Lương của tôi được tăng lên bốn mươi đô-la một tuần. Nhưng tôi hiếm khi rút tiền. Tôi có vô số nguồn thu nhập khác, và hai tờ bạc vàng hai mươi đô-la béo bở thì thấm tháp gì đối với một kẻ có túi lúc nào cũng nhét đầy những đồng tiền như thế, lại thêm một lượng lớn những đồng nửa đô-la sáng loáng nặng trĩu bên mình? [Tiền giấy chưa bao giờ được sử dụng trên bờ biển Thái Bình Dương.] Nghề làm phóng viên kiếm được rất nhiều tiền, và bất kỳ ai trong thị trấn cũng hào phóng vung tiền và cả những “cổ phần” của họ. Thành phố và toàn bộ sườn núi lớn chi chít những giếng mỏ. Số mỏ còn nhiều hơn cả số thợ mỏ. Quả thực, chưa tới mười mỏ trong số đó khai thác được loại đá đáng đem tới máy nghiền, nhưng ai nấy đều lớn tiếng bảo rằng: “Cứ chờ cho đến khi cái giếng đào sâu tới được mạch đá chính vững chắc, rồi các vị sẽ thấy!” Thế là chẳng một ai nhụt chí. Hầu hết đây đều là những mỏ “mèo hoang” – hoàn toàn vô giá trị, nhưng lúc bấy giờ chẳng một ai tin điều đó. Các mỏ “Ophir”, “Gould & Curry”, “Mexican” cùng những mỏ lớn khác trên vỉa quặng Comstock ở Virginia và Gold Hill ngày ngày vẫn tuôn ra những đống đá giàu quặng lớn, và ai nấy đều đinh ninh rằng cái mỏ mèo hoang nhỏ bé của mình cũng tốt chẳng kém gì bất kỳ mỏ nào trên “vỉa chính”, và chắc chắn sẽ đáng giá một nghìn đô-la một thước khi họ “đào tới được mạch đá vững chắc”. Khốn khổ thay, anh chàng tội nghiệp ấy lại hoàn toàn mù quáng trước sự thật rằng anh ta sẽ chẳng bao giờ sống để thấy ngày đó. Thế là hàng nghìn cái giếng mỏ mèo hoang cứ ngày ngày đào sâu hơn, sâu hơn nữa vào lòng đất, và mọi người đều cuồng lên vì hy vọng và hạnh phúc. Họ lao động, họ tiên tri, họ hân hoan biết bao! Chắc chắn chưa từng có cảnh tượng nào giống như thế kể từ thuở hồng hoang. Mỗi một mỏ mèo hoang ấy – thực chất chẳng phải mỏ mủng gì, mà chỉ là những cái hố trên mặt đất khoét lên những mỏ quặng tưởng tượng – đều được hợp công ty và in ấn những tờ “cổ phiếu” được trang trí đẹp mắt, và cổ phiếu ấy cũng bán được tiền nữa chứ. Chúng được mua đi bán lại mỗi ngày trên sàn giao dịch với một sự sốt sắng đến phát cuồng. Bạn chỉ cần lên sườn núi, cào bới một chút rồi tìm thấy một mạch quặng (ở đây thứ đó không hề thiếu), dựng lên một tấm “biển báo” mang cái tên thật kêu, bắt đầu đào giếng, cho in cổ phiếu của mình ra, và chẳng cần bất cứ thứ gì chứng minh mỏ của bạn đáng nổi một xu, bạn vẫn có thể tung cổ phiếu lên thị trường và bán thu về hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn đô-la. Kiếm tiền, và kiếm tiền thật nhanh, dễ như ăn một bữa tối vậy.

Ai nấy đều sở hữu những “thước” cổ phần ở năm mươi mỏ mèo hoang khác nhau và đinh ninh rằng cơ đồ của mình đã vững chắc. Thử nghĩ đến một thành phố mà không tìm nổi một bóng người nghèo xem sao! Người ta cứ ngỡ rằng khi hết tháng này qua tháng khác trôi qua mà vẫn chẳng có lấy một mỏ mèo hoang nào (theo nghĩa chung, tôi gọi mỏ mèo hoang là bất kỳ mỏ nào không nằm trên mạch quặng gốc, tức là vỉa “Comstock”) khai thác được dù chỉ một tấn đá đáng đem đi nghiền, thì người ta sẽ phải bắt đầu tự hỏi liệu mình có đang đặt quá nhiều niềm tin vào sự giàu có trong tương lai hay không; thế nhưng chẳng hề có lấy một ý nghĩ như vậy xuất hiện trong đầu. Họ cứ thế cặm cụi đào bới, mua đi bán lại, và sống trong niềm vui sướng.
Những yêu sách khai mỏ mới được lập nên mỗi ngày, và có một thói quen thân thiện là người ta cứ chạy thẳng đến các tòa soạn báo, biếng cho phóng viên bốn mươi hoặc năm mươi “thước” cổ phần để đổi lấy việc họ đến tận nơi xem xét mỏ và cho đăng một bài thông cáo. Họ chẳng mảy quan tâm bạn nói gì về tài sản ấy, miễn là bạn có nói gì đó. Kết quả là chúng tôi thường thốt ra vài lời đại loại như các “dấu hiệu” rất khả quan, hoặc mạch đá “rộng sáu thước”, hoặc loại đá ấy “giống hệt Comstock” (và quả thực là có giống – nhưng nói chung là sự giống nhau ấy chẳng đủ sức làm bạn ngã quỵ). Nếu loại đá đó có chút hứa hẹn, chúng tôi sẽ làm theo phong tục địa phương, dùng toàn những tính từ đao to búa lớn và sùi bọt mép như thể một kỳ quan phát hiện bạc vừa mới xuất hiện vậy. Nếu đó là một mỏ đã được “khai phá” mà chẳng có lấy một gram quặng có giá trị để trưng ra (và tất nhiên là làm gì có), thì chúng tôi hết lời ca ngợi cái đường hầm; bảo rằng đó là một trong những đường hầm hấp dẫn nhất trần đời; cứ lải nhải rồi lại lải nhải mãi về cái đường hầm ấy cho đến khi chúng tôi cạn sạch cả sự ngất ngây – nhưng chẳng thèm đả động gì đến lớp đá. Chúng tôi sẵn sàng phung phí cả nửa cột báo để tán dương một cái giếng, hay một sợi cáp tời bằng sắt mới tinh, hoặc một cái tang cuốn bằng gỗ thông được bào nhẵn, hay một chiếc máy bơm hút đầy cuốn hút, rồi kết thúc bằng một tràng ca tụng “vị Giám đốc lịch thiệp và tài năng” của mỏ – thế nhưng tuyệt nhiên không hé môi nửa lời về quặng đá. Và những con người ấy lúc nào cũng hồ hởi, lúc nào cũng thỏa mãn. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại chắp vá và tô sơn lại uy tín của mình về sự tinh tường cũng như tính chính xác nghiêm ngặt, không mảy may sai lệch, bằng cách tung hê cho một cái mỏ cũ bỏ hoang nào đó một tràng pháo tay lẽ ra phải làm cho những khúc xương khô của nó cũng phải lách cách chuyển động – và thế là thế lực nào đó sẽ chớp lấy rồi bán tống bán tháo nó dựa trên chút danh hão nhoáng vừa được ban phát ấy.
Chẳng có thứ gì mang hình hài của một nhượng quyền khai mỏ mà lại không bán được cả. Chúng tôi nhận được quà biếu là những “thước” cổ phần mỗi ngày. Nếu cần khoảng một trăm đô-la, chúng tôi bán đi một ít; nếu không, chúng tôi cứ cất đi, đinh ninh rằng cuối cùng nó cũng sẽ đáng giá một nghìn đô-la một thước. Tôi có một cái hòm chứa đầy khoảng một nửa số cổ phiếu như thế. Khi một mỏ nào đó gây xôn xao trên thị trường và vọt lên mức giá cao ngất ngưởng, tôi liền lục lọi đống cổ phiếu của mình để xem có giữ chút nào của mỏ đó không – và hầu như lần nào cũng tìm thấy.
Giá cả cứ liên tục trồi sụt; thế nhưng một đợt sụt giá cũng chẳng làm chúng tôi bận lòng là bao, bởi vì một nghìn đô-la một thước mới là cái đích của chúng tôi, thế nên chúng tôi sẵn sàng để mặc nó dao động thỏa thích cho đến khi chạm tới con số đó. Đống cổ phiếu của tôi không phải toàn do những kẻ muốn mỏ của họ được “để mắt tới” biếu không. Ít nhất là một nửa trong số đó được trao tận tay tôi bởi những người chẳng hề nghĩ ngợi gì đến điều đó, và chẳng trông mong gì hơn ngoài một lời “cảm ơn” đơn giản bằng miệng; mà theo luật thì bạn thậm chí chẳng bắt buộc phải thốt ra câu ấy. Nếu bạn đang đi trên phố với hai giỏ táo trên tay, và bạn gặp một người bạn, bạn sẽ tự nhiên mời anh ta lấy vài quả. Tình cảnh ở Virginia vào những “ngày tháng hào phóng” ấy chính là như thế. Ai nấy đều nhét đầy túi những cổ phiếu, và phong tục thực tế lúc bấy giờ là sẵn sàng cắt ra một phần nhỏ đem cho bạn bè mà chẳng cần ai phải mở lời xin xỏ.

Rất nhiều khi, việc chốt ngay thương vụ vào khoảnh khắc một người ngỏ ý tặng cổ phiếu cho bạn là một ý kiến vô cùng sáng suốt, bởi vì lời đề nghị ấy chỉ có giá trị và hiệu lực ngay lúc đó mà thôi, và nếu chẳng bao lâu sau giá vọt lên cao thì sự chần chừ sẽ là một điều vô cùng đáng tiếc. Ông Stewart (hiện là Thượng nghị sĩ bang Nevada) có lần nói với tôi rằng ông sẽ cho tôi hai mươi thước cổ phiếu “Justis” nếu tôi chịu đi bộ sang văn phòng của ông. Lúc đó nó đáng giá năm hoặc mười đô-la một thước. Tôi liền xin ông giữ lại lời đề nghị ấy sang ngày mai, vì lúc đó tôi đang chuẩn bị đi ăn tối. Ông bảo ông sẽ không có mặt ở thị trấn; thế là tôi đánh liều đi ăn tối thay vì nhận cổ phiếu. Chỉ trong vòng một tuần, giá vọt lên bảy mươi đô-la rồi sau đó là một trăm rưỡi, nhưng đố ai lay chuyển được con người sắt đá ấy. Tôi đoán chắc là ông ta đã bán đống cổ phiếu của tôi đi và đút trọn khoản tiền kiếm được một cách tội lỗi ấy vào túi mình. [Sự trả thù của tôi sẽ được thể hiện ở bức chân dung đi kèm.] Có lần vào buổi chiều nọ, tôi gặp ba người bạn, họ bảo vừa mua được cổ phiếu “Overman” trong một buổi đấu giá với giá tám đô-la một thước. Một người bảo nếu tôi ghé qua văn phòng của anh ta, anh ta sẽ cho tôi mười lăm thước; người thứ hai bảo sẽ cho thêm mười lăm thước nữa; người thứ ba cũng khẳng định sẽ làm y như vậy. Nhưng lúc đó tôi đang bận đi theo một đoàn khám nghiệm tử thi nên không thể dừng lại. Vài tuần sau, họ bán sạch số cổ phiếu “Overman” của mình với giá sáu trăm đô-la một thước và rộng lượng tìm đến tôi để kể lèo về chuyện đó – đồng thời cũng để giục giã tôi hãy nhận lấy bốn mươi lăm thước tiếp theo mà thiên hạ cứ chực nhét vào tay tôi.

Đây hoàn toàn là những sự thật rành rành, và tôi có thể kéo dài danh sách ấy ra thật dài mà vẫn hoàn toàn bám sát vào sự thật. Đã bao nhiêu lần bạn bè biếu không cho chúng tôi tới tận hai mươi lăm thước cổ phiếu đang được bán với giá hai mươi lăm đô-la một thước, thế mà họ chẳng hề bận tâm hơn là việc mời một vị khách hút một điếu xì-gà. Quả thực đó là những “ngày tháng hào phóng”! Tôi cứ nghĩ chúng sẽ kéo dài mãi mãi, nhưng ngặt nỗi chẳng hiểu sao tôi chưa bao giờ là một nhà tiên tri tài giỏi cả.
Để cho thấy cái tinh thần điên cuồng ngự trị trong đầu óc khai mỏ của cộng đồng lúc bấy giờ, tôi xin kể rằng những “nhượng quyền” khai mỏ thậm chí còn được “khoanh vùng” ngay trong những cái hố đào tầng hầm, nơi mà lưỡi cuốc đã vô tình làm lộ ra những thứ trông giống như mạch thạch anh – và đó không phải là những cái hầm ở vùng ngoại ô đâu nhé, mà nằm ngay giữa lòng thành phố; và ngay lập tức cổ phiếu sẽ được phát hành rồi tung ra thị trường. Cái hầm ấy thuộc về ai chẳng quan trọng – “mạch quặng” thuộc về kẻ tìm ra nó, và trừ khi chính phủ Hợp chủng quốc can thiệp (vì chính phủ nắm giữ quyền sở hữu tối cao đối với các mỏ kim loại quý ở Nevada – hoặc ít ra là vào thời điểm đó), thì việc khai thác nó được coi là đặc quyền của người đó. Thử tưởng tượng có một kẻ lạ mặt đến cắm cọc xí phần một mỏ khai mỏ giữa thảm thực vật đắt tiền ngay trong sân trước nhà bạn, rồi thản nhiên tiến hành tàn phá mảnh đất bằng cuốc, xẻng và thuốc nổ xem nào! Chuyện đó đã từng xảy ra rất nhiều lần ở California. Ngay giữa một trong những con phố kinh doanh sầm uất nhất của Virginia, một kẻ nọ đã “xí phần” một mỏ khai mỏ và bắt đầu đào giếng ở đó. Anh ta cho tôi một trăm thước cổ phiếu và tôi đã đem bán nó để đổi lấy một bộ comple thật đẹp, bởi vì tôi cứ sợ có ai đó sẩy chân rơi xuống cái giếng ấy rồi quay sang kiện đòi bồi thường thiệt hại. Tôi còn sở hữu một mỏ khác nằm ngay giữa một con phố khác; và để cho thấy con người ta có thể phi lý đến mức nào, cái thứ cổ phiếu “East India” ấy (tên gọi của nó là thế) vẫn được mua bán tơi bời mặc dù có một đường hầm cổ nằm chạy vắt ngang ngay bên dưới mỏ và bất kỳ ai cũng có thể bước vào đó để tận mắt thấy rằng nó chẳng hề cắt ngang qua bất kỳ mạch thạch anh nào hay thứ gì có thể gợi lên dù chỉ một chút ít hình ảnh tương tự.
Một trong những kế sách để làm giàu nhanh chóng là “ướp muối” một mỏ mèo hoang rồi tống khứ nó đi khi cơn sốt đang dâng cao. Quy trình ấy vô cùng đơn giản.

Kẻ mưu mô chọn một mạch quặng vô giá trị, đào một cái giếng trên đó, mua một xe tải đầy quặng “Comstock” giàu có, đổ một phần vào trong giếng và chất đống phần còn lại ở ngay bên cạnh, trên mặt đất. Sau đó, hắn ta dẫn một kẻ khờ đến xem tài sản và gạ bán với giá trên trời. Tất nhiên là xe tải quặng giàu có ấy chính là tất cả những gì mà nạn nhân tội nghiệp nhận được từ vụ làm ăn của mình. Một vụ “ướp muối” đình đám nhất phải kể đến vụ mỏ “North Ophir”. Người ta đồn rằng mạch quặng này là một “nhánh kéo dài xa xôi” của mỏ “Ophir” nguyên bản, một mỏ vô cùng giá trị nằm trên vỉa “Comstock”. Trong suốt vài ngày, ai nấy đều bàn tán xôn xao về những phát hiện đầy triển vọng tại mỏ North Ophir. Người ta đồn rằng nó khai thác được bạc nguyên chất hoàn toàn dưới dạng những khối nhỏ đặc quánh. Tôi cùng các chủ mỏ đến tận nơi, và tìm thấy một cái giếng sâu chừng sáu đến tám thước, ở đáy giếng là một mạch quặng xỉn màu, ngả vàng, trông chẳng có chút hứa hẹn nào, đã bị đập nát nhừ. Người ta có thể mong tìm thấy bạc trong một hòn đá mài còn dễ hơn. Chúng tôi múc một chảo đầy đống đất đá vụn đó rồi đãi trong một vũng nước, và quả nhiên, giữa lớp cặn lắng, chúng tôi tìm thấy nửa tá viên quặng nhỏ màu đen trông giống hệt những viên đạn súng trường được làm bằng bạc “nguyên chất” đích thực. Chưa từng có ai nghe nói đến một chuyện kỳ lạ như thế trước đây; khoa học hoàn toàn không thể lý giải nổi một thứ kỳ tân dị mõm đến vậy. Giá cổ phiếu vọt lên sáu mươi lăm đô-la một thước, và ở mức giá này, nam diễn viên bi kịch nổi tiếng toàn cầu McKean Buchanan đã mua lại một lượng cổ phần chi phối và chuẩn bị từ giã sân khấu thêm một lần nữa – ông ta vẫn hay làm thế. Và rồi sự thật phơi bày rằng cái mỏ ấy đã bị “ướp muối” – mà lại không phải theo bất kỳ cách thức sáo mòn nào đâu, mà là bằng một thủ đoạn vô cùng táo tợn, trơ trẽn, kỳ quái và đầy ngạo mạn chưa từng thấy. Trên một trong những khối bạc “nguyên chất” ấy, người ta phát hiện ra hàng chữ được dập nổi: “TED STATES OF”, và thế là rành rành ra đó, rõ như ban ngày rằng cái mỏ ấy đã được “ướp muối” bằng những đồng nửa đô-la đem nung chảy! Những khối bạc thu được bằng cách ấy đã được bôi đen cho đến khi trông giống hệt bạc tự nhiên, rồi sau đó được trộn lẫn vào đống đá vụn dưới đáy giếng. Đó hoàn toàn là sự thật 100%. Tất nhiên là giá cổ phiếu lập tức rơi tõm xuống con số không, và người nghệ sĩ kịch câm ấy ngậm ngùi phá sản. Chứ nếu không vì tai họa này, rất có thể chúng ta đã mất đi McKean Buchanan trên thánh đường sân khấu rồi.