Buổi chiều ngày nghỉ, tôi và Shioriko hẹn nhau ở ga Ofuna. Chúng tôi quyết định gặp nhà Kadono để trao đổi về vụ ủy thác này. Khi Shioriko cho biết có chuyện muốn bàn, gia đình họ đồng ý gặp bất cứ lúc nào.
Xe van của tiệm hiện đang đưa đi sửa vì có tiếng động lạ ở phanh, chúng tôi đành đi tàu điện một ray* đến nhà Kadono ở Fukasawa.
Chú Thích: Monorail. Hệ thống vận chuyển chạy trên một ray, khác với hai ray vẫn phổ biến lâu nay. Monorail đôi khi còn được hiểu như đường sắt trên cao để nghiễm nhiên phân biệt với tàu điện ngầm hoặc mặt đất, dù thực tế nó là thuật ngữ chỉ kiểu đường ray chứ không phải độ cao.
Đường nhiều khúc quanh nên tàu khá rung lắc, cộng thêm tốc độ cực nhanh vốn là đặc điểm của nó nên càng rung lắc mạnh. Tuy nhiên, vì là tàu chạy trên cao nên cảnh sắc nhìn từ cửa sổ khá thú vị.
Nắng tháng Năm rọi xuống các mái nhà và tàng cây. Trên vòm không xanh ngắt trải ra tận biển đã chơm chớm những dấu hiệu vào hè.
“Trong tiết trời óng ánh...”
Đột nhiên Shioriko thì thầm, tay vẫn ôm nạng, mắt nhìn ra ngoài.
Chúng tôi đang ngồi đối diện nhau trên hai băng ghế hai chỗ.
“Tiếng ai tụng ca cánh buồm căng. Chỉ trong khoảnh khắc, thời gian của tôi lại trôi băng băng...”
Nhận ra tôi đang nhìn, cô lập tức hạ giọng, cụp mắt xuống, hai má đỏ bừng.
“Gì vậy?”
“Kh... không có gì... Coi như chưa nghe thấy đi...”
“Nhưng ngôn từ rất hay.”
Shioriko lập tức ngẩng lên, đôi mắt to bừng sáng sau tròng kính.
“Anh Daisuke cũng nghĩ vậy à?”
“Sao? À ừ.”
“Tôi cũng rất thích những câu thơ ấy. Đây là ‘Thơ tháng Năm’ của Terayama Shuji, bài mở đầu tập Ban cho ta tháng Năm.”
Cô nhắm mắt ngâm nga, rất trôi chảy, hẳn là đã thuộc nằm lòng.
“Hai mươi tuổi, tôi sinh ra vào một ngày tháng Năm. Bước trên thảm lá, gọi cánh rừng thanh xuân. Bây giờ đây, tại ngưỡng cửa mùa của bản thân. Ngại ngùng tiến đến với đàn chim, vươn tay chấp chới... Hai mươi tuổi, tôi sinh vào một ngày tháng Năm.”
Bài thơ quả là phù hợp với khung cảnh sống động ngoài kia. Tôi không hiểu gì về thơ ca, nhưng vẫn có cảm giác từng khoảnh khắc đang trôi qua như đã biến thành ngôn từ.
“Ban cho ta tháng Năm là tuyển tập tác phẩm đầu tiên của Terayama Shuji. Như bài thơ cho thấy, nó được xuất bản khi ông hai mươi tuổi. Ngoài thơ, trong tập tác phẩm còn tanka*, haiku* và nhật kí, có thể nói Ban cho ta tháng Năm chứa đựng các tinh túy trong sáng tác của Terayama giai đoạn ấy. Riêng bài thơ này lại ra đời khi ông đang nằm viện do thận hư, gần như liệt giường, thậm chí tính mạng có phen nguy kịch.”
Chú Thích: Đoản ca. Thể thơ ngắn có cấu trúc 5-7-5-7-7 âm tiết. Người làm tanka chuyên nghiệp gọi là ca nhân.
Chú Thích: Bài cú. Thể thơ ngắn có cấu trúc 5-7-5 âm tiết. Người làm haiku chuyên nghiệp gọi là bài nhân. Khi dịch ra tiếng Việt, vì không có đủ thuật ngữ để phân biệt nên ta thường đánh đồng tất cả các thể loại văn học có vần có nhịp vào “thơ”, do đó ca nhân hay bài nhân ở sách này đều được để chung là “nhà thơ”.
“Khác hẳn nội dung nhỉ?”
Lấy đâu ra cảnh bước trên thảm lá... Thật khó mà tưởng tượng đây là câu thơ của một người đang ốm nặng.
“Có thể vào chính thời khắc thể xác bị bệnh tật vật ngã, trí tưởng tượng mới được bay bổng thỏa thích. Về sau, trong một vở kịch của mình, ông đã viết, ‘Loài chim nào cũng không thể cất cánh cao hơn trí tưởng tượng của con người.’”
Lúc này, tàu vào đến ga Shonan-Fukasawa, chúng tôi xuống ga. Buổi chiều một ngày thường, sân ga nhỏ bé vắng bóng nhân viên, thưa thớt cả hành khách. Dù vẫn thuộc địa phận Kamakura nhưng khu vực này không có nhiều khách du lịch.
“Ra mắt năm hai mươi tuổi, chẳng phải sớm quá hay sao?”
Tôi hỏi trên đường rời khỏi ga, dù cũng chẳng biết các nhà thơ nhà văn khác ra mắt lúc bao nhiêu tuổi.
“Terayama ra mắt trước đó ấy chứ. Từ năm mười lăm tuổi, ông đã bắt đầu sáng tác haiku và tanka, giao lưu rộng rãi với đông đảo bạn đồng trang lứa có cùng sở thích, thậm chí hồi học cấp ba, ông còn đứng ra tổ chức cuộc thi haiku học sinh trung học toàn quốc. Năm mười tám tuổi, ông rời quê hương Aomori chuyển đến Tokyo, thi vào tạp chí Nghiên cứu tanka và được chủ biên lúc đó là Nakai Hideo đặc biệt lựa chọn. Mới mười mấy tuổi đã là một thiên tài thi ca lừng danh...”
Shioriko giải thích một cách lưu loát. Nghe đến tên Nakai Hideo, tôi ngờ ngợ trong dạ.
“Nakai Hideo... có phải ông ấy viết tiểu thuyết không nhỉ?”
Gần đây tôi hay phải sắp xếp giá sách tiểu thuyết trinh thám, nên nhớ là đã nhìn thấy tên tuổi này trên gáy sách. Shioriko mỉm cười gật đầu.
“Đúng thế. Nakai Hideo là tác giả của Tế phẩm cho hư vô*, một trong tam đại kì thư của tiểu thuyết trinh thám Nhật Bản. Ông còn là một nhà văn lừng danh của thể loại tiểu thuyết giả tưởng, cũng như một biên tập viên tanka tinh tường tận tâm đã khai quật cho công chúng rất nhiều tài năng trẻ. Ban cho ta tháng Năm ra được sách cũng là nhờ nỗ lực của ông ấy.”
Chú Thích: Tên tạm dịch từ Kyomu e no Kumotsu (An Offering to Nothingness, 1964). Hai cuốn còn lại trong tam đại kì thư (sandaikisho) trinh thám Nhật Bản là Vụ án mạng ở Hắc Tử Quán (Kokushikan Satsujin JikenMurder at Black Death Manor, 1935) của Oguri Mushitaro, và Dogra Magra (1935) của Yumeno Kyusaku.
Đường bắt đầu dốc xuống, vì Shioriko mang nạng nên tôi bước chậm lại cho đều nhịp với cô. Hai bên đường là những biệt thự đơn lập san sát trải đi hết tầm mắt. Một con chó lớn lông láng o đang ngáy pho pho trên hiên nhà lát gỗ.
“Terayama mắc bệnh thận ngay khi bước vào giai đoạn sáng tác đỉnh cao. Nakai Hideo tâm niệm là ít nhất cũng phải giới thiệu đến công chúng một ấn phẩm trước khi thiên tài này lìa đời, và thế là Ban cho ta tháng Năm ra sách. Tuy nhiên, Terayama không những không giã biệt nhân gian vào lúc đó, mà sau khi xuất viện, ông còn tích cực mở rộng hoạt động sang nhiều lĩnh vực như một ngôi sao sáng của thời đại.”
“Ông ấy mất năm nào?”
“Năm 1983, hưởng thọ 47 tuổi.”
“Cái tuổi sung sức vậy mà...”
“Phải. Ông bị nhiễm trùng máu do xơ gan và viêm phúc mạc, nghe bảo đều tại ảnh hưởng từ thận hư, nhưng có lẽ thể chất ông vốn đã yếu ớt rồi... À, là ngôi nhà kia, nhà có cây thông rất hùng vĩ ấy!”
Chúng tôi dừng chân trước một ngôi nhà hai tầng cổ kính. Vì xây trên dốc nên móng bê tông cao lồi hẳn lên. Một chiếc xe vừa đỗ lại trong sân, từ bên trong chui ra một người đàn ông luống tuổi, hói đầu, bộ đồ Tây chỉn chu, vóc dáng và đôi mắt to giống hệt Kadono Sumio.
“Chú ấy là anh trai Sumio, tôi nhớ tên là Kosaku thì phải.”
Nhà Kadono có ba anh em, nên đây hẳn là người anh thứ hai. Kadono Kosaku trông thấy chúng tôi, liền cúi mình chào. Shioriko cũng vội vàng đáp lễ.
“Mất công cho các cháu quá. Tôi rất xin lỗi vì những phiền hà chú út gây ra. Tôi cũng vừa về đến nơi thôi.”
Kosaku niềm nở nói trong lúc đăm đăm nhìn vào mặt Shioriko. Dứt lời, ông còn im lặng mất một mới trấn tĩnh.
“Các cháu vào nhà đi đã, chị cả chắc đang đợi chúng ta.”
Ông đi trước dẫn đường. Người này không sống ở đây, chắc cất công đến để được nói chuyện với Shioriko. Nhìn cách ăn mặc thì hẳn là tranh thủ tạt lại trong giờ làm. Cứ cho là chuyện liên quan đến em ruột mình đi, như thế vẫn là quá nhiệt tình. Phải tôi, tôi thấy không cần thiết.
Một phụ nữ đứng tuổi ăn mặc giản dị đón chúng tôi tại lối vào. Mụn ruồi to tướng nằm rải rác trên khuôn mặt không trang điểm, cái cổ khẳng khiu hiện đầy nếp nhăn.
“Tôi là Kadono Hisae, đã làm phiền các cháu rồi...”
“Kh... không ạ... Là cháu làm phiền mới đúng... Ngày trước chú đã giúp đỡ cháu rất nhiều...”
Shioriko lắp bắp đáp lời. Chúng tôi theo bà chủ nhà vào một gian phòng kiểu Nhật, thắp hương trước bàn thờ đã nhiều năm tuổi.
Người quá cố tên là Kadono Katsumi, nhìn trên di ảnh thì trông chỉ ngoài năm mươi. Trong tấm ảnh gia đình để bên cạnh, ngoài bà vợ còn có hai cậu con trai, một trong hai đang ẵm con mèo tam thể. Nhưng giờ chỉ thấy một mình bà, có lẽ anh mèo chạy đâu đó rồi.
“Tôi rất xin lỗi vì những phiền hà chú út gây ra.”
Sau khi mang trà lên, bà quả phụ lặp lại đúng câu Kosaku nói với chúng tôi ban nãy. Trạng thái căng thẳng của Shioriko càng lúc càng nghiêm trọng vì những câu xin lỗi liên tục.
“Chuyện đó... Hôm nọ, ngày nghỉ mới đây, anh Sumio có đến nhà cháu... Cháu và... anh Dai, à không, anh Gora đây, nói chuyện...”
Như thường lệ, Shioriko lại vấp váp khi gọi tên tôi.
Cô cứ gọi tôi như bình thường cũng có sao đâu. Hai người đối diện sa sầm nét mặt, rồi Kadono Kosaku nghiêm nghị cất tiếng.
“Tôi không biết chú út lại làm gì thất lễ, nhưng cháu đừng ngại, cứ nói thẳng ra. Chúng tôi sẽ cố gắng giải quyết.”
Tôi và Shioriko nhìn nhau. Hình như họ tưởng Sumio tới gây hấn với tiệm sách, nên chúng tôi đến để trách cứ. Thảo nào họ đồng ý gặp chúng tôi dễ dàng đến thế.
“Ch... cháu xin lỗi. Cháu không giải thích kĩ. Hô... hôm nay cháu đến đây, vì anh Sumio có nhờ giúp một chuyện. Chẳng là, anh kể, chú Katsumi hứa tặng lại sách cho anh ấy, nhưng hình như mọi người không hề hay biết về lời hứa này... Vì thế, anh muốn cháu tìm hiểu sự tình, từ góc độ khách quan...”
“À, là chuyện đó à?” Kosaku nhăn mặt. “Xin lỗi cháu vì Sumio tự dưng đem câu chuyện kì cục như vậy đến quấy rầy nhà mình. Lại một lời nói dối thôi cháu ạ. Chưa ai nghe đến bao giờ cả... Chị cũng không biết, chị nhỉ?”
“Ừ,” bà Hisae gật đầu. “Để cho cẩn thận, tôi đã hỏi cả họ hàng, nhưng chồng tôi chưa từng nói gì tương tự. Anh ấy đặc biệt coi trọng ấn bản đầu tiên của Terayama Shuji, tôi không nghĩ anh ấy định để lại cho Sumio.”
Shioriko vẫn im lặng, chắc hẳn khá lúng túng. Hai người này không có vẻ gì là nói dối, ít nhất cũng đáng tin cậy hơn người đàn ông kia.
“Suniio quen thói dối trá từ bé. Dù hành vi xấu xa thế nào, nó cũng nhơn nhơn, chưa bao giờ biết ăn năn.”
“Anh ta gây ra rất nhiều chuyện xấu ạ?”
Tôi buột miệng hỏi Kadono Kosaku. Xem chừng Sumio không chỉ bất hảo ở vụ bán sách ăn cắp cho Biblia. Nói mới nhớ, tôi hầu như không biết gì về quá khứ của anh ta.
“Cha mẹ tôi mất sớm, kể ra thì xấu hổ nhưng anh em tôi đã không dạy dỗ cẩn thận đứa bé nhất nhà ấy. Càng lớn càng ăn cắp như chảo chớp, nào thó tiền trong ví, nào quắp đồ siêu thị... mang lại không biết bao nhiêu phiền toái cho ông anh cả vừa làm cha vừa làm mẹ trong nhà.”
Tôi sực nhớ trên bàn thờ không chỉ có một bài vị. Cái còn lại chắc là của cha mẹ họ.
“Cha mẹ các chú mất khi nào ạ?”
“Năm 1980. Hai ông bà đi suối nước nóng nhân dịp kỉ niệm ngày cưới, nhưng khách sạn gặp hỏa hoạn, thiêu rụi hoàn toàn... Lúc đó anh cả hai mươi tuổi, tôi mười ba, Sumio mới chỉ năm tuổi.”
Ông nói rành mạch từng con số, chắc với ông đó là kí ức khó phai trong lòng.
“Anh cả bỏ học đại học, vào làm ở công ty ông chú. Bấy giờ anh cả còn trẻ nên cũng ít kinh nghiệm, luôn luôn nghiêm khắc với Sumio bướng bỉnh. Lên cấp ba nó gần như không nói chuyện với anh cả, cuối cùng bỏ nhà đi rồi gia nhập một đoàn kịch nhỏ.”
“Bỏ nhà...” Tôi lẩm bẩm. Hai chữ mới nghe đâu như gần đây thôi.
“Chắc nó bị ảnh hưởng bởi cuốn sách của Terayama Shuji đấy. Vì nó lén lút vào kho sách của anh cả, tự tiện lấy ra đọc, tản văn, tùy bút, kịch, thơ và đủ thứ khác.”
Vậy là đem Đừng quẩn quanh trong tổ ra thực hành thật ư? Dù cùng có sở thích đọc sách, cũng chưa chắc đã hiểu được nhau nhỉ?
“Gọi đoàn kịch cho sang mồm, chứ bản chất chỉ là một gánh diễn của học sinh. Công diễn lần nào là nợ nần chồng chất lần ấy. Để bù lỗ, nó đi làm đủ mọi công việc kì quặc. Ví như nó từng gọi điện cho tôi, gạ mua hết bộ nồi cao cấp đến máy lọc nước, với cái giá trên trời khó mà tin nổi.”
Tôi cố gắng không để lộ cảm xúc ra nét mặt. Có lẽ em trai ông đã mắc mồi bán hàng đa cấp. Chính tôi cũng từng bị chèo kéo đây. Những người không có thu nhập ổn định rất dễ biến thành mục tiêu của chúng.
“Ba năm trước, cuối cùng nó đã vỡ nợ, anh cả phải đứng ra trả thay. Anh ấy còn để nó sống ở đây vì nó bảo không có tiền thuê nhà. Thế mà nó lại sang nhà mình lừa đảo như vậy... Bây giờ thì nói dối trắng trợn... Thật không còn lời nào để xin lỗi cháu.”
Kosaku cúi đầu lần nữa, có lẽ đã thành phản xạ, mỗi khi nhắc đến chú em út, mọi người trong gia đình này đều xin lỗi.
“Chú ạ...” Shioriko im lặng suốt từ nãy, giờ mới lên tiếng. Nét mặt cô không còn vẻ lúng túng, dáng ngồi cũng thẳng lên tự lúc nào. “Thật ra cháu đang hơi băn khoăn. Cháu nghĩ, chưa thể khẳng định lần này anh Sumio lại nói dối.”
Hai người nhà Kadono tròn mắt bất ngờ, không chỉ vì câu Shioriko vừa nói, mà cả vì sự thay đổi trong tác phong của cô. Xem ra công tắc đã bật lên, như thường lệ.
“Ý cháu là sao?” Bà Kadono Hisae hỏi.
“Bình thường, khi nói dối, người ta sẽ biên soạn câu chuyện cực kì chặt chẽ. Anh Sumio không hề đả động đến lý do khiến chú Katsumi để sách lại cho mình. Nếu rắp tâm lừa mọi người, anh ấy phải chú ý đến điểm đó trước tiên. Vì, động não một chút là rõ, nếu thiếu lý do và thiếu bằng chứng, sẽ không ai tin cả.”
Thật vậy, chính bản thân Sumio cũng không hiểu lý do là gì. Nhưng dù thắc mắc, anh ta vẫn đĩnh đạc rao bán sách, còn đường hoàng cầm cả tiền rồi.
“Cảm ơn cháu đã thông cảm. Chỉ hiềm, tôi cho rằng chú út chưa tính đến đầu đến đũa thôi. Chú ấy nhiều khi... không được tỉ mỉ cho lắm.”
Bà chị dâu kết tội chú em chồng một cách khéo léo, trong khi ông anh ruột khoanh tay gật gù.
“Có thể...”
Ngay cả Shioriko cũng gật gù đồng tình. Vì đã chịu quá nhiều phiền toái do Sumio mang lại, ba người bọn họ đều khó lòng nghĩ tốt về anh ta.
“Cho cháu vào xem kho sách của chú Katsumi được không ạ? Có khi cháu sẽ tìm ra gì đó.”