RONG CHƠI MIỀN XA VẮNG

Bước Chân Theo Dấu Mặt Trời

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6

❊ ❊ ❊

Đến 1 giờ chiều cả ba chúng tôi mới ra khỏi nhà. Hôm nay tôi được đi trên con đường khác mọi ngày, tôi có cảm giác háo hức như lần đầu theo mẹ đi chợ. Ngồi trong xe, tôi cùng Deachen trao đổi vài câu chuyện của phụ nữ và nhìn cảnh vật xung quanh, toàn là núi đá mà núi đá thì làm gì có sự sống màu xanh nào ở đó, chỉ một màu xám lạnh lẽo sừng sững giữa đất trời. Nhưng ngay chân núi lại là một dòng nước do băng tan chảy tạo thành, uốn lượn với những hàng cây xanh hiền hòa êm đềm làm tăng thêm vẻ đẹp bao la của khu vực này.

Đến Tu viện Hemis, vừa xuống xe, cảm giác khó thở của mấy ngày trước trở lại. Bác Tashi và Deachen đã đi đến cổng tu viện mà tôi vẫn chưa bước được bước nào bởi hội chứng AMS [1]. Tôi lấy bình nước giữ ấm ra uống một ngụm nhỏ rồi ráng đi tiếp.

Theo một vài tài liệu thì vào năm 1894, một nhà báo người Nga tên là Nicolas Notovitch đã xuất bản cuốn sách có nhan đề là Cuộc đời chưa ai biết đến của Chúa Jesus Christ kể về hành trình của ông ở Afghanistan, Ấn Độ và Tây Tạng. Trong một chuyến du hành của mình, ông đã viếng thăm Leh, thủ phủ của Ladakh và ở lại trong Tu viện Phật giáo Hemis một thời gian khi bị gãy chân. Tại tu viện, ông được thấy hai tập tài liệu lớn màu vàng bằng Tạng ngữ có tên là Cuộc đời của thánh Issa [2]. Jesus được liên hệ như Issa hay con trai của Thượng Đế bởi một học giả Veda, người dạy kèm Ngài trong thánh kinh Vệ đà. Notovitch ghi xuống 200 đoạn kệ từ văn kiện ở phía sau cuốn nhật ký mà ông giữ trong suốt chuyến du hành. Tài liệu đó sau này tạo thành một “cơn dông bão” ở phương Tây.

Tu viện này là trụ xứ chính (chốn tổ đình chính) của dòng Drukpa và tất cả tự viện khắp vùng Ladakh đều chịu sự quản lý của Hemis. Ở đây cũng đào tạo Lama cho các tự viện hoàng gia tại Leh, Shey và Basgo. Hemis có một lễ hội hằng năm được đặt theo tên của tu viện, lễ hội Hemis là một bữa tiệc đầy màu sắc với những bộ trang phục sặc sỡ và những điệu nhảy truyền thống. Nhờ có Adzom Gyalse Rinpoche, lễ hội này thu hút được rất nhiều du khách và Ladakh đã thu được nhiều lợi nhuận từ ngành du lịch. Adzom Gyalse Rinpoche, cháu trai của đại Ladakhi Dharma King Sengye Namgyal, là người kế vị thứ hai của Taktsang Repa (hóa thân của người thành lập Tu viện Hemis), Ngài là lãnh tụ tinh thần của Hemis. Dưới sự giám sát của Adzom Gyalse Rinpoche mà Tu viện Hemis đã phát triển thịnh vượng và có tầm ảnh hưởng sâu rộng. Sau khi được đào tạo về tâm linh ở Tây Tạng, Adzom Gyalse Rinpoche trở về và giới thiệu lễ hội Hemis. Từ đó, lễ hội này trở thành lễ hội truyền thống địa phương về những thiện hạnh chiến thắng cái bất thiện. Lễ hội Hemis thường được tổ chức ở Ladakh vào ngày 10 và 11 tháng 5 theo lịch Tây Tạng. Hai ngày này được Chính phủ Ấn Độ quy định là ngày lễ cho toàn dân Ladakh vì lễ hội Hemis không chỉ là lễ hội tôn vinh những hành động chiến thắng bất thiện của Guru Padmasambhava hay Guru Rinpoche (đại sư Liên Hoa Sinh) mà còn là một sự kiện quan trọng nhắc người dân Ladakh nhớ về di sản của họ.

Bác Tashi leo lên đỉnh đồi, nơi có hang thờ đại sư Padmasambhava phía sau núi đá. Còn tôi tự biết với sức khỏe hiện tại thì không nên đi theo vì sẽ làm phiền bác ấy. Tôi và Deachen đi bên nhau và tiếp tục trò chuyện. Cô bé ngắm nhìn tôi và so sánh với thân hình khá tròn trịa của cô bé rồi hỏi tôi làm sao để có thân hình thon gọn như vậy. Trong lúc hai chị em đang nói chuyện rôm rả, cô bé bỗng bối rối thỏ thẻ kể cho tôi nghe về chuyện tình cảm của mình. Vừa kể cô bé vừa bắt tôi hứa không được kể lại với bố cô ấy.

Sau khi tôi hứa, Deachen cởi mở kể câu chuyện khiến em vương vấn mãi, một câu chuyện dễ thương mà tôi cũng đã từng trải qua vào tuổi ấy. Có lẽ cô bé khó mà chia sẻ được với người cha mạnh mẽ luôn là chỗ dựa vững chắc cho gia đình, cái cô cần là sự lắng nghe chứ không hẳn là một lời khuyên của người lớn. Kể xong cô bé lại mắc cỡ bắt tôi hứa lần nữa là không được kể với bố cô ấy, tôi lại mỉm cười cam đoan về bí mật của hai chị em.

Deachen dắt tôi đi khám phá mọi ngõ ngách trong tu viện, đi qua những chiếc chuông gỗ, những cánh cổng, những bức tường... nhuốm màu thời gian. Sự yên ắng, sự sùng tín, sự thiêng liêng trải qua hàng trăm năm ở nơi này cũng không còn được như buổi nguyên sơ khi mà ngày càng nhiều người đến đây với mục đích có được những tấm hình đẹp.

Tôi bước lên tầng hai của chính điện, nơi có khám thờ đại sư Padmasambhava, người được coi là ông tổ Phật giáo Tây Tạng từ thế kỷ thứ IX cũng là người khai tông lập phái cho tông giáo đầu tiên của Tây Tạng, tông Ninh Mã (Nyingma Sect). Nếu như trước tượng Phật ở các chùa chiền thường đặt lư hương để thắp nhang thì chùa Tây Tạng lại đặt những “chậu” đèn thật lớn được đốt bằng bơ hoặc mỡ bò Yak [3]. Lễ vật của những người hành hương là một chút bơ để giữ cho ngọn đèn mãi mãi không tắt, chính vì vậy hàng trăm ngọn đèn liên tục tỏa sáng bởi dòng người hành hương dường như không bao giờ dứt ở nơi này.

Rời Tu viện Hemis, chúng tôi đi đến Tu viện Thiksey, đây là viện có lịch sử sáu thế kỷ, là một tu viện Phật giáo Tây Tạng của giáo phái Mũ Vàng [4] thuộc cung điện Potala ở Lhasa. Tu viện nằm ở độ cao 3.600 mét trong thung lũng Indus ở Ấn Độ. Nó là một tòa nhà có kiến trúc cầu kỳ cao 12 tầng và lưu giữ rất nhiều tác phẩm nghệ thuật Phật giáo như tháp, tượng và các bức tranh.

Nằm không xa dòng sông Indus duyên dáng là Tu viện Thiksey ra đời vào thế kỷ XV (khoảng năm 1433) và hiện là tu viện lớn thứ hai trong thung lũng Indus, chỉ sau Tu viện Hemis. Tuy nhiên, Thiksey có vẻ đẹp khoáng đạt và gần gũi thiên nhiên hơn vì được xây biệt lập trên một ngọn đồi, bao quanh là hoang mạc cát khổng lồ. Là một quần thể các ngôi chùa với hàng chục gian điện thờ lớn nhỏ, trường học dành cho các tăng sĩ, Thiksey nhìn bề ngoài trông giống một ngôi làng. Sáng lập tu viện là cao tăng Doe Changsem Sherab Zangbo, sinh hạ ở làng Sharmo, gần Leh ngày nay. Lúc còn trẻ, khi còn là môn đồ phái Gelukpa, ngài tu tập ở Tu viện Ganden, Lasha dưới sự hướng dẫn của ngài Tsongkhapa. Khi học xong, ngài Tsongkhapa yêu cầu Doe Changsem Sherab Zangbo về lại quê hương Ladakh để mở mang nhánh Gelukpa và Ngài cũng tiên đoán rằng: “Bên bờ sông Sita (Indus), những gì ta dạy dỗ ngươi sẽ phát triển hưng thịnh…”. Truyền thuyết kể ra còn dài nhưng cuối cùng lời tiên đoán của ngài Tsongkhapa đã trở thành sự thật. Bên bờ dòng Indus, Thiksey đã phát triển mạnh mẽ cùng với nhánh Gelukpa của Phật giáo Mật tông trên khắp Ladakh vào các thế kỷ sau đó. Những gian điện thờ ở đây tinh tế và lộng lẫy. Bên trong khám thờ lớn của tu viện là nơi thờ Phật Thích Ca Mâu Ni cùng các vị sư tổ.

Chúng tôi đi tiếp một đoạn lên phía đỉnh đồi để vào cổng chính của tu viện. Lúc này Deachen bị say xe, không thể đi cùng nên cô bé ngồi lại một mình trong xe, tôi cũng đã thấm mệt nhưng vẫn cố gắng bước đi khi thấy bác Tashi vừa đi vừa đứng đợi và khích lệ tôi đi tiếp.

Ngoài khám thờ cũ, Thiksey còn có một khu mới xây vào năm 1980 khi ngài Dalai Lama thứ 14 đến thăm nơi này vào năm 1970 và là khu thờ Phật Di Lặc (Maitreya), đây cũng là một trong những điểm tham quan chính. Nổi bật trong khám thờ hai tầng này là tượng của Phật Di Lặc rất đồ sộ với tạo hình ấn chuyển pháp luân cực kỳ đẹp. Tượng cao 15 mét, được làm từ gạch, đất sét, sơn son thếp vàng tinh tế, được hình thành vào những năm 1970 và phải mất đến bốn năm để tạc nên kiến trúc sắc sảo, phối màu rực rỡ và toát lên vẻ đẹp như hiện có. Pho tượng Phật Di Lặc, nơi có vô số các ngọn đèn bằng mỡ bò Yak được thắp sáng liên tục theo thời gian đã trở thành hình tượng linh thiêng của vùng đất Ladakh.

Không muốn bỏ lỡ bất kỳ góc nào của tu viện, tôi từ từ men theo các mũi tên hướng dẫn đi lên, vừa đi vừa thở và bắt đầu thấy nặng nề với hành lý mang theo. Tôi nhờ bác Tashi cầm hộ túi xách, đi tiếp một đoạn tôi lại đưa bác cái máy ảnh thậm chí cả cái khăn cũng khiến tôi vướng víu và phải nhờ bác Tashi cầm hộ. Cuối cùng tôi cũng lên được đỉnh tu viện.

Trong tu viện này có một vài khu vực mà phụ nữ không được vào. Tôi không quá ngạc nhiên về điều này bởi không chỉ ở tu viện này mà một vài nơi khác ở châu Á cũng có quy định tương tự. Ngay cả ở ngọn núi Athos, Hy Lạp cũng có một vùng đất quy định cấm phụ nữ, động vật giống cái, hoạn nhân thậm chí cả những người không có râu đặt chân đến để giúp các giáo sĩ và tín đồ tĩnh tâm tu hành.

Đứng ở đỉnh tu viện nhìn xuống vùng không gian bao la, huyền diệu bên dưới, Ladakh như một vùng sa mạc rộng lớn, các thung lũng xanh phía xa trông như ốc đảo. Nhưng những đỉnh núi tuyết trắng nhắc tôi rằng đây không phải là hoang mạc mà là Ladakh, nơi khiến bạn phải huy động mọi giác quan cùng một lúc. Ngay cả những vũng nước cũng mang sắc màu của bầu trời. Ladakh đúng là nơi đã đưa tôi thoát ra khỏi những giấc mơ về một vùng đất tươi đẹp vì hẳn tôi đang chạm vào giấc mơ ấy bằng bàn tay thật, bằng con người thật, bằng cảm xúc thật của mình.

Không gian yên tĩnh, không có âm thanh ồn ã thường nhật. Tôi có thể nghe thấy tiếng chảy của dòng sông xa xa, những làn gió mang theo âm thanh của một tiếng chuông từ phía dưới, những lá cờ cầu nguyện phấp phới bay trong gió nơi mái của tu viện tạo ra một âm thanh đều đặn, vui tai. Không gian và thời gian như hòa quyện vào nhau, đông đặc khiến tôi đứng sững sờ trên đỉnh tu viện.

Chúng tôi tiếp tục đi qua những cánh đồng trải dài cây dương và cây liễu để đến pháo đài và Tu viện Shey, đây là tòa nhà nằm trên một gò đất trong Shey, 15 kilômét về phía Nam của Leh, thuộc Ladakh, miền bắc Ấn Độ, trên đường Leh – Manali. Shey là thủ đô mùa hè của Ladakh trong quá khứ.

Hiện nay cung điện chỉ còn là phế tích được xây dựng đầu tiên vào năm 1655 bởi nhà vua Deldan Namgyal của Ladakh. Cung điện này còn được gọi là Lhachen Palgyigon. Nơi đây được các vị vua của Ladakh sử dụng như là nơi tu tập vào mùa hè. Kể từ khi hoàng tộc Namgyal rời Shey để chuyển về sống tại Stok năm 1842, Shey gần như không được tôn tạo, gió bụi thời gian đã bào mòn những chiến tích cũ trên đỉnh đồi.

Lúc này Deachen đã nằm bẹp dí trên xe, bác Tashi vẫn muốn dẫn tôi tham quan Shey nhưng nhìn Deachen như vậy tôi muốn về nhà cho cô bé nghỉ ngơi. Hai cha con họ đã quá tốt với tôi, tôi không muốn Deachen thêm mệt vì chờ đợi. Chỉ cần ngắm nhìn Shey từ trên xe cũng đủ cho tôi cảm kích, biết ơn những điều tôi đã nhận được từ vùng đất này.

Đường trở về nhà gấp khúc như khuỷu tay lọt thỏm giữa những dãy núi đá trơ trọi, nắng chiều len vào đỉnh núi tuyết trải dài liên tục như những răng cưa tạo nên khung cảnh huyền ảo có phần ma quái. Nghe trong gió những âm thanh bí mật vang vọng giữa Himalaya và Karakoram với sông Zanskar và sông Indus cắt qua các thung lũng, vùng đất này luôn luôn là thiên đường cho những tâm hồn lang thang.

❀ ❀ ❀

[1] . Hội chứng khó chịu khi đi lên cao, thường xảy ra khi ở những nơi cao hơn mực nước biển khoảng 3.000 mét trở lên với những triệu chứng như nhức đầu, chóng mặt, nôn, hơi thở ngắn thậm chí là bất tỉnh.

[2] . Năm 1887, nhà báo người Nga Nicolas Notovitch tuyên bố rằng ông tìm thấy một tài liệu cổ mang tên Cuộc đời của thánh Issa (Issa là tên của Chúa Jesus trong đạo Hồi) kể về thời gian Ngài ở Ấn Độ. Năm 1894, Notovitch viết một cuốn sách trong đó có phần dịch tài liệu nói trên, mang tựa đề Cuộc đời chưa ai biết đến của Chúa Jesus Christ.

[3] . Bò Yak hay còn gọi là bò Tây Tạng, được nuôi để lấy sữa, lông và thịt cũng như để kéo cày hay kéo xe.

[4] . Trong truyền thống Phật giáo Tây Tạng có bốn dòng phái lớn: Nyingma (Cổ Mật – Mũ Đỏ), Kagyu (Mũ Đen), Gelug (Mũ Vàng), Sakya. Các dòng phái lớn này còn chia thành nhiều nhánh nhỏ. Các dòng truyền thừa đều có chung một nguồn gốc là giáo lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Tuy mỗi dòng truyền thừa đều phát xuất từ một vị tổ riêng biệt nhưng về căn bản giáo lý là giống nhau.

Thể loại: Tự truyện, Tôn giáo - Tâm linh ebook©MotSAch —★— TVE-4U©vctvegroup-nguyenthanh-cuibap Nhà xuất bản Thế Giới
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Phương Thu Thủy

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.