Đưa ra vài đoạn giới thiệu về các nhân vật liên quan trong tiểu thuyết, nội dung phần lớn lấy từ sách thiết lập chiến dịch Vùng đất bị lãng quên (FRCS). Nhân vật và tình tiết chính là linh hồn của tiểu thuyết, hãy tưởng tượng cảm giác khác biệt khi bạn vừa nhìn thấy một cái tên xa lạ, cho đến lúc dần trở nên quen thuộc với nhân vật ấy... Đương nhiên, FRCS chỉ là ví dụ về một bản mẫu nhân vật, không cần phải rập khuôn hoàn toàn giống trong tiểu thuyết. Những nhân vật góp mặt trong chí hướng nhân vật sẽ bao gồm: Drizzt Do'Urden, Obould Many-Arrows, Bruenor Battlehammer, Gerti Orelsdottr, Wulfgar, vân vân.
Gerti Orelsdottr (Gerti Orelsdottr)
FRCS (Trang: 171)
Không ngờ tới phải không, một nữ Sương Nhân (Frost Giant) lại có ngoại hình rất xinh xắn...
Sương Nhân nữ, Mục sư cấp 5 / Lãng nhân cấp 4 của Auril
CR 18; Khổng lồ lớn (Hệ giá lạnh)
Sinh khí: 171, 14d8+70 cộng 5d8+25 cộng 1d8+5, Sinh lực 190; Giá trị cộng thêm định lượng chủ động: +0, Tốc độ 40 foot
Độ phòng thủ: 22 (Tiếp xúc 9, Đánh lén 22)
Tấn công: +21/+16/+11 cận chiến (2d8+ cộng 13/X3, Rìu lớn) hoặc +13/+8/+3 tầm xa (2d6+9, Tảng đá lớn)
Phạm vi / Khoảng cách: 5x5 foot / 10 foot
SA - Năng lực đặc biệt: Xua đuổi bất tử 5 lần/ngày, Ném tảng đá lớn (Khoảng cách tăng thêm 120 foot)
SQ - Phân loài hệ giá lạnh, Nhìn trong đêm 60 foot, Thưởng cấp độ huyền thoại, Đỡ đá
Trận doanh: Hỗn loạn ác độc
Giá trị cộng thêm phán quyết miễn dịch: Kiên định +20; Phản xạ +5; Ý chí +13
Giá trị thuộc tính cơ bản: Sức mạnh 29; Linh động 10; Thể chất 21; Trí lực 14; Trí tuệ 16; Sức hút 14
Chiều cao: 13 foot
Kỹ năng và đặc kỹ: Trèo +13, Tập trung +9, Thủ công (Chế tạo đá) +16, Giao thiệp +4, Y trị +6, Ẩn nấp -4, Nhảy +13, Tri thức (Tôn giáo) +3, Nhận diện pháp thuật +9, Trinh sát +8; Chém liên hoàn, Chém liên hoàn cường lực, Ghi khắc phù thạch, Tấn công mãnh liệt, Chuyên công pháp thuật (Chế tạo đá), Tinh thông phá vỡ vũ khí, Thưởng cấp độ huyền thoại: Thưởng ba cấp độ thi pháp phù thạch (bao gồm cả các mục trên)
Vật phẩm: Vòng tay phòng thủ +4, Giày tốc độ, Trâm sức mạnh (tương đương Ngọc trai sức mạnh cấp 5), Dây chuyền phù thạch (thông thường có thể trị liệu bốn lần thương nặng, 2 lần hồi sinh tử thi)
Pháp thuật mục sư mỗi ngày (6/6/6/5/3/2; Độ khó cơ bản = 13 + Cấp độ pháp thuật)
Lĩnh vực thần linh: Ác độc (Có thể triển khai thuật ác độc ở cấp độ 10), Bão tố (Kháng điện 5)
Gerti là con gái của Cánh Tay Xám (The Greyhand) - thủ lĩnh bộ lạc Sương Nhân Orel. Cô sùng bái và tín ngưỡng thiếu nữ băng giá Auril, một nữ thần độc đoán và mang tính áp bức. Vì Cánh Tay Xám không có con trai, nên Gerti sẽ trở thành người kế vị bộ lạc. Sức mạnh và sự liên minh của cô là hòn đá tảng củng cố địa vị thống trị. Cô là một mục sư lợi hại, truyền thụ ma pháp phù thạch cho các bộ lạc xung quanh, nhận được sự ủng hộ của Orel và các bộ lạc khác.
Gerti lợi dụng sức mạnh của phù thạch để bảo vệ con đường hẹp dẫn đến hang động của bộ lạc nằm ở Sống Lưng Thế Giới (Spine of the World), trị thương cho các dũng sĩ và thợ săn bị thương, thủ hộ tài sản của bộ lạc. Cô cơ trí thông minh, giỏi điều phối, thường xuyên dẹp yên những mối bất hòa giữa các bộ lạc người khổng lồ khác nhau. Gerti cổ súy rằng chỉ có Sương Nhân mới là chiến sĩ được thiếu nữ băng giá Auril lựa chọn, họ không ngừng lớn mạnh ở vùng đất lạnh giá, và chỉ có Sương Nhân mới có năng lực phụng sự thiếu nữ băng giá. Cánh Tay Xám ngày một già đi, ước tính chỉ một hai năm nữa là sẽ qua đời. Gerti mường tượng rằng khi cô nắm được quyền lãnh đạo, cô sẽ phái thêm nhiều đội ngũ xuống dưới núi, chiêu mộ mục sư Sương Nhân trong núi, tụ tập thêm nhiều sức mạnh ma pháp để phát động một trận chiến bão tố quy mô lớn nhắm vào khu vực lân cận. Gerti là một nhà lãnh đạo tài năng, để thỏa mãn ham muốn của bản thân và thần linh của cô, cô không phản đối việc liên minh với các chủng tộc người khổng lồ khác.
Drizzt Do'Urden (Drizzt Do'Urden)
Drizzt Do'Urden là lãng nhân hắc ám tinh linh dưới ngòi bút của nhà văn R. A. Salvatore. Ban đầu, nhân vật này xuất hiện với tư cách là nhân vật phụ cho Wulfgar trong tác phẩm Máu Thạch Anh (The Crystal Shard) - phần đầu tiên của bộ ba Icewind Dale ra mắt năm 1988, nhưng cuối cùng lại trở thành nhân vật chính của toàn bộ tác phẩm. Nhân vật này xuất hiện với tư cách là nhân vật chính trong 12 cuốn sách của R. A. Salvatore. Dù không phải là nhân vật tiểu thuyết kỳ ảo nổi tiếng nhất, thì anh cũng là nhân vật nổi tiếng nhất trong dòng sách Vùng đất bị lãng quên.
Vào thời điểm Drizzt ra đời, với tư cách là đứa con trai thứ ba còn sống của gia tộc Do'Urden, anh bị định đoạt làm vật hiến tế cho Nữ thần Nhện Lolth. Ngay lúc các người chị của cô chuẩn bị giết anh, sự việc đã thay đổi. Người anh Cả của anh bị người anh Hai đâm chết từ sau lưng, thế nên Drizzt không còn là đứa con trai thứ ba còn sống nữa, và cũng không cần phải bị giết để làm vật hiến tế. Đây là cuộc phiêu lưu hồi mới chào đời của Drizzt.
Drizzt là một cao thủ kiếm thuật, đồng thời cũng là chuyên gia chỉ huy quân đội. Khi đứng thẳng, anh cao 5 foot 4 inch (khoảng 1,62 mét), nặng 130 pound (khoảng 59 kg), cao lớn hơn hắc ám tinh linh thông thường. Anh có mái tóc dài màu trắng và đôi mắt màu tím nhạt. Anh thường mặc một chiếc áo choàng màu xanh lá có cổ lông thú và đôi bốt cao màu đen. Theo tiêu chuẩn của loài tinh linh, năm nay 140 tuổi, anh vẫn chỉ là một thanh niên trưởng thành. Drizzt là một chuyên gia hòa giải, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng là người lãnh đạo đạt chuẩn mực trở lên. Bạn bè kiêm chiến hữu của anh là một con báo đen có ma pháp tên là Guenhwyvar. Guenhwyvar là một con báo cái, có thể được triệu hồi từ trong một bức tượng. Nó có thể được triệu hồi mỗi tuần ba lần, tổng thời gian là hai mươi bốn giờ. Nếu nó bị giết khi đang ở trạng thái hoạt động, nó sẽ biến trở lại thành bức tượng, và không lâu sau đó có thể được triệu hồi lại.
Chủng tộc: Hắc ám tinh linh nam (Drow)
Nghề nghiệp: Chiến sĩ cấp 10 / Man chiến sĩ cấp 1 / Lãng nhân Mielikki cấp 5
Thể hình: Loài người hình thái cỡ trung (Tinh linh)
Sinh khí: 10d10+20 cộng 1d12+2 cộng 5d10+10
Giá trị sinh lực: 124
Giá trị cộng thêm định lượng chủ động: +9
Tốc độ: 40 foot
Độ phòng thủ: 23 (Tiếp xúc 14, Đánh lén 19)
Tấn công: +17/+12/+7/+2 cận chiến (1d6+6 cộng 1d6 sát thương giá lạnh, Xúc xắc trọng kích 18-20, Loan đao băng giá +3), +16/+11 (1d6+4, Xúc xắc trọng kích 18-20, Loan đao phòng thủ +2)
Đặc tính: Đặc tính hắc ám tinh linh; Kẻ thù truyền kiếp: Ác tinh +2, Quái thú ma pháp +1; Lóa mắt vì cường quang; Cuồng bạo; Năng lực tương tự pháp thuật
Kháng pháp thuật: 27
Trận doanh: Hỗn loạn thiện lương
Giá trị cộng thêm phán quyết miễn dịch: Kiên định +15; Phản xạ +9; Ý chí +7
Giá trị thuộc tính cơ bản: Sức mạnh 13; Linh động 20; Thể chất 15; Trí lực 17; Trí tuệ 17; Sức hút 14
Chiều cao: 5 foot 4 inch
Kỹ năng và đặc kỹ: Trèo +8, Thuần dưỡng động vật +9, Ân nấp +13, Định hướng +5, Nhảy +8, Tri thức (Tự nhiên) +5, Thính giác +20, Di chuyển không tiếng động +15, Cưỡi ngựa +7, Tìm kiếm +13, Trinh sát +15, Sử dụng dây thừng +7, Tri thức hoang dã +8; Dùng song kiếm, Đấu mù, Phản xạ tấn công, Né tránh, Cường hóa chủ động, Cường hóa chiến đấu song vũ khí, Né tránh linh hoạt, Rút dao nhanh, Lần theo dấu vết, Phương thức chiến đấu song kiếm, Chiến đấu song vũ khí, Cường hóa sử dụng vũ khí (Loan đao), Chuyên tu vũ khí (Loan đao).
Đặc tính: Đặc tính hắc ám tinh linh: Nhận được 2 điểm cộng thêm chủng tộc khi tiến hành phán quyết miễn dịch ý chí đối với pháp thuật hoặc năng lực loại pháp thuật, tầm nhìn trong đêm 120 foot, lóa mắt vì cường quang - đột ngột phơi bày dưới ánh sáng mạnh (như ánh mặt trời hoặc thuật ánh sáng ban ngày) khiến hắc ám tinh linh bị mù trong 1 hiệp, ngoài ra họ sẽ chịu mức phạt môi trường -1 khi thực hiện phán quyết tấn công, phán quyết miễn dịch và tất cả các định lượng dưới ánh sáng mạnh. Cuồng bạo, khi cuồng bạo, các thuộc tính trạng thái của Drizzt nêu trên sẽ được thay thế bởi các thuộc tính sau: Giá trị sinh lực 156, Độ phòng thủ 21 (Tiếp xúc 12, Đánh lén 17), Tấn công +19/+14/+9/+4 cận chiến (1d6+8 cộng 1d6 sát thương giá lạnh, Xúc xắc trọng kích 18-20, Loan đao băng giá +3), +18/+13 (1d6+5, Xúc xắc trọng kích 18-20, Loan đao phòng thủ +2), Giá trị cộng thêm phán quyết miễn dịch: Kiên định +17, Ý chí +9, Sức mạnh 17, Thể chất 19, Kỹ năng: Trèo +10, Nhảy +10. Cuồng bạo sẽ kéo dài 7 hiệp, sau đó Drizzt sẽ rơi vào trạng thái mệt mỏi. Drizzt có thể cuồng bạo một lần mỗi ngày.
Năng lực loại pháp thuật: Mỗi ngày một lần: Thuật phù quang, Thuật hắc ám, Thuật yêu hỏa. Hiệu quả do những năng lực này tạo ra giống với hiệu quả khi thuật sĩ cấp 16 thi triển pháp thuật cùng tên.
Pháp thuật đã chuẩn bị (Số lượng: 1; Độ khó cơ bản = 14): 1 - Thuật dò tìm động vật hoặc thực vật
Vật phẩm: Áo xích Mithral +4, "Icingdeath" (Loan đao băng giá +3), "Twinkle" (Loan đao phòng thủ +2), Tượng Kỳ Lân: Báo đen mã não (Tên là Guenhwyvar, xem phần dưới)
Tượng báo đen mã não: Bức tượng ma pháp này có thể triệu hồi con báo đen Guenhwyvar, bạn bè và là chiến hữu trung thành của Drizzt. Nó có thể được triệu hồi hai ngày một lần, mỗi lần thời gian không được vượt quá 6 tiếng. Nếu bị giết, nó sẽ biến trở lại thành bức tượng và trong vòng 48 tiếng sau đó không thể triệu hồi lại. Guenhwyvar hiểu ngôn ngữ chung và ngôn ngữ dưới lòng đất, trạng thái thuộc tính của nó như sau;
Guenhwyvar: Báo cái; Cấp độ thách đấu 5; Loài vật cỡ trung; Sinh khí 6d8+12; Sinh lực 39; Giá trị cộng thêm định lượng chủ động +4; Tốc độ: 40 foot (Trèo 20 foot); Độ phòng thủ 15 (Tiếp xúc 14, Đánh lén 11); Tấn công: +8 cận chiến (1d6+3, Cắn), +6 (1d3+1, Cào); Đột kích, Đoạt lấy cường hóa, Quật đuôi 1d3+1; Đặc tính: Tầm nhìn thiếu sáng, Khứu giác; Trận doanh: Trung lập; Giá trị cộng thêm phán quyết miễn dịch: Kiên định +7; Phản xạ +9; Ý chí +3; Sức mạnh 16, Linh động 19, Thể chất 15, Trí lực 6, Trí tuệ 12, Sức hút 8.
Kỹ năng và đặc kỹ: Thăng bằng +12, Trèo +11, Ẩn nấp +9 (chú thích), Thính giác +6, Di chuyển không tiếng động +12, Trinh sát +6; Đánh nhiều lần, Kỹ xảo vũ khí (Cắn), Kỹ xảo vũ khí (Chộp); trong đó đã bao gồm +4 điểm giá trị cộng thêm ẩn nấp và di chuyển không tiếng động chủng tộc, +8 điểm giá trị cộng thêm thăng bằng. Chú thích: Trong đám cỏ cao hoặc bụi cây rậm rạp, giá trị cộng thêm định lượng ẩn nấp của Guenhwyvar tăng lên thành +13.
Bruenor Battlehammer (Bruenor Battlehammer)
Silver Marches (Trang: 78)
Chiến sĩ người lùn khiên nam cấp 13,
Cấp độ thách đấu 13, sinh vật hình người thể hình trung,
Sinh khí 13d10+78, hp 163, Giá trị quyền ưu tiên: +0, Tốc độ 20 foot
Độ phòng thủ 23 (Tiếp xúc 10, Trở tay không kịp 23)
Tấn công +21/+16/+11 khoảng cách gần (1d12+11/17-20/*3, Rìu lớn sắc bén +3)
SQ Đặc tính người lùn
Trận doanh trung lập thiện lương
Thưởng phán quyết miễn dịch: Kiên định +14, Phản xạ +4, Ý chí +8
Sức mạnh 18, Linh động 10, Thể chất 22, Trí tuệ 15, Tri giác 13, Sức hút 13
Chiều cao 4 foot 6 inch
Kỹ năng và sở trường: Trèo +5, Thủ công (Chế tạo vũ khí) +15, Giao thiệp +7, Thuần dưỡng động vật +3, Uy hiếp +5, Nhảy +6, Tri thức (Lịch sử phương Bắc) +4, Tri thức (Bản địa phương Bắc) +4, Cưỡi ngựa +10, Trinh sát +3,
Đấu mù, Cứng đầu (Bullheaded), Chém liên hoàn, Chém liên hoàn cường lực, Tinh thông xông vào, Tinh thông trọng kích (Rìu lớn), Ý chí sắt đá, Lãnh đạo, Tấn công mãnh liệt, Tinh thông phá vỡ vũ khí, Chuyên công vũ khí (Rìu lớn), Chuyên tu vũ khí (Rìu lớn)
Vật phẩm: Giáp toàn thân +3, Rìu lớn sắc bén +3, Bùa phòng thủ tự nhiên +2, Găng tay sức mạnh ogre, Bùa chấm dứt sát thương, Dược thủy trị thương nặng, Dược thủy anh hùng
Khi Shimmergloom - một con ảnh long (shadow dragon), gần như quét sạch toàn bộ thị tộc Battlehammer, khiến cho những người lùn Battlehammer vốn từng đông đúc nay chỉ còn lại vài trăm người trốn chạy khỏi quê hương, Bruenor lúc đó vẫn chỉ là một chú lùn trẻ tuổi. Những kẻ sống sót định cư tại Mười Trấn (TenTowns) của Icewind Dale. Thế nhưng Bruenor chưa bao giờ quên quê hương của mình, dốc sức đoạt lại Mithral Hall từ trong tay các thế lực tà ác, và cuối cùng vào năm 1356 DR, ông đã thực hiện được nguyện vọng của mình khi ông cùng các đồng đội của mình - Drizzt Do'Urden, Wulfgar và những người khác (Quỷ Tả: Tội nghiệp Cattie-brie và Regis) - lãnh đạo người lùn, người dã man, pháp sĩ và cung thủ (đa phần đến từ Silverymoon) chống lại Shimmergloom, giải phóng Mithral Hall từ trong tay ảnh long và hắc địa tinh (duergar). Sau chiến thắng này, Bruenor tuyên bố mình là vị Vua đời thứ tám (Eighth King) của Mithral Hall.
Sau đó, Bruenor trả lại ngai vàng cho tổ tiên của ông là Gandalug - vị vua đời thứ nhất và đời thứ chín. Khi người thủ hộ của thị tộc Battlehammer (Patron of Clan Battlehammer) trở nên yếu nhược không chịu nổi, Bruenor lập tức thu hồi ngai vàng, trở thành vị vua đời thứ mười. Ngoài việc thu hồi Mithral Hall, những thử thách của Bruenor còn bao gồm việc chống đỡ hai đợt tấn công của hắc ám tinh từ Menzoberranzan (trong đợt tấn công đầu tiên, Bruenor đã mất đi con mắt phải của mình), khiến cho các mỏ mithral hoạt động trở lại và dọn sạch lũ quái vật trong các đại sảnh tầng dưới. Bruenor là một vị quân chủ người lùn điển hình, một anh hùng lỗ mãng có tấm lòng tựa vàng mười và là một nhà thám hiểm gan dạ với trái tim đang cháy rực ngọn lửa.
Wulfgar (Wulfgar)
Silver Marches (Trang: 96)
Man chiến sĩ người nam cấp 9
Cấp độ thách đấu 9, sinh vật hình người thể hình trung
Sinh khí 9d12+27, hp 99, Giá trị quyền ưu trực: +2, Tốc độ 20 foot
Độ phòng thủ 18 (Tiếp xúc 12, Trở tay không kịp 16)
Tấn công +18/+13 cận chiến (1d10+10/19-20/*3, Aegis-fang) hoặc +16 tầm xa (1d10+8/19-20/*3, Aegis-fang (AEGIS-FANG)), Đặc tính SQ: Cuồng bạo 3/ngày, Né tránh trực giác (Giá trị dex của AC, không bị kẹp đánh)
Trận doanh hỗn loạn thiện lương
Thưởng phán quyết miễn dịch: Kiên định +9, Phản xạ +5, Ý chí +4
Sức mạnh 19, Linh động 15, Thể chất 17, Trí tuệ 13, Tri giác 12, Sức hút 13
Chiều cao 6'10"
Kỹ năng và sở trường: Trèo +10, Thủ công (Gia công kim loại) +5, Thuần dưỡng động vật +5, Uy hiếp +5, Định hướng +5, Nhảy +10, Tri thức (Bản địa phương Bắc) +3, Nghe ngóng +7, Cưỡi ngựa +5, Trinh sát +7, Bơi lội +2, Sinh tồn hoang dã +12, Cảnh giác, Tinh thông trọng kích (Búa tạ maul), Kiên cường, Tấn công mãnh liệt, Chuyên công vũ khí (Búa tạ maul)
Vật phẩm: Aegis-fang (Búa tạ hồi mã ném +4), Áo giáp da +3
Wulfgar là một trong những người dã man Uthgardt nổi tiếng nhất thường xuyên rời khỏi phương Bắc, anh là con trai của một nhà lãnh đạo quan trọng thuộc bộ lạc Elk ở Icewind Dale xa xôi. Cha anh làm việc cho bộ lạc bằng cả tình yêu thương và lòng trung thành, nhưng lại không ủng hộ chính vị tù trưởng. Để tạo ra một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình, cha của Wulfgar quyết định thực hiện một nhiệm vụ lớn, nếu hoàn thành, điều này sẽ giúp ông phế truất được tù trưởng. Nhưng trước khi hoàn thành nhiệm vụ, cha của anh đã bị giết trong một trận chiến lớn.
Sau cái chết của cha, trong lúc liên quân dã man mưu đồ cướp bóc Mười Trấn ở Icewind Dale, Wulfgar đã gặp Bruenor Battlehammer - cha nuôi kiêm tri kỷ suốt đời của anh. Lão người lùn đã đánh bại Wulfgar trong trận chiến, nhưng lại nhìn thấy một số điểm cơ trí và quan trọng từ hành vi của đứa trẻ này, từ đó quyết định tha mạng cho cậu. Đổi lại, ông yêu cầu người dã man phải phục vụ mình năm năm. Wulfgar thoạt đầu căm ghét khế ước này, nhưng năm năm sống chung với Bruenor đã thay đổi vận mệnh của anh. Lão người lùn trở thành người thầy của chàng trai trẻ, Wulfgar cũng học hỏi được rất nhiều điều từ thế giới xung quanh, quan trọng nhất là anh học được giá trị của sự nhẫn nại và lòng kiêu hãnh từ Bruenor, đồng thời nỗ lực khắc ghi những điều đó vào bản thân.
Sau khi cùng với Drizzt Do'Urden nổi tiếng tiêu thụ con hắc long khổng lồ Icingdeath, Wulfgar đã thách đấu tù trưởng bộ lạc Elk và tiêu diệt ông ta. Sau đó, Wulfgar liên kết bộ lạc của mình với người dân Mười Trấn để đánh bại kẻ thù chung, cuối cùng anh giao quyền lãnh đạo bộ lạc cho một người bạn đáng tin cậy.
Cùng với Bruenor và Drizzt, còn có người tí hon Regis và Cattie-brie, Wulfgar đã tham gia vô số cuộc phiêu lưu, trong đó bao gồm cả việc phát hiện và thu hồi Mithral Hall. Khi các nữ tỳ của Lolth phát động cuộc tấn công vào họ, Wulfgar đã hy sinh bản thân để cứu đồng đội, và các đồng đội của anh thực sự tin rằng anh đã chết. Nhưng sau đó họ phát hiện ra Wulfgar không hề chết mà trở thành tù binh của một con ác ma. Sau khi trốn khỏi Vực Sâu Vô Đáy (The Abyss), Wulfgar lại bắt đầu lang thang ở phương Bắc, truy tầm những cuộc phiêu lưu.
Obould Many-Arrows (Obould Many-Arrows)
FRCS (Trang: 171)
Nam thú nhân man chiến sĩ cấp 5 / chiến sĩ cấp 4
Cấp độ thách đấu 9; Sinh vật hình người thể hình trung (Thú nhân)
Sinh khí: 5d12+10 cộng 4d10+8, Sinh lực 87; Giá trị quyền ưu tiên: +5, Tốc độ: 40 foot
Độ phòng thủ: 17 (Tiếp xúc 11, Đánh lén 17)
Tấn công: +15/+10 cận chiến (2d6+9 cộng 1d6, Sát thương lửa / 17-20, Đại kiếm lửa +1) hoặc +10/+5 tấn công tầm xa (1d6/x3, Cung ngắn)
Đặc tính: Nhìn trong đêm, Tinh thông ngôn ngữ thú nhân và ngôn ngữ chung, Cuồng bạo 2 lần/ngày, Né tránh trực giác (Giá trị dex của AC, không bị kẹp đánh)
Trận doanh: Hỗn loạn ác độc
Giá trị cộng thêm phán quyết miễn thích: Kiên định +10; Phản xạ +3; Ý chí +3
Giá trị thuộc tính cơ bản: Sức mạnh 18; Linh động 12; Thể chất 14; Trí lực 13; Trí tuệ 12; Sức hút 10
Chiều cao: 6 foot 3 inch
Kỹ năng và đặc kỹ: Nói dối +2, Trèo +8, Giao thiệp +2, Uy hiếp +5, Định hướng +3, Nhảy +9, Nghe ngóng +3, Quan sát sắc mặt +3, Trinh sát +4, Bơi lội +6, Sinh tồn hoang dã +4, Chém liên hoàn, Thích ứng ánh sáng ban ngày, Tinh thông trọng kích (Đại kiếm), Tinh thông chủ động, Tấn công mãnh liệt, Chuyên công vũ khí (Đại kiếm), Chuyên tu vũ khí (Đại kiếm)
Đặc tính SQ: Cuồng bạo (Ex): Thú nhân có hai lần cuồng bạo mỗi ngày, trong thời gian cuồng bạo, sự thay đổi thuộc tính của vua Obould được thấy như sau:
Sinh lực 105; Độ phòng thủ: 15 (Tiếp xúc 9, Đánh lén 15)
Tấn công: +17/+12 cận chiến (2d6+12 cộng 1d6, Sát thương lửa / 17-20, Đại kiếm lửa +1; Kiên định +12; Ý chí +5; Sức mạnh 22, Thể chất: 18;
Kỹ năng: Trèo +10, Nhảy +11, Bơi lội +8, Thời gian cuồng bạo có thể kéo dài 7 hiệp
Vật phẩm: Đại kiếm lửa +3, Giáp ngực +1, Giày phương Bắc, Vương miện cầu lửa (tương đương dây chuyền mang 4 lần sát thương cầu lửa 3d6)
Vua Obould đối với thần dân của mình, từ khi sinh ra đã mang sứ mệnh vĩ đại. Hắn thông minh và nhạy bén hơn các đồng loại thú nhân, từng đại diện cho các tù trưởng và mục sư hoàn thành nhiều nhiệm vụ khác nhau, sau đó hắn tiêu diệt tù trưởng để cướp lấy quyền thống trị bộ lạc. Từng có rất nhiều đối thủ khiêu chiến Obould, nhưng đều không thể đánh bại hắn, ngược lại chỉ càng chuốc thêm cho hắn vài vết sẹo cuốn hút. Obould tinh thông các loại chiến thuật, năng lực cuồng bạo của hắn cũng mạnh hơn tộc nhân, thế nên trên chiến trường hắn là một đối thủ khiến người ta kính sợ. Nhiều năm sau, một số bộ lạc khác cũng bị hắn thôn tính, ngày nay đội quân do hắn thống soái đã là một đội quân có hai nghìn chiến sĩ thú nhân, bao gồm cả vợ con của họ.
Obould có bốn người vợ, tám người con trai sắp đến tuổi trưởng thành. Hắn dự đoán rằng tương lai sẽ có một ngày phải phát động cuộc chiến tranh giành ngai vàng với các con trai của mình, và hắn đã sớm chuẩn bị từ lâu. Mối bận tâm duy nhất của hắn là sau khi mình chết, các con trai sẽ tàn sát lẫn nhau, vương quốc đánh đổi bằng bao mồ hôi nước mắt vì thế mà suy yếu. Để tránh kết quả như vậy, hắn thường xuyên huấn luyện binh lính dưới quyền, đi chinh phục vùng đất thấp phía nam Sống Lưng Thế Giới. Xây dựng một đế chế thú nhân đồ sộ vẫn luôn là giấc mơ của Obould, tương lai hắn có thể chia đất nước cho mấy người con trai, để dòng máu của mình được kéo dài. Dưới sự trù tính tỉ mỉ của vị chiến sĩ man dã với đôi mắt sắc bén và thanh đại kiếm lửa này, ngọn lửa chiến tranh sắp sửa bùng cháy ở phương Bắc.
Artemis Entreri (Atremis Entreri)
FRCS (Trang: 159)
Nam nhân loại lãng tử cấp 4 / du hiệp cấp 1 / chiến sĩ cấp 12 / sát thủ cấp 1
Cấp độ thách đấu 18; Sinh vật hình người thể hình trung (Nhân loại)
Sinh khí 4d6+8 cộng 1d10+2 cộng 12d10+24 cộng 1d6+2
Sinh lực 121; Giá trị quyền ưu tiên +9; Tốc độ 30 foot
Độ phòng thủ 22 (Tiếp xúc 18, Trở tay không kịp 22)
Giá trị cộng thêm tấn công +20/+15/+10/+5 cận chiến (Sát thương thông thường 1d8+7 / Trọng kích 17-20 kèm theo trạng thái thương tích, Trường kiếm thương tích +3) đồng thời với +21/+16 cận chiến (Sát thương thông thường 1d4+7 / Trọng kích 17-20, Đoản kiếm phòng thủ +4)
Năng lực đặc biệt: Tấn công tử vong (Phản quyết miễn dịch kiên định, độ khó 14), Sử dụng chiến đấu song vũ khí, Đánh lén +3d6
Tính chất đặc biệt: Né tránh, Kẻ thù truyền kiếp (Nhân loại +1), Định vị bẫy, Sử dụng độc dược, Né tránh trực giác (Bảo lưu phần thưởng linh động cho độ phòng thủ trong hoàn cảnh đặc biệt)
Trận doanh: Trật tự ác độc
Thưởng phán quyết miễn dịch: Kiên định +13, Phản xạ +15, Ý chí +8
Sức mạnh 14, Linh động 20, Thể chất 15, Trí tuệ 16, Tri giác 16, Sức hút 13
Chiều cao 5 foot 5 inch
Kỹ năng và sở trường:
Thăng bằng +14, Lừa gạt +8, Trèo +12, Đọc dịch thủ cảo +6, Giao tế +5, Gỡ bỏ cơ quan +5, Giả trang +9, Kỹ năng thoát thân +8, Làm giả +6, Thu thập tình báo +4, Động vật huấn luyện +6, Ẩn nấp +13, Uy hiếp +6, Định hướng +6, Nhảy +12, Tri thức (Khu vực Kiếm Bay) +6, Thính lực +8, Di chuyển không tiếng động +13, Mở khóa +10, Trộm cắp +13, Đọc môi +6, Kỹ thuật cưỡi ngựa +11, Tìm kiếm +8, Quan sát sắc mặt +8, Trinh sát +8, Bơi lội +7, Nhào lộn +13, Sử dụng thiết bị ma pháp +9, Sử dụng dây thừng +12, Tri thức hoang dã +7
Đấu mù, Phản xạ chiến đấu, Tiến lùi có độ, Cải thiện trọng kích (Đoản kiếm), Cải thiện trọng kích (Trường kiếm), Cải thiện quyền ưu tiên, Cải thiện chiến đấu song vũ khí, Né tránh linh hoạt, Rút nhanh, Đột kích, Lần theo dấu vết, Chuyên chú vũ khí (Đoản kiếm), Chuyên chú vũ khí (Trường kiếm), Chuyên thông vũ khí (Đoản kiếm), Chuyên thông vũ khí (Trường kiếm)
Pháp thuật đã chuẩn bị (1): Cấp một - Dò tìm độc dược.
Vật phẩm: Trường kiếm thương tích +3, Đoản kiếm phòng thủ +4, Áo choàng giáp +4 (tương đương vòng tay giáp +4), Nhẫn phòng thủ +3
Áo choàng nhện lớn (mặc vào có thể trèo tường, mỗi ngày còn có thể phóng một lần thuật mạng nhện), Bùa hộ mệnh bảo kiện
Artemis Entreri sinh ra ở Memnon, trải qua thời gian niên thiếu ở Calimport và trở thành một tên đạo tặc. Hắn là một trong những tên trộm và sát thủ xuất sắc và mạnh mẽ nhất toàn Faerûn, chủ yếu hoạt động quanh khu vực Kiếm Bay (Sword Coast) (hoặc dưới lòng đất). Người đàn ông thấp người, gầy gò nhưng săn chắc này là một nhân vật cực kỳ nguy hiểm, hắn hành sự quyết đoán, nhanh nhẹn, có khả năng tự kỷ luật bản thân mạnh mẽ tựa sắt thép. Entreri học cái gì cũng cực kỳ nhanh, và rất giỏi kiểm soát bản thân. Hắn thường chế giễu đối thủ (một chiến lược quen thuộc của hắn), nhưng chưa bao giờ vì cảm xúc chi phối mà ảnh hưởng đến thói quen hành sự lạnh lùng, hiệu quả.
Entreri là một cao thủ sử dụng kiếm, thành thạo các loại chiến thuật xảo quyệt. Hắn chỉ ra tay lấy mạng người khi cần thiết, luôn điều chỉnh trạng thái của bản thân đến mức tối ưu, không ngừng nâng cao kỹ năng chiến đấu. Entreri thu được không ít tình báo mới nhất khi du hành giữa các thành phố ở Faerûn, nắm rõ mọi biến động. Hắn có thể cải trang hoàn hảo thành một thương nhân cưỡi lạc đà, hoặc một người bản địa sống lâu năm ở Baldur's Gate. Đối với những kẻ địch chính, hắn gặp qua là không bao giờ quên, trong đó bao gồm cả Drizzt Do'Urden (đối thủ cũ rất giống hắn ở một vài phương diện).
Entreri có vóc dáng cân đối, săn chắc, mái tóc đen dày. Dù hắn thường xuyên cạo râu sạch sẽ, nhưng trông lúc nào cũng có vẻ lởm chởm râu ria. Đôi mắt hắn hoàn toàn vô hồn. Ngay cả khi hoàn thành nhiệm vụ một cách mỹ mãn, tên sát thủ vẫn không hề bộc lộ cảm xúc ra ngoài, tựa như hoàn toàn chẳng nhận được chút niềm vui nào.