôi đã cố từ chối nhưng có vẻ sự từ chối của tôi chỉ làm tăng quyết tâm mời chúng tôi quay lại bằng được nên cuối cùng thì tôi cũng gật đầu.
***
Sau những cái ôm và siết tay thật chặt, Kanchan rời Dhamma Giri, tôi quay lại văn phòng. Trên đường vào văn phòng tôi gặp chị Varsha, vừa thấy tôi chị cười tươi và hỏi tôi đi đâu từ sáng giờ mà chị không nhìn thấy. Tôi kể chuyện về dãy núi, về gia đình anh bạn mà Kanchan và tôi đã gặp trên đường, về bữa cơm trưa đầm ấm với gia đình anh ấy.
Tôi đi theo chị Varsha vào phòng ăn, nơi đã có một vài tình nguyện viên khác đến sớm để phục vụ khóa thiền tiếp theo. “Bạn tên gì?” là câu hỏi quen thuộc tôi được nghe mỗi khi gặp người lạ.
Gần 6 giờ chiều, tiếng gọi khe khẽ của các chị báo hiệu giờ hành thiền buổi chiều đã đến. Tôi bước ra đi theo các chị đi về phòng thiền số bảy, là phòng thiền nhỏ dành cho những người làm việc trong thiền trường và tình nguyện viên ở lại thực hành mỗi ngày. Tôi chọn một vị trí trống ở hàng thứ ba rồi ngồi xuống và nhắm mắt. Lời thầy vang lên, một bài giảng ngắn mà tôi chưa hề được nghe trước đây nhưng lại nhắc tôi về những bài học quen thuộc thầy đã dạy. Lời thầy vang đến từ một vọng âm sâu xa, nơi tôi nhận ra một khoảng trống của tâm. Tôi biết rằng không dễ để có được một không gian yên bình như vậy, càng không dễ dàng để có được thời gian đắm mình trong không gian yên bình và để có được sự yên bình bên trong lại còn khó khăn hơn. Còn tôi đang có cả ba điều đó ngay lúc này, tại nơi này đây.
Chúng tôi yên lặng, nhẹ nhàng rời khỏi phòng thiền trở về phòng nghỉ. Mọi người lại vây quanh trong phòng của tôi để hỏi về câu chuyện kỳ lạ của cô gái suốt mấy tháng trời đi quanh Ấn Độ một mình. Tôi kể câu chuyện của tôi bằng vốn tiếng Anh ít ỏi với nhiều phát âm sai và không đúng về cả ngữ pháp nhưng mọi người vẫn muốn nghe tôi kể nhiều hơn. Tôi ấp úng kể, ấp úng trả lời cho đến giờ đi ngủ.