Tôi lái xe về hướng Manchester, tới La Cienega, rồi rẽ qua phố Venice Boulevard. Lúc xe chạy tới phố Pobertson, tôi rẽ qua hướng bắc. Tôi phóng nhanh qua trường học của Jesus tới phi trường rồi tới chi nhánh thư viện LA nằm ở đấy.
Thư viện LA rất vắng vẻ chỉ mở cửa ngày thường. Tôi gặp nàng Eto, quản thủ thư viện. Nàng đã từng sống trong vùng sản xuất rượu ở miền bắc lúc gia đình được đưa vào khu trại tập trung trong thời chiến tranh thế giới lần thứ hai. Cha mẹ nàng đã chết trong trại. Sau chiến tranh, nàng Eto về và làm việc tại đây. Nàng rất vui tính, tôi thường giúp đỡ nàng trong công việc.
Một hôm lúc vừa đến trường đón Jesus, tôi thấy nàng có vẻ bối rối. Tôi hỏi nàng và biết rằng, có một tên lạ mặt đến quấy rầy nàng. Nàng hỏi:
“Emory thường lui tới mỗi khi thư viện vắng vẻ, hắn kể lể chuyện sàm sỡ với những phụ nữ Nhật và trẻ em trong thời chiến”.
“Sao cậu không đi báo cho cảnh sát?”, tôi hỏi nàng.
“Ôi, không”, nàng nói. - “Tôi không cần báo cho cảnh sát”.
Có lẽ vì vậy mà tôi phải giúp nàng.
Tôi quanh quẩn chỗ thư viện được vài bữa thì thấy Emory trở lại. Hắn là người da trắng béo phệ, lùn tịt, mặc chiếc quần jean mới tinh, áo sơ mi trắng xăn tay. Gương mặt có vẻ yếu đuối.
Tôi bám theo Emory tới một căn nhà nhỏ ở phố Venice, cách hướng tây National không xa. Khi biết chắc là nhà của hắn tôi gọi cho một người thân là Alamo Weir. Lão Alamo người da trắng gầy nhom xơ xác, lão đã từng cứu giúp tôi lúc bị tù vì khép tội sai. Nhớ ơn lão thỉnh thoảng tôi tìm việc làm cho lão.
Khi đã hòa nhập vào cuộc sống tại LA. tôi cảm thấy xa rời cộng đồng người da đen, một cộng đồng thiên di từ miền nam Texas và Louisiana, lúc tôi hòa nhập với cộng đồng người da trắng thì lão Alamo là một tay trợ thủ đắc lực. Lão là một tên tội phạm từ khi lọt lòng mẹ. Lão căm ghét bọn Negro nếu không phải là do thế chiến lần thứ nhất gây ra. Lão cứ nghĩ là bọn tướng lĩnh và những nhà hoạt động chính trị người da trắng đã tạo ra bọn người da trắng cùng khổ rập theo mô hình bọn da đen.
Lão nghĩ đúng.
Tôi cho lão Alamo hay là nên kiểm tra Emory còn tôi khi rảnh rỗi thường hay quanh quẩn chỗ thư viên.
Tôi nghĩ phải làm sao cho Emory lo sợ mới được. Tôi thì không thể làm chuyện đó, bởi rất dễ bị lộ. Emory đã từng phục vụ trong quân đội, lúc này hắn lo buôn bán vũ khí lấy trộm. Hắn chở về súng trường Ml, súng ngắn chất trong ga ra.
Alamo đãi Emory uống rượu trong quán bar bọn da trắng thường lui tới, trước đó Alamo đã mua một khẩu súng bảy mươi lăm đô la. Tôi gọi ngay cho một người tôi không thích hiện ở Washington DC. Hắn cho tôi hai mươi lăm đô la nhờ một người đại diện ở LA. giao lại, tôi ghi lại địa chỉ của Emory đưa cho hắn.
Tin được đăng lên báo. Thám tử Craxton của cơ quan FBI tiến hành cuộc lục soát.
Một ngày trước cuộc bố ráp tôi đã báo cho Eto. Nàng không còn lo bị kẻ lạ mặt quấy rầy nữa. Sáng hôm sau tôi đưa cho nàng xem bài đăng trong bản báo Examiner của thư viện.
“Đây là đứa con của cậu”, tôi nói.
Từ đó tôi có thêm một người bạn ở thư viện. Tôi có thể sưu tầm các tư liệu thông tin cần thiết. Nàng Eto yêu tôi. Một tình yêu không như cách thông thường của người Mỹ. Nàng có thể nuôi tôi suốt cuộc đời mà không than trách.
“Nhà ông Eady có điện thoại không?”. Nàng Eto có lần hỏi tôi.
“Chắc là có, nhưng có thể là không. Cô nên nhớ là Marlon có tính hay làm mếch lòng người khác”.
“Còn việc làm ăn thì thế nào? Hắn phục vụ cho ai?”
“Hắn đang làm công nhân cho một xưởng hải quân ở San Diego. Hắn thôi việc vì lao phổi”.
“Anh ngồi xuống đi. Có báo đây!”.
Tôi muốn tỏ ra là mình có thể giúp được nàng nhưng thấy coi bộ nàng không để ý chuyện đó. Tôi đến chỗ chiếc bàn ngồi xuống hai tay khoanh lại kê đầu lên.
Tôi ngồi lặng lẽ một hồi, nhắm mắt lại và ngủ thiếp đi. Tôi lại mơ màng nhìn thấy Bruno, nằm yên giấc bên trong chiếc hòm gỗ thông, nét mặt vô tư không còn cái vẻ vênh váo, hai tay khoanh lại. Tôi đang đứng sau lưng những người chị em gái của hắn, tất cả đều mặc áo tang khóc thương cho một người con trai độc nhất trong gia đình. Mọi người đứng lắc lư xiêu vẹo như muốn té nhào xuống đất.
Tôi không chịu nổi trước hoàn cảnh đau thương. Tiếng khóc của những người phụ nữ theo tôi nhập vào giấc ngủ. Tôi cảm thấy đang chìm dần xuống huyệt mộ. Tối tăm thâm u. Tiếng khóc chuyển thành tiếng gào thét, tôi nhận ra chính mình đang gào thét.
“Đừng cho tôi xuống đó, kéo lên nhanh đi!”.
“Ông, Rawlins”.
Lúc choàng mở mắt tôi nhìn thấy nàng Eto đang chìa ra một mảnh giấy.
“Tôi ghi được”. - Nàng cười nhìn tôi. Tôi cười theo, có lẽ nhờ nàng tôi mới tỉnh giấc mộng.
“Hắn đang ở Mecca” - nàng nói.
“Ở đâu?”.
“Mecca. Đâu như gần chỗ Đài Tưởng Niệm Joshua Tree. Tôi không rõ hắn còn ở thành phố không. Địa chỉ mới của hắn ở RFD”.
“Làm sao cô có được?”.
“Tôi hỏi thăm ở hãng patriot nơi làm việc của hắn.
“Chà”, - tôi nói như một tay trí thức đang ngồi uống rượu. “Cám ơn, Eto”. Chợt tôi định nhào tới ôm hôn nàng, nhưng kịp dừng lại. Tôi chìa tay ra bắt, gật đầu theo lối nhà binh rồi bước ra ngoài.
Thời đó ở miền nam California vẫn còn đất sống. Vùng sa mạc là nơi dừng chân xa xưa nhất của thổ dân California. Ở đấy không có dấu vết nền văn minh. Lái xe chạy hàng giờ không nhìn thấy một bóng người. Không khí ngột ngạt, lượng nước chứa trong mấy bình thủy tinh để trong cabin xe đã cạn kiệt. Lúc dừng lại trạm xăng duy nhất ở Mecca tôi hứng thêm ba bình.
Đàn ông và phụ nữ theo xe tải nhẹ dừng lại chỗ quán cơm có cà phê giá chỉ năm cents một bữa hoặc có khi dừng lại chỗ có cây cối lấy nước từ đường ống tưới cây chà là và xương rồng đang trổ bóng rực rỡ. Dấu vết đường ray tàu hai bên mé đường quốc lộ, tàu lúc đi chạy nhanh đến mức không ai còn nhìn thấy.
Nhân viên bưu điện không biết nhà Marlon ở đâu, bà kể lại hắn thường ra cửa hàng bách hóa lấy thư cách đấy hơn năm chục câysố.
“Có lần ông ta kể cho tôi nghe” - bà nhân viên với nước da trắng, cái gò má xệ nói - “ông ta có dựng một căn lều lợp bằng tấm dầu. Ông hãy đi về hướng bắc, tới chỗ cửa hàng nằm ở ngã tư hỏi thăm. Ông ta thường ra đó nhận thư. Tôi cam đoan có người biết chô Eady đang ở. Còn nếu không, ông cắm trại ở đó vài bữa thể nào ông ta cũng phải tới đó”.
Quả thật bà không nói đùa.
Nhìn hai bên đường hoang vắng, xung quanh không thấy một bóng sinh vật. Tôi chạy dài tới những ngọn đồi trọc, tôi mở hai bên cửa xe, đi chưa hết nửa chặng đường nước uống đã vơi cạn. Đài báo lúc này nhiệt độ một tràm mười sáu độ F. Chiếc quần màu rêu đổi ra màu lục sẫm lẫn mồ hôi. Vùng sa mạc chẳng khác một phạm nhân trọng tội sống trong nhà tù San Quentin. Một tên sát thủ mất hết nhân tính.
Có khi sa mạc là một vùng đất xinh đẹp. Khi mặt trời lặn, bầu trời một màu vùng xám xịt. Mọi sinh vật có hình thù nhỏ xíu khó tìm thấy. Những con bọ nhỏ xíu cẳng chân vươn dài để cách ly mặt đất nóng bỏng, được trang bị cặp càng đỏ rực chống chọi với một lũ sinh vật to xác hơn chúng. Lâu lâu mới được một trận mưa, lúc ấy nhiều vũng nước hiện ra giữa sa mạc. Dưới lớp bùn đất đã thấy loài tôm về sống, trải qua một đợt thiên di sau cùng trước khi loài khủng long xuất hiện. Sau một tuần sa mạc khoe sắc muôn ngàn cánh hoa nhỏ li ti nở rộ khắp nơi. Rực rỡ ẻo lả, khô cằn lởm chởm vì sa mạc đã hấp thu hết độ ẩm như một vị thần cướp lấy linh hồn của bầy con trước khi chúng được quyền sống.
Đi hết chặng đường hơn năm mươi cây số tôi đến nơi cửa hàng tổng hợp và trạm xăng. Vách ván gỗ đã bạc màu xiêu vẹo, tựa vô mái nhà lợp tôn láng nay đã cong vòng dợn sóng như sắp rơi xuống.
Tôi nhận thấy bảng hiệu quảng cáo Coca- Cola trước kia là màu đỏ nay đã phai màu hồng nhạt. Chiếc vòi bơm xăng để gần cửa trước trông như dụng cụ trong phim thời kỳ 1930.
Tôi dừng lại bước xuống xe, chờ người bán hàng bên trong bước ra.
Chờ mãi không thấy ai.
Tôi bước tới trước cửa. Biết đâu chỗ này không phải là cửa hàng. Bảng hiệu và ống bơm xăng cũ mèm. Nhìn bên ngoài không thấy ai lui tới mua bán. Có thể đây là nhà ở, còn số vật dụng ngoài kia là đồ dùng cửa hàng bỏ lại.
Tôi đứng nhìn về phía chân trời. Không thấy nhà cửa đâu. Tôi gõ cửa, cánh cửa đóng bằng nhiều lớp gỗ dày, gõ mấy cũng không nghe. Tiếng gõ cửa nghe thoảng qua như những người đang ôm hôn nhau ngoài hành lang đêm tối.
“Nghe rồi” - gã nói vọng ra. - “Cứ vào đi”.
Giọng nói nghe thật dễ chịu tôi không ngạc nhiên khi nhìn thấy gã nằm trên chiếc ghế trường kỷ ngay giữa phòng khách. Chiếc tủ lạnh chạy nghe vo ve ở góc phòng hình thù kỳ dị. Trên vách tường lởm chởm gắn mấy hàng kệ để đồ khô, chai lọ và bình nhựa. Có thể đây là một cửa hàng và cũng có thể là nhà ở của một người không chăm sóc dọn dẹp. Một chiếc quạt máy đang quay về phía người nằm trên ghế. Gã mặc chiếc quần sọt võ sĩ quyền anh, áo thun ba lỗ, đầu đội mũ người đi câu cá cũ mèm. Người gã gầy nhưng không cao lắm. Cuối góc phòng bày đồ đạc một cách bừa bãi trên chiếc bục gỗ. Vừa bước ra từ phía sau chiếc bục gỗ sơn trắng gã mới Jên tiếng:
“Cậu đến đây có việc gì?”.
Tôi chới với như người mất hồn. Tôi đoán hắn có súng giấu phía sau nên tôi không dám động tĩnh, nhỡ hắn nổ súng.
“Chào ông”, - tôi nói ra vẻ như bằng lòng với không khí ngột ngạt ở đây.
“Cậu đến đây có việc gì?”. - Gã cười nhìn tôi. Nhìn thấy cặp mắt như con chim cổ đỏ của gã còn đáng sợ hơn là gã có súng trong tay.
“Tôi cần mua một chục chai coca”, - tôi nói mà cổ họng nghẹn lại.
“Mỗi người chỉ mua được ba chai”, - gã đáp. Gã gật đầu nhìn về phía chiếc tủ lạnh. Gã không thèm bước tới.
Tôi bước lại chỗ thùng hàng tự tay mở nắp. Tôi mừng đến phát ngất vì hơi lạnh trong thùng phả vào người. Tôi thong thả lấy mấy chai coca lẫn trong lớp thịt nguội đông lạnh có cả một chai rượu gin lâu năm còn nguyên nút khằng.
“Cậu muốn tìm đường đi đâu, hả?”.
Gã dân miền Nam, tôi đoán là gã cỡ bằng tuổi tôi. Tôi chợt nhớ - tôi đang bơ vơ giữa chỗ xa lạ, một chấm đen nổi bật trên nền phông trắng. Dù tôi có thể vụt chạy thoát khỏi tầm đạn bắn, thì có lợi ích gì khi phải giết chết một tên da trắng đang khinh thường tôi? Trước kia tôi đã từng giết chết bọn da trắng và rồi mọi chuyện vẫn đâu vào đẩy.
Dù sao tôi vẫn căm ghét hắn và cả không khí nồng nặc mùi mồ hôi hắn thải ra.
“Kìa Marlon Eady”, tôi nói môi miệng bặm lại.
“Thằng Nigger đấy hả?” - Nụ cười méo xệch biến đổi gương mặt hắn như hình lưỡi liềm ma quái.
Tôi đã từng sống ở miền Nam thời gian dài. Từ nhỏ, tôi căm ghét tên này đến tận xương tủy.
“Ôi”. - Chòm râu thưa với hàm ria mép của hắn dựng đứng quanh miệng như chồi rễ tua tủa cười một cách chế nhạo. - “Cậu đừng hiểu lầm tôi. Bọn tôi thường gọi tên hắn như vậy đấy - hắn thích cái tên đó. Bọn chúng gọi ta là ông Dickhead. Cậu thích được gọi là một tên Nigger hơn hay là Dickhead?”
Trời nóng nực, tôi muốn phát điên vì cái nóng.
Nếu tôi rục rịch bỏ chạy gã còn kịp bắn chết tôi. Tôi không muốn vậy. Tôi đi thẳng tới ngay trước mặt gã bất ngờ xô ngã bục gỗ giật lấy khẩu súng sàn hai nòng. Gã té giật lùi xuống phía sau đụng vào tấm bảng treo đồ nghề kềm búa rớt lổm ngổm.
“Đồ mắc dịch?” - Dickhead gượng đứng dậy, tôi nhanh chân đè xuống ngực gã cho đến lúc gã không còn cục cựa.
“Nằm yên đó, bạn mình”. - Tôi nói như nói với người quen ở quê tôi. - “Nói ra ngay, ông Marlon Eady đang ở đâu?”.
“Mày sẽ gặp rắc rối đấy”, - Dickhead nói như hăm dọa.
Tôi chỉa nòng súng vô đầu hắn, bắn một loạt về phía cuối bục gỗ. Dickhead mất hết hồn vía, gã la hét gượng đứng dậy, tay áp sát vô tai. Tôi nhấc bổng súng, dộng báng súng xuống gò má hắn. Hắn nhanh tới ngã nhào xuống nằm một chỗ, nếu hắn cục cựa tôi sẽ cho hắn ăn đòn lần nữa.
“Nằm xuống”.
Dickhead co người lại. Máu me, nước dãi trào quanh miệng, nước mũi chảy lòng thòng rơm rớm nước mắt như muốn khóc. Tôi không thích nhìn thấy hắn đau đớn. Người dân bị áp bức gặp phải một vấn nạn họ không nỡ nào đem cho cái mình đang giữ. Tôi đánh đập tên da trắng thường này bởi tôi lo sợ hắn. Nếu hắn còn gọi tôi là thằng nhóc hoặc là một tên Nigger tôi chỉ tiết nói ấp úng.
“Mày chỉ cho tao biết Marlon Eady ở đâu, tao sẽ để cho mày yên”. - Tôi lại ấn nói theo lối dân miền Nam.
Lúc này hắn nằm một chỗ co giật dưới sàn. Tôi bước tới chỗ tủ lạnh lấy chai rượu gin ra. Tôi khui nút chai đưa cho hắn.
“Uống đi”.
Hắn kê chai rượu rót vô miệng, rượu lại tràn hết ra ngoài ướt cả mặt.
“Rót nữa đi”.
Lần này không tràn ra ngoài. Hắn nghĩ chỉ còn lần này nữa thôi. Hắn tĩnh lại và hít hết nước mũi vào trở lại.
“Marlon Eady ở đâu chỉ cho tao biết”.
“Ta không biết tên đường”, - hắn rên rỉ nói. “Rẽ qua trái cách đây ba con đường, ngược trở lại mười cây số từ chỗ cũ”.
“Thôi kể sơ qua chỗ đó đi”, - tôi nói.
Vẻ sợ hãi hiện trên nét mặt hắn. “Tôi sẽ cố nhớ” - hắn nói.
Tôi lôi hắn ra ngoài, túm cổ hắn đẩy tới trước xoay đầu qua để hắn không nhìn thấy bảng số xe. Tôi bắt hắn quỳ xuống, tay gỡ lấy bảng số hông xe. Phía sau cửa hàng có chiếc xe tải nhẹ Studebaker màu vàng cũ kỹ trông như chiếc xe taxi. Trong xe còn để chìa khóa. Tôi vơ lấy chìa khóa, nắp điện, bình ác quy, tay lái giao cho Dickhead đem bỏ vào phía sau cốp xe tôi đang đậu. Tôi quay trở vào nhà gỡ máy điện thoại trên tường xuống, đem ra ngoài xe.
“Mi đừng bỏ ta ngoài này một mình không xe, không phương tiện liên lạc”, - gã gào thét.
“Tôi đi theo đường ông chỉ tới nhà Marlon, nếu tìm được, tôi sẽ bỏ lại hết những món này ngay tại ngã ba ông vừa chỉ. Thôi, ngồi xuống và chờ khi nào tôi đi khỏi chỗ này”.
Tôi với gã không có việc gì đáng tiếc, bởi tôi không có ý muốn giết gã.