Những Năm Tháng Gian Khó

Lượt đọc: 397 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14

❊ ❊ ❊

Ông Street rất bận rộn với các công việc liên quan đến đường dây điện báo—và xét thấy ông phải trải qua tám hoặc chín trăm dặm đường núi hiểm trở, phủ đầy tuyết, hoang vắng, cùng những sa mạc cằn cỗi, không có nước, không có cây cối và đầy ảm đạm để kéo dây, việc ông bận rộn hết mức có thể là điều tự nhiên và cần thiết. Ông cũng không thể thong thả đi dọc đường để đốn cột điện, mà chúng phải được những đội xe bò kéo qua những sa mạc khắc nghiệt ấy—và có những nơi phải mất hai ngày đường từ nguồn nước này đến nguồn nước khác. Hợp đồng của ông Street là một công trình vô cùng đồ sộ xét theo mọi khía cạnh; thế nhưng để thấu hiểu ý nghĩa của những từ ngữ mơ hồ “tám trăm dặm núi non hiểm trở và sa mạc ảm đạm,” người ta phải tận mắt đi qua vùng đất ấy—những miêu tả bằng mực bút không thể truyền tải hết thực tế ảm đạm đó cho độc giả. Rốt cuộc, khó khăn lớn nhất của ông S. lại là điều mà ông chưa từng tính đến. Ông đã khoán lại phần việc khó khăn và nặng nhọc nhất trong công trình vĩ đại của mình cho những người theo đạo Mormon, rồi bất thung lình họ cho rằng mình sẽ chẳng kiếm chác được gì hoặc chẳng đáng là bao, nên họ thản nhiên vứt bỏ cột điện dọc theo núi non hay sa mạc tùy theo hứng, rồi đánh xe về nhà và quay lại công việc thường ngày của họ!

Họ đã ký hợp đồng bằng văn bản với ông Street, nhưng họ chẳng bận tâm điều đó. Họ bảo rằng họ rất muốn “chiêm ngưỡng” cảnh một kẻ “Ngoại đạo” ép một tín đồ Mormon phải thực hiện một bản hợp đồng thua lỗ ở Utah! Và họ cười đùa rất khoái chí về chuyện này. Ông Street kể—vì chính ông là người đã kể cho chúng tôi nghe những chuyện này:

“Tôi hoàn toàn hoảng hốt. Tôi đang vướng vào những khoản bảo lãnh lớn phải hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn, và thảm họa này trông chẳng khác nào sự sụp đổ. Đó là một điều kinh ngạc; đó là một khó khăn hoàn toàn nằm ngoài dự tính khiến tôi lâm vào cảnh cạn kiệt sách lược. Tôi là một thương gia—từ trước đến nay vẫn luôn là một thương gia—chẳng biết gì ngoài kinh doanh—và nhờ thế các anh có thể hình dung cảm giác thấy mình rơi vào một đất nước mà những hợp đồng bằng văn bản trở nên vô giá trị giống như bị sét đánh ngang tai như thế nào!—cái chỗ dựa chính yếu ấy, cái mỏ neo vững chắc ấy, cái nhu cầu tuyệt đối ấy của việc kinh doanh. Niềm tin của tôi đã bay biến. Làm hợp đồng mới cũng chẳng ích gì—điều đó rõ như ban ngày. Tôi lần lượt trò chuyện với vị nhân sĩ nổi bật này đến vị khác. Tất cả bọn họ đều tỏ ra hết lòng đồng cảm với tôi, nhưng họ chẳng biết phải giúp tôi thế nào. Thế nhưng cuối cùng, một người Ngoại đạo đã bảo: ‘Hãy đến gặp Brigham Young!—mấy kẻ tiểu tốt này chẳng giúp gì được cho anh đâu.’ Tôi không mặn mà gì với ý tưởng đó, vì nếu luật pháp không giúp được tôi, thì một cá nhân chẳng có lấy chút liên quan nào đến việc lập ra hay thi hành luật pháp có thể làm được gì? Ông ta có thể là một vị tộc trưởng xuất sắc của một giáo hội và là một nhà thuyết giáo trong đền thờ của họ, nhưng cần phải có thứ gì đó cứng rắn hơn tôn giáo và sự thuyết phục đạo đức mới giải quyết nổi hàng trăm nhà thầu phụ cứng đầu, nửa văn minh. Nhưng một người biết phải làm sao? Tôi nghĩ rằng nếu ông Young không làm được gì khác, thì có lẽ ông ấy cũng có thể cho tôi vài lời khuyên cùng một vài gợi ý quý báu, thế nên tôi đi thẳng đến gặp ông ấy và bày tỏ toàn bộ sự việc. Ông ấy nói rất ít, nhưng vẫn luôn tỏ ra hết sức quan tâm từ đầu đến cuối. Ông xem xét từng chi tiết tất cả các giấy tờ, và bất cứ khi nào có vẻ vướng mắc, dù là trong giấy tờ hay lời trình bày của tôi, ông đều quay lại nắm lấy đầu mối và kiên nhẫn lần theo nó cho đến khi đạt được kết quả minh bạch và thỏa đáng. Sau đó, ông lập một danh sách tên các nhà thầu. Cuối cùng, ông nói:

“‘Ông Street, mọi chuyện hoàn toàn rõ ràng. Các hợp đồng này được soạn thảo một cách chặt chẽ, hợp pháp, có chữ ký và chứng thực đầy đủ. Rõ ràng những người này đã tự nguyện dấn thân khi mắt vẫn mở thao láo. Tôi không thấy có lỗi hay sơ hở nào ở đây cả.’”

“Rồi ông Young quay sang một người đang đợi ở đầu kia căn phòng và bảo: ‘Mang danh sách tên này đến gặp X, và bảo hắn đưa những người này có mặt ở đây vào giờ này giờ khác.’”

“Họ đã có mặt đúng từng phút. Tôi cũng vậy. Ông Young đặt cho họ hàng loạt câu hỏi, và câu trả lời của họ đã xác nhận lời trình bày của tôi là đúng sự thật. Sau đó, ông bảo họ:

“‘Các anh đã ký những hợp đồng này và gánh vác những nghĩa vụ này hoàn toàn theo ý muốn và sự tự nguyện của mình phải không?’”

“‘Vâng.’”

“‘Vậy thì hãy thực hiện chúng đến từng chữ, cho dù chúng có biến các anh thành kẻ ăn mày đi chăng nữa! Biến đi!’

“Và họ đã biến thật đấy! Giờ đây họ đang rải rác khắp các sa mạc, làm việc chăm chỉ như ong thợ. Và tôi chẳng còn nghe thấy lời phàn nàn nào từ họ nữa.

“Có một đám thống đốc, thẩm phán cùng các quan chức khác ở đây được điều từ Washington sang, và họ duy trì lớp vỏ bọc của một hình thức chính phủ cộng hòa—nhưng sự thật hiển nhiên là Utah chính là một nền quân chủ chuyên chế và Brigham Young là vua!”

Ông Street là một người đàng hoàng, và tôi tin câu chuyện của ông. Tôi quen biết ông rất rõ trong suốt mấy năm sau đó ở San Francisco.

Thời gian chúng tôi lưu lại Salt Lake City chỉn vẹn có hai ngày, và vì thế chúng tôi không có thời gian để tiến hành những cuộc thăm dò thông thường về hoạt động của chế độ đa thê cũng như thu thập các số liệu và suy luận quen thuộc nhằm chuẩn bị thu hút sự chú ý của toàn quốc thêm một lần nữa đối với vấn đề này.

Tôi từng có ý định làm điều đó. Với sự tự đắc bồng bột của tuổi trẻ, tôi thấy bứt rứt muốn lao đầu vào và thực hiện một cuộc cải cách lớn tại đây—cho đến khi tôi nhìn thấy những người phụ nữ Mormon. Lúc đó lòng tôi chùng xuống. Trái tim tôi khôn ngoan hơn lý trí. Nó cảm thấy ấm áp trước những sinh linh tội nghiệp, vụng về và mang nét “xấu xí” đầy đáng thương ấy, và khi quay đi để giấu đi giọt nước mắt đầy cảm thông trong mắt mình, tôi tự nhủ: “Không—người đàn ông nào cưới một người trong số họ đã làm một việc bác ái theo tinh thần Cơ Đốc giáo, xứng đáng nhận được tràng pháo tay ân cần của nhân loại chứ không phải những lời chỉ trích gay gắt—và người đàn ông nào cưới sáu mươi người trong số họ đã thực hiện một nghĩa cử hào phóng cao cả đến mức các quốc gia phải ngả mũ cúi đầu trước sự hiện diện của ông và lặng lẽ tôn kính.”

[Phụ lục A và B xin dành cho sơ lược lịch sử người Mormon và vụ thảm sát Mountain Meadow nổi tiếng.]

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.