Chỉ vào buổi tối Roland mới đến gặp Juana và Scalabrino. Chàng nhận lấy phần ăn được người thiếu phụ vội vàng sửa soạn và chàng cố gắng trò chuyện, chất vấn Juana và kể vắn tắt sáu năm trong ngục thất của mình. Nhưng về những biến cố liên quan trực tiếp với mình, chàng không nói một lời.
Đêm xuống.
Giờ đây đứng tựa cửa sổ ở trên cao bến cảng. Roland hít thở làn không khí trong lành từ biển Adriatique sau khi đi ngang qua trên dải đất Lido, đưa đến tận nơi chàng, còn chứa mùi nồng mặn và thú vị của biển.
Mười một giờ điểm ở một gác chuông.
Roland bỗng sực tỉnh và quay sang phía Scalabrino:
– Ta sẽ đi ra ngoài, chàng nói. Mi chờ ta ở đây.
– Tôi đi theo ngài, thưa đức ông.
– Không. Ta cần có một mình trong cuộc viếng thăm mà ta sắp làm.
– Ngài không thể đi ra như vậy, Juana nói. Ngài không thể đi được một trăm bước mà không bị nhận diện và một tên do thám nào đó sẽ theo dõi ngài ngay.
Juana có lý. Với mái tóc bù xù, hàm râu dài lởm chởm và bộ quần áo giản tiện tìm thấy ở dưới tấm lều của chiếc du thuyền, chắc chắn Roland sẽ lôi cuốn sự chú ý của khách đi đường và sự tò mò của bọn cảnh binh.
– Xin ngài hãy ngồi xuống, Juana nói tiếp. Tôi cố gắng hóa trang cho ngài.
Roland im lặng ngồi lên chiếc ghế đẩu do Juana đem đến. Chỉ vài nhát kéo, nàng cắt hết bộ râu của Roland, chải gỡ cẩn thận mái tóc mịn màng như tóc phụ nữ. Chỉ trong mười phút, Roland hoàn toàn biến đổi.
– Giờ đây, những y phục! Juana nói vừa chạy đếnmở một cái rương lớn. Đây là những bộ lễ phục của anh Nino đáng thương bị chết trong năm anh bị bắt.
– Nino nào? Roland hỏi.
– Một trong những người đồng bọn của tôi. Một trong những kẻ đã quá sợ hãi khi nhận ra ngài ở trên bờ sông đảo Olivolo...
Chẳng mấy lúc Roland mặc vào bộ y phục thủy thủ của Juana đưa. Thay đổi như thế, chàng trông khó nhận ra nữa.
Chàng liền đi ra, sau khi biểu lộ một cử chỉ thân ái với Juana.
Vừa đi, Roland tự đặt cho mình một câu hỏi:
– Làm thế nào và tại sao Dandolo trở thành Đại Pháp quan Quốc gia? Lúc nào và tại sao thân phụ của Léonore đã thay thế Foscari trong cái chức vụ quan trọng đó?
Ngoài ra, chàng không cảm thấy một sự lo ngại trầm trọng nào.
– Thân phụ của Léonore là Đại Pháp quan Quốc gia, tại sao ông không sử dụng quyền hành của mình để giải thoát cho ta?
Với tấm lòng trung thực, chàng khăng khăng gạt bỏ những câu hỏi đó ra.
Nhưng rồi, những sự lo sợ ngấm ngầm như siết chặt cổ họng chàng làm tan mất đi trước cái giải pháp mà chàng đương bám víu vào:
– Một lời nói của Léonore sẽ giải thích cho ta tất cả.
Và trong lúc tư tưởng đang giằng co, như âm thầm, chàng lo ngại nhất về cách thức sẽ tránh đừng để cho Léonore gặp gỡ bất ngờ quá đột ngột và mạnh mẽ. Chàng dự tính một kế hoạch. Chàng sẽ nhảy ngang qua tường vào vườn, cố đánh thức một nàng tớ gái nào đó để báo tin trước với thân phụ của Léonore. Một khi ở đó, chàng sẽ liệu định.
Cuối cùng, chàng đi qua một cây cầu cuối và đang ở trong hòn đảo Olivolo, gần như ở nơi chỗ mà sáu năm trước đây chàng đã quật ngã Scalabrino, tim chàng đập mạnh. Chàng tiếp tục đi tới. Bỗng thình lình chàng đứng trước bức tường bao bọc ngôi vườn của Dandolo. Chàng trông thấy cánh cửa nhỏ, những cành cây nẩy lộc ở dưới tàng cây bách hương tỏa rộng, đen thui trong đêm tối. Tất cả những chi tiết quen thuộc mà chàng đã nghĩ đến hàng ngàn lần ở nơi đáy ngục tối giờ đây đang hiện ra dưới mắt chàng?
Cùng một lúc, những nỗi lo sợ tan biến dần.
Một làn sóng tình yêu mang đi những mối lo âu, những sự khủng khiếp mơ hồ và những câu hỏi không có lời giải đáp.
Hai giây sau, chàng đã ở trong ngôi vườn.
Chàng dừng lại để thở, để nhìn chung quanh, để dằn xuống nỗi xúc động về những kỷ niệm đang hồi sinh mãnh liệt.
Ngôi vườn vắng vẻ, dường như nó bị bỏ hoang. Một lớp cỏ dày chiếm hết những lối đi. Những bụi bông biến mất dưới sự lấn át của đám cây hoang.
– Cảnh tượng này là như thế nào? Roland ấp úng.
Chàng lau trán và lo lắng:
– Nếu như nàng đã chết, tốt hơn ta cần phải biết ngay tức khắc.
Chàng lảo đảo. Chưa bao giờ chàng cảm thấy một sự lo ngại như vậy. Chàng đi thẳng đến ngôi nhà, quên đi tất cả sự đề phòng mà chàng cần phải có và gõ mạnh.
– Ai đó? Một giọng hỏi.
– Một người mang đến một tin tức quan trọng.
Cánh cửa hé mở, được giữ bởi một sợi dây lòi tói. Một ánh đèn hắt ra. Và trong quầng ánh đèn, Roland nhận ngay ra một cái đầu.
Đó là người gia bộc già của Dandolo.
– Ông là ai? Ông lão hỏi. Làm thế nào ông vào được trong vườn vào giờ nầy. Chắc chắn, không phải là có ý định tốt. Ta khuyên ông hãy tránh xa...
– Thưa ông, Roland nói và chắp hai bàn tay, xin đừng xua đuổi tôi. Tôi xin tiết lộ với ông. Tôi là một kẻ bị lưu đày. Quả thật là tôi đi vào ngôi vườn này, nhưng tôi không thể làm gì khác hơn như tôi đã làm mà không liều nếu rủi ro bị nhận ra. Ông không đoái thương đến một kẻ bị đày sao?
Người gia bộc nhìn người đàn ông vừa nói như vậy với một giọng quá dịu dàng đến nỗi ông rùng mình. Và ông đọc thấy biết bao nỗi đau khổ đã hằn sâu trên gương mặt chàng, một vẻ chân thành sâu sắc trong đôi mắt khiến cho ông rút sợi lòi tói và mở cửa ra vừa nói:
– Ông hãy đi vào. Người ta sẽ không nói rằng sau một cuộc đời ngay thẳng, lão già Philippe lại từ chối nơi trú ẩn cho một kẻ bị đày!
Roland đi vào, trong lúc ông lão thốt ra những lời than vãn, chàng nhìn xung quanh với một sự xúc động mãnh liệt.
– Ông run! Ông lão nói tiếp, và ông tái xanh. Ông hãy yên lòng...
Roland cám ơn bằng một cái gật đầu, hàm răng chàng đánh lập cập.
Chàng đang ở trong gian phòng ăn của Dandolo.
Tại đây, không có gì thay đổi, chàng nhận ra từng chi tiết nhỏ nhất. Đó là những chiếc ghế cây chạm có lưng dựa cao, phủ một tấm nệm do Léonore thêu. Đây là chiếc bàn lớn, cũng chiếc tủ đựng đồ bạc với chiếc bình của nó và những cái giá đèn.
Chính ở đây, tại chỗ này, nơi chàng ngồi thuở xưa bên cạnh Léonore. Chàng nhớ lại những kỷ niệm êm đềm của mình. Chàng ngạt thở. Chàng cảm thấy mình như chết đứng.
– Mời ông ngồi, ông lão Philippe nói, và ông nên yên tâm. Bởi cây thánh giá, không một ai sẽ có ý nghĩ đến tìm ông ở trong ngôi nhà này, tôi xin thề với ông.
Roland ngồi xuống.
Người gia bộc rót cho chàng một ly rượu nho và chàng uống cạn một hơi.
– Thưa ông, tôi xin cảm tạ về sự tiếp đãi chân tình của ông. Tôi sẽ nói sự thật với ông. Bị đày, tôi đã lénbí mật trở lại Venise để hầu chuyện cùng ngài Đại Pháp quan. Người ta nói với tôi rằng ngôi nhà này là của ngài, tôi chờ đêm xuống để đi vào...
– Nhưng mà ông đã bị lầm! Ông lão bộc kêu lên.
– Sao! Ngôi nhà này không phải của ngài Dandolo sao?...
– Đúng! Ngôi nhà này của ngài. Nhưng ngài không còn ở đây nữa. Và ngài còn không bao giờ đến đây. Tôi ở đây một mình để giữ nhà. Còn về phần đức ôngDandolo, ngài ở nơi dinh thự của ngài trên sông Đại Giang...
Roland thở ra nhẹ nhõm.
Dandolo không còn ở trong đảo Olivolo nữa. Tất cả đều được giải thích! Chàng thốt ra một tiếng kêu vui mừng và nói tiếp:
– Chà! Do vậy mà ngôi vườn như bị hoang phế!... Và ngài Dandolo đến ở tòa dinh thự mới của ngài từ lúc nào?
– Đến lễ Saint-Jacques là được đúng hai năm.
– Và... Gia đình của ngài ở chung với ngài...
– Gia đình của ngài?... Gia đình nào?...
– Người ta quả quyết với tôi rằng... ngài có... một tiểu thơ...
– À! Ông muốn nói đến lệnh bà Léonore?...
– Phải... Bà đã... chết sao?...
– Chết? Ông lão kêu lên. Xin đẹp lòng chúa! Lệnh bà đầy sinh lực và nhan sắc!...
Roland tự cắn môi đến rướm máu để cố nén tiếng kêu vui mừng vô biên từ đáy lòng dâng lên. Cái phút giây nầy đủ đền đáp cho sáu năm bị dày vò.
Ông lão nói tiếp với một giọng vô tình:
– Lệnh bà Léonore, hiện đang ở nơi dinh thự của người chồng danh tiếng của bà... Này! Này! Ngài lãnh chúa bị đày! Ông làm sao thế?... Bất ngờ Roland nhảy một cái đứng sững lên. Mặt tái mét, thần kinh rối loạn, mắt đỏ ngầu, chàng nắm lấy hai vai của ông lão với nỗi xúc động mãnh liệt gần như cuồng loạn. Chàng thét lớn:
– Lão già khốn nạn. Mi nói rằng Léonore đã có chồng!...
– Phải!...
– Kể từ lúc nào? Nói đi, hay là ta bóp nghẹt mi.
– Từ hai năm! người đàn ông nghẹn ngào nói.
– Tên của người chồng:
– Altieri!...
Roland giơ hai nắm tay lên trời với đôi mắt tuyệt vọng. Rồi với một lời rên rỉ, một tiếng kêu thét không thành tiếng, chân lảo đảo, chàng bước đi như một cây sồi bị sét đánh trôi theo giòng thác cuốn mang đi.
Trong vòng vài phút, ông lão run rẩy nghe tiếng rên rỉ khủng khiếp đó xa dần và cuối cùng tắt hẳn.
Roland đã ra sao suốt trong đêm đó?
Chàng có đi lang thang trong cái kinh thành Venise lặng lẽ để tìm lại những kỷ niệm về một ảo ảnh của tình yêu và niềm hạnh phúc đã qua của mình chăng? Chàng có đi vơ vẩn xung quanh tòa dinh thự của Altieri để thử tìm kiếm hình bóng của Léonore chăng? Những ý nghĩ nào vây hãm chàng?... Và làm thế nào để chàng có thể chế ngự nỗi tuyệt vọng?...
Ai có thể nói được điều đó?
Có những giờ trong cuộc đời của một vài người thoát khỏi sự phân tích và mọi sự thẩm định, bởi vào những giờ đó, những người đàn ông ấy, ở ngoài nhân loại.
Chúng ta nên tiếp tục bình thản theo dòng câu chuyện, bằng cách tin cậy vào những biến cố để nói cho chúng ta biết những quyết định quan trọng nào trong tâm trí của Roland đã suy nghĩ trong đêm nay.
Đến sáng chàng đi vào nhà của Juana.
Vừa thấy chàng, Scalabrino thét lên một tiếng kêu vui mừng.
Anh đã trải qua một đêm lo sợ ghê gớm. Juana có lúc đã trách móc anh tại sao không bám theo Roland, anh đã trả lời:
– Tại vì chủ nhân muốn đi một mình, ta không có quyền bám theo ngài.
Vả lại, do quá mệt mỏi, Scalabrino đã ngủ liền ba giờ đồng hồ trên một cái ghế, trong căn nhà bếp, đầu gục lên bàn, trong lúc Juana may gấp cho anh một bộ y phục. Rồi anh cắt tóc, tỉa râu và sau cùng tắm rửa sạch sẽ, anh thay đổi hoàn toàn.
Vừa bước vào, Roland uống ngay một lúc hai ly nước.
Rồi quay sang Scalabrino, chàng nói:
– Ngày hôm nay có phải chủ nhật không?
– Phải, thưa đức ông.
– Mi có thích đi xem lễ Mi-xa ở giáo đường Saint-Marc không?
Scalabrino nhìn chàng kinh ngạc. Anh không biết đến những tình cảm đó của Roland. Đối với anh, anh không tin Chúa cũng như không tin quỷ. Câu hỏi quá kỳ quái, âm điệu của giọng nói quá lạ lùng khiến cho anh không biết nghĩ thế nào.
Anh chỉ biểu lộ qua tiếng lầm bầm, xem như một lời ưng thuận.
Juana chắp hai bàn tay.
– Nếu như người ta sẽ nhận ra ngài! Nàng nói.
– Người ta sẽ không nhận ra chúng ta đâu, Roland nói với một sự quả quyết đến nỗi người thiếu phụ, sau khi nhìn kỹ chàng, thốt lên:
– Thật vậy, chính tôi cũng khó nhận ra ngài! Không biết đêm rồi đã xảy ra việc gì?...
– Vậy là đã thỏa thuận, Roland nói, chúng ta sẽ tham dự buổi lễ Mi-xa lớn vào lúc mười hai giờ trưa. Trong khi chờ đợi, hãy đi theo ta.
Cả hai cùng đi ra...
Vào lúc chàng bị bắt, trong đêm lễ đính hôn, Roland mang theo mình nhiều món nữ trang đáng giá, theo thời trang vào thời kỳ đó.
Trước hết, một sợi dây chuyền vàng quanh cổ.
Rồi đến một sợi nịt lưng cẩn đá quý.
Rồi một thanh gươm mà tay cầm được chạm trổ và cẩn những viên hồng ngọc và kim cương. Cuối cùng một chiếc nhẫn ở một ngón tay.
Dây chuyền, thanh gươm và sợi nịt lưng đã mất, hoặc vào lúc bị bắt, hoặc vào lúc chiến đấu khi người ta đẩy chàng đi về phía các cái giếng.
Nhưng chiếc nhẫn vẫn còn ở trong ngón tay.
Trong vòng sáu năm, chàng bị nhốt dưới đáy của những cái giếng, chiếc nhẫn đó, món kỷ vật của Léonore, đối với chàng là một bùa thiêng phù hộ, thường khi ngắm nhìn viên kim cương chiếu sáng trong đêm tối ở ngục thất, chàng đã hình dung rằng Léonore đang nhìn chàng.
Chiếc nhẫn đó bây giờ là bảo vật duy nhất của Roland. Nó có một giá trị lớn lao và mang một hột kim cương tuyệt đẹp.
Vừa ra khỏi nhà của Juana, Roland đi thẳng về phía cầu Rialto và không do dự bước vào trong tiệm của một người buôn bán, mà thuở xưa, vào thời thanh xuân, chàng đã đến mua hàng nhiều lần. Người bán hàng đăm đăm nhìn chàng. Roland gắng chịu đựng sự quan sát, tỏ ra bình thản, rồi tháo chiếc nhẫn của Léonore ở ngón tay mình ra – gần như chiếc nhẫn cưới.
Chàng không có một cái rùng mình, không có một do dự.
Chiếc nhẫn hầu như dính chặt vào ngón tay, buộc chàng phải giựt mạnh, hột kim cương làm trầy nhẹ tay chàng, một giọt máu rỉ ra.
– Điềm xấu! Người bán hàng cười khảy. Chiếc nhẫn cuối cùng sẽ giết chết ông.
– Chính vì điều đó mà tôi phải tống nó đi. Roland nói.
Người bán hàng cầm chiếc nhẫn khéo léo gỡ hột đá ra, đem cân, dùng kính hiển vi xem xét kỹ, tự cân nhắc,nhăn mặt, cuối cùng đề nghị hai trăm ê-quy vàng. Đúng ra nó đáng giá năm trăm.
Roland không nói một lời, cầm lấy hai trăm ê-quy vàng trao cho Scalabrino.
Sau đó Roland đi thẳng đến một người bán đồ cũ.
Cần phải ghi chú rằng số tiền hai trăm ê-quy vàng là một gia tài nhỏ. Cũng nên nhớ lại rằng Scalabrino chỉ dừng lại cái nghề nghiệp vẻ vang, nghề cướp đường mà anh tung hoành trước khi bị bắt, để đi vào ngục. Nếu như sáu năm trước đây, Scalabrino nhận hai trăm đồng vàng sáng lóe, tất anh đã nghĩ đến việc ra khơi. Với một số tiền như thế, anh sẽ đủ sống dư dả suốt một năm theo ý thích của mình.
Khi Roland đưa cho anh chiếc túi vàng, Scalabrino đứng nhìn, choáng váng một lúc. Một cái gì đó như là một ngọn lửa tự hào hiện ra trong đôi mắt anh, rồi anh liếc sang kẻ được anh gọi là chủ nhân với một lòng tri ân sâu sắc. Như vậy, người ta đã giao cho anh một số tiền lớn, người ta tin anh. Anh đã cầm trong tay đượchai trăm đồng vàng!... Đối với Scalabrino, cái cử chỉ bình thường đó của Roland có thể là vĩ đại hơn, to lớn hơn là sự được dung tha ở bờ sông đảo Olivolo và cuộc hội kiến ở trong ngục tối vào cái phút hành quyết.
– Thế nào, mi làm gì đó? Roland nói vừa ngoảnh lại và trông thấy người đồng hành của mình đang đứng lại, trầm ngâm.
– Tôi đi theo ngài, thưa chủ nhân! Scalabrino nói với một giọng nghẹn ngào.
Nơi nhà người bán đồ cũ, Roland chọn ngay hai bộ trang phục kỵ sĩ ngoại quốc.
– Chúng ta sẽ đi bằng ngựa sao? Scalabrino hỏi.
– Phải! Mi hãy mang gói đồ đi và theo gặp ta ở dưới chân con sư tử.
Scalabrino lẹ làng bước đi. Roland đến quảng trường Saint-Marc và dừng lại ở chân cây cột có con Sư tử, biểu tượng, với đôi cánh xòe ra. Tại đây, có một cuộc tụ tập khá đông đảo. Những người này đang đọc, và bình phẩm một tấm bảng nhỏ công bố cuộc vượt ngục của tên cướp Scalabrino và tờ yết thị nói “cùng một tên cướp khác còn nguy hiểm hơn nữa”.
Tiếp theo là một bảng chi tiết về diện mạo của hai kẻ trốn thoát và thông báo giải thưởng một trăm ê-quy cho những ai cung cấp bằng chứng để truy bắt hai người này.
Đến lượt Roland đến gần tấm bảng và chăm chỉ đọc.
– Với tướng mạo như thế, hai tên cướp sẽ không đi được xa, một người thường dân nói với chàng.
– Thật vậy, thưa ông, Roland đáp lại.
Và chàng ngẫm nghĩ:
– Tại sao tấm bảng không đề cập đến tên của ta?
Một lúc sau, Scalabrino đuổi kịp chàng. Cả hai cùng đi vào ngôi giáo đường rộng lớn, họ xuyên qua đám đông cho đến cách bàn thờ chánh vài bước.
Buổi tế lễ đã bắt đầu.
Đôi mắt Roland dán chặt lên thầy tư tế.
Người này quay lại một lúc về phía đám đông, haitay mở rộng, rồi đi thẳng đến quyển kinh Phúc Âm được ông ta lật những trang đầu tiên.
Một cái rung động rất nhẹ đã lay chuyển Roland, chàng đã hết sức tự chủ lấy mình, cố đè nén dữ dội để dằn nỗi căm tức trong lúc đôi mắt chàng đỏ ửng.
Bởi vì thầy tư tế đó, là Đức ông Bembo, nhờ ân Chúa đã trở thành giám mục thành Venise.
Roland đã đoán ngay ra ông ta sau khi chàng trông thấy. Bây giờ chàng tin chắc rằng gã Bembo, giám mục đó, đúng là gã Bembo bạn hữu vào thuở thanh xuân hạnh phúc của mình – cái gã Bembo đã rót vào tai của mẹ mình những lời nói bí mật để giết chết bà!...
Roland liền nắm lấy bàn tay của Scalabrino.
– Hãy nhìn cho rõ vị giám mục!
Và đến lúc họ đã đi ra bên ngoài:
– Thế nào! Scalabrino, người ta nói rằng việc trông thấy vị giám mục đã làm cho mi xúc động?...
– Phải, thưa đức ông! Gã lực lưỡng trả lời với giọng u ám.
– Thế nào?... Hãy nói đi!
– Thế thì! Đó là người đàn ông đã trả tiền mướn tôi hô lớn “Hoan hô Roland Candiano” trong buổi tối lễđính hôn của ngài! Đó là người đàn ông vào lúc bạo động, đã chỉ định thân mẫu ngài cho tôi giết!...
Một nụ cười tái mét lướt qua trên đôi môi Roland, chàng lẩm bẩm:
– Ta đã không lầm!... Bembo hỡi, đối với sự phản bội của mi, đối với trọng tội mà mi đã âm mưu, ta sẽ làm cho mi đau đớn... Lấy oán báo oán[1]! Ngươi đã phá hoại trong tim ta lòng tin ở tình bạn hữu thiêng liêng, ta phải làm gì mi đây cho xứng đáng?
Lúc đi trở về ngôi nhà của Juana, Roland ngủ được vài giờ yên tĩnh.
Đến tối, chàng ra đi căn dặn Scalabrino đừng lo ngại nếu như chàng không trở về trong vài ngày.
Quả thật, chàng đi vắng trong tám ngày.
Buổi tối ngày thứ tám, chàng lại trở về không hề nói đến những gì mà mình đã làm trong thời gian đó, chàng chỉ bằng lòng bảo Juana:
– Chúng ta sắp đi. Trong ba hoặc bốn ngày, Scalabrino sẽ đến tìm em, Juana. Em có bằng lòng đi theo anh ta không?
– Để đi đến đâu, thưa đức ông?
– Để đến gặp ta.
– Tôi sẵn sàng, Juana nói.
– Tốt. Đây là số tiền để em chi dùng trong lúc ta đi vắng.
– Thưa đức ông...
– Ta không nói với em sao, Juana, rằng ta sẽ bảobọc cuộc sống của em? Đừng khóc nữa, đừng nghĩ đến dĩ vãng nữa. Ngay bây giờ, em có một người anh trai, dù ở xa hay ở gần, anh sẽ lo lắng cho em...
Roland và Scalabrino liền mặc vào những trang phục kỵ sĩ đã mua nơi người bán đồ cũ ở Rialto và ra đi sau khi từ biệt người thiếu phụ.
Đến bờ sông, Roland nhảy xuống một chiếc thuyền lớn, và nằm dài dưới mái lều, chàng nhắm đôi mắt, trong lúc Scalabrino ngồi nghỉ ở phía trước mũi thuyền.
Người chèo thuyền đang chờ đợi và đã được báo trước, ông ta lập tức lái chiếc du thuyền đi ngang qua Venise từ đông sang tây. Ra khỏi thành phố, ông kéo buồm lên, chiếc thuyền nhẹ nhàng lướt nhanh trên mặt đầm nước mặn lớn, chia cách Venise và đất liền.
Khi thuyền cặp bến, trời đã tối đen.
❀ ❀ ❀
[1] Nguyên văn: “oeil pour oeil, douleur pour douleur” (mắt trả mắt, đau đớn trả đau đớn) nên dịch theo ta là: dĩ oán báo oán hoặc là ăn miếng trả miếng, oán báo oán.