Khi tiếng chuông báo thức vừa reo cũng là lúc tôi đã vệ sinh cá nhân xong. Một ly trà sữa được phục vụ phòng đưa tới, cảm giác nhấm nháp ly trà sữa nóng hổi vào lúc tiết trời se lạnh thật ấm áp. Đúng 7 giờ, một anh chàng người Ấn từ công ty du lịch sang đón tôi. Tôi lẽo đẽo theo anh chàng đi ra xe. Nhìn quanh trên xe toàn là người Ấn với ngôn ngữ mà tôi nghe như chim hót líu lo, trên xe không nhiều người nói tiếng Anh, họ chủ yếu nói tiếng Hindi và Marathi. Một số người nói vài câu Tamil-English, tiếng Tamil-English cũng bao hàm cả tiếng Anh nên tôi cũng đoán được ít nhiều.
Xe chạy qua những cung đường đã một lần in trong trí nhớ của tôi. Những tà sa ri rực rỡ sắc màu lướt qua, những khuôn mặt có phần khắc khổ nhưng ánh mắt sáng ngời một niềm tin mạnh mẽ rất riêng của người Ấn. Ở đất nước đa văn hóa, đa tôn giáo, đa sắc tộc, đa ngôn ngữ này mọi thứ gần như được trộn lẫn vào nhau, những gì tinh túy nhất và những gì đáng sợ nhất, những điều tốt đẹp nhất và cả những điều xấu xa nhất, tất cả đều có ở đây, giữa những thứ rác rưởi và mọi điều thiêng liêng.
Bốn tiếng đồng hồ ngồi trên xe đi từ Dehli đến Agra tôi chìm vào những hình ảnh đang lướt qua xen lẫn hình ảnh đã cũ. Không hiểu điều gì đưa đẩy mà mỗi năm bước chân tôi lại trở lại đất nước lạ lùng này. Những giấc mơ, nhân duyên, con người kỳ lạ đã gặp ở mảnh đất này khiến tôi cảm thấy có điều gì đó mình cần phải tìm hiểu. Những chuyến đi không còn đơn thuần chỉ là đến và đi mà gần như là một sự trở về, trở về nơi ẩn chứa điều bí mật mà tôi chưa thể khám phá. Với chuyến đi lần này, tôi cũng chẳng thể đi sâu hơn vào điều bí mật đang ẩn trong mình bởi vẫn còn những rào chắn tôi chưa thể vượt qua. Chỉ thêm một lần trở về để tự nhắc mình rằng ở đâu đó, vẫn còn những điều nằm ngoài trí tưởng tượng về thế giới bao la.
Đến Agra, xe dừng lại để đón anh chàng hướng dẫn viên. Anh ta lại tiếp tục nói bằng tiếng Tamil-English khiến tôi phải căng tai ra nghe cũng chỉ hiểu được nửa câu. Dường như thấy khuôn mặt căng thẳng của tôi, anh ta đi xuống chỗ tôi và bắt đầu bằng tiếng Anh hoàn toàn, tôi thở phào, ít ra cũng cho tôi nghe được nguyên câu vì với nguyên câu bởi vốn tiếng Anh của tôi còn nhiều vụng về.
Bắt đầu bước vào Agra Fort từ cổng phía nam dành cho du khách, quanh tôi là người và bụi đỏ tung mù mịt, sau lớp bụi là màu đỏ của Agra Fort sừng sững giữa nền trời. Một đàn chim bay ngang phía trên tường thành in bóng giữa nền trời xanh. Trước tôi là khối kiến trúc hoành tráng với hai tháp hình ống chắn ngang hai bức tường thành cao hơn 20 mét. Tôi bước vào cổng có tên là Akbar Darwaza, ngày xưa chỉ dành riêng cho nhà vua ra vào. Dường như tất cả du khách không thể bước nhanh qua Akbar Darwaza bởi vẻ đẹp đầy quyến rũ của nó.
Càng đi vào bên trong mới thấy các cung điện thuộc pháo đài Agra Fort đều là những công trình có kiến trúc tuyệt tác với những bức tượng được điêu khắc bằng đá khối, chạm trổ hết sức tỉ mỉ ghi lại hoạt động, đời sống chốn cung đình thời bấy giờ. Khác với cố cung Trung Quốc thường là những khối vuông đóng kín, cung điện ở Agra luôn mở ra những khoảng sân rộng mênh mông. Mỗi lâu đài, cung điện đều ghi dấu một câu chuyện lịch sử.
Cung điện Diwan-i-Am là nơi nhà vua Shah Jehan dùng để thiết triều, được xây bằng đá cẩm thạch, hội trường lớn có mái bằng phẳng và hai cổng đá sa thạch đỏ ở phía bắc, nam. Những cột đá được chạm khắc và khảm vàng với họa tiết các loài hoa, chủ yếu là hoa cải đặc trưng của vùng này. Trong khi đó, cung điện Diwan-i-Khas lại là nơi nhà vua dùng để tiếp đón các vị khách quan trọng như vua các nước láng giềng, sứ thần và tầng lớp quý tộc. Nơi đây có hai ngai vàng, một bằng đá cẩm thạch trắng và một bằng đá phiến đen. Lúc sinh thời, vua Shah Jahan đã dùng ngai bằng đá cẩm thạch để nghỉ ngơi và ngai bằng đá đen để xem đấu voi.
Khas Mahal (được xây dựng vào năm 1636 sau Công nguyên) là phòng ngủ hoàng gia, được xem là một trong những kiến trúc đẹp nhất được xây dựng dưới thời vua Shah Jahan. Gian phòng nằm sâu trong cung điện để tránh những cơn gió nóng mùa hè của vùng khí hậu cận sa mạc.
Gần đó, giáo đường Hồi giáo Nagina Masjid là nơi dành riêng cho hoàng hậu, công chúa và cung nữ. Giáo đường này được xây bằng đá cẩm thạch trắng. Phòng cầu nguyện được thiết kế tinh tế, phần rèm làm từ cẩm thạch, được chạm lọng thành những tấm lưới mỏng.
Từ Agra Fort nhìn về Taj Mahal thật diễm lệ và đúng như những gì sách báo nói về kỳ quan thế giới này. Ngay cả Tagore, thi sĩ mà cả dân tộc Ấn Độ tụng xưng là Gurudev [1] khi đứng trước lăng Taj Mahal đã phải thốt lên: “Đây là một bài thơ bằng đá cẩm thạch”. Người dân Ấn Độ đầy lãng mạn, họ nói theo tinh thần Tagore rằng Taj Mahal là “bài thơ tình yêu vĩnh hằng”. Dường như bất cứ ai từng đến Ấn Độ, từng chiêm ngưỡng sự kỳ vĩ của Taj Mahal đều thấy rằng đây là biểu tượng của cái đẹp, không chỉ của một dân tộc Ấn Độ mà còn là di sản văn hóa nhân loại, một công trình kiến trúc lịch sử mang tầm vóc thế giới.
Rời Agra Fort, tôi bắt đầu lên xe di chuyển sang đền Taj Mahal, nơi ghi dấu một chuyện tình vĩnh cửu. Tôi đã đến Taj Mahal trước đây và cứ tưởng rằng sẽ không quay lại, ngờ đâu chuyến đi này tôi lại đến đúng nơi này. Xe dừng, tôi bước xuống và thấy Taj Mahal thấp thoáng từ đằng xa, tôi ngạc nhiên hỏi anh hướng dẫn viên vì sao xe không đến gần Taj như trước đây, anh ta cho biết rằng Taj Mahal đang xuống cấp, một số vết nứt đã xuất hiện. Hiện tượng mưa axit vì môi trường ô nhiễm khí thải công nghiệp và xe cộ đã khiến đá ở đền bị ố vàng, hư hỏng. Dòng Yumunna thơ mộng năm xưa giờ ô nhiễm vì rác thải, nước sông ô nhiễm cũng là tác nhân xâm hại công trình.
Chính quyền Agra đã có nhiều biện pháp tích cực như du khách phải đi xe buýt chạy pin, xe điện hoặc xe ngựa từ bãi xe cách đó hai kilômét để vào lăng nhằm cứu vãn sự xuống cấp của Taj Mahal đồng thời việc cải tạo dòng Yumunna đang được khẩn trương thực hiện.
Tôi bước vào phòng vé, giá vé dành cho cho khách nước ngoài là 750 rupee (265 nghìn đồng) nhưng với người Ấn chỉ 30 rupee. Bù lại, hàng kiểm soát dành cho khách nước ngoài ít người hơn nên thời gian tôi lang thang trong Taj nhiều hơn mọi người trong đoàn.
Lần quay lại này tôi vẫn bị mê hoặc bởi sự nguy nga, tráng lệ của ngôi lăng mộ, lượng du khách thì có vẻ đông hơn. Taj Mahal luôn ẩn chứa nhiều ma lực, cuốn hút hàng triệu người đến chiêm ngưỡng mỗi năm. Quanh tôi chỉ thấy dòng người nườm nượp, khách nước ngoài và người địa phương gần như chưa bao giờ lãng quên nơi này. Những rào chắn được dựng lên nhiều hơn, có lẽ để ngăn chặn những du khách kém ý thức cố gắng ghi lại dấu ấn nơi này bằng nét chữ nguệch ngoạc viết trên nền đá.
Đi qua biển người, Taj Mahal hiện ra trước tôi đầy bệ vệ, uy nghi và lộng lẫy. Công trình là tổng hòa của những đường cong đầy mê hoặc, được thiết kế cực kỳ tinh tế. Ai đó đã ví khu vườn hình chữ nhật như một nét nghiêng con gái, vòm cổng là chiếc khăn che mặt trong tân hôn.
Cẩm thạch là loại đá có thể biến đổi màu sắc theo sự thay đổi của thời gian. Một chút chạm nhẹ của ánh sáng theo chu kỳ đều tạo nên màu sắc quyến rũ đến lạ lùng. Taj Mahal có ánh hồng lúc bình minh, sáng trắng vào buổi trưa, lóng lánh vàng khi hoàng hôn và huyền hoặc, hư ảo vào đêm trăng.
Taj Mahal lặng lẽ trước mặt tôi, bao năm qua vẫn là nguồn cảm hứng bất tận về tình yêu không chỉ của người dân Ấn Độ mà còn của người dân trên khắp thế giới. Có lẽ Taj Mahal là biểu tượng phù hợp nhất cho quan niệm về tình yêu của người phương Đông, một tình yêu trường tồn, bền vững với thời gian.
Bởi thế mà câu chuyện tình yêu giữa Hoàng đế Shah Jahan của đế quốc Mogul ở tiểu lục địa Ấn Độ dành cho Hoàng hậu Mahal Mumtaz vẫn được lưu truyền đến ngày nay.
Chuyện kể rằng, vào năm 1607, một đại lễ diễn ra tại chợ Meena của đế quốc Mogul nơi mà theo thông lệ thì đàn ông không được phép vào. Nhưng ngày hôm ấy được phá lệ, mọi người đều được vào vui chơi và mua sắm tại Meena. Trong số khách tham dự có Hoàng tử Khuram, con trai Quốc vương Jahangir lúc ấy vừa tròn 16 tuổi có nhiều biệt tài như đàn hay, hát giỏi, có khiếu làm thơ, tinh thông võ nghệ. Tại chợ phiên Meena, chàng thanh niên tuấn tú đã phải lòng nàng Arjumand Banu Begum có vẻ đẹp mê hoặc, đa tài và kém chàng một tuổi. Ngày hôm sau Hoàng tử Khuram xin phép vua cha cưới nàng làm vợ, Quốc vương Jahangir chấp nhận lời đề nghị của con trai nhưng các nhà chiêm tinh buộc chàng phải lấy công chúa Ba Tư và năm năm sau mới được cưới nàng Arjumand. Đôi trẻ đã phải chờ đợi nhau trong suốt thời gian dài.
Mùa xuân năm 1612, Khuram cưới Arjumand và nàng có tên hiệu là Mumtaz Mahal, nghĩa là “người được yêu mến nhất trong cung điện”. Sau hôn lễ, họ luôn bên nhau thậm chí lúc ra chiến trận chàng cũng dẫn nàng theo. 16 năm sau, Hoàng tử Khuram lên ngôi Hoàng đế của đế quốc Mogul hùng mạnh và lấy hiệu là Shah Jahan, có nghĩa là “chúa tể thế giới”.
Năm 1630, trong cuộc chinh phạt phần tử ly khai Khan Jahan Lodi, Shah Jahan mang Mumtaz Mahal theo cùng dù nàng sắp đến ngày sinh. Công chúa Gauhana Begum bụ bẫm, mạnh khỏe chào đời nhưng Mumtaz Mahal đã kiệt sức sau lần sinh nở thứ 14. Nàng ra đi lúc vừa tròn 35 tuổi. Shah Jahan đau đớn, cho lui quân, đưa nàng về. Hoàng đế ra lệnh xây một ngôi đền đồ sộ để tưởng nhớ nàng bởi tương truyền trước khi mất, Mumtaz Mahal đã nói với Hoàng đế: “Hãy hứa rằng sẽ xây dựng một lăng mộ xứng đáng với tình yêu của chúng ta!”.
Sau khi Hoàng hậu qua đời, Hoàng đế Shah Jahan không màng chính sự, dành phần đời còn lại của mình để thực hiện ước nguyện của nàng và chăm sóc các hoàng tử, công chúa. Nhà vua đã bỏ ra gần 20 năm để thực hiện di nguyện của người vợ yêu dấu, đó chính là lý do lăng mộ Taj Mahal được xây dựng nên. Lăng mộ ban đầu có tên là Tat Bibica Rauza nghĩa là “nơi chôn chất nữ hoàng của trái tim”, sau được đổi thành Taj Mahal trong tiếng Ba Tư từ này có nghĩa là “vương miện của người Mogul”.
Hoàng hôn buông xuống, trong ráng chiều rực rỡ, vẻ đẹp của Taj Mahal đúng là mê hoặc. Không biết bị mê hoặc bởi câu chuyện tình lãng mạn hay vì vẻ đẹp huyền ảo của ngôi đền nhưng tôi bỗng cảm thấy mình nhỏ bé. Bước đi chậm rãi trong dòng người đông đúc, vội vã, tôi bỗng cảm thấy đôi chân như chùn lại, có điều gì đó vô hình đang níu giữ tôi lúc này. Tôi nhìn quanh và thấy những khuôn mặt xa lạ đang mỉm cười với mình, bỗng nhớ đến những cái ôm chặt của người thân khi tiễn tôi ở sân bay.
Tôi đi chầm chậm theo dòng người bước ra khỏi ngôi đền và chợt nhớ đến một người. Nỗi nhớ về người đó cứ đeo đẳng lấy tôi, theo mọi bước chân qua các cung đường đơn độc. Một vài người Ấn Độ mỉm cười khi thấy tôi và đề nghị được chụp hình chung, tôi dừng lại hòa cùng họ, tôi mỉm cười rồi lại đi, đi một mình trong nỗi nhớ mênh mông.
Tạm biệt Taj Mahal! Tạm biệt biểu tượng tình yêu bất diệt!
Phải chăng khi ngừng mong muốn mọi thứ đến theo cách của mình thì chúng lại tìm đến?
❀ ❀ ❀
[1] . Thánh sư.