Sáng hôm sau, khi trở mình dậy thì người tôi cứng đờ vì lạnh, tôi cố lắc lư cái khúc gỗ thân mình rồi xoa hai lòng bàn tay vào nhau cho ấm, rồi đưa lên xoa mặt, xoa chân mới ngồi dậy được. Tôi vừa chuẩn bị vừa xong cũng là lúc bác Tashi gọi tôi ra ăn sáng: bánh mì, bơ, cud [1] và trà sữa. Khi bác mời tôi dùng món curd, tôi đã thò tay vào túi lấy cuốn hộ chiếu đưa cho bác ấy, bác ấy lắc đầu lại mời tôi dùng thử món curd lần nữa, tôi lại đưa cho bác cuốn hộ chiếu lần nữa. Bác cứ nhìn tôi cầm cuốn hộ chiếu, tôi cũng nhìn bác cầm chén curd. Bất ngờ một tia sáng xẹt qua: “À, con hiểu rồi, đây là món curd, con cứ tưởng bác cần card của con như bên khách sạn”. Hai bác cháu cười sặc sụa chào ngày mới với sự hiểu lầm vừa được tạo ra bởi vốn tiếng Anh khiêm tốn của tôi.
Ăn sáng xong, bác Tashi chở tôi đến Choglamsar tham gia pháp hội. Xe bác chạy chầm chậm trên con đường làng, con đường chạy dọc theo hẻm núi thật ngoạn mục, giữa những dãy núi đá với màu nâu sẫm loang lổ, lởm chởm như được khắc vào thành đá tạo ảo giác siêu thực, phong cảnh đẹp như tranh vẽ. Ánh nắng xuyên qua những đám mây lững lờ chạm vào đỉnh núi, in lên vách núi những hình thù vui mắt. Những thửa ruộng xanh ngát tương phản với những ngọn núi đá trơ trọi bao quanh. Những nụ cười và lời chào “Juley” của người dân ven đường khi thấy chúng tôi đi ngang qua khiến cho quãng đường dường như ngắn lại. Càng gần tới pháp hội thì tốc độ di chuyển càng chậm nhưng không ai vội vàng, không có tiếng còi xe, tất cả trật tự, từ từ lăn bánh.
Ngày hôm đó tôi đến sớm, khi đi ngang chiếc ghế của ngài Dalai Lama tôi dừng lại, chiếc ghế ấy vẫn đang còn bỏ trống, rồi tôi đi về vị trí của mình bên góc trái của khu vực. Ngài Dalai Lama đã bắt đầu bài giảng về bức thư của Bồ Tát Long Thọ gửi cho vua Gautamiputra [2] (Nagarjuna’s letter to King Gautamiputra).
“Bức thư gửi một người bạn của Bồ Tát Long Thọ được người Tây Tạng quý chuộng suốt nhiều thế kỷ như là một bản văn căn bản cho những ai đi vào con đường của pháp. Qua sự thông hiểu và áp dụng những giáo huấn trong bức thư, người ta sẽ có thể đặt chân vững chắc lên con đường dẫn đến giải thoát như một con voi vững chắc đặt chân lên mặt đất khi nó bước đi. Bức thư gửi một người bạn có thể được chia làm hai phần.
Phần đầu là sự tích tập công đức, ở đây là con đường của kỷ luật đạo đức, nghiên cứu và thiền định dẫn người ta xa lìa: tham muốn cuộc đời này và tham muốn sinh tử như một toàn bộ.
Phần hai là sự tích tập trí huệ, ở đây là sự thấu hiểu, chứng ngộ giáo lý sâu xa và quý báu duyên sinh của Đức Phật, dẫn người ta đến giác ngộ cứu cánh của một vị Phật. Kỷ luật đạo đức, sự chấp nhận và tuân thủ những lời thệ nguyện khác nhau, dùng như nền tảng căn cơ nhất cho mọi thành tựu sau đó.
Việc nghiên cứu, học hỏi cũng giống như việc cầm ngọn đèn xua tan bóng tối vô minh và những ý kiến chủ quan sai lầm, cho phép người ta có được trí huệ cần thiết để đi trong con đường đến giải thoát. Thiền định làm bình lặng tâm thức, làm phát sinh những chỉnh sửa để xóa bỏ những nhiễm ô và thiết lập nền tảng của tỉnh giác, dẫn người ta đến chỗ hiểu được vô thường, khổ, vô ngã và tính không. Đã có những thứ cần thiết này, bấy giờ người ta ở nơi một vị trí để bắt đầu sự tìm kiếm trí huệ siêu việt của mình. Với thanh gươm hiển hách của tính không, người ta có thể diệt trừ vô minh như Đức Phật đã làm dưới cội cây bồ đề hơn 2.500 năm trước đây. Cả hai sự tích tập này là cần thiết để đạt giải thoát, như một con chim cần hai cánh để bay vút lên bầu trời.
Như vậy, nếu người ta theo lời chỉ dạy của đại thánh Long Thọ trong bức thư này, người ta sẽ đạt được giác ngộ tối thượng như Phật Thích Ca Mâu Ni [3].”
Tôi lại ngủ gật lúc nghe giảng, mỗi khi giật mình tỉnh dậy tôi lại tự nhéo vào má thật đau cho tỉnh ngủ nhưng rồi lại ngủ thiếp đi. Lúc tỉnh lại, tôi tự dằn vặt không lẽ mình vượt chặng đường xa thế này đến đây để ngủ sao nhưng tôi vẫn không thể vượt qua cơn buồn ngủ được, cứ vừa ngồi vừa gật gù thiếp đi trong cái nắng chang chang. Có lẽ cơ thể của tôi vẫn chưa hoàn toàn thích nghi với múi giờ và nhiệt độ nơi này.
Mới hơn 3 giờ chiều đã kết thúc bài học trong khi bác Tashi lại hẹn tôi tại bãi đỗ xe lúc 4 giờ. Thế nên tôi thong thả đi ra, nhắm thẳng tu viện trên đỉnh đồi mà đi tới, đi một lúc tôi phát hiện rằng mình đã... lạc đường. Tu viện thì vẫn ở trước mặt nhưng con đường tôi đi không giống chút gì với con đường hồi sáng. Tôi quành lại, rẽ vào một ngã khác, đi tiếp, lại... lạc. Nhìn đồng hồ mới 3 rưỡi, nhủ bụng thôi cứ đi tiếp, tôi vẫn cứ theo hướng tu viện trên đỉnh đồi mà bước.
Đi ngang bờ sông, tôi thấy một số người đang giặt đồ ven bờ. Tôi dừng lại trò chuyện và biết họ là người dân khu vực lận cận đến tham gia pháp hội, được sắp xếp ở trong khu vực lều trại. Có hàng nghìn người được ở trong những khu vực lều trại tạm này, khu vệ sinh công cộng được dựng tạm lên bên cạnh để phục vụ cho nhóm người này.
Cuối cùng thì tôi cũng ra được đường chính nhưng không thể tìm được bãi đậu xe, chỉ còn 10 phút nữa là 4 giờ. Tôi lấy điện thoại di động gọi cho bác Tashi nhưng không thể kết nối, thấy một vị sư Tây Tạng đang ngồi ngay quán trà, tôi mạnh dạn nhờ thầy gọi giúp nhưng cũng không thể kết nối. Một anh chàng người Ấn thấy vậy cũng lấy điện thoại ra gọi giúp nhưng cả ba điện thoại đều không kết nối được (đây là tình trạng chung khi sử dụng điện thoại tại khu vực này). 3 giờ 58 phút, một anh chàng xuất hiện như một thiên thần khi thấy chúng tôi loay hoay với cái điện thoại, anh móc điện thoại của mình ra gọi giúp tôi. Tôi nghe thấy giọng bác Tashi ở đầu dây bên kia và chưa đầy năm phút sau đã thấy bác ấy xuất hiện. Bác Tashi dẫn tôi đi ngược lại con đường tôi vừa đi.
Trên đường trở về tôi hỏi về công việc của bác Tashi, thì ra bác ấy là giáo viên tiếng Anh nhưng bác rất ít khi nói chuyện với người nước ngoài và chỉ thường nói tiếng Anh với người địa phương nên khi nghe tôi phát âm bác Tashi phải vừa nghe vừa đoán mới hiểu. Hai bác cháu chuyện trò râm ran trên con đường làng nhấp nhô đầy sỏi đá.
Về đến nhà, việc đầu tiên là tôi chạy ngay vào nhà vệ sinh nhưng nhà vệ sinh kiểu phương Tây hết nước, tôi tò mò qua “tìm hiểu” nhà vệ sinh kiểu Ấn và bật cười vì khám phá mới của mình. Nhà vệ sinh này ở tầng trên của ngôi nhà có khung cửa sổ nhìn ra khu vườn và dãy núi phía sau, phía dưới nhà vệ sinh là một căn hầm và có cửa để đi ra – vào lấy phân. Mỗi lần đi vệ sinh xong thì người sử dụng dùng cái xẻng và đẩy một ít đất xuống cái lỗ thông giữa hai phòng ấy.
Deachen, con gái của bác Tashi đã trở về nhà để chơi với tôi. Cô bé hơi rụt rè, cô có khuôn mặt trái xoan cùng nụ cười xinh xắn và mái tóc dài, mềm mượt. Chúng tôi chuyện trò vài câu rồi leo lên nóc nhà chụp một vài tấm hình kỷ niệm, sau đó lại leo xuống để bàn bạc về chuyến đi vào ngày hôm sau của tôi.
Ngày hôm sau là ngày 9 tháng 7, là ngày thực hành nghi lễ Kalachakra do quý chư tăng của Tu viện Namgyal thực hiện nên bác Tashi không đến pháp hội, bác không đi nên tôi cũng sẽ không đến pháp hội. Thay vào đó tôi muốn đến hồ Pangong (nơi quay cảnh cuối của bộ phim Ba chàng ngốc [4]) và Tu viện Hemis còn bác Tashi thì đề nghị tôi đi Tu viện Hemis, Thiksay và Shey vì ba tu viện này nằm trên một cung đường. Riêng hồ Pangong bác Tashi bảo có thể tôi phải chuẩn bị thêm một ngày nữa để dưỡng bệnh sau khi đi về vì hồ đó nằm trên đỉnh núi và đường rất khó đi.
Tôi tán thành ý kiến của bác Tashi, dự định ngày hôm sau sẽ kiếm xe buýt đi Tu viện Hemis nhưng bác Tashi ồ lên một tiếng rồi cho biết không có tuyến xe buýt nào từ Saboo đi Hemis. Tôi nghĩ ngay đến việc đi xe taxi, bác Tashi lại lắc đầu cho biết đi taxi thì tốn rất nhiều tiền nên bác ấy đề nghị tôi lấy xe bác để tự đi. Sau khi biết tôi không thể tự lái xe, bác Tashi đồng ý đưa tôi đi. Tôi cười toe toét rồi quay qua rủ Deachen đi cùng, cô bé vui vẻ lắc đầu, tôi ngẩn ngơ một vài giây rồi nhớ lại rằng cái lắc đầu kiểu đó có nghĩa là đồng ý. Nếu không phải tôi đã từng gặp kiểu lắc đầu đầy khó hiểu kia thì có lẽ tôi cũng sẽ nghĩ rằng đó là sự từ chối. Với người Ấn Độ, khi đồng ý thì họ lắc đầu và khi không đồng ý thì họ lại lắc đầu theo một kiểu khác [5].
***
7 giờ sáng, tôi vừa ngủ dậy thì Deachen mang vào cho tôi một ly trà sữa Namkin, đây là thức uống của địa phương được pha trộn giữa bơ, nước và lá trà xanh giúp chống lại cái lạnh khắc nghiệt của Ladakh. Deachen cho biết nguồn nước sáng nay có vấn đề nên nước dù vẫn chảy nhưng lại không đi vào vườn rau. Nhìn qua cửa sổ tôi nhìn thấy bác Tashi đang đứng trầm ngâm trong vườn, tôi chạy ra vườn cùng bác Tashi và Deachen. Cách đó không xa là những người hàng xóm cũng đang đứng bên vườn rau của mình, khi thấy tôi tất cả đều mỉm cười và đưa tay chào. Tôi vui vẻ chạy sang vườn nhà bên cùng xem những gốc lúa mạch, khoai tây, hành...
Bác Tashi cho biết số rau này khi thu hoạch sẽ được Deachen đem ra chợ bán sỉ vì nếu để người ta vào vườn thu mua thì giá rất rẻ. Bác Tashi nói rằng sáng nay nguồn nước chảy chậm nên có thể đến trưa mới hoàn thành việc dẫn nước này.
Thế là tôi quyết định gom đồ đi giặt ở ngay nguồn nước chảy vào vườn. Deachen và bác Tashi yêu cầu tôi giặt bằng máy giặt vì nước rất lạnh nhưng tôi nằng nặc đòi ra vườn vì đang tò mò với dòng nước mát lạnh chảy ra từ khe đá sau vườn. Tôi gom áo quần ra góc vườn, vừa đưa tay chạm vào dòng nước, tôi tê cứng cả bàn tay, nước lạnh như nước đá. Tôi ngồi nghịch nước và giặt đống áo quần của mình trong làn nước trong vắt. Giặt xong, tôi đem ra sân nhà phơi thì Deachen chạy theo dặn dò tôi phơi đồ lên cao nếu không thì sẽ có một “anh chàng” ăn mất đồ của tôi. Tôi nhìn quanh và tò mò hỏi rằng “anh chàng” nào sẽ là thủ phạm, cô bé chỉ vào chú bê trong chuồng đang thò cái đầu qua hàng rào có vẻ muốn chạy đến những chiếc áo quần đầy hấp dẫn của tôi.
Thì ra là “anh ấy”! Lúc này tôi nhớ lại ngày đầu tiên lúc tôi đến nhà bác Tashi, bác ấy đã nói sẽ coi tôi như “anh chàng” này đây, giờ tôi mới hiểu rõ ràng. Người Ladakh rất quý bò, bác Tashi coi bò như thành viên trong gia đình, dù đi đâu bác cũng về đúng giờ để cho bò ăn và uống nước. Thế là đống đồ đang vắt vẻo của tôi phải vắt lên cao quá tầm “anh chàng” bê đáng yêu đó.
❀ ❀ ❀
[1] . Một loại sữa lên men.
[2] . Gautamiputra Shatkarni (trị vì từ 106-130 sau Công nguyên) của triều đại Shatavahana (230 trước Công nguyên-199 sau Công nguyên), ở tiểu bang Andhra Pradesh ngày nay.
[3] . Siddhārtha Gautama hay Tất-đạt-đa Cồ-đàm (phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn) hay gọi đơn giản là Đức Phật, là một người giác ngộ (Phật) và là một đạo sư có thật sống vào thời kỳ Ấn Độ cổ đại. Theo tương truyền và sử liệu, ông đã sống và truyền dạy giáo lý ở phía đông tiểu lục địa Ấn Độ vào giữa thế kỷ thứ VI và IV trước Công nguyên. Siddhārtha đã đề xướng con đường Trung đạo (Majjhimāpaipadā) vừa từ bỏ đời sống xa hoa vừa từ bỏ lối tu ép xác khổ hạnh thịnh hành trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó. Những lời giáo pháp trong thời gian ông đi truyền bá đã đặt nền tảng cho sự hình thành của Phật giáo.
[4] . Tên tiếng Anh là 3 Idiots, chuyển thể từ tác phẩm hư cấu nổi tiếng Five Point Someone của Chetan Bhagat, là tác phẩm điện ảnh của Ấn Độ và được công chiếu năm 2009. Ba chàng ngốc được mệnh danh là phim ăn khách nhất lịch sử Ấn Độ khi thu về 65 triệu USD (1.500 tỷ đồng) sau khi khởi chiếu.
[5] . Khi thể hiện sự không đồng ý, người Ấn lắc đầu như người Việt nhưng khi thể hiện sự đồng ý, người Ấn cũng lắc đầu theo kiểunghiêng đầu qua hai bên trái – phải đồng thời vai lắc nhẹ trông như một động tác múa.