Đế Quốc La Mã Thần Thánh

Lượt đọc: 7659 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chap 447: Khoa học nghiên cứu

❊ ❊ ❊

Mặt trời chiều ngả về tây, ráng chiều nhuộm đỏ chân trời, khiến Vienna càng thêm rực rỡ.

Mọi người bận rộn, không có thời gian thưởng thức cảnh đẹp này. Orabver là một ngoại lệ, gần đây phòng thí nghiệm giao cho anh một công việc nhẹ nhàng, coi như nghỉ phép.

Đắm mình trong ánh nắng chiều, Orabver không quên công việc. Anh giơ tay lên, giả làm ống nghe hoặc loa phóng thanh, lớn tiếng hô hoán.

Đúng vậy, đó là công việc hàng ngày của anh. Gọi là nghỉ phép nên cũng chẳng có bao nhiêu việc. Mỗi ngày ba lần kiểm tra chất lượng thoại là xong việc.

Ban đầu, anh đứng ngay bên ngoài phòng thí nghiệm, sau đó khoảng cách dần được nới rộng. Giờ đây, Orabver đã cách phòng thí nghiệm hơn hai mươi kilomet, nếu xa hơn nữa thì sẽ ra khỏi Vienna mất.

Orabver làm việc tại Viện Khoa học Hoàng gia đã năm năm. Chẳng có gì bất ngờ, làm thêm giờ ở các cơ quan nghiên cứu khoa học là chuyện cơm bữa.

Năm năm qua, ngày nghỉ dài nhất của Orabver cũng chưa tới ba ngày. Cái gọi là nghỉ dài hạn, chẳng qua là điều chỉnh vị trí đến nơi thoải mái hơn, giảm bớt chút áp lực.

Nghiên cứu điện thoại vẫn luôn là một trong những hạng mục trọng điểm của phòng thí nghiệm. Ngay từ thế kỷ 18, châu Âu đã có từ "điện thoại", năm 1860, Antonio Meucci người Italy đã phát minh ra điện thoại.

Nhưng thiết bị này không dùng được, hoặc căn bản là không thể dùng. Nguyên thời không công nhận Alexander Graham Bell phát minh ra điện thoại năm 1876, chỉ vì Bell đã cải tiến nó, mang lại giá trị thực tiễn.

Giờ thì không phải chờ đợi lâu như vậy, kỹ thuật tương đối dễ chinh phục này đã sớm lọt vào mắt xanh của Franz.

Từ khoảng cách kiểm tra cũng có thể thấy, Viện Khoa học Hoàng gia đã có những bước tiến đầu tiên trong nghiên cứu điện thoại, ngày thành công không còn xa.

Nếu không xét đến chất lượng thoại, điện thoại hiện tại có thể "nói chuyện phiếm trong thành phố", có giá trị thương mại nhất định.

Điện thoại ra đời vốn là để mọi người trao đổi dễ dàng hơn. Chỉ phủ sóng được vài chục kilomet thì rõ ràng không thể đáp ứng nhu cầu của Franz.

Nâng cao chất lượng thoại trở thành vấn đề khó khăn nhất. Chỉ cần kỹ thuật truyền âm có đột phá, mở rộng khoảng cách thoại sẽ rất dễ dàng.

Việc dùng nhân công chuyển mạch quá phức tạp, Franz không mong đợi đến mức đó, cũng không ảo tưởng có thể một bước tới nơi, thực hiện chuyển mạch thông minh.

Ở đầu dây bên kia, Oscar ngạc nhiên phàn nàn: "Orabver, anh nói nhỏ thôi, tôi không phải người điếc."

Orabver mừng rỡ, chất lượng thoại đã được cải thiện. Gần như mỗi ngày đều có thiết bị mới, vô vàn ý tưởng được đưa ra thử nghiệm.

Phát minh sáng tạo thường rất khô khan, đòi hỏi nhân viên nghiên cứu khoa học phải động não, cộng thêm vô số thí nghiệm mới có thể đạt được thành quả cuối cùng.

Dĩ nhiên, quan trọng nhất vẫn là vận may. Hầu hết các nhà khoa học đều thừa nhận, nghiên cứu khoa học cần có vận may, người không có vận may thì không thích hợp làm nghiên cứu khoa học.

Tâm trạng tốt, Orabver đáp trả: "Tôi biết mà Oscar, nếu anh điếc thì đã không phàn nàn giọng tôi lớn.

Nhưng tôi nghĩ điều anh nên chú ý bây giờ không phải là cái đó. Hình như lần này chất lượng thoại đã được cải thiện, thành công không còn xa."

Chất lượng thoại được cải thiện, chưa hẳn đã là thành công. Dù sao đây chỉ là điện thoại đường dây riêng, trong thực tế ứng dụng, nó không có giá trị kinh tế.

Nhưng phòng thí nghiệm có một điểm tốt, có thể phân công, đồng thời nghiên cứu nhiều hạng mục kỹ thuật, thậm chí mỗi hạng mục đều có nhiều tổ.

Đi theo con đường số lượng, ưu thế này so với các nhà nghiên cứu cá nhân là quá lớn.

Lấy nghiên cứu điện thoại làm ví dụ, hạng mục trọng điểm này có hơn một trăm người tham gia. Bao gồm: chất lượng thoại, tổng đài điện thoại, đường dây điện thoại, điện thoại... Chia thành mười mấy tổ, đồng thời tiến hành nghiên cứu.

Bất kỳ tiến bộ nào về kỹ thuật, đều cực kỳ quan trọng đối với hạng mục này. Tiền thưởng dĩ nhiên không thể thiếu, Franz luôn rất hào phóng trong chuyện này.

Nghiên cứu khoa học không thể dùng tình yêu để phát điện, chút điện đó không gánh nổi toàn bộ ngành nghề. Những năm gần đây, lĩnh vực nghiên cứu khoa học của Áo phát triển rất tốt, Viện Khoa học Hoàng gia có công rất lớn.

Hàng năm, mấy triệu thần thuẫn kinh phí được đầu tư, trở thành động lực thúc đẩy khoa học kỹ thuật Áo tiến bộ.

So với điện thoại, kỹ thuật máy hát đã thành thục hơn, các bằng sáng chế liên quan đều đã được đăng ký đầy đủ. Dự kiến sau lễ Giáng sinh năm nay sẽ được tung ra thị trường tiêu thụ.

Lại cướp bản quyền sáng chế của Edison, cứ tiếp tục như vậy, Franz rất nghi ngờ nhà phát minh này có thể làm ra trò gì mới.

Những phát minh sáng tạo này khiến Franz không còn quá coi trọng danh nhân. Sự thật chứng minh, chỉ cần chịu đầu tư, những kỹ thuật đã có sẵn, chỉ thiếu ý tưởng khoa học, cũng có thể tạo ra được.

Đã như vậy, giá trị của Edison giảm mạnh. Lôi kéo một nhà khoa học dễ hơn lôi kéo một thương nhân, thay vì tốn nhiều tiền để theo đuổi những "thương nhân" thành công, chi tiền đó nuôi vài trăm nhân viên nghiên cứu khoa học còn hơn.

Những người này mới thực sự có thể tăng cường quốc lực. Từ cận đại đến nay, bất kỳ cường quốc nào cũng đều có một đội ngũ nhân viên nghiên cứu khoa học, kỹ sư chống lưng.

Không có công nghiệp làm hậu thuẫn, những ý tưởng vĩ đại của các nhà khoa học mãi mãi chỉ là ý tưởng, muốn biến thành sự thật, còn phải xem cơ sở công nghiệp.

Thậm chí, tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng là một quá trình đồng bộ. Trong khi mọi người chú ý đến Edison, Einstein, thường coi thường những nhà nghiên cứu khoa học cơ bản vô danh phía sau.

Những người này không có danh tiếng, không có những phát minh làm thay đổi cuộc sống, nhưng mọi phát minh sáng tạo lại không thể thiếu họ.

Từ thế kỷ 19 đến nay, phần lớn các phát minh khoa học đều tập trung ở châu Âu, cũng cho thấy vấn đề.

Không phải các khu vực khác không có thiên tài, chỉ vì cơ sở công nghiệp thiếu sót, không đủ sức để những thiên tài này phát minh sáng tạo, nên họ phải đi con đường khác.

Trong một góc của viện nghiên cứu khoa học, tổ động cơ đốt trong vẫn đang miệt mài phấn đấu.

Hạng mục kỹ thuật này có nguồn gốc từ rất sớm, thế kỷ 17, nhà vật lý học người Hà Lan Huygens đã sử dụng thuốc nổ để nghiên cứu động lực, nhưng do kỹ thuật thuốc nổ chưa chín muồi, khó kiểm soát nên nghiên cứu thất bại.

Năm 1794, người Anh Streeter đề xuất lấy động lực từ nhiên liệu đốt cháy, đồng thời lần đầu tiên đề xuất khái niệm hỗn hợp nhiên liệu và không khí.

Năm 1833, người Anh Wright đề xuất thiết kế trực tiếp sử dụng áp suất đốt cháy để thúc đẩy pít tông hoạt động.

Giữa thế kỷ 19, các nhà khoa học hoàn thiện lý thuyết chuyển hóa nhiệt năng sinh ra từ việc đốt khí đốt, xăng và dầu diesel thành động năng cơ học. Điều này đặt nền móng vững chắc cho việc phát minh ra động cơ đốt trong.

Động cơ đốt trong pít tông từ khi ra đời vào những năm 1860 của thế kỷ 19, đã trải qua nhiều sửa đổi và phát triển, trở thành một cơ cấu tương đối hoàn thiện.

Năm 1860, người Pháp Lenoir mô phỏng cấu trúc máy hơi nước, thiết kế và chế tạo ra chiếc máy đốt khí thực dụng đầu tiên.

Đây là những yếu tố thúc đẩy việc thành lập dự án động cơ đốt trong. Vì nền tảng đã vững chắc, Franz dĩ nhiên sẽ không bỏ qua phát minh mở ra kỷ nguyên mới này.

Chỉ xét về mặt kỹ thuật, động cơ đốt trong đã có khả năng ra đời từ thế kỷ 18. Dĩ nhiên, nghiên cứu khoa học không dễ dàng như vậy, nguyên thời không mãi đến cuối thế kỷ 19 mới có đột phá.

Franz thúc đẩy chỉ là đẩy nhanh quá trình này. Từ hai năm trước, động cơ đốt trong đã ra đời trong phòng thí nghiệm.

Chỉ vì công suất quá nhỏ, không có giá trị thực tiễn, trước mắt chỉ có thể trưng bày trong viện bảo tàng cho mọi người chiêm ngưỡng. Hiện tại đã có động cơ đốt trong thế hệ thứ hai.

Khi nào có thể ứng dụng vào cuộc sống, vấn đề này chỉ có thể trông chờ vào vận may. Dù sao, thành quả phòng thí nghiệm và ứng dụng thương mại là hai khái niệm khác nhau.

Trong Viện Khoa học Hoàng gia vẫn còn rất nhiều công nghệ cao chưa được công bố, chỉ vì nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó, y dược và sinh học là nhiều nhất, rất nhiều loại thuốc hiệu quả rất tốt, căn bản không thể sản xuất công nghiệp.

Không chỉ vì kỹ thuật công nghiệp không theo kịp, mà còn vì nguyên liệu quá ít. Nhất là những loại thuốc được chế biến từ thảo dược trăm năm, bản thân phòng thí nghiệm cũng thiếu nguyên liệu để nghiên cứu.

Không cần nói, người ủng hộ đằng sau những nghiên cứu này chính là Franz.

Các dự án nghiên cứu ở Vienna coi như không tệ, một số dự án đặt ở phòng thí nghiệm châu Phi mới đáng sợ. Đã từng có một lần phòng thí nghiệm thải nước bẩn, khiến mấy bộ lạc châu Phi bị diệt vong.

Có thể nói là vũ khí sinh hóa sớm nhất. Thật may là Franz có tầm nhìn xa, đặt phòng thí nghiệm ở lục địa châu Phi, nếu không thì chuyện lớn đã xảy ra.

Franz luôn cho rằng, mỗi nhà khoa học ưu tú đều là một kẻ ngốc có tiềm năng. Rất nhiều thứ bản thân họ không hiểu rõ, cũng dám trực tiếp nghiên cứu, thật đáng nể.

Rất nhiều nghiên cứu lung tung tạo ra những hậu quả khó lường. Nếu Franz muốn, bây giờ hoàn toàn có thể chế tạo vũ khí sinh hóa.

Nhưng vì yêu chuộng hòa bình, anh không làm như vậy. Cũng không ai biết sản phẩm phụ của nghiên cứu khoa học, khi phát tán ra sẽ gây hậu quả nghiêm trọng đến mức nào, Franz càng không muốn thử.

Kỹ thuật y học thời đại này còn hạn chế, lỡ thả ra một loại virus không biết, trực tiếp khiến nhân loại "nghỉ chơi" thì cũng không phải là không thể.

Các nhà khoa học trong lĩnh vực này biết nặng nhẹ, mỗi lần thu thập số liệu xong, đều phải thận trọng xử lý rác thải nghiên cứu.

Nếu muốn hãm hại người khác, chỉ cần thu gom những phế liệu này lại, mang đi bảo quản thì hiệu quả sẽ rất rõ rệt. Dĩ nhiên, những chuyện thất đức này, Franz trước giờ không làm.

Để xử lý rác thải phòng thí nghiệm, anh đã phải trả giá rất đắt. Thông thường đều phải đốt ở nhiệt độ cao trước, sau đó mới vận chuyển đến những vùng đất hiếm người chôn lấp, tuyệt đối không để lại trong nước.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 24 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.