Tôi đón chuyến xe buýt đến Dharamsala trong một đêm trời rét căm căm. Cậu bé ngồi bên cạnh mỉm cười bắt chuyện hỏi tôi đến từ đâu, đến Ấn Độ làm gì, tại sao lại đi một mình trong đêm hôm khuya khoắt… Cứ thế, cậu bé đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác sau mỗi lần nghe câu trả lời của tôi.
Tiếng gọi đầy quyến rũ của giấc ngủ kéo tôi vào một cơn mộng mị trên chiếc xe già dằn xóc với tiếng rầm rập trong đêm. Người ê ẩm bởi giấc ngủ ngồi, tôi trở mình, cậu bé ngồi cạnh đã qua nằm dài trên băng ghế trống dãy bên kia, lúc này tôi chỉ mong trời mau sáng để tôi có thể nhìn rõ cảnh vật hai bên đường.
Khi tôi vừa lờ mờ nhìn thấy con đường thì cũng là lúc vừa đến bến xe Dharamsala. Xuống xe, chưa kịp định hình phải làm gì tiếp theo thì tôi nghe thấy tiếng gọi tên mình từ một anh tài xế, anh đã đến đón tôi theo yêu cầu đặt trước để về thiền trường Sikhara.
Kéo tấm cửa kính lên để gió không lọt vào, tôi ngắm Dharamsala qua tấm kính hay đúng hơn là ngắm gương mặt của mình. Con đường chơi vơi men theo triền núi, phía dưới là thung lũng mờ mờ sương khói. Phải chăng tôi đang đuổi theo một hành trình chơi vơi, đuổi theo một lịch sử dài đã nhuốm màu sương khói? Tôi đang tìm điều gì trong hành trình đơn độc dọc theo đất nước rộng lớn đầy phức tạp này?
Xe dừng lại ở cổng thiền trường, anh tài xế chào tôi và quay đầu xe trở lại con đường vừa đi qua. Tôi bước vào thiền trường, những chiếc lá khô vỡ vụn dưới chân nghe lao xao làm xáo động không khí tĩnh lặng dưới những hàng cây thông cao vút. Chân tôi bước nhẹ hơn, chạm vào những bậc thềm đá dẫn tôi vào văn phòng và đưa mã số tham dự khóa thiền của mình cho người trực văn phòng. Anh ấy hướng dẫn tôi điền vào mẫu đơn, tôi hoàn thành tờ đơn và nộp cùng hộ chiếu rồi đi vào khu nhà ở.
Vào khu nhà ở của thiền trường Sikhara, tôi ngạc nhiên khi thấy các phòng ở của thiền sinh đều được rào kín trông như những cái chuồng thật to, tự hỏi sao trông giống mấy cái chuồng khỉ thế này nhỉ?
Cho đến khi đứng trước cánh cổng và nhìn thấy tấm bảng ghi dòng chữ “Careful with monkeys” (Cẩn thận với những chú khỉ), lúc này tôi đã hiểu, thì ra đây là cái “chuồng người” để tránh sự nghịch phá của các chú khỉ.
Tôi đứng trong “chuồng” ngắm các chú khỉ tự do chạy nhảy từ cành cây này sang cành cây khác rồi chạy khắp nóc nhà. Tôi tự hỏi không biết các chú khỉ có đang nhìn người đang ở trong “chuồng” với cảm giác như hồi nhỏ tôi đến sở thú chơi, ném đồ ăn cho các chú khỉ trong chuồng không nhỉ?
Đôi lúc, chỉ cần đứng ở một vị trí khác, thế giới bỗng hoàn toàn khác đi.
Tôi bắt đầu khóa thiền Vipassana 10 ngày theo phương pháp của thầy Goenka [1] ngay chiều hôm đó. Tất cả thiền sinh được đọc và tìm hiểu nội quy trước khi quyết định tham gia khóa thiền. Sau khi gửi hết các vật dụng có giá trị cùng sách, bút và cả cuốn nhật ký nhỏ theo quy định, tôi cùng mọi người tham gia buổi họp nhỏ để nghe các nội quy, quy tắc lần cuối cùng trước quyết định bước vào khóa thiền 10 ngày hay rời bỏ thiền trường ngay lúc này.
Tôi đã đến đây vì khóa thiền, những quy định nghiêm khắc đó không thể đẩy tôi rời khỏi thiền trường được. Tôi biết rằng những nội quy khắt khe đó chỉ nhằm mục đích cho tất cả thiền sinh đạt được lợi lạc tối đa trong 10 ngày quý giá đã bỏ ra.
10 ngày không phải là quá dài nhưng quá khó khăn để cắt đứt với thế giới bên ngoài để giữ im lặng hoàn toàn, để không đọc sách, không nghe nhạc, không lướt internet thậm chí không được ăn chiều. Mỗi ngày bắt đầu từ 4 giờ sáng trong cái lạnh buốt của phố núi mờ sương và mỗi ngày liên tục hành thiền 10 tiếng đồng hồ và chỉ được nghỉ năm phút sau một tiếng.
10 ngày đi vào một môi trường hoàn toàn khác với lịch trình quen thuộc hằng ngày, nơi mọi thói quen bỗng nhiên thay đổi, mọi quan niệm bỗng trở nên bấp bênh, nơi mọi vấn đề khúc mắc được gỡ dần nút rối. Vậy thì còn lý do gì khiến tôi phải dừng lại khi chưa bắt đầu?
Khóa thiền đã bắt đầu.
Ba ngày đầu thầy hướng dẫn kỹ thuật thiền Anapana, tập trung vào hơi thở đi ra – đi vào đầu cánh mũi làm đối tượng thiền. Thói quen hằng ngày trỗi dậy chống đối tôi khi phải thức dậy từ 4 giờ sáng, rời bỏ chiếc giường đầy quyến rũ. Có những lúc tôi đã ngủ thiếp đi trong giờ hành thiền; có lúc tâm trí tôi chơi trò đuổi bắt, chạy từ quá khứ đến tương lai; có lúc tôi lại chìm trong suy tính. Tâm trí tôi như con khỉ ngoài kia, chuyền hết cành cây này sang cành cây khác rồi nhảy sang nóc nhà cười cợt trên ấy mặc cái thân tôi đang ngồi đau nhức với những giờ ngồi yên liên tục.
Những ngày tiếp theo thầy hướng dẫn phương pháp thiền Vipassana, thiền sinh được hướng dẫn từ từ đưa ý thức nhận biết cảm giác từ đỉnh đầu xuống ngón chân. Những đau nhức, khó chịu ở hai bắp chân làm tôi không chịu nổi và muốn phản kháng bằng cách đứng dậy đi ra ngoài.
“Con không thể lựa chọn cảm giác...”, tôi bừng tỉnh khi nghe lời thầy giảng. Tại sao tôi lại muốn chọn những cảm giác khoan khoái, dễ chịu và cảm thấy khó chịu khi cảm giác đau nhức, tê cứng kéo đến. Phải chăng đó là bản chất của con người? Trong phòng thiền thì chỉ thích những cảm giác dễ chịu và ở ngoài đời cũng thế, chỉ thích những lời khen, tâng bốc. Hóa ra con người cũng giống như những con rối trong cuộc đời. Nghe một lời tâng bốc thì cười ngả nghiêng bên này, nghe một lời mắng nhiếc thì giận giữ bên kia; gặp việc thuận ý thì đắc thắng thế này, gặp việc trái ý thì hậm hực thế kia.... Con người chỉ chạy theo cảm giác. Những người khác tha hồ giật dây cho những con rối lắc bên này hay bên kia, chính người khác chứ không phải chính ta đang điều khiển cảm xúc của chính mình.
Choàng tỉnh, nước mắt tôi chảy dài, một câu của thầy đã cho tôi nhận ra bài học trong thiền để áp dụng vào cuộc đời. Tôi học cách để không trở thành một con rối trong cuộc đời. Hãy thôi tìm kiếm, lựa chọn những cảm giác thay vào đó phải học cách bình thản đón nhận mọi chuyện như khi ta vui cười đón ánh nắng đầu tiên trong ngày cũng như vui cười khi màn đêm buông xuống. Vui hay buồn, khen hay chê, ngày hay đêm, nắng hay mưa, ánh sáng hay bóng tối... tất cả cũng chỉ là quy luật tự nhiên không thể thay đổi. Làm sao ta có thể chỉ chọn niềm vui, chọn lời khen, chọn ánh nắng hay chỉ chọn phần ánh sáng và bỏ qua những nửa còn lại?
“Con không thể sống cuộc đời hiện tại đầy đau khổ, đầy tham lam, đầy giận dữ để rồi mong sau này, cuối đời con có một cuộc sống hạnh phúc được, không thể nào. Con hãy hạnh phúc ngay từ bây giờ, ngay lúc này con ạ”. Tôi đã không còn chống cự với cơn đau, không còn khoan khoái khi toàn thân thư thái. Những khoảng yên lặng của tâm trí đã được kéo dài. Bình yên!
Ngày cuối cùng của khóa thiền, thầy dạy chúng tôi một phương pháp thiền mới gọi là Mettapana. Thầy dạy chúng tôi cách mở lòng, trải rộng lòng thương yêu đối với mọi người, mọi loài trên thế giới. Những rung động từ lòng yêu thương, biết ơn tràn ngập trong tôi và dường như đã thoát ra ngoài, lan ra hòa nhập cùng với tình yêu thương của những bạn cùng học, tạo ra một từ trường đầy an lạc. Chúng tôi kết thúc khóa thiền với những nụ cười và những dòng nước mắt hạnh phúc. Tôi nhận ra giá trị quý báu của 10 ngày khi đã nghiêm túc thực hành những gì thầy hướng dẫn.
Sau khi được phép nói chuyện, những người bạn học cùng tôi bắt đầu trò chuyện râm ran. Đám khỉ nghịch ngợm đã ngưng trò lấy trộm quần áo của thiền sinh vì toàn bộ thiền trường đã rộn rã tiếng cười đùa chứ không còn lặng yên như mấy ngày trước. Đến lúc này các thiền sinh mới có cơ hội làm quen và giới thiệu tên tuổi với nhau, những cái tên đầy ấn tượng đến từ nhiều quốc gia khác nhau: Pritha, Ridhi, Michelle, Azusa, Jamie... Khi đến tên Thủy của tôi, gần như không ai có thể phát âm đúng vì thế các bạn gọi tôi bằng cái tên khác là “Nước”.
Ngày cuối cùng trong thiền trường trôi qua với lời chia sẻ về những bài học tuyệt vời trong 10 ngày qua, những câu chuyện đời tư, những lời mời về nhà nhau của các bạn học. Tôi đắn đo không biết ngày mai sẽ nhận lời mời về nhà bạn nào đó vài ngày hay lại tiếp tục hành trình đơn độc.
Trong bữa ăn trưa cô bạn Azusa người Nhật bắt chuyện cùng tôi cho biết rằng cô ấy sẽ tham gia vào những buổi thuyết giảng của ngài Dalai Lama trong pháp hội Đông Nam Á diễn ra bốn ngày, bắt đầu từ ngày 29 tháng 8. Cô ấy đã rời Nhật đi qua nhiều nước châu Á và dừng lại ở Ấn Độ bởi những điều cuốn hút từ các giáo lý thâm sâu nhiệm màu. Cô ấy đã dừng lại và làm việc tại Ấn hơn sáu tháng rồi, dường như vừa yêu vừa ghét đất nước đầy kỳ lạ, nhiều mâu thuẫn này nhưng trên hết cô ấy đang cảm thấy rất hạnh phúc khi ở đây. Tôi cảm thấy rất thú vị với câu chuyện của Azusa nên thốt lên:
- Thú vị quá nhỉ, Nước rất thích phong cách Nhật của các bạn.
- Người Nhật chúng tôi quá lịch thiệp đúng không?
- Đúng vậy, các bạn cũng rất tận tâm và tôn trọng kỷ luật.
- Ừ! Và Azusa trốn chạy khỏi nước Nhật vì chính điều đó. Ở Nhật, Azusa thấy mình không được sống và luôn phải nhìn ngó xung quanh khi làm bất cứ điều gì. Mọi người luôn lịch sự với nhau vì đó là nguyên tắc nhưng bên trong là một bầu giận dữ và mệt mỏi phải kìm nén. Azusa cảm thấy vỡ tung vì phải rập khuôn trong những điều mà mình muốn làm khác đi.
Tôi im lặng, Azusa cũng rơi vào im lặng. Tôi hồi tưởng chuyến đi một mình đầu tiên đến Ấn Độ để tham gia pháp hội Kalachakra hai năm trước. Những cảm xúc, những khuôn mặt thân quen, những giọng nói ấm áp, những đỉnh núi tuyết trắng xóa vẫn còn nguyên vẹn trong tôi. Tôi quyết định sẽ ở lại Dharamsala để tham dự buổi thuyết pháp của ngài Dalai Lama.
Đúng lúc ấy Jamie đến tìm tôi và thông báo rằng ngày mai cô ấy sẽ về McLeod Ganj đi chơi vài ngày rồi 29 sẽ tham gia buổi giảng của ngài Dalai Lama. Cô ấy bảo nếu muốn tôi có thể đi cùng vì cô ấy đã tìm được nhà nghỉ có giá tốt, có phong cảnh rất đẹp ngay gần Tu viện Namgyal, nơi ngài Dalai Lama cư ngụ. Tôi chỉ biết gật đầu bởi đó là điều tôi mong muốn.
Sáng ngủ dậy, nhiều thiền sinh vội vàng rời thiền trường sau 10 ngày xa gia đình, để lại những lời chào, những cái bắt tay, những cái ôm thân mật. Tôi và một số người bạn khác tình nguyện ở lại dọn dẹp thiền trường thay cho lời cảm ơn vì những bài học vô giá đã nhận được từ khóa thiền đầy an lạc.
Khu vực bếp được lau dọn xong, chúng tôi chuyển sang dọn dẹp từng phòng ngủ, từng phòng vệ sinh một cách cẩn thận với mong muốn các thiền sinh đến sau cũng nhận được những điều tốt đẹp nhất khi đến đây tham gia khóa thiền.
Chúng tôi rời đi vào buổi sáng mà không thấy một chú khỉ nào trên nóc nhà để có thể nói lời tạm biệt. Tôi rời thiền trường với tâm hồn nhẹ bẫng, những nút rối đã được nới lỏng, những câu trả lời đã dần xuất hiện. Tôi buông lỏng bước chân mình trên những bậc thềm đá rồi bước ra khoảng sân, nơi đã đón chào tôi vào một sáng tinh sương tĩnh lặng như mặt hồ mùa thu. Tôi ngoái nhìn lần nữa khung cảnh yên bình trước khi bước ra khỏi cánh cửa, ngoài kia là phố xá nhộp nhịn, đông đúc, nơi cuộc sống mưu sinh vẫn tấp nập mỗi ngày.
Trên con đường về McLeod Ganj, tôi nhìn rõ Dharamsala hơn, mang dáng dấp một thị trấn phố núi, Dharamsala trong xanh, bình yên đến lặng lẽ. Những đường phố nhỏ hẹp và dốc ngược chênh vênh. Càng gần McLeod Ganj, hàng quán hai bên đường càng nhiều, bày bán đồ lưu niệm cho khách du lịch. Những người đàn ông đứng bên gian hàng nở nụ cười hiền từ. McLeod Ganj mang vẻ sôi động của thành phố du lịch, tấp nập và rộn ràng nhưng đó không phải là gương mặt của Dharamsala mà chính là những tu viện lớn đầy nghiêm mật ẩn mình dưới bóng núi xanh biếc.
***
Nhóm sáu người chúng tôi đến khách sạn, tôi và Michelle ở cùng phòng. Tôi đặt hành lý vào góc giường, kéo rèm cửa sổ, ngồi xuống ngẩn ngơ với khung cảnh bên ngoài. Trong làn mưa, dãy núi uy nghi, hiên ngang chắn ngang tầm mắt tôi, những ngôi nhà nhiều sắc màu tạo thành bức tranh lung linh trên sườn đồi. Vẻ đẹp của tự nhiên bao giờ cũng có sức quyến rũ đến lạ thường. Nó có thể khiến tôi đắm mình hàng giờ trong cảm giác thân tâm nhẹ tênh đi giữa đất trời, lắng nghe tiếng gió ngàn, tiếng mưa rơi tí tách như một bản tình ca dài bất tận.
Ấn Độ là nơi xuất phát một trong bốn nền văn minh cổ đại của nhân loại. Văn minh sông Hằng có trên năm nghìn năm, là nơi hội tụ các tôn giáo lớn, những trào lưu tư tưởng, văn học, thi ca, mỹ thuật và cả khoa học. Những đóng góp của nền văn minh sông Hằng nói chung, Ấn Độ nói riêng cho sự phát triển, tiến bộ của loài người đến nay có thể nói là đặc sắc và vĩ đại. Ấn Độ cũng là quốc gia mở rộng vòng tay hào hiệp đón tiếp người anh em Tây Tạng trong khổ đau, ách nạn. Dharamsala chính là món quà của tình thương và sự đồng cảm cao quý nhất mà Thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ là Jawaharlal Nehru tặng cho ngài Dalai Lama vào năm 1960. Nơi đây đã trở thành nơi đóng trụ sở chính của Chính phủ Tây Tạng lưu vong từ đó đến nay và được biết dưới một cái tên khác là Tiểu Lhasa (Little Lhasa).
Chúng tôi vô tình gặp một nhóm các thiền sinh khác trên đường khi đang đi ăn trưa, vậy là tất cả chúng tôi nhập thành một nhóm ríu rít trên đường. Jamie dẫn chúng tôi vào một quán được đánh giá là có món momo ngon nhất khu vực này. Cô ấy cho biết trước khi vào khóa thiền cô ấy đã ở đây suốt một tuần và lê la khắp các hàng quán nên biết rất nhiều quán ăn ngon.
Đi cùng Jamie tôi không cần phải lo lắng điều gì, cô ấy biết nhà nghỉ nào phù hợp cho chúng tôi, quán ăn nào có đặc sản ngon, quán nước nào có thể ngồi ngắm toàn bộ McLeod Ganj, anh chàng bán hàng rong nào có món hàng lạ...
Ngoài những lúc ngồi bên khung cửa sổ, tôi theo các cô gái đi khắp các xó xỉnh của Dharamsala cho đến khi mệt nhoài và trở về phòng ngủ.
Ngày 29 tháng 8, trong không khí bình yên buổi sáng, chúng tôi đi về phía Tu viện Namgyal. Lòng tôi rộn rã khi hòa vào dòng người đang từ từ tiến tới gần tu viện, Ngài đang ở đó với nụ cười tĩnh lặng ban phước cho những người đầy hân hoan, hỉ lạc đang đi tới. Tôi không nghĩ rằng mình lại có thể gặp Ngài lần nữa, bốn ngày thuyết pháp này không nằm trong kế hoạch của tôi mà nó ngẫu nhiên xảy đến .
Phải chăng khi tôi ngừng mong muốn mọi thứ đến theo cách của mình thì chúng lại tìm đến?
Trong cuộc đời cũng vậy, có những điều thật rõ ràng, hiển nhiên trước mắt nhưng ta vẫn không thể nào nhìn thấy được bởi đã bị che khuất bằng một màn sương mỏng manh?
❀ ❀ ❀
[1] . Thiền sư Satya Narayan Goenka (1924-2013), được mệnh danh là người tiên phong phát triển dòng thiền Vipassana tại Ấn Độ.