Khi bà đã ra đường và nghe thấy tiếng ồn ào, lo lắng, hồi hộp thấp thỏm, và khi bà trông thấy ở khắp cửa sổ, cửa ra vào từng tốp người đang nhìn theo Anđrây và Paven thì trong mắt bà bỗng hiện lên một vệt mờ mờ, màu sắc luôn luôn thay đổi, lúc xanh trong, khi xám đục.
Mọi người chào hai người con trai, và trong những lời chào ấy có một cái gì đặc biệt. Bà thoáng nghe thấy những lời bình phẩm:
– Đấy! Những người đứng đầu…
– Chúng tôi, chúng tôi chẳng biết ai là người đứng đầu…
– Thì tôi có nói gì xấu đâu!…
Chỗ khác vang lên một giọng nói giận dữ:
– Nếu cảnh sát mà bắt được họ… thì nguy mất!…
– Cái đó thì nhất định rồi!
Một tiếng kêu hốt hoảng bực bội của một người đàn bà từ một cửa sổ bật lên, lọt xuống đường:
– Mày điên rồi à? Mày tưởng mày còn trẻ dại à?
Khi hai người đi ngang qua nhà Zôximôp, trước đây bị tiện mất hai chân ở nhà máy, nay được lĩnh tiền trợ cấp, thì anh này thò đầu ra cửa sổ la lớn:
– Này Paven! Thằng vô lại kia, mày sinh sự thì liệu hồn, người ta sẽ bẻ gãy cổ mày đấy!
Bà mẹ rùng mình, dừng lại. Tiếng kêu thét đã khơi dậy trong lòng bà một nỗi tức giận gay gắt. Bà đưa mắt chăm chăm nhìn cái mặt to phị của người tàn tật, tên này thụt đầu vào, nhưng mồm vẫn chửi. Bà liền bước rảo để theo kịp con trai và đi sau anh, cố để khỏi tụt lại phía sau.
Paven và Anđrây như không để ý đến gì hết, không nghe thấy những lời thốt lên trên đường họ đi. Cả hai người thản nhiên tiến bước không chút vội vàng. Mirônôp, một người đàn ông đứng tuổi, khiêm tốn và được mọi người kính nể vì đời sống thanh đạm, trong sạch của ông, ngăn Paven và Anđrây lại:
Paven hỏi:
– Đanhila Ivanôvich! Bác cũng nghỉ việc à?
Mirônôp chăm chú nhìn hai người bạn, phân trần:
– Vợ tôi sắp đẻ. Vả lại hôm nay trong không khí có sự biến động! Còn các anh… người ta bảo các anh muốn gây sự ở phòng giám đốc, muốn đập vỡ cửa kính, có phải thế không?
Paven nói lớn:
– Chúng tôi có say rượu đâu!
Anđrây nói:
– Chúng tôi sẽ chỉ cầm cờ đi diễu trên các đường phố và chúng tôi sẽ hát. Hãy lắng nghe các bài hát nhé! Những bài hát đó nói lên niềm tin của chúng tôi!…
Mirônôp trả lời, tư lự:
– Tôi biết rõ lòng tin của các anh! Tôi đã được đọc truyền đơn của các anh. Thế còn bác Pêlagâya, bác cũng theo bọn phiến loạn đấy à?
Bà mẹ nói, trong đôi mắt thông minh, ánh lên một nụ cười hồn hậu:
– Phải đi với chân lý, dù cho có sắp phải xuống mồ đi nữa!
– Gớm nhỉ!… Thế ra trước đây người ta đồn bác đem sách cấm đến nhà máy chắc là đúng rồi!
Paven hỏi:
– Ai bảo thế?
– Thì người ta… chứ ai! Thôi, chào các anh, chớ làm gì dại dột đấy!…
Bà mẹ cười nhè nhẹ, lấy làm thích thú thấy người ta nói đến mình như thế. Paven mỉm cười, bảo mẹ:
– Mẹ sẽ đi vào tù đấy mẹ ạ!
Mặt trời cứ lên cao mãi, sức nóng hòa lẫn với không khí tươi mát phơi phới của ngày xuân. Mây bay chậm hơn, bóng mây trở nên nhẹ nhàng hơn, trong sáng hơn, lướt qua các đường phố, trên các mái nhà, trùm lên mọi người, dường như lau chùi hết bùn lầy và bụi bặm trên các bức tường và mái nhà, rũ hết nỗi buồn tẻ trên các nét mặt, làm cho vùng ngoại ô trong sạch ra. Niềm vui tràn lan khắp nơi, giọng nói vang lên to, át hẳn tiếng máy chạy ì ầm từ xa dội lại.
Từ khắp nơi, từ các cửa sổ, các sân nhà, bao nhiêu lời nói lo lắng ác độc hay kiên quyết vui vẻ lại vang lên, bay đến tai bà mẹ. Lúc này, bà muốn đáp lại hoặc cám ơn, hoặc giảng giải, hòa mình vào cuộc sống tưng bừng màu sắc hôm nay.
Ở góc phố lớn, trong một ngõ hẻm chật hẹp, một đám đông ước chừng một trăm người đang tụ họp. Nghe oang oang tiếng nói của Vêxôpsikôp:
– Chúng hút máu chúng ta, giống như người ta ép mận. Và những lời lẽ vụng về của anh tuôn đổ xuống đầu mọi người.
– Đúng đấy!
Một vài giọng nói đồng thanh đáp lại, rồi hòa vào nhau thành một tiếng ồn ào hỗn độn.
Anđrây nói:
– A, cậu ta nói hăng quá! Ta đến giúp cậu ấy một tay đi!…
Anh cúi xuống, và không để cho Paven kịp ngăn giữ, cái thân hình của anh đã len trong đám đông, dài ngoẵng và mềm mại như một cái vặn nút chai. Giọng nói lanh lảnh của anh vang lên:
– Các đồng chí! Người ta bảo trên trái đất này có đủ mọi giống người: người Do Thái và người Đức, người Anh và người Tactar. Nhưng tôi, tôi không tin là như thế! Chỉ có hai dân tộc, hai giống người không bao giờ hòa hợp với nhau được: đó là kẻ giàu và người nghèo! Người ta ăn mặc khác nhau, tiếng nói cũng khác nhau, nhưng khi chúng ta thấy bọn nhà giàu Pháp, Đức, Anh đối xử với người lao động như thế nào thì chúng ta thấy ngay tất cả bọn chúng là những tên đao phủ giết hại công nhân. Cần sao cho chúng hóc xương, cho chúng chết đi!
Trong đám đông, có người phá lên cười.
– Và khi chúng ta nhìn về phía bên kia, chúng ta sẽ thấy người công nhân Pháp, người công nhân Tactar và Thổ Nhĩ Kỳ đều sống cuộc đời khốn nạn, giống như chúng ta, những người công nhân Nga!
Đám đông tập hợp xung quanh anh mỗi lúc một đông thêm. Hết người này đến người khác cố vất vả luồn vào trong ngõ hẻm, lặng lẽ nhích đến gần, nghểnh cổ và kiễng chân lên.
Anđrây cất cao giọng:
– Ở nước ngoài, anh em công nhân đã hiểu rõ chân lý thông thường này, và hôm nay, vào cái ngày Một tháng Năm trong sáng này…
Có người hét to:
– Cảnh sát!
Bốn tên cảnh sát đi ngựa rẽ vào ngõ hẻm, tiến thẳng về phía đám đông, vừa vung roi vừa thét:
– Giải tán!
Mặt mọi người bỗng sa sầm xuống. Họ miễn cưỡng tránh ra để cho ngựa đi. Vài người leo lên hàng rào.
Có tiếng thét oang oang khiêu khích:
– Người ta cho lợn cưỡi ngựa, và đấy, lợn cũng kêu eng éc: “chúng ông cũng là những thủ lĩnh lớn đấy!”
Anđrây đứng lại một mình giữa ngõ hẻm, hai con ngựa đầu lắc lư tiến về phía anh. Anh tránh ra, vừa lúc đó bà mẹ nắm lấy tay anh kéo đi, càu nhàu:
– Con đã hứa cùng đi với Paven, thế mà bây giờ con lại tự phơi mình ra trước chỗ nguy hiểm!
Anđrây mỉm cười nói:
– Con xin lỗi mẹ.
Bà mẹ bỗng thấy mình vừa mệt mỏi, vừa lo lắng, chán nản; sự mệt mỏi ấy dâng lên, làm cho đầu bà choáng váng. Tang tóc, vui mừng xen lẫn nhau một cách kỳ quặc trong lòng. Bà mong nghe thấy tiếng còi tầm buổi trưa rúc lên càng sớm càng hay.
Mọi người tới quảng trường gần nhà thờ. Trên sân phía trước nhà thờ, khoảng năm trăm thanh niên và trẻ em chen chúc nhau, kẻ đứng người ngồi, náo nhiệt và vui vẻ. Đám đông lố nhố, nhiều người ngẩng đầu lên nhìn ra xa, tứ phía vẻ sốt ruột chờ đợi. Người ta cảm thấy có một cái gì như một sự kích thích, vài người có vẻ ngơ ngác, có người làm ra bộ ngang tàng. Thỉnh thoảng người ta nghe thấy những giọng nói yếu ớt và uất ức của phụ nữ, bọn đàn ông bực bội quay mặt đi không muốn nghe, thỉnh thoảng lại vang lên một tiếng chửi khẽ. Một tiếng rì rầm bàn cãi hằn học bao trùm đám đông.
Một tiếng đàn bà run lên khe khẽ:
– Michia! Cẩn thận đấy!…
– Mặc xác tôi!
Có giọng nói đĩnh đạc, tiếng nói của Xidôp, nghiêm nghị và đầy sức thuyết phục:
– Không, không nên bỏ rơi bọn trẻ! Họ đã trở nên khôn ngoan hơn chúng ta, gan dạ hơn chúng ta! Ai đã làm tất cả trong chuyện đồng kô-pếch ở đầm lầy? Chính họ! Không nên quên điều đó. Người ta đã bắt bỏ tù họ về việc đó…, nhưng mọi người đều được lợi!…
Tiếng còi rền rĩ buồn bã bỗng nổi lên, át hẳn tiếng chuyện vãn. Cả đám đông rùng mình; những người đang ngồi vùng dậy và trong chốc lát, ai ai cũng đều lặng ngắt, nghe ngóng chờ đợi, nhiều khuôn mặt biến sắc.
– Các đồng chí!
Đó là giọng sang sảng, kiên quyết của Paven. Mắt bà mẹ như nóng bỏng vì một làn sương mù khô khan, bà bỗng lấy lại tất cả nghị lực, đến đứng bên cạnh con trai. Mọi người quay về phía Paven, vây quanh bên anh, tựa như mạt sắt bị nam châm hút. Bà mẹ nhìn con, chỉ thấy đôi mắt kiêu hãnh, dũng cảm, nồng nàn của Paven…
– Các đồng chí! Chúng ta đã quyết định tuyên bố thẳng rằng chúng ta là ai, hôm nay chúng ta giương cao ngọn cờ của chúng ta, ngọn cờ của lý trí, của chân lý, của tự do!
Một cán cờ trắng và dài hiện ra trên không, nghiêng xuống, rẽ đám đông ra rồi biến mất, và một lát sau lại phấp phới bay như một con chim đỏ rực, lá cờ rộng lớn của giai cấp công nhân.
Paven đưa tay lên, cán cờ nghiêng ngả; hàng chục bàn tay liền nắm lấy cái cán gỗ trắng, trơn láng, và trong những bàn tay ấy có bàn tay bà mẹ.
Paven hô to:
– Nhân dân lao động muôn năm!
Hàng trăm tiếng hô hưởng ứng lời Paven rền vang như một tiếng dội.
– Đảng công nhân xã hội dân chủ muôn năm. Đảng của chúng ta, các đồng chí, tổ quốc tinh thần của chúng ta muôn năm!
Cả đám đông sôi lên sùng sục. Những người hiểu rõ ý nghĩa của lá cờ cố chen tiến lại gần, Madin, Xamôilôp, hai anh em Guxep đã đến đứng cạnh Paven; đầu cúi xuống, Nikôlai Vêxôpsikôp chúi đầu vượt qua đám đông; nhiều người khác, những người trai trẻ, mắt hực lửa mà bà mẹ không quen, cũng chen lấn, xô đẩy bà…
Paven hô to:
– Công nhân toàn thế giới muôn năm!
Với một sức mạnh và một nỗi vui mừng mỗi lúc tăng, hàng nghìn tiếng hô hưởng ứng tiếng hô của Paven, và tiếng vang ấy làm rung động tâm hồn mọi người.
Bà mẹ nắm lấy bàn tay của Nikôlai và bàn tay của một người nào đó. Bà nghẹn ngào muốn khóc, nhưng bà không khóc; chân bà run lên. Bà lắp bắp:
– Các con của mẹ…
Một nụ cười rộng nở trên khuôn mặt rỗ của Nikôlai. Anh nhìn lá cờ và hô một câu gì nghe không rõ, vừa hô vừa giơ thẳng tay về phía lá cờ; bỗng anh hạ cánh tay xuống, ôm choàng lấy cổ bà mẹ hôn và phá lên cười.
– Các đồng chí! Anđrây bắt đầu nói, giọng dịu dàng như hát của anh át tiếng ồn ào của đám đông. - Cuộc biểu tình của chúng ta hôm nay là để làm sáng danh một vị thần mới, vị thần của ánh sáng và của chân lý, vị thần của lý trí và của điều thiện! Mục đích của chúng ta tiến tới còn xa, nhưng chông gai gian khổ thì rất gần! Những ai chưa tin vào sức mạnh của chân lý, những ai chưa có can đảm bênh vực chân lý đến hơi thở cuối cùng, những ai chưa có lòng tin ở chính mình và sợ đau khổ thì xin mời đi nơi khác! Chúng ta kêu gọi những ai tin tưởng ở thắng lợi của chúng ta hãy đến với chúng ta; những ai chưa nhìn thấy mục đích của chúng ta, xin họ đừng đi theo chúng ta, vì họ chỉ rước lấy sự phiền muộn mà thôi. Các đồng chí, hãy tập hợp thành hàng ngũ! Ngày lễ của nhân loại tự do muôn năm! Ngày Một tháng Năm muôn năm!
Quần chúng kéo đến càng thêm đông nghịt. Paven phất ngọn cờ, lá cờ xòe ra và bay phấp phới, rực rỡ dưới ánh mặt trời như một nụ cười đỏ thắm.
Phêđia Madin cất tiếng hát sang sảng:
Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian!…
Hàng chục tiếng hát theo, như một làn sóng du dương hùng mạnh:
Vùng lên, hỡi ai cơ khổ bần hàn!…
Bà mẹ đi sau Madin, nụ cười nóng bỏng nở trên môi. Qua đầu Madin, bà nhìn Paven và lá cờ. Chung quanh bà tưng bừng những vẻ tươi cười, những cặp mắt đủ mọi màu sắc… Con bà và Anđrây đi ở hàng đầu. Bà nghe rõ giọng hát của hai người: giọng Anđrây dịu dàng và mềm mại hòa lẫn với giọng trầm và dõng dạc hơn của Paven.
Đấu tranh này là trận cuối cùng,
Đoàn kết lại để ngày mai…
Mọi người vừa reo hò, vừa chạy đến đón lấy lá cờ đỏ, hòa lẫn vào đám đông, và cùng đám đông tiến lên. Và những tiếng reo hò lắng dần trong giọng hát, bài hát ở nhà người ta thường hát giọng khẽ hơn những bài khác, thì ở đây, giữa đường phố, nó cuồn cuộn giống như một dòng sông chảy đều đều, không khúc khuỷu quanh co, với một sức mạnh ghê gớm; trong bài hát, nghe có tiếng nói của lòng dũng cảm, và nếu bài hát kêu gọi mọi người đi theo con đường dài dẫn đến tương lai, thì bài hát cũng chân thành gợi ra những thử thách nặng nề trên con đường đó. Những bọt sỉ của dĩ vãng âm u, những gánh nặng của bao nhiêu tình cảm thường ngày đều tan vỡ trước ngọn lửa bình thản vĩ đại của bài hát, và trong ngọn lửa đó, cả lòng sợ sệt quái ác đối với cái mới cũng tan thành tro bụi.
Một khuôn mặt không quen biết, vừa hoảng hốt vừa vui mừng, cứ lắc lư bên cạnh bà mẹ theo nhịp cuộc diễu hành, và một giọng run run nức nở nấc lên:
– Michia, mày đi đâu?
Bà mẹ đáp, chân không dừng bước:
– Cứ để cho cháu đi, bác đừng lo! Chính tôi trước đây cũng sợ lắm, nhưng nay con tôi nó đi ở hàng đầu. Người cầm cờ, chính là con tôi đấy!
– Quân kẻ cướp! Các người đi đâu? Có lính ở đằng kia đấy!
Người đàn bà, thân hình cao lớn và gầy gò, bỗng đưa bàn tay xương xương ra nắm cánh tay bà mẹ kêu lên:
– Sao mà họ hát to thế!… Cả thằng Michia cũng hát…
Bà mẹ lầm bầm:
– Bác đừng sợ! Đó là việc thiêng liêng… Bác cần phải hiểu rằng nếu xưa kia không có những người hy sinh vì lòng kính yêu Đức Chúa thì làm gì có Đức Chúa!
Ý nghĩ ấy bỗng nhiên đã nảy ra trong trí óc bà mẹ, bà ngạc nhiên thấy nó vừa rất đúng, vừa giản dị. Bà nhìn khuôn mặt người đàn bà kia, đang nắm chặt cánh tay bà và bà mỉm cười, ngạc nhiên nhắc lại:
– Nếu xưa kia không có những người hy sinh vì lòng kính yêu Đức Chúa của chúng ta thì làm gì có Đức Chúa!
Xidôp hiện ra bên cạnh bà mẹ. Ông cụ bỏ chiếc mũ cát-két ra, giơ tay lên vẫy theo nhịp bài hát:
– Thế nào, bà mẹ? Họ làm hăng đấy nhỉ? Họ đã đặt ra một bài hát, bài hát hay thật, có phải thế không, bà mẹ?
Xidôp nói tiếp:
– Họ chẳng sợ gì hết! Nhưng con trai tôi đã ở dưới mồ rồi…
Tim bà mẹ bỗng đập mạnh quá, bà phải đi chậm lại để người khác vượt lên. Bà bị đẩy về một bên, bị ép vào một hàng rào, trong lúc trước mặt bà, cả làn sóng người dày đặc cuồn cuộn chảy, bà thấy quần chúng rất đông, và điều đó làm cho bà vui sướng.
Vùng lên, hỡi ai nô lệ ở thế gian!…
Người ta có cảm giác như một chiếc kèn đồng vĩ đại đang thổi trên không; nó thúc lên và làm mọi người tỉnh dậy, ở người này, tiếng kèn thức tỉnh tinh thần chiến đấu, ở người kia, nó đem lại một niềm vui mơ hồ, khêu gợi lòng tò mò sôi nổi, mối linh cảm rằng sẽ có một việc gì mới xảy ra, bài hát ở đây, làm nảy ra mối hy vọng không rõ rệt, ở kia, giải phóng bao nhiêu giận dữ tích lũy hàng nhiều năm, cuồn cuộn chảy ra như một dòng thác sôi sục.
Tất cả mọi người đều nhìn lên phía trước, nơi lá cờ đỏ nghiêng ngả bay phấp phới.
Một giọng nói phấn khởi vang lên:
– Họ đi rồi! Hoan hô các bạn!
Rồi chắc hẳn vì không thể dùng những tiếng thông thường đễ diễn tả một cảm xúc quá lớn lao, người đó bỗng chửi rủa rất gay gắt. Nhưng cả sự căm hờn, sự u uất và mù quáng của kẻ nô lệ cũng rít lên như một con rắn hốt hoảng trước ánh sáng rọi vào người, nó quằn quại tuôn ra những lời nói lồng lộn ác độc.
Từ một cửa sổ, có kẻ nào đó vung nắm tay hăm dọa, và thét lên, giọng nói như vỡ ra:
– Đồ tà đạo!
Tiếp đó có tiếng thét the thé, day dứt như xoáy vào tai bà mẹ:
– Chống lại Hoàng đế à? Chống lại Sa hoàng à? Nổi loạn à?…
Những khuôn mặt bối rối lướt nhanh bên cạnh bà mẹ; đàn ông, đàn bà nhảy chồm lên, bỏ chạy; bài hát với âm điệu hùng dũng dường như lật đổ, cuốn sạch mọi vật trước mắt, lôi cuốn đám đông cuồn cuộn chảy như phún thạch từ núi lửa trào ra. Bà mẹ nhìn lá cờ đỏ đằng xa; bà không trông thấy Paven, nhưng bà vẫn như nhìn thấy hình ảnh khuôn mặt con trai bà với vừng trán rám nắng và đôi mắt rực sáng ngọn lửa của niềm tin.
Giờ đây bà đi tụt lại mấy hàng cuối cùng của đám đông giữa những người đi ung dung, không vội vàng, nhìn phía trước với một thái độ hờ hững, với vẻ tò mò lạnh nhạt của người khán giả đã biết rõ màn cuối của vở kịch; họ vừa đi vừa nói chuyện thì thầm có vẻ quả quyết:
– Có một đại đội đóng gần trường học và một đại đội khác đóng ở gần nhà máy…
– Quan thống đốc đã đến…
– Thật à?
– Chính mắt tôi trông thấy!
Một người vui vẻ chửi đổng lên mấy tiếng, rồi nói:
– Dù thế nào đi nữa, thì họ cũng bắt đầu sợ rồi đấy! Họ phải cho lính, phải phái quan thống đốc đến…
– Các con thân yêu của mẹ! Những tiếng ấy đập thình thịch trong lồng ngực bà mẹ.
Nhưng những lời nói bà nghe thấy thì lạnh lùng và không một chút sinh khí. Bà cố đi nhanh để vượt xa khỏi những người đó; họ đi chậm chạp uể oải, nên bà mẹ vượt lên dễ dàng.
Bỗng đầu đoàn biểu tình vấp phải một trở lực gì. Cả đoàn người dài vẫn không dừng bước, ngập ngừng một chút và một tiếng xôn xao lo lắng truyền đi khắp lượt. Giọng hát cũng chập chững, nhưng liền đó lại cất lên nhanh hơn, mạnh mẽ hơn. Rồi tiếng hát dồn dập lại hạ thấp xuống, chuyền về cuối đoàn biểu tình. Lần lượt các giọng hát lắng dần; thỉnh thoảng chỗ này chỗ khác có những giọng cất cao cố làm cho bài đồng ca trở lại rộn ràng như cũ và dồn lên phía trước:
Vùng lên, hỡi các nô lệ ở thế gian!
Vùng lên, hỡi ai cực khổ bần hàn!…
Nhưng trong lời kêu gọi ấy, không còn sự hòa nhịp đầy lòng tin và hùng tráng như trước, mà trong đó, đã gợn lên một nỗi sợ sệt lo âu.
Bà mẹ không nhìn thấy gì, không biết việc gì đã xảy ra ở hàng đầu. Bà rẽ đám đông, cố vượt nhanh lên. Làn sóng người xô ngược lại phía bà. Một số người cúi đầu, một số khác cười gượng huýt sáo mỉa mai. Bà lo lắng nhìn kỹ các khuôn mặt, hai mắt bà như hỏi, như nài nỉ, kêu gọi…
Tiếng Paven vang lên:
– Các đồng chí! Anh em binh lính cũng là người như chúng ta. Họ không đánh chúng ta đâu. Họ đánh chúng ta làm gì? Vì chúng ta đem lại chân lý cần thiết cho tất cả mọi người ư?Họ cũng cần có chân lý ấy. Hiện nay họ còn chưa hiểu, nhưng đã sắp tới lúc cả họ nữa, cũng sẽ vùng dậy đứng vào hàng ngũ chúng ta, sẽ cùng với chúng ta tiến lên, không phải dưới ngọn cờ của bọn ăn cướp và bọn giết người, mà là dưới ngọn cờ của tự do. Và để cho họ hiểu được chân lý của chúng ta mau chóng hơn, chúng ta phải tiến lên. Tiến lên, các đồng chí! Tiến mãi lên!
Giọng Paven kiên quyết. Từng lời anh vang dội trong bầu không khí, rành mạch, rõ ràng, nhưng đám đông cứ tản mát dần. Hết người này đến người khác bỏ đi, kẻ rẽ sang phải, người rẽ sang trái, đi về phía các ngôi nhà, lần theo dọc các hàng rào. Đoàn biểu tình giờ tản thành hình ba góc mà Paven là cái mũi nhọn; trên đầu anh, lá cờ của giai cấp công nhân giương lên đỏ rực. Đám đông trông giống như một đàn chim đen đang xòe rộng đôi cánh, đang thủ thế chờ đợi sẵn sàng cất cánh bay lên, và Paven là cái mỏ của con chim đó…