“Khi mới ngồi xuống, trông ông ta có vẻ chẳng mặn mà gì với chuyện đàn phỏng, và cứ tiếc rẻ sao mình lại đến đây. Ông ta gảy lộc cộc vài nhịp bên phím cao, rồi tạch tạch tùng tùng đôi chút bên phím trầm—giống như đang đùa nghịch và vả vào mõm cái đàn vì nó cứ vướng víu. Rồi tôi quay sang bảo một người ngồi cạnh, rằng: ‘Thứ âm nhảm nhí gì thế này?’ Và ông ta đáp: ‘Suỵt!’ Nhưng chẳng mấy chốc, đôi tay lão đã rượt đuổi nhau thoăn thoắt trên các phím đàn, tựa như một bầy chuột rúc chạy rần rần qua gác mái. Dầu vậy, có những đoạn nghe thật êm đềm, gợi cho tôi nhớ đến một con sóc đường đang quay chiếc lồng kẹo. ‘Nào,’ tôi liền bảo người hàng xóm, ‘lão đang làm hàng đấy. Tưởng thế là hay ho lắm; chứ kỳ thực chẳng có lấy một ý niệm, một đường lối quái gì trong đầu. Giả như lão dạo cho tôi nghe một giai điệu ra hồn nào đó, thì tôi sẽ’—
“Nhưng người hàng xóm của tôi gắt gỏng bảo: ‘Suỵt!’
“Tôi đangan toan đứng dậy ra về vì đã chán ngấy cái trò vô bổ ấy, thì bỗng nghe tiếng một chú chim nhỏ thức giấc đâu đây tận chốn rừng sâu, cất tiếng kêu ngái ngủ gọi bầy, để rồi khi ngước lên, tôi thấy Rubin đã bắt đầu hứng thú với công việc của mình và thế là tôi lại ngồi xuống. Đó là lúc rạng đông. Ánh sáng mờ ảo tỏa ra từ hướng đông, cơn gió thổi nhẹ nhàng và tươi mát, thêm mấy chú chim nữa thức giấc trong vườn cây ăn quả, rồi lại dăm con khác trên tán cây gần nhà, tất cả đồng thanh cất tiếng hót. Mọi người bắt đầu cựa quậy, và cô thôn nữ mở tung các ô cửa chớp. Đúng lúc ấy, tia nắng đầu tiên chiếu rọi lên những chùm hoa; thêm chút nữa, nó chạm vào những đóa hồng trên bụi cây, và chẳng mấy chốc trời đã sáng bạch; ánh mặt trời rực rỡ chói lọi; lũ chim hót vang như muốn rách cả cổ họng; muôn vàn cớn lá rung rinh, lấp lánh những giọt sương như kim cương, và cả thế gian rộng lớn bỗng bừng sáng, hạnh phúc tựa một vị vua. Lòng tôi thấy như trong mọi ngôi nhà khắp xứ đều đang có một bữa điểm tâm ngon lành, chẳng một đứa trẻ hay người phụ nữ nào đau ốm. Đó là một buổi sáng tuyệt đẹp.
“Và tôi bảo người hàng xóm: ‘Thế mới là âm nhạc chứ lỵ.’
“Nhưng lão ta trừng trừng nhìn tôi như chực cắt cổ tôi đến nơi.
“Chẳng mấy chốc, gió đổi chiều; trời đâm ra vần vũ, một làn sương xám xịt phủ trùm muôn vật; lòng tôi chùng xuống chẳng mấy chốc. Rồi một trận mưa bạc bắt đầu rơi; tôi có thể nhìn thấy từng giọt chạm xuống mặt đất; vài giọt bắn tung lên như đôi hoa tai ngọc trai dài; số còn lại lăn đi như những viên hồng ngọc tròn vo. Cảnh tượng thật nên thơ nhưng đượm buồn. Rồi những hạt ngọc trai ấy kết lại thành từng chuỗi dài và vòng cổ, để rồi tan thành những dòng suối bạc lấp xấp chảy giữa lớp sỏi vàng, rồi các dòng suối ấy nhập lại dưới chân đồi, tạo thành một con lạch chảy êm đềm đến mức bạn chỉ có thể cảm nhận được âm nhạc ấy qua đôi mắt, nhất là khi mấy bụi cây ven bờ rung rinh theo tiếng nhạc trôi dọc thung lũng. Tôi ngửi thấy hương hoa thoang thoảng từ các đồng cỏ. Nhưng mặt trời không chiếu rọi, chim chóc chẳng cất lời ca; đó là một ngày sương mù nhưng không lạnh. Rồi mặt trời lặn xuống, trời tối dần, cơn gió rên rỉ và khóc than như một đứa trẻ lạc mẹ khóc thương người mẹ đã khuất, khiến tôi chỉ muốn đứng ngay dậy lúc bấy giờ để giảng một bài kinh hay hơn bất cứ bài nào tôi từng nghe. Chẳng còn lấy một thứ gì trên đời này đáng để sống, không một quái quỷ gì sất, thế mà tôi lại chẳng hề muốn âm nhạc dừng lại dù chỉ một chút. Thà chịu cảnh khổ đau còn hơn là hạnh phúc mà chẳng biết khổ đau là gì. Tôi thật chẳng thể tài nào hiểu nổi. . . . . . .
“Rồi, bất thình lình, lão Ruben đổi giọng. Lão gào thét phóng túng, tung hoành ngang dọc, phi nước đại và xông pha như màn chào đầu hoành tráng trong một gánh xiếc. Tôi có cảm giác như toàn bộ hệ thống đèn đuốc trong phòng được bật sáng cùng một lúc, mọi thứ bừng lên rạng rỡ, và tôi ngẩng cao đầu, sẵn sàng nhìn thẳng vào mặt bất kỳ ai mà chẳng sợ hãi bất cứ điều gì. Đó là một gánh xiếc, một dàn kèn đồng, và một buổi vũ hội lớn, tất cả cùng diễn ra một lúc. Lão đè ngửa những phím đàn ấy ra như một ngàn viên gạch đổ xuống, chẳng cho chúng lấy một phút nghỉ ngơi, ngày hay đêm; lão khuấy động từng khớp xương trong cơ thể tôi, và vì không thể chịu đựng thêm được nữa, tôi chồmm hẳn người lên ghế và hét lớn:
“‘Cố lên, Rube của tôi!’
“Mọi mọe kiếp đàn ông, đàn bà và trẻ con trong phòng đều vùng dậy phản đối tôi và la hét: ‘Đuổi cổ nó ra! Đuổi cổ nó ra!’
“Thế là mấy tên cảnh sát chạy ào tới, và tôi buộc phải dịu xuống. Nhưng tôi sẵn sàng đánh nhau với bất kỳ kẻ ngốc nào dám sờ vào người tôi, bởi vì tôi quyết tâm phải nghe Ruby đàn cho đến tận cùng, dẫu có phải chết đi chăng nữa.
“Lão lại đổi điệu nhạc. Lão nhún nhảy nhẹ nhàng và bước đión rén uyển chuyển từ đầu này chí đầu kia của bàn phím. Lão đánh vừa êm, vừa trầm, lại vừa trang nghiêm. Tôi nghe văng vẳng tiếng chuông nhà thờ vọng qua những ngọn đồi. Những ngọn nến trên thiên đường lần lượt được thắp lên. Tôi thấy các vì sao mọc. Đại phong cầm của cõi vĩnh hằng bắt đầu tấu lên từ tận cùng thế giới này đến tận cùng thế giới khác, và tất cả các thiên thần đều chắp tay cầu nguyện. Rồi âm nhạc chuyển thành dòng nước, chan chứa thứ cảm xúc chẳng thể gọi thành tên, và bắt đầu nhỏ giọt—tí tách, tí tách, trong trẻo và ngọt ngào, hệt như những giọt nước mắt hạnh phúc rơi vào một hồ nước vinh quang.
“Lão dừng lại chừng một hai phút để lấy lại hơi sức. Rồi lão nổi giận. Lão luồn những ngón tay vào mái tóc rối bù, xắn cao tay áo, kéo vạt áo rộng thêm chút nữa, nhích chiếc ghế đẩu lại gần, rướn người về phía trước, và thưa các bác, lão lao vào cái cây đàn dương cầm già nua ấy. Lão tát vào mặt nó, vả vào mõm nó, cấu mũi nó, véo tai nó, và cào cấu đôi má nó cho đến khi nó kêu lên oai oái. Lão quật ngã rồi giẫm đạp lên nó một cách nhẫn tâm. Nó rống lên như bò đực, kêu bê bép như bê con, tru tréo như chó săn, hét lanh lảnh như heo con, ré lên như chuột nhắt, thế mà lão vẫn không chịu tha cho nó. Lão càn quét một đoạn dài qua vùng trầm của phím đàn, lấn sâu tận vào tâm can của lòng đất, để rồi bạn nghe thấy tiếng sấm này đuổi theo tiếng sấm khác vọng qua những hang hốc và vực thẳm của chốn đọa đày; rồi tay phải với tay trái đuổi bắt nhau như mèo vờn chuột cho đến khi vút tận lên mây xanh ở miền phím cao, nơi những nốt nhạc mỏng manh hơn cả đầu kim khâu, và bạn chẳng thể nghe thấy gì ngoài cái bóng của chúng. Thế mà lão vẫn nhất quyết không buông tha chiếc đàn già. Lão tung cánh phải, lão tung cánh trái, lão tung trung quân, lão tung cả lực lượng dự bị. Lão nã pháo theo hàng dọc, nã pháo theo trung đội, đại đội, trung đoàn và lữ đoàn. Lão khai hỏa đại bác, pháo công thành ở đằng kia, pháo Napoleon ở chỗ nọ, pháo mười hai pa-vô ở đằng nọ nữa, súng lớn, súng nhỏ, súng trung bình, đạn cầu, đạn lựu, đạn mảnh, đạn chùm, đạn ria, cối, mìn và kho đạn, mọi cỗ pháo và quả bom đang sống đều gầm thét cùng một lúc. Căn nhà rung chuyển, đèn đuốc nhảy múa, tường vách chao đảo, sàn nhà bật tung lên, trần nhà sập xuống, bầu trời nứt toác, mặt đất chấn động—Đùng! Kèm theo tiếng đùng ấy, lão tung mình bổng lên không trung, rồi bổ nhào xuống với cả hai đầu gối, mười ngón tay, mười ngón chân, hai khuỷu tay và cả chiếc mũi, đánh trúng từng phím đơn độc trên cái cây đàn dương cầm ấy cùng một lúc. Cỗ máy nổ tung, văng ra thành một triệu bảy trăm năm mươi bảy ngàn năm trăm bốn mươi hai nốt móc kép ngắn ngủn, và tôi chẳng còn biết trời đất gì nữa.”