Ngoài cửa có tiếng chân của ai. Cả hai mẹ con giật mình, nhìn nhau.
Cánh cửa từ từ mở, Rưbin bước vào, dáng đi nặng nề.
Bác ngẩng đầu, mỉm cười, nói:
– Tôi đây mà! Chào hỏi đi! Và cho tôi chén một bữa nhé!
Bác mặc một chiếc áo khoác ngoài bằng lông cừu nham nhở hắc ín, đi đôi giày vỏ gai, đôi bao tay buộc ở thắt lưng, đầu đội một chiếc mũ lông.
– Thế nào khỏe chứ? Paven, cậu được về đấy à? Tốt. Còn bà Pêlagâya, có khỏe không hở bà?
Nụ cười Rưbin mở rộng, để lộ hai hàm răng trắng. Giọng nói bác dịu dàng hơn trước, râu ria trên mặt càng rậm hơn.
Bà mẹ sung sướng được gặp lại Rưbin. Bà lại gần, siết chặt bàn tay to lớn đen đủi của Rưbin, vừa hít cái mùi hắc ín hăng hăng và lành mạnh bác vừa mang tới vừa nói:
– Bác đấy à…? Tôi rất mừng!…
Paven ngắm nghía Rưbin mỉm cười:
– Bác trông đặc là một anh mu-gích!
Rưbin thong thả bỏ cái áo khoác:
– Vâng, bây giờ tôi lại trở thành người quê kệch; các anh, các anh đều ra vẻ “ông này ông kia”, còn tôi, tôi đi thụt lùi… thế đấy!
Bác sửa lại chiếc áo choàng bằng vải chéo go, bước vào phòng, đưa mắt nhìn quanh:
– À! Bàn ghế vẫn như cũ, không thấy có thêm cái gì, trừ sách. Thế nào, công việc ra sao?
Rưbin ngồi xuống, dạng hai chân ra, chống hai bàn tay lên gối, chăm chú nhìn Paven với đôi mắt đen tọc mạch, mỉm cười hồn hậu, đợi anh trả lời.
Paven nói:
– Công việc cũng khá!
Rưbin bông đùa:
– Chúng tôi cày, rồi chúng tôi gieo, tất nhiên chúng tôi sẽ được gặt… chúng tôi sẽ nấu rượu và rồi sẽ đánh một giấc ngon lành, có phải thế không?
Paven đến ngồi trước mặt Rưbin hỏi:
– Còn bác ra sao, bác Mikhain?
– Không đến nỗi nào. Cũng khá. Tôi đã đến ở Êghinđiêvô; anh biết Êghinđiêvô chứ? Một thị trấn rất đẹp. Một năm có hai lần chợ phiên, có trên hai nghìn người dân, người thì chẳng ra gì! Họ phải đi thuê ruộng đất, nhưng đất xấu tệ. Tôi vào làm công cho một đứa trong bọn đỉa hút máu người; ở đấy chúng đông như ruồi bâu xác chết vậy. Chúng tôi đốt than lấy hắc ín. Công xá bằng một phần tư ở đây, mà phải nai lưng ra làm gấp đôi, thế đấy! Trừ tôi ra, có bảy thanh niên người trong vùng đều biết đọc hết. Có một gà tên là Êphim, trời! Thật là một anh chàng say đọc!
Paven náo nức hỏi:
– Thế bác có nói chuyện với họ không?
– Tôi chả chịu nín. Tôi có mang theo tất cả tài liệu của các anh ở đây, ba mươi tư thứ. Nhưng tôi thích dùng quyển Kinh Thánh của tôi hơn, trong đó có thể tìm thấy tất cả những điều mình muốn, một quyển sách dày do Giáo hội in ra, một quyển sách được phép lưu hành, người ta có thể tin được!
Anh nháy mắt nhìn Paven, rồi mỉm cười:
– Nhưng chẳng có nhiều đâu. Tôi đến đây kiếm thêm sách đấy. Chúng tôi đi hai người, cậu Êphim đó và tôi… Chúng tôi chở hắc ín, nhân tiện ghé qua thăm anh. Anh cho tôi một ít tài liệu, không cần cho Êphim biết nhiều chuyện làm gì…
Bà mẹ nhìn Rưbin. Khi bác cởi áo, bà tưởng chừng bác ta cũng trút bỏ thêm một vật gì nữa. Bác không còn vẻ nghiêm trang như xưa và cái nhìn của bác trở nên tinh quái hơn trước, ít cởi mở hơn trước.
Paven nói:
– Mẹ ạ, mẹ đi lấy hộ chúng con mấy quyển sách. Mẹ cứ bảo sách đưa về nông thôn, anh em khắc biết là sách gì…
Bà mẹ trả lời:
– Ừ! Ấm nước sôi rồi mẹ đi ngay.
Rưbin vừa cười vừa hỏi:
– Thế bà Pêlagâya, bà cũng làm những việc đó à? Tốt! Ở làng chúng tôi có nhiều người thích đọc sách đấy: ông giáo trong làng cũng là người nghiện sách; mặc dầu ông ấy được nuôi dạy ở chủng viện, người làng vẫn cho ông ta là một thanh niên hiền lành đứng đắn. Cách làng độ bảy tám cây số, cũng có một cô giáo, nhưng họ không muốn đọc sách cấm; họ thuộc về cái giới ăn lương nhà nước, nên họ sợ… Tôi cần có một quyển, vào sách loại cấm ấy, một quyển thật là kịch liệt, để tôi tuồn cho họ đọc… Nếu bọn cảnh sát hay viên giáo sĩ biết đây là sách cấm, chúng sẽ cho các thầy giáo hoạt động tuyên truyền. Còn tôi, lúc này người ta không biết tôi, tôi sẽ không bị liên can gì vào đấy cả…
Đắc chí về ý định ranh mãnh đó của mình, Rưbin cười ngất để lộ cả hàm răng.
Bà mẹ nghĩ thầm: “Có thấy không! Tưởng anh này là con gấu, lại hóa ra con cáo…”
Paven hỏi:
– Thế bác cho là nếu chúng nghi các thầy giáo truyền bá sách cấm thì chúng sẽ bỏ tù họ chứ?
– Phải… Thế sao?
– Chính bác chuyền sách đi chứ có phải họ đâu! Bác đi tù mới phải chứ…
Rưbin cười, đập tay vào đầu gối kêu lên:
– Anh này lạ thật! Ai nghĩ được rằng một anh mu-gích quèn như tôi lại đi làm những việc ấy? Đời thuở nhà ai thấy có chuyện đó bao giờ? Sách vở là chuyện của các ông này ông nọ, chính các ông ấy mới phải chịu trách nhiệm về chuyện sách vở…
Bà mẹ có cảm giác Paven không hiểu ý của Rưbin. Paven nhíu mày, vẻ tức giận. Bà xen vào, giọng dịu dàng hòa giải:
– Bác Mikhain Ivanôvich muốn làm những việc ấy lắm, nhưng người khác sẽ chịu tội thay cho bác ấy…
Rưbin vuốt râu đồng ý:
– Thế đấy! trong lúc này như thế đã.
Paven xẵng giọng trả lời:
– Mẹ ạ, nếu một trong hai đứa chúng con, Anđrây chẳng hạn, đội tên con để làm một việc gì đó, rồi con bị bắt bỏ tù thì mẹ nghĩ sao?
Bà mẹ giật mình, tưng hửng nhìn con, rồi lắc đầu trả lời:
– Ai lại làm như thế với một đồng chí?
Rưbin nói giọng lè nhè:
– A! Paven, tôi đã hiểu ý anh.
Và nháy mắt một cách ranh mãnh nói với bà mẹ:
– Bà ạ, việc này tế nhị lắm đấy!
Rồi quay về phía Paven, Rưbin trịnh trọng:
– Anh còn ngây thơ lắm, anh bạn ạ! Trong công tác bí mật, không có vấn đề danh dự. Hãy lý luận một chút xem: Một là, chúng lục soát trong nhà ai thấy có sách liền bắt bỏ tù người này trước hết chứ không phải mấy thầy giáo, thế là một. Hai là, trong những sách chúng cho lưu hành cũng có những vấn đề giống như trong các sách cấm, chỉ khác ở danh từ và sự thật nêu lên cũng ít hơn, thế là hai. Thế nghĩa là họ cũng muốn đạt đến mục đích như tôi, chỉ khác điều là để đạt tới mục đích đó, họ đi quanh co, còn tôi, tôi đi thẳng, theo một con đường lớn; đối với các nhà chức trách, hai bên phải có tội như nhau, có đúng không nào? Ba là, tôi không dính líu gì với họ cả, người đi bộ không thể làm bạn đồng hành của người cưỡi ngựa. Đối với một nông dân, có thể là không bao giờ tôi lại đi làm như thế. Nhưng một người, là con trai lão giáo sĩ, một người thì là con gái một tên đại địa chủ, tôi không biết họ vận động nhân dân nổi dậy để làm gì? Tôi, một người mu-gích, tôi không hiểu được tư tưởng của những người trí thức. Việc gì chính tay tôi làm, tôi biết, nhưng họ muốn cái gì thì tôi không muốn biết. Hàng nghìn năm nay, bọn to đầu đã làm quá ư thành thạo cái nghề chúa đất, róc xương hút tủy nông dân; giờ đây, đùng một cái… họ tỉnh dậy, họ làm cái việc mở mắt cho anh mu-gích. Tôi ấy à, anh bạn ạ, tôi không tin chuyện thần tiên, mà cái này quá là giống chuyện thần tiên. Các ông lớn ấy, dù là thuộc về loại nào, họ cũng vẫn cách xa tôi quá. Mùa đông, nếu tôi đi trên cánh đồng và nếu trước mặt tôi có một vật gì động đậy thì đó là cái gì? Một con sói, một con cáo, hay chỉ là một con chó thôi, tôi không thể trông thấy được! Xa quá!
Bà mẹ đưa mắt nhìn con, Paven có vẻ không vui.
Hai mắt Rưbin hực lên một ánh sầm tối. Bác nhìn Paven vẻ đắc chí và đưa tay vuốt mạnh hàm râu.
– Tôi không có thời giờ để vuốt ve mơn trớn. Cuộc đời không phải là trò đùa… Trong một cái cũi chó, không phải như trong một cái chuồng cừu, ở đấy mỗi bầy chó sủa một cách…
Bà mẹ bỗng nghĩ đến những bộ mặt thân thuộc, nói:
– Có những “ông lớn” hy sinh vì nhân dân và suốt đời chịu cực khổ trong các nhà tù đấy.
– Đối với những người đó lại là chuyện khác. Khi người mu-gích trở nên giàu có thì anh ta đi lại gần gũi với chúa đất; chúa đất đến lúc nghèo đi, lại đến cầu cạnh anh mu-gích. Túi tiền mà rỗng thì tâm hồn bắt buộc phải trong sạch. Paven, anh nhớ chứ, trước đây anh có giảng cho tôi rằng người ta sống thế nào suy nghĩ thế ấy, rằng nếu công nhân nói “có” thì chủ nói “không”, công nhân nói “không” thì lão chủ với bản chất của hắn nhất định phải la lên là “có”! Thế thì người mu-gích và thằng chúa đất, bản chất hai bên không giống nhau. Khi người mu-gích được ăn uống thỏa thích thì thằng chúa đất ban đêm không chợp được mắt. Tất nhiên, mỗi tầng lớp xã hội đều có một bọn người hèn mạt, cho nên không phải là tôi bênh vực tất cả những người mu-gích…
Bác đứng dậy, người đen đủi, vạm vỡ. Mặt bác sa sầm, bộ râu rung rung, tưởng chừng hai hàm răng trắng đập vào nhau. Bác hạ giọng nói tiếp:
– Trong năm năm, tôi đã lang thang từ nhà máy này đến nhà máy khác, nên tôi đã quên mất nông thôn, thế đấy! Rồi tôi trở về, nhìn thấy những cảnh xảy ra ở nông thôn, tôi tự nhủ: ta không thể sống như thế được! Ở đây, các anh không trông thấy những cảnh nhục nhã như thế bao giờ. Nhưng ở nông thôn, nạn đói cứ đuổi theo con người như một cái bóng, không còn mong có đủ bánh mì ăn nữa! Cái đói đã tàn phá tâm hồn, đã làm cho con người không còn ra con người nữa; không phải là người ta đang sống mà là người ta đang chết lần chết hồi trong cảnh nghèo đói không thể tưởng tượng được… Thế mà chung quanh, bọn cầm quyền canh phòng cẩn mật như một bầy quạ, chúng rình mò để xem thử anh có thừa được miếng nào không… Nếu chúng thấy anh thừa miếng nào, lập tức chúng cướp lấy, chúng còn đánh cho vỡ cả mồm ra nữa là khác…
Rưbin đưa mắt nhìn quanh, chống tay lên bàn cúi về phía Paven:
– Thậm chí tôi đã muốn lộn mửa khi nhìn lại tận mắt cảnh sống đó. Tôi nghĩ là không thể nào tôi chịu được! Nhưng rồi tôi trấn tĩnh lại ngay; tôi tự nhủ: không, không nên làm như trẻ con, phải, tôi sẽ ở lại đây! Tôi sẽ không mang lại cho họ bánh mì, nhưng tôi sẽ làm cho tan hoang, phải, tôi sẽ làm! Tôi căm thù những đứa làm hại người khác. Sự nhục nhã đâm vào tim tôi như một con dao và tim tôi bị lay chuyển.
Trán bác toát mồ hôi; bác từ từ tiến đến gần Paven, đặt bàn tay run run lên vai anh:
– Anh hãy giúp đỡ tôi! Hãy cho tôi những quyển sách mà đọc xong, người ta không thể nào bình thản ngồi yên được nữa. Phải nhốt một con nhím vào trong óc mỗi người để nó đâm, nó chích thật đau mới được. Anh hãy bảo những người của anh ở thành phố đang viết những gì đó cho các anh rằng họ phải viết cả cho bà con ở nông thôn nữa. Họ phải làm cho chúng tôi một thứ nước chấm thật cay làm nháo cả xóm làng lên, giúp những người mu-gích chúng tôi vùng dậy chiến đấu chết thôi!
Bác giơ tay lên, rồi nói tiếp, giọng ồ ồ, dằn từng tiếng:
– Lấy cái chết chữa cái chết, thế đấy! Nghĩa là phải chết để cho thế giới sống lại. Hàng nghìn người hãy chết để cho hàng triệu người được sống lại trên toàn trái đất này! Thế đấy. Chết là việc dễ thôi… Miễn là loài người được sống lại, miễn là họ vùng dậy được!
Bà mẹ mang ấm nước chè lên liếc mắt nhìn Rưbin. Những lời nói tàn nhẫn dữ dội của Rưbin làm cho bà khổ tâm. Ở con người ấy có một cái gì khiến bà nhớ đến chồng. Chồng bà xưa kia cũng có cái lối nhếch mép như thế, cũng có cái lối xắn tay áo, giơ tay như thế, cũng luôn luôn tức giận nóng nẩy như thế. Nhưng ông ta lầm lì, im lặng, còn Rưbin, thì nói liên miên và có vẻ ít dữ tợn hơn.
Paven gật gật đầu, nói:
– Đúng, cần làm như thế. Bác cho biết những sự việc, chúng tôi sẽ in một tờ báo cho các bác…
Bà mẹ nhìn con mỉm cười. Đoạn, bà im lặng mặc áo rồi đi ra.
Rưbin nói oang oang:
– Anh làm đi! Chúng tôi sẽ giúp các anh tất cả những cái cần thiết. Đừng viết rắc rối quá, viết sao cho đến mấy con bê cũng có thể hiểu được nhé!
Cánh cửa bếp mở. Có người đi vào.
Rưbin bước xuống bếp xem rồi nói:
– Êphim đấy! Vào đây! Êphim!… Đây là Paven, là người tôi đã nói chuyện với cậu.
Một người trai trẻ, vạm vỡ, mặt to, tóc hung hung đỏ, mắt xám, mặc một chiếc áo ngắn bằng lông cừu, tay cầm mũ cát-két, đứng trước mặt Paven và nhìn trộm anh.
– Chào anh!
Êphim nói giọng khàn khàn; anh bắt tay Paven rồi vuốt bộ tóc cứng của mình. Anh đưa mắt nhìn quanh căn phòng rồi đi từ từ đến giá để sách, bước đi như rón rén.
Rưbin nháy mắt nhìn Paven, nói:
– Cậu ấy trông thấy sách rồi đấy!
Êphim quay lại nhìn Rưbin rồi vừa xem giá sách, vừa nói:
– Các anh có nhiều sách quá! Chắc không có thì giờ mà đọc. Ở nông thôn chúng tôi, có nhiều thì giờ đọc sách hơn…
Paven hỏi:
– Nhưng lại ít muốn đọc?
Người thanh niên xoa cằm đáp:
– Sao lại ít muốn đọc? Trái lại. Hiện nay mọi người đã bắt đầu động đậy cái óc rồi đấy! “Địa chất học”, nghĩa là gì?
Paven giảng cho Êphim.
Êphim đặt quyển sách lại chỗ cũ, nói:
– Chúng tôi không cần đến thứ sách này!
– Đối với người mu-gích, điều họ muốn biết không phải là đất do đâu mà có, họ chỉ cần biết đất đã được phân phối như thế nào, bọn giàu sang quyền quý đã cướp đất của nhân dân như thế nào. Quả đất quay tròn hay đứng im, điều đó không quan trọng; anh có thể mắc nó vào một sợi dây, miễn nó cho ta cái gì ăn, miễn nó nuôi được ta!…
Êphim đọc: “Lịch sử chế độ nô lệ”, rồi hỏi:
– Có phải trong đó người ta nói về chúng tôi không?
Paven đưa một quyển sách khác cho Êphim, bảo:
– Đây là một quyển sách nói về chế độ nông nô.
Êphim cầm lấy, lật qua lật lại trong bàn tay, đặt quyển sách xuống giá rồi thản nhiên nói:
– Đó là chuyện quá khứ!
– Các anh có được cấp đất không?
– Chúng tôi ấy à? Có. Chúng tôi ba anh em, được bốn héc-ta, nhưng là đất cát, dùng để đánh đồ đồng thì tốt chứ trồng lúa thì chẳng ăn thua gì!…
Sau một lát im lặng, anh nói tiếp:
– Tôi đã bỏ ruộng đất; ruộng đất để mà làm gì? Nó chẳng nuôi sống được ai, chỉ tổ bó chân bó tay người ta thôi. Tôi đi làm thuê đã bốn năm nay. Đến mùa thu tôi ra lính. Bác Mikhain bảo tôi: Mày đừng đi! Bây giờ chúng sai lính đi đánh lại nhân dân đấy. Nhưng tôi vẫn cứ muốn đi. Vào thời Xtêpan Radin, vào thời Pugatsôp[1] binh lính cũng bị bắt đi đánh lại nhân dân như thế. Nay đã đến lúc phải chấm dứt tình trạng ấy. Anh nghĩ sao?
Êphim hỏi, nhìn Paven chằm chằm. Paven mỉm cười, trả lời:
– Phải, đã đến lúc! Nhưng…, khó lắm! Phải biết những điều cần nói với binh lính, và nói như thế nào…
Êphim bảo:
– Họ rồi khắc biết.
Paven tò mò nhìn Êphim rồi kết luận:
– Nếu chúng bắt được anh, anh sẽ bị bắn!
Người thanh niên bình tĩnh gật đầu:
– Vâng, chúng sẽ không tha chúng tôi đâu. Đoạn anh tiếp tục xem sách.
Rưbin bảo:
– Êphim, cậu uống nước chè đi, nhanh lên còn đi!
– Xong ngay đây!… “Cách mạng”…nghĩa là nổi loạn phải không?
Anđrây về, mặt đỏ bừng, vẻ tức giận, cau có. Anh bắt tay Êphim không nói không rằng, ngồi xuống cạnh Rưbin, và sau khi chăm chú nhìn Rưbin, anh phá lên cười.
Rưbin đập tay vào gối Anđrây:
– Tại sao anh có vẻ không vui?
Anđrây trả lời:
– Tự nhiên thế thôi!
Êphim hất hàm chỉ Anđrây hỏi:
– Anh cũng là công nhân à?
Anđrây nói:
– Phải! Thế sao?
Rưbin giải thích:
– Đây là lần đầu tiên cậu ta trông thấy những người công nhân nhà máy. Cậu ta bảo đó là hạng người riêng biệt.
Paven hỏi:
– Riêng biệt về cái gì?
Êphim chăm chú nhìn Anđrây nói:
– Các anh là những người xương nhọn, xương anh mu-gích thì tròn trặn hơn…
Rưbin nói thêm:
– Người mu-gích thì hai chân vững chắc hơn! Họ thấy có đất dưới chân mình, mặc dù đất không phải là của họ, họ cảm thấy, họ biết đấy là đất. Những người công nhân nhà máy thì như con chim: không có tổ quốc, không có nhà, nay đây mai đó. Có vợ, vợ cũng không buộc chặt anh ta vào một chỗ được. Chỉ một cuộc xích mích với vợ, thế là… xin chào cô ả, anh ta cho cô ả một trận đòn! Rồi anh ta bỏ đi tìm món bở hơn ở nơi khác. Trái lại, chàng mu-gích thì chỉ muốn làm ăn yên ổn ở nhà mình, không muốn đi đâu một bước… A, bà mẹ đã về kia rồi!
Êphim đến gần Paven, hỏi:
– Anh có thể cho tôi một quyển sách được không?
Paven trả lời:
– Rất vui lòng!
Đôi mắt người thanh niên lóe lên một tia sáng háo hức, nói hăm hở:
– Tôi sẽ trả lại anh! Người của chúng tôi chở hắc ín thường đi qua cũng gần đây thôi, anh em sẽ cầm sách lại trả anh.
Rưbin đã mặc chiếc áo khoác, nịt chặt thắt lưng.
– Đến giờ rồi, thôi ta đi đi!
Êphim chỉ vào những quyển sách, miệng nở một nụ cười rộng, thốt lên:
– Thế là tôi đã có sách đọc!
Họ đi khỏi, Paven lớn tiếng bảo Anđrây:
– Cậu đã thấy mấy tay quỷ sứ ấy rồi chứ?…
Anđrây chậm rãi nói:
– Đã… đã. Họ như những bóng mây…
Bà mẹ ngắt lời:
– Con muốn nói bác Rưbin phải không? Bác ấy đã lại trở thành một anh mu-gích hoàn toàn, như thể là trước đây bác ấy chưa hề làm việc ở nhà máy bao giờ cả! Sao mà bác ta dữ tợn thế!
Anđrây ngồi cạnh bàn, nét mặt sa sầm, ngắm nhìn cốc nước chè của mình. Paven bảo Anđrây:
– Tiếc rằng lúc nãy không có cậu. Cậu thường hay nói đến lòng… thì đây là một dịp cho cậu thấy sự diễn biến của một lòng người!… Rưbin đã phơi bày ra tư tưởng mập mờ… đến nỗi tôi sửng sốt ngạt cả người!… Thậm chí không làm sao trả lời được cho bác ấy. Bác ấy tỏ ra không tin người, và cũng không quý người! Mẹ nói đúng, con người ấy mang trong mình một sức mạnh kinh khủng!…
Anđrây vẫn giữ vẻ mặt sa sầm nói:
– Tôi đã thấy rõ! Quần chúng đã bị đầu độc! Khi quần chúng nổi dậy… họ sẽ đạp đổ hết mọi chướng ngại! Họ cần có ruộng đất, ruộng đất thật sự… và họ sẽ vứt bỏ tất cả những cái gì che phủ lên trên!
Anh nói chậm rãi và trong khi nói, người ta thấy anh nghĩ đến chuyện khác. Bà mẹ gượng nhẹ nói:
– Anđrây con thân yêu! Con phải vui lên!
– Hãy khoan, hãy khoan, mẹ ạ!
Anh bỗng hăng lên, đập tay trên bàn nói tiếp:
– Đúng đấy, Paven ạ, nếu như người nông dân vùng dậy, thì họ sẽ hủy hết tất cả các thứ cỏ dại! Cũng như sau nạn dịch hạch, họ sẽ đốt trụi, làm tiêu tan trong đám tro tàn mọi dấu vết của nỗi tủi nhục của họ…
Paven nhẹ nhàng nói tiếp:
– Và sau đó, họ sẽ cản đường chúng ta đi!
– Nhiệm vụ chúng ta là không để cho họ đi làm như thế. Paven ạ, nhiệm vụ chúng ta là ngăn họ! Chính ta là những người gần gũi họ nhất… họ sẽ tin chúng ta, họ sẽ theo chúng ta!
– Cậu có biết Rưbin đề nghị ta ra một tờ báo cho nông thôn không!
– Cần đấy!
Paven vừa cười vừa nói:
– Mình thật xấu hổ vì đã không tranh luận với bác ta!
Anđrây thản nhiên nhận xét:
– Rồi chúng ta sẽ còn có dịp! Cậu hãy thổi sáo lên: những ai chân không bị buộc chặt vào ruộng đất sẽ tha hồ nhảy múa theo điệu nhạc của cậu! Bác Rưbin nói đúng: chúng ta không cảm thấy có ruộng đất dưới chân chúng ta, và chúng ta cũng không nên cảm thấy như thế, vì chính chúng ta là những người có nhiệm vụ làm cho ruộng đất phải chuyển động. Chúng ta sẽ lay chuyển nó một lần: quần chúng sẽ vùng lên, rồi chúng ta sẽ lay chuyển lần thứ hai, quần chúng lại sẽ vùng lên mạnh hơn nữa!
Bà mẹ mỉm cười:
– Anđrây ạ, đối với con, cái gì cũng đơn giản!
Anh nói:
– Vâng! Đúng đấy! Đơn giản lắm! Như cuộc đời vậy!
Một lát sau, anh nói tiếp:
– Mình muốn đi chơi một tí trên cánh đồng…
Bà mẹ hỏi:
– Đi chơi sau khi tắm à? Gió to lạnh lắm đấy, con ạ!
– Chính con đang cần như vậy!
Paven dịu dàng nói:
– Cậu coi chừng bị cảm đấy! Ngủ đi là hơn.
– Không, mình muốn đi ra ngoài một tí!
Anđrây mặc quần áo rồi lặng lẽ đi ra…
Bà mẹ thở dài, nói:
– Anh ấy có chuyện gì buồn ấy!
Paven bảo mẹ:
– Mẹ biết không, sau câu chuyện bữa trước, mẹ gọi anh ấy bằng con, như thế thật là phải lắm.
Bà mẹ nhìn Paven ngạc nhiên:
– Thế mà mẹ không để ý đấy! Anđrây đối với mẹ bây giờ cũng thật là thân tình… và mẹ cũng không biết nói thế nào với con nữa!
Paven nói khẽ:
– Mẹ tốt lắm mẹ ạ!
– Giá mẹ giúp đỡ được con đôi chút, giúp đỡ tất cả các con nữa! Giá mẹ được biết rõ!…
– Mẹ đừng sợ… Rồi mẹ sẽ biết!…
Bà bỗng cười dịu dàng:
– Nhưng chính điều mẹ không biết lại là: đừng sợ!
– Mẹ ạ, thôi đừng nói chuyện đó nữa! Mẹ chỉ cần biết… rằng con hết sức, hết sức biết ơn mẹ!
Bà đi xuống bếp để cho Paven khỏi phải bối rối trước những giọt nước mắt của bà.
Mãi khuya Anđrây mới trở về nhà. Người mỏi mệt, anh đi nằm ngay và nói:
– Có lẽ mình đã đi ít ra đến mười cây số…
Paven hỏi:
– Đi như thế cậu có thấy dễ chịu không?
– Mình đi ngủ đây, đừng quấy rầy mình đấy!
Anh im lặng, ngủ thiếp ngay.
Một lát sau, Vêxôpsikôp đến, quần áo rách rưới, lấm láp và vẫn có vẻ bực tức như mọi lần.
Anh đi lại khệnh khạng trong phòng, và hỏi:
– Cậu có nghe nói ai giết thằng chó chết Ixay đó không?
Paven trả lời cộc lốc:
– Không!
– Thì ra cũng có người không ghê tởm cái công việc đó! Chính tôi đây vẫn sắp sẵn để bóp cổ nó. Đó là việc của tôi, - một việc hợp với tôi nhất!
Paven nói giọng thân mật:
– Nikôlai, cậu đừng nói như thế nữa.
Bà mẹ cũng âu yếm chen vào:
– Đúng đấy! Anh tốt bụng, nhưng anh lại cứ gầm thét luôn mồm! Tại sao thế?
Lúc này bà nhìn Nikôlai thấy vui trong lòng, cả khuôn mặt rỗ của anh đối với bà cũng đẹp ra.
Nikôlai nhún vai, nói:
– Tôi chẳng làm nên trò trống gì đâu, tôi chỉ làm được những việc như thế thôi! Tôi suy nghĩ, suy nghĩ mãi, chỗ đứng của mình là ở đâu? Tôi chẳng thấy ở đâu cả! Phải nói chuyện với mọi người, nhưng tôi không biết nói! Tôi thấy hết tất cả những mối đau khổ của con người, tôi cảm thấy tất cả, nhưng nói ra thì tôi không nói được! Tâm hồn tôi là một tâm hồn câm lặng.
Anh lại gần Paven, cúi đầu xuống, lấy ngón tay gãi gãi trên bàn, rồi nói giọng rền rĩ như một đứa trẻ, không giống giọng nói của anh xưa nay chút nào:
– Các cậu ơi, hãy cho mình một việc gì khó nhọc để mình làm đi, bất cứ việc gì! Mình không thể sống mà không làm gì cả như thế này được! Các cậu đều ở trong phong trào. Mình thấy rõ là phong trào đang lên mạnh, thế mà mình… mình vẫn đứng ngoài! Mình chở xà, xe gỗ tấm. Không thể sống vì những công việc như thế được. Hãy giao cho mình một công việc thật khó vào!
Paven nắm lấy bàn tay Nikôlai, kéo anh ta về phía mình:
– Rồi anh em sẽ giao công tác cho cậu!…
Nhưng sau bức vách đã vang lên tiếng nói của Anđrây:
– Nikôlai, mình sẽ dạy cho cậu biết chữ in, rồi cậu sẽ là một công nhân sắp chữ của chúng mình… Đồng ý không?
Vêxôpsikôp lại gần bức vách:
– Cậu mà dạy mình thì mình sẽ biếu cậu một con dao…
– Thôi cậu hãy bước đi với con dao của cậu!
Anđrây nói to rồi phá lên cười.
Nikôlai nằn nì:
– Một con dao thật tốt!
Paven cũng cười. Vêxôpsikôp dừng lại, hỏi:
– Các cậu cười mình đấy à?
Anđrây từ trên giường nhảy xuống, trả lời:
– Đích rồi, chứ còn cười ai nữa! Này, các cậu, hay là ta ra đồng đi dạo chơi! Sáng trăng đẹp lắm! Đi chứ?
Paven nói:
– Thôi đi!
Nikôlai bảo:
– Mình cũng đi với, Anđrây ạ. Những lúc cậu cười, mình mến cậu lắm…
– Còn mình… thì mình mến cậu khi cậu hứa hẹn tặng quà!
Trong khi Anđrây mặc quần áo dưới bếp, bà mẹ bảo anh, giọng mắng mỏ:
– Mặc thật ấm vào con ạ…
Khi ba anh em đã ra khỏi nhà, bà đứng ở cửa sổ nhìn theo rồi lại đưa mắt nhìn lên ảnh các thánh, lầm rầm:
– Lạy Chúa…, phù hộ cho các con tôi!…
❀ ❀ ❀
[1] Tên hai thủ lĩnh các phong trào khởi nghĩa nông dân Nga hồi thế kỷ XVII, XVIII.