Do Thái Lưu Lạc — Toàn Tập

Lượt đọc: 653 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
Cuộc Gặp Gỡ.

❊ ❊ ❊

Đã là tám giờ tối, những hạt mưa quất vào khung cửa sổ căn hộ của Frances Baudoin trên phố Rue Brise-Miche, trong khi những cơn gió giật mạnh làm rung chuyển những cánh cửa và khung cửa kính đã đóng không khít. Sự bừa bộn và hỗn độn trong chốn ngèo hèn này, vốn thường ngày được giữ gìn rất ngăn nắp và sạch sẽ, chính là minh chứng cho tính chất trầm trọng của những biến cố buồn đau đã giật đổ một cuộc sống vốn dĩ bình yên trong cảnh âm thầm.

Nền nhà lát gạch lấm lem bùn đất, và một lớp bụi dày phủ lên đồ đạc, thứ từng rực rỡ và tinh tươm. Kể từ khi Frances bị cảnh sát áp giải đi, chiếc giường vẫn chưa được dọn; ban đêm Dagobert đã ngả mình lên đó vài tiếng trong bộ quần áo mặc nguyên trên người, khi mà, kiệt quệ vì mệt mỏi và suy sụp bởi tuyệt vọng, ông trở về sau những nỗ lực mới mẻ nhưng vô ích nhằm dò ra nơi giam giữ Rose và Blanche. Trên chiếc tủ kéo đặt một chai rượu, một cái cốc, và dải vụn bánh mì khô, minh chứng cho sự đạm bạc của người lính, kẻ mà phương tiện mỉm sinh đã bị thu hẹp lại thành khoản tiền do hiệu cầm đồ cho vay dựa trên những món đồ mà Cô Gù đã mang đi cầm cố sau vụ bắt giữ Frances.

Dưới ánh nến mập mờ đặt trên chiếc bếp lò nhỏ nay lạnh ngắt như đá, bởi số củi dự trữ đã cạn kiệt từ lâu, người ta có thể thấy cô gái gù đang ngủ gục trên một chiếc ghế, đầu tựa vào ngực, đôi bàn tay giấu dưới tạp dề vải bông, và đôi chân đặt trên thanh ngang thấp nhất của chiếc ghế; thỉnh thoảng, cô lại rùng mình trong những xiêm y ẩm ướt và lạnh buốt.

Sau một ngày dài mệt mỏi với bao cảm xúc bộn bề, tội nghiệp cô gái chẳng mảy may ăn uống gì. Dù có nghĩ tới điều đó đi chăng nữa, cô cũng chẳng còn lấy một mẩu bánh mì. Chờ đợi sự trở lại của Dagobert và Agricola, cô đã chìm vào giấc ngủ chập chờn—khác xa làm sao, ôi chao! với một giấc ngủ bình yên và hồi phục sức lực. Thỉnh thoảng, cô lại hé mắt đầy lo âu và nhìn quanh. Rồi một lần nữa, bị khuất phục bởi cơn buồn ngủ không sao cưỡng lại được, đầu cô lại rũ xuống ngực.

Sau vài phút tĩnh lặng, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng gào thét của gió, một bước chân chậm chạp và nặng nề vang lên ngoài chiếu nghỉ. Cánh cửa bật mở, và Dagobert bước vào, theo sau là chú chó Spoil-sport.

Bừng tỉnh giấc, Cô Gù ngẩng phắt đầu lên, vùng dậy khỏi ghế, và nhanh nhẹn bước tới đón cha của Agricola, cô cất lời: “Ôi, bác Dagobert! Bác mang tin vui chứ? Bác đã—”

Cô không thể nói hết câu, bởi vẻ mặt u ám của người lính đã khiến cô chết lặng. Chìm đắm trong những dòng suy tư, thoạt đầu ông dường như chẳng hề nhận ra người đối thoại, mà chỉ thẫn thờ ngã người xuống ghế, chống khuỷu tay lên bàn và giấu khuôn mặt vào lòng bàn tay. Sau một hồi trầm ngâm lâu lắc, ông đứng dậy, lẩm bẩm bằng giọng trầm đục: “Phải làm thôi—vâng, phải làm thế thôi!”

Đi đi lại lại vài bước trong phòng, Dagobert đảo mắt nhìn quanh như đang tìm kiếm thứ gì. Cuối cùng, sau chừng một phút quan sát, ông nhận thấy gần chiếc bếp lò có một thanh sắt dài khoảng hai thước, vốn dùng để nhấc các vòng chắn khói khi chúng quá nóng không thể chạm tay vào. Cầm nó lên tay, ông ngắm nghía kỹ càng, ướm thử sức nặng, rồi đặt nó lên mặt tủ kéo với vẻ hài lòng. Ngạc nhiên trước sự im lặng kéo dài của Dagobert, cô thợ may dõi theo từng cử động của ông với nỗi tò mò rụt rè và đầy bất an. Nhưng chẳng mấy chốc, sự ngạc nhiên ấy nhường chỗ cho nỗi sợ hãi, khi cô thấy người lính lấy chiếc ba lô xuống, đặt lên ghế, mở tung ra và rút từ trong đó một cặp súng ngắn bỏ túi, ông cẩn trọng thử đi thử lại các ổ khóa của chúng.

Bị nỗi kinh hoàng bóp nghẹt, cô thợ may không sao kìm được tiếng kêu thảng thốt: “Trời đất quỷ thần ơi, bác Dagobert! Bác định làm gì thế ạ?”

Người lính nhìn cô như thể bây giờ ông mới nhận ra sự hiện diện của cô, rồi cất giọng ôn tồn nhưng cộc lốc: “Chào cháu, cô gái ngoan! Mấy giờ rồi cháu nhỉ?”

“Chuông nhà thờ Saint-Mery vừa điểm tám giờ đấy ạ, thưa bác Dagobert.”

“Tám giờ,” người lính lẩm bẩm một mình; “mới có tám giờ!”

Đặt cặp súng ngắn sang bên cạnh thanh sắt, ông lại đăm chiêu suy nghĩ, ánh mắt phóng đi vô định quanh căn phòng.

“Bác Dagobert,” cô gái rụt rè lên tiếng, “vậy là bác không mang về tin vui ạ?”

“Không.”

Từ duy nhất ấy thốt ra từ miệng người lính với một giọng điệu sắc lạnh đến mức không dám gặng hỏi thêm, Cô Gù lủi thủi ngồi xuống trong im lặng. Spoil-sport tiến lại, gác đầu lên đầu gối cô gái, và chăm chú theo dõi mọi cử động của Dagobert với vẻ tò mò chẳng kém gì cô chủ nhỏ.

Trầm mặc và lặng thinh suốt mấy phút liền, người lính bước đến bên chiếc giường, rút một chiếc ga trải giường ra, hình như để ước lượng chiều dài, rồi quay sang bảo Cô Gù: “Cái kéo!”

“Nhưng thưa bác Dagobert—”

“Nào, cô bé ngoan! Lấy cho bác cái kéo!” Dagobert giục, giọng ôn tồn nhưng mang theo quyền uy buộc người ta phải tuân lệnh. Cô thợ may cầm chiếc kéo lấy từ giỏ đựng đồ khâu vá của Frances và đưa cho người lính.

“Bây giờ, cháu giữ đầu kia của tấm ga đi con, rồi kéo căng nó ra.”

Chỉ trong vài phút, Dagobert đã cắt tấm ga thành bốn dải, rồi bện chúng lại thành những bím thừng, chằng buộc thêm vài mẩu băng vải ở các đoạn để giữ cho mối bện không bị tung ra, đồng thời thắt chặt chúng vào với nhau để tạo thành một sợi dây dài chừng hai mươi thước. Thế nhưng, chừng đó vẫn chưa đủ với ông, vì ông lẩm bẩm: “Bây giờ mình phải kiếm một cái móc.”

Ông lại đảo mắt nhìn quanh, và Cô Gù, ngày càng hoảng sợ bởi lúc này cô đã hoàn toàn không còn hoài nghi gì về những dự tính của Dagobert nữa, rụt rè lên tiếng: “Bác Dagobert ơi, anh Agricola vẫn chưa về. Biết đâu chính tin vui nào đó đã khiến anh ấy về muộn thì sao ạ.”

“Ừ,” người lính đáp đầy cay đắng, trong lúc đôi mắt vẫn không ngừng rảo tìm thứ mình cần; “tin vui giống như của ta vậy! Nhưng ta buộc phải có một cái móc sắt thật chắc chắn.”

Vẫn tiếp tục tìm kiếm, ông bắt gặp một trong những chiếc bao tải thô màu xám mà Frances vẫn thường hay may. Ông cầm lấy nó, mở tung ra và bảo cô thợ may: “Con bỏ thanh sắt và sợi dây vào túi này cho bác nhé, cháu gái. Mang theo thế này sẽ tiện hơn.”

“Trời ơi!” cô thốt lên trong lúc tuân theo mệnh lệnh của ông; “bác sẽ không đi mà không đợi gặp anh Agricola đấy chứ, thưa bác Dagobert? Biết đâu anh ấy mang về tin vui cho bác thì sao.”

“Cứ yên tâm! Ta sẽ đợi con trai ta. Ta không cần phải xuất phát trước mười giờ—nên ta vẫn còn thời gian.”

“Ôi chao, bác Dagobert! Chẳng lẽ bác đã mất hết hy vọng rồi sao?”

“Ngược lại là đằng khác. Ta đặt rất nhiều hy vọng—nhưng là vào chính bản thân ta.”

Nói đoạn, Dagobert xoắn chặt phần miệng bao tải lại để thắt kín nó lại, rồi đặt lên mặt tủ kéo, ngay cạnh cặp súng ngắn.

“Dù thế nào đi nữa, bác cũng sẽ đợi anh Agricola chứ ạ, thưa bác Dagobert?”

“Có chứ, nếu nó về trước mười giờ.”

“Ôi; vậy là bác đã quyết định dứt khoát rồi phải không ạ?”

“Dứt khoát rồi. Mặc dù vậy, nếu ta yếu mềm đến mức tin vào những điềm gở—”

“Có những lúc, điềm gở chẳng bao giờ lừa gạt ai đâu bác ạ,” cô gái nói, nuôi hy vọng có thể lay chuyển được quyết định nguy hiểm của người lính.

“Ừ,” Dagobert đáp lời; “mấy bà già thường bảo thế—và dẫu ta chẳng phải đàn bà chăng nữa, thì những gì ta vừa mục sở thị ban nãy cũng đủ đè nặng lên cõi lòng ta rồi. Suy cho cùng, biết đâu ta lại nhầm lẫn một cơn giận dữ thành điềm báo trước thì sao.”

“Bác đã thấy gì thế ạ?”

“Ta sẽ kể cho con nghe, cô bé ngoan ạ; biết đâu nó lại giúp thời gian trôi mau hơn, chớ ta thấy dạo này dài đằng đẵng.” Đoạn, tự ngắt lời mình, ông thốt lên: “Có phải chuông vừa điểm nửa tiếng rồi không cháu?”

“Vâng, thưa bác Dagobert; bây giờ là tám giờ rưỡi rồi ạ.”

“Vẫn còn một tiếng rưỡi nữa,” Dagobert cất giọng trầm đục. “Thế này,” ông nói tiếp, “đây là những gì ta đã thấy. Khi ta đi dọc theo con phố, sự chú ý của ta bị thu hút bởi một tấm bích chương màu đỏ lớn, phía trên đầu đề vẽ một con báo đen đang xé xác một con ngựa trắng. Cảnh tượng ấy khiến ta rợn cả người, bởi cháu phải biết đấy, cô bé ngoan ạ, một con báo đen từng giết chết con ngựa trắng già khốn khổ của ta, kẻ bạn đồng hành của Spoil-sport, con vật mang tên Jovial.”

Khi nghe thấy cái tên ấy, một cái tên từng vô cùng quen thuộc, Spoil-sport, đang nằm phục dưới chân cô thợ may, phắt ngẩng đầu lên và đăm đăm nhìn Dagobert.

“Cháu thấy đấy, loài vật cũng có trí nhớ—nó vẫn nhớ đấy,” người lính vừa nói vừa thở dài khi ký ức ùa về. Rồi quay sang chú chó, ông nói tiếp: “Mày còn nhớ Jovial chứ?”

Nghe thấy cái tên ấy lần thứ hai được thốt lên bởi người chủ với giọng nghẹn ngào, Spoil-sport khẽ rên lên một tiếng thấp như thể muốn tỏ tường rằng nó vẫn chưa hề quên người bạn đường năm xưa.

“Đúng là một chuyện buồn thảm, thưa bác Dagobert,” Cô Gù ngậm ngùi nói, “khi bắt gặp trên tấm bích chương ấy hình ảnh một con báo đang vồ lấy một con ngựa.”

“Chuyện đó vẫn chưa thấm tháp gì so với những gì sắp diễn ra đâu; cháu hãy nghe tiếp đây. Ta đã đến gần tấm áp phích và đọc được rằng, một kẻ tên là Morok, vừa mới từ Đức đến, sắp sửa trưng bày trong một nhà hát đủ các loài thú dữ mà hắn đã thuần hóa, trong đó có một con sư tử lộng lẫy, một con hổ, và một con báo đen xứ Java mang tên Cái Chết.”

“Cái tên nghe mới đáng sợ làm sao!” cô thợ may thốt lên.

“Cháu sẽ còn thấy nó đáng sợ hơn nữa, con bé của ta, khi ta cho cháu biết rằng đây chính là con báo đã bóp cổ con ngựa của ta ở Leipsic cách đây bốn tháng.”

“Trời đất ơi! Bác nói đúng quá, thưa bác Dagobert,” cô gái thốt lên, “thật là kinh khủng.”

“Chờ một chút đã,” Dagobert nói, nét mặt ngày càng trở nên u ám, “vẫn chưa hết đâu. Chính nhờ cái tên Morok này, kẻ sở hữu con báo ấy, mà ta và những đứa trẻ tội nghiệp của ta mới bị tống giam ở Leipsic.”

“Và gã ác độc ấy đang ở Paris, lại còn muốn hãm hại bác nữa ư?” Cô Gù hoảng hốt. “Ôi! Bác nói đúng đấy, thưa bác Dagobert; bác phải tự đề phòng lấy mình; đó đích thực là một điềm gở.”

“Điềm gở cho hắn, nếu ta bắt được hắn,” Dagobert lạnh lùng đáp bằng giọng trầm đục. “Chúng ta còn những món nợ cũ cần phải thanh toán.”

“Bác Dagobert ơi,” Cô Gù giật mình lắng nghe rồi kêu lên; “có ai đang chạy thình thịch lên cầu thang kìa. Là tiếng bước chân của Agricola. Cháu dám cá là anh ấy mang tin vui về rồi.”

“Đúng lúc lắm,” người lính nói nhanh, chẳng thèm đáp lời. “Agricola là một thợ rèn. Nó sẽ có cách kiếm cho ta cái móc sắt.”

Chỉ ít phút sau, Agricola bước vào phòng; nhưng ôi chao! ngay từ cái nhìn đầu tiên, cô thợ may đã nhận ra trên gương mặt tiu ngỉu của người thợ trẻ sự sụp đổ hoàn toàn của những niềm hy vọng mà cô hằng ấp ủ.

“Thế nào!” Dagobert cất tiếng hỏi con trai bằng một giọng nói vạch rõ vẻ chẳng đặt chút lòng tin nào vào những việc Agricola vừa tiến hành; “sao rồi, có tin tức gì chưa con?”

“Cha ơi, chuyện này đủ để khiến người ta phát điên—đủ để đập đầu vào tường tự tử cho rồi!” chàng thợ rèn giận dữ gào lên.

Dagobert quay sang phía Cô Gù và nói: “Con thấy chưa, đứa con tội nghiệp của ta—cha đã đoán trước mà lại.”

“Nào cha,” Agricola kêu lên; “cha đã gặp Bá tước de Montbron chưa?”

“Bá tước de Montbron đã khởi hành đi Lorraine từ ba ngày trước. Đó là tin vui của ta đấy,” người lính tiếp lời với một nét mỉa mai cay đắng; “giờ thì đến lượt con đi—cha rất nóng lòng muốn biết tất cả. Cha cần phải biết xem, nếu cứ cậy nhờ vào luật pháp—thứ luật pháp mà như con từng quả quyết với cha là luôn bảo vệ và che chở cho những người lương thiện—thì liệu có bao giờ xảy ra chuyện lũ gian manh lại là kẻ chiến thắng cuối cùng hay không. Cha muốn biết điều đó, và cha lại đang cần một cái móc sắt—nên cha đành trông cậy cả vào con đấy.”

“Ý cha là sao chứ hả cha?”

“Trước tiên, hãy kể cho cha nghe con đã làm những gì đi đã. Chúng ta vẫn còn thời gian. Bây giờ mới quá tám giờ rưỡi một chút thôi. Rời khỏi cha, con đã đi đâu trước tiên?”

“Đến gặp viên cảnh sát trưởng, người lúc ấy đã tiếp nhận bản khai của cha rồi ạ.”

“Hắn ta nói gì với con?”

“Sau khi chăm chú lắng nghe mọi điều con trình bày với một thái độ rất nhã nhặn, ông ta trả lời rằng những thiếu nữ ấy đang được đặt trong một ngôi nhà đáng kính, một tu viện—thế nên dường như chẳng có sự cấp bách nào đòi hỏi phải đưa họ ra ngay lập tức cả—vả lại, ông ta không thể tự ý xâm phạm sự tôn nghiêm của một chốn tu hành chỉ dựa trên lời khai đơn phương của cha; ngày mai, ông ta sẽ làm báo cáo lên các cơ quan thẩm quyền và các bước tiến hành sẽ được xúc tiến tùy theo tình hình.”

“Ừ, phải rồi—toàn những lời thoái thác,” người lính lẩm bẩm.

“‘Nhưng thưa ngài,’ con đã vặn lại ông ta như thế,” Agricola tiếp lời, “‘chính là lúc này, ngay trong đêm nay, ngài phải ra tay hành động, bởi nếu những thiếu nữ ấy không có mặt vào sáng mai tại số nhà Rue Saint Francois, quyền lợi của họ có thể sẽ gánh chịu những tổn thất không tài nào tính toán xuể. ‘Tôi rất tiếc về điều đó,’ ông ta đáp lại, ‘nhưng tôi không thể, chỉ dựa trên lời khai đơn độc của anh, hay của cha anh—người mà cũng giống như anh, chẳng có họ hàng thân thiết gì với những thiếu nữ kia—mà hành động trái ngược lại với các thủ tục pháp lý, thứ vốn không thể bị phớt lờ dẫu cho có là theo yêu cầu của chính gia đình họ đi chăng nữa. Luật pháp có những độ trễ và các thủ tục mang tính hình thức của nó, mà chúng ta buộc phải tuân theo.’”

“Đương nhiên rồi!” Dagobert châm biếm. “Chúng ta buộc phải tuân theo chúng, dẫu cho có phải đánh đổi bằng nguy cơ trở thành những kẻ phản bội hèn nhát và vô ơn đi chăng nữa!”

“Thế con có kể cho ông ta nghe về tiểu thư de Cardoville không?” cô thợ may cất tiếng hỏi.

“Có chứ—nhưng ông ta cũng đáp lại con về vấn đề này chẳng khác là bao: ‘Đó là một chuyện rất nghiêm trọng; chẳng có chút bằng chứng nào hậu thuẫn cho bản khai của tôi cả. Một bên thứ ba đã nói với tôi rằng tiểu thư de Cardoville khẳng định cô ấy không hề điên; nhưng kẻ điên nào mà chẳng giả vờ là mình tỉnh táo. Do đó, ông ta không thể, chỉ dựa trên mỗi lời chứng của một mình tôi mà tự ý đột nhập vào dinh cơ của một vị bác sĩ đáng kính được. Dẫu vậy, ông ta sẽ lập báo cáo về việc ấy, và luật pháp sẽ theo đó mà tiến hành—’”

“Khi ban nãy ta muốn tự mình ra tay,” Dagobert nói, “chẳng phải ta đã đoán trước được hết những điều này rồi sao? Thế mà ta lại còn mềm yếu nghe theo lời tụi con.”

“Nhưng thưa cha, điều cha định mưu sự là bất khả thi, và chính cha cũng đã đồng ý rằng nó sẽ đẩy cha vào những hậu quả khôn lường cơ mà.”

“Thế nên,” người lính tiếp lời, chẳng buồn đáp lại lời con trai, “họ đã nói thẳng thừng với con rằng chúng ta đừng có hồng hòng mong mỏi giải cứu Rose và Blanche bằng con đường hợp pháp vào tối nay hay thậm chí là vào sáng mai phỏng?”

“Vâng, thưa cha. Dưới con mắt của luật pháp, chẳng có sự khẩn cấp đặc biệt nào ở đây cả. Vấn đề có lẽ sẽ chẳng được phán quyết cho mãi tới hai hay ba ngày nữa.”

“Đó là tất cả những gì cha muốn biết,” Dagobert đứng phắt dậy, bước đi đi lại lại trong căn phòng.

“Mặc dù vậy,” con trai ông tiếp lập luận, “con vẫn không chịu khuất phục. Trong cơn tuyệt vọng, nhưng với niềm tin rằng công lý không thể làm ngơ trước những đòi hỏi chính đáng nhường ấy, con đã chạy một mạch đến Điện Tư Pháp, với hy vọng tìm được một vị thẩm phán, một vị quan tòa nào đó chịu tiếp nhận đơn kiện của con và đứng ra can thiệp.”

“Rồi sao?” người lính dừng bước, hỏi giật giọng.

“Họ bảo với con rằng các tòa án đều đóng cửa vào lúc năm giờ chiều mỗi ngày và phải đến mười giờ sáng hôm sau mới mở cửa trở lại. Nghĩ đến sự tuyệt vọng của cha, và hoàn cảnh của tiểu thư de Cardoville tội nghiệp, con quyết định làm thêm một mẻ liều lĩnh cuối cùng. Con bước vào một trạm gác của lính bộ binh đang đồn trú, dưới quyền chỉ huy của một viên trung úy. Con đã kể hết cho ông ấy nghe. Ông ấy thấy con vô cùng xúc động, và con lại giãi bày bằng một giọng điệu tha thiết đầy sức thuyết phục đến nỗi ông ấy đâm ra chú ý.—‘Thưa trung úy,’ con đã nói với ông ấy như thế, ‘xin ngài hãy ban ơn cho con một điều; hãy cử một hạ sĩ quan cùng hai binh sĩ đến tu viện để danh chính ngôn thuận bước vào bên trong. Hãy yêu cầu được gặp các ái nữ của Thống chế Simon, và tìm hiểu xem đó có thực sự là ý nguyện của họ khi muốn ở lại, hay họ muốn trở về với cha con—người đã đưa họ từ nước Nga trở về. Khi ấy ngài sẽ rõ liệu họ có đang bị giam cầm trái ý muốn hay không—’”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.