Tôi nằm trên giường, cảm thấy mệt mỏi rã rời. Lạ một điều là tôi khá thích thú với việc lục lọi những di vật của ông Beaton quá cố; và tuy phương tiện khám chữa còn sơ sài nhưng việc điều trị cho mấy bệnh nhân kia khiến tôi cảm thấy mình thực sự vững vàng và hữu ích. Tất cả những thủ tục quen thuộc như sờ nắn thịt và xương, bắt mạch, kiểm tra lưỡi và nhãn cầu đã giúp xoa dịu cảm giác hoang mang trống rỗng bao trùm tôi từ lúc tôi bước qua khe hở của cột đá. Cho dù tình cảnh của tôi kỳ lạ thế nào và tôi cảm thấy lạc lõng ra sao, tôi vẫn có cảm giác được an ủi khi nhận ra rằng đây thực sự là những con người, da thịt ấm áp, râu tóc rậm rạp, với những trái tim đang đập và những lá phổi đang hoạt động. Vài người hôi rình, bẩn thỉu và lúc nhúc chấy rận, nhưng với tôi thì điều đó chẳng có gì lạ. Cũng chẳng tệ hơn tình trạng trong một bệnh viện dã chiến, và tính cho đến bây giờ tôi mới chỉ gặp các vết thương nhỏ không có gì đáng ngại. Cảm giác cực kỳ thỏa mãn khi một lần nữa có thể làm dịu một cơn đau, nắn lại một cái khớp hay chữa lành một vết thương. Việc chịu trách nhiệm cho sức khỏe của những người khác khiến tôi bớt đi cảm giác bị đùa bỡn bởi cái định mệnh quá quắt đã mang tôi tới đây, và tôi biết ơn Colum vì đã đề nghị tôi đảm nhận vị trí này.
Colum MacKenzie. Một người đàn ông kỳ lạ. Ông ta có học thức, hết sức lịch thiệp và chu đáo, với uy lực mạnh mẽ ẩn giấu bên trong. Uy lực ấy toát ra rõ ràng hơn nhiều ở người em Dougal. Người đàn ông đó là một chiến binh bẩm sinh. Tuy nhiên, khi nhìn thấy hai người họ ở bên nhau, có thể thấy rõ ai là người mạnh hơn. Dù đôi chân có cong queo thế nào chăng nữa, Colum vẫn là một vị thủ lĩnh.
Hội chứng Toulouse-Lautrec. Tôi chưa từng tận mắt nhìn thấy nhưng đã được nghe tả về nó. Đó là chứng bệnh thoái hóa xương và mô liên kết, được đặt theo tên nạn nhân nổi tiếng nhất của nó (người ấy lúc này còn chưa ra đời, tôi tự nhắc nhở mình). Các nạn nhân tuy ốm yếu nhưng lúc đầu trông vẫn bình thường, cho đến khi bước vào tuổi dậy thì, các xương ống chân mới bắt đầu sụn xuống và cong oằn vì áp lực chống đỡ cho cả cơ thể.
Sự tuần hoàn kém là đặc trưng của chứng bệnh này, gây ra hậu quả là da dẻ xanh xao, nhợt nhạt, sớm nhăn nhúm, cũng như hiện tượng khô nẻ và chai sần ở các ngón tay, ngón chân mà tôi đã để ý thấy ở Colum. Khi hai chân méo mó và cong queo, xương sống phải chịu áp lực nên thường cũng cong queo theo, khiến người bệnh vô cùng khổ sở. Tôi đọc nhẩm lại các mô tả trong sách về chứng bệnh này, bàn tay lơ đãng vuốt những lọn tóc rối. Số lượng bạch cầu thấp làm tăng nguy cơ bị nhiễm trùng, có khả năng dẫn đến chứng viêm khớp sớm. Vì tuần hoàn kém và thoái hóa mô liên kết nên các nạn nhân sẽ bị vô sinh và thường thì cả bất lực nữa.
Tôi dừng khựng lại, nghĩ đến Hamish. Con trai ta, Colum đã tự hào giới thiệu về cậu bé. Hừm, tôi thầm nghĩ. Vậy thì có lẽ ông ta không bị bất lực. Hoặc có lẽ có. Nhưng khá may mắn cho Letitia khi rất nhiều đàn ông trong thị tộc MacKenzie trông giống nhau như lột.
Những suy diễn thú vị của tôi bỗng bị ngắt ngang bởi tiếng gõ cửa đột ngột. Một trong những cậu bé đâu đâu cũng thấy đang đứng ở bên ngoài, mang đến lời mời của Colum. Cậu bé nói ở đại sảnh sẽ có ca hát, và Lãnh chúa MacKenzie sẽ rất hân hạnh với sự có mặt của tôi, nếu tôi muốn tới đó.
Tôi hiếu kỳ muốn gặp lại Colum sau những suy đoán vừa rồi. Vì vậy, sau một cái liếc nhanh vào gương và một cú vuốt tóc không hiệu quả, tôi đóng cửa lại và đi theo người hộ tống qua những hành lang quanh co, lạnh lẽo.
Đại sảnh trông thật khác khi về đêm, nó ngập tràn không khí lễ hội với những cây đuốc bằng gỗ thông cháy lách tách dọc theo các bức tường, thi thoảng lại lóe lên một ánh lửa màu xanh. Cái lò sưởi khổng lồ, với vô số xiên và vạc, đã giảm bớt sức hoạt động so với lúc ăn tối; giờ chỉ có một ngọn lửa lớn cháy trên nền lò, được duy trì bởi hai khúc gỗ to tướng, cháy chầm chậm, còn những cái xiên đã được gập lại hết.
Bàn ghế vẫn còn ở đó nhưng được đẩy lùi lại một chút để tạo thành một không gian trống gần lò sưởi; rõ ràng đó sẽ là trung tâm của cuộc giải trí, vì cái ghế chạm trổ to lớn của Colum được đặt về một bên. Colum đang ngồi đó, một tấm chăn ấm áp phủ trên đùi, một cái bàn nhỏ với chiếc bình thon cổ và những cái ly lớn nằm ngay trong tầm với.
Nhìn thấy tôi ngập ngừng ở cửa tò vò, ông ta ra hiệu cho tôi tới chỗ mình bằng một cử chỉ thân thiện, rồi chỉ tôi ngồi xuống một cái ghế băng ở bên cạnh.
“Ta rất vui vì cô đã tới, cô Claire,” ông ta nói, giọng thân mật vui vẻ. “Gwyllyn sẽ mừng lắm khi có một đôi tai mới đến thưởng thức những bài hát của anh ta, mặc dù chúng ta luôn chăm chú lắng nghe.” Vị thủ lĩnh của thị tộc MacKenzie trông khá mệt mỏi; hai bờ vai rộng hơi thõng xuống và những nếp nhăn sớm trên mặt ông ta lõm sâu hơn.
Tôi lẩm bẩm một câu sáo rỗng và nhìn quanh đại sảnh. Mọi người đang bắt đầu kéo đến, thi thoảng lại có người đi ra, họ đứng tụm lại thành từng nhóm nhỏ để tán gẫu, dần dần ngồi kín những băng ghế kê sát tường.
“Xin lỗi?” Tôi ngoảnh lại vì không nghe rõ lời của Colum trong sự ồn ào đang tăng dần, và thấy ông ta mời tôi cái bình thon cổ, một vật hình chuông đáng yêu bằng pha lê màu xanh nhạt. Nhìn qua lớp pha lê, chát lỏng bên trong có vẻ xanh như lòng biển sâu, nhưng khi được rót ra, nó lại có màu hồng nhạt xinh đẹp và thơm nức mũi. Vị của nó hoàn toàn đúng như mong đợi, và tôi khoan khoái nhắm mắt, tận hưởng cảm giác hơi rượu lan tỏa làm nhột nhạt vòm miệng trước khi miễn cưỡng cho phép ngụm mỹ tửu chậm rãi chảy xuống cổ họng.
“Ngon chứ hả?” Giọng nói trầm ấm chứa một nét thích thú, và tôi mở mắt, thấy Colum đang mỉm cười đồng tình với mình.
Tôi mở miệng để trả lời, bấy giờ mới nhận ra rằng vị ngon êm dịu ấy chỉ là sự lừa dối, loại rượu này mạnh đến nỗi gây ra một cơn tê liệt nhẹ ở các dây thanh quản.
“Tu-tuyệt vời!” Tôi cố gắng thốt ra.
Colum gật đầu. “Rất tuyệt. Rượu vang Rhenish[1] đấy. Cô không uống quen, đúng không?”
Tôi lắc đầu khi ông ta ghé cái bình thon cổ vào ly của tôi, rót đầy lòng ly thứ chất lỏng màu hồng rực rỡ. Ông ta giơ ly của mình lên trước mặt, xoay nó để ánh lửa làm nó ánh lên những vệt màu đỏ son.
“Nhưng cô biết thế nào là rượu ngon,” Colurn nói, nghiêng cái ly để thưởng thức mùi hương trái cây ngọt ngào, đạm đà. “Ta cho rằng đó cũng là điều đương nhiên với những người Pháp như cô. Hoặc lai Pháp, ta nên nói vậy,” ông ta thoáng mỉm cười, sửa lại lời mình. “Gia đình cô ở vùng nào của Pháp vậy?”
Tôi ngập ngừng giây lát rồi nghĩ, hãy bám sát vào sự thật hết mức có thể, và trả lời: “Tôi chỉ còn họ hàng xa ở đó thôi, họ ở miền Bắc, gần Compiègne.” Tôi hơi giật mình khi nhận ra rằng vào lúc này, những người thân của tôi thực sự đang ở gần Compiègne. Tôi hoàn toàn đang nói sự thật.
“À. Nhưng cô chưa từng tới đó bao giờ?”
Tôi vừa lắc đầu vừa nghiêng cái ly rồi nhắm mắt và thở sâu, hít hà hương vị của rượu.
“Chưa,” tôi nói, vẫn nhắm mắt. “Tôi cũng chưa từng gặp bất cứ người thân nào của mình ở đó.” Tôi mở mắt, thấy ông ta đang chăm chú nhìn mình. “Tôi đã nói với ông rồi mà.”
Ông ta gật đầu, vẻ mặt vẫn thản nhiên. “Đúng vậy.” Với đôi mắt màu xám nhạt tuyệt đẹp ẩn dưới hàng mi đen dày, Colum MacKenzie quả thực là một người đàn ông rất quyến rũ, ít nhất là tính đến phần eo. Ánh mắt tôi lướt qua ông ta, hướng tới nhóm người gần lò sưởi nhất, và nhìn thấy vợ ông ta, Letitia, đang ngồi cùng một nhóm quý bà, trò chuyện sôi nổi với Dougal MacKenzie. Đó cũng là một người đàn ông rất hấp dẫn, nhưng là hấp dẫn từ đầu đến chân.
Tôi lại chuyển sự chú ý về Colum và thấy ông ta đang lơ đãng nhìn vào một tấm thảm treo tường.
“Như tôi cũng đã nói với ông,” tôi đột ngột lên tiếng, kéo ông ta ra khỏi sự lơ đễnh, “tôi muốn lên đường tới Pháp càng sớm càng tốt.”
“Đúng vậy,” ông ta lại vui vẻ nói, nhấc cái bình thon cổ lên với một cú nhướng mày dò hỏi. Tôi giữ chắc cái ly của mình, trỏ vào giữa ly để tỏ ý rằng tôi chỉ muốn uống một chút nữa thôi, nhưng ông ta vẫn rót đầy đến tận miệng.
“Chà, như ta đã nói với cô, cô Beauchamp,” ông ta nói, hai mắt gắn chặt vào lượng rượu đang dâng lên, “ta nghĩ cô phải chấp nhận nán lại đây một thời gian, cho đến khi chúng ta có thể sắp xếp cho chuyến đi của cô. Dù gì cũng không cần phải vội. Giờ mới đang là mùa xuân, vẫn còn nhiều tháng trời nữa mới đến mùa thu, khi những cơn bão tràn đến gây nguy hiểm cho tàu bè đi qua eo biển Anh.” Ông ta vừa nhướng mắt vừa nâng cái bình lên, nhìn tôi với ánh mắt sắc sảo.
“Nhưng nếu cô sẵn lòng cho ta biết tên những người bà con của cô ở Pháp, ta có thể gửi lời nhắn tới họ trước - để họ chuẩn bị sẵn sàng cho chuyến viếng thăm của cô, cô thấy thế nào?”
Bị bắt tháu cáy, tôi chỉ còn biết lẩm bẩm mấy lời đại loại như vâng-ờ-có-lẽ-để-sau, và vội vã cáo lui với cái cớ là đi giải quyết nhu cầu trước khi buổi ca hát bắt đầu. Colum đã ghi điểm trong trò chơi này, nhưng cuộc chiến vẫn chưa ngã ngũ.
Cái cớ của tôi không hoàn toàn là bịa đặt, và phải loanh quanh trong những hành lang tối tăm của lâu đài mất một lúc, tôi mới tìm thấy nơi mình cần đến. Khi cầm ly rượu mò mẫm quay lại, tôi tìm thấy ô cửa tò vò sáng trưng dẫn vào đại sảnh, nhưng khi bước qua tôi mới nhận ra rằng mình đã đi vào bằng lối thấp hơn, và hiện đang ở đầu đối diện với chỗ Colum ngồi. Điều này lại khá phù hợp với hoàn cảnh của tôi lúc này, vì vậy tôi len lén đi vào căn phòng dài, cố gắng hòa mình với những nhóm nhỏ, len lỏi dọc theo bức tường về phía một băng ghế.
Ném ánh mắt về phía đầu cao hơn của đại sảnh, tôi thấy một người đàn ông mảnh khảnh mang theo một chiếc đàn hạc nhỏ. Đó hẳn là thi sĩ Gwyllyn. Theo cử chỉ ra hiệu của Colum, một người hầu vội vã mang lên cho thi sĩ một cái ghế đẩu, ông ta liền ngồi xuống và bắt đầu lên dây đàn, tay khẽ gảy các dây, tai gí sát vào nhạc cụ. Colum rót một ly rượu nữa từ cái bình thon cổ, và vẫy tay gọi người hầu đem đến cho thi sĩ.
“Ồ, ông ta đòi hỏi cái tẩu, đòi hỏi cái bát, và đòi hỏi ba người chơi đàn vĩ cầm[2],” tôi lẩm bẩm hát giễu, khiến cô Laoghaire nhìn tôi với ánh mắt kỳ cục. Cô ta đang ngồi dưới một tấm thảm thêu có hình một gã thợ săn với sáu con chó mình dài mắt lác, đang đuổi theo một con thỏ rừng đơn độc.
“Đúng là dùng dao mổ bò để giết gà, đúng không?” Tôi nhanh nhảu nói, phẩy tay về phía bức tranh và ngồi phịch xuống bên cạnh cô ta trên băng ghế.
“Ồ! Ờ, vâng,” cô ta thận trọng trả lời, hơi nhích người ra. Tôi cố gắng lôi kéo cô ta vào một cuộc trò chuyện thân tình, nhưng cô ta chỉ trả lời nhát gừng, đỏ mặt và giật mình mỗi khi tôi nói với cô ta, vì vậy tôi nhanh chóng bỏ cuộc, chuyển sự chú ý về phía cảnh tượng ở đầu kia của căn phòng.
Sau khi chiếc đàn hạc đã được lên dây đúng ý, Gwyllyn lấy từ trong áo khoác ra ba ống sáo bằng gỗ có kích cỡ khác nhau, đặt lên một cái bàn nhỏ, ngay trong tầm với.
Tôi đột nhiên nhận ra rằng Laoghaire không để ý gì đến thi sĩ và các nhạc cụ của ông ta như tôi. Cô ta hơi cứng người lại và liếc qua vai tôi về phía ô cửa tò vò ở đầu thấp hơn của đại sảnh, đồng thời ngả người vào trong bóng tối dưới tấm thảm thêu để tránh bị phát hiện.
Nương theo ánh mắt cô ta, tôi phát hiện anh chàng Jamie MacTavish tóc đỏ cao ráo vừa bước vào đại sảnh.
“A! Vị anh hùng hào hiệp! Cô thích anh ta, đúng không?” Tôi hỏi cô gái bên cạnh. Cô ta lắc đầu nguầy nguậy nhưng nét ửng đỏ trên má cô ta đã thay cho câu trả lời.
“Chà, chúng ta sẽ xem mình có thể làm gì nhé?” Tôi nói, cảm thấy mình thật phóng khoáng và nghĩa hiệp, rồi đứng dậy và vui vẻ vẫy tay để thu hút sự chú ý của anh ta.
Bắt được tín hiệu của tôi, chàng trai trẻ mỉm cười, luồn lách qua đám đông. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra giữa họ lúc ở trong sân mấy ngày trước, nhưng tôi nghĩ thái độ của anh ta khi chào hỏi cô gái thật ấm áp, dẫu vẫn còn trang trọng. Anh ta cúi đầu chào tôi với dáng vẻ thoải mái hơn; sau khi mối quan hệ của chúng tôi trở nên thân mật vì hoàn cảnh đưa đẩy, anh ta khó có thể đối xử với tôi như với một người lạ.
Ở đầu cao hơn của đại sảnh vang lên vài nốt nhạc ngập ngừng ướm thử, báo hiệu cuộc trình diễn sắp bắt đầu, và chúng tôi vội vàng ngồi vào chỗ, Jamie chen vào ngồi giữa Laoghaire và tôi.
Gwyllyn là một người đàn ông có vẻ ngoài hết sức tầm thường, vóc dáng mảnh khảnh và mái tóc xám xỉn, nhưng ta sẽ không còn để ý đến ngoại hình của ông ta nữa một khi ông ta bắt đầu hát. Ông ta chỉ còn giống như một tiêu điểm, một nơi để đôi mắt hướng vào trong lúc đôi tai thưởng thức âm nhạc. Ông ta bắt đầu với một bài hát đơn giản bằng tiếng Gaelic, những câu hát rất vần với nhau, được đệm tiếng đàn hạc khe khẽ, và nhờ độ ngân của mỗi dây đàn mà các câu từ như được nối liền. Giọng ca cũng đơn giản đến mức đánh lừa người khác. Ban đầu ta nghĩ nó chẳng có gì đặc biệt - êm tai, nhưng không nhiều nội lực. Thế rồi ta nhận ra rằng thanh âm ấy xuyên thấu qua ta, mỗi âm tiết trong như pha lê, vang vọng sâu bên trong đầu ta, cho dù ta có hiểu nghĩa của nó hay không.
Bài hát nhận được một tràng vỗ tay nhiệt liệt, và người ca sĩ lập tức chuyển sang một bài hát khác, lần này là bằng tiếng Welsh[3], tôi nghĩ vậy. Với tôi, nó nghe như một tiếng súc miệng rất vui tai, nhưng những người xung quanh có vẻ hiểu rõ; chắc là trước đây họ đã từng nghe nó.
Trong một thoáng nghỉ ngắn để ca sĩ chỉnh lại dây đàn, tôi khẽ hỏi Jamie: “Gwyllyn đã ở lâu đài này lâu chưa?” Rồi tôi nói khi chợt nhớ ra: “Ồ, nhưng làm sao anh biết được chứ, đúng không? Tôi quên mất là anh cũng mới tới đây thôi.”
“Trước kia tôi đã từng ở đây,” anh ta đáp, quay sang tôi. “Tôi đã ở Leoch một năm hồi tôi khoảng mười sáu tuổi, lúc đó thì Gwyllyn đã ở đây rồi. Colum thích nhạc của ông ấy và trả công Gwyllyn rất hậu để ông ấy ở lại. Phải vậy thôi; bất kỳ vị lãnh chúa nào cũng sẽ hoan nghênh người đàn ông xứ Wales này.”
“Tôi còn nhớ hồi anh ở đây lần trước.” Laoghaire quyết định tham gia vào cuộc trò chuyện dù mặt vẫn ửng hồng. Jamie quay sang cô ta, khẽ mỉm cười.
“Vậy ư? Khi đó cô chừng bảy, tám tuổi chứ mấy. Tôi không nghĩ lúc bấy giờ tôi có gì đáng chú ý để mà được nhớ đến.” Lịch sự quay sang tôi, anh ta nói: “Cô có biết tiếng Welsh không?”
“Nhưng tôi có nhớ thật mà,” Laoghaire nói, vẫn cố tiếp tục chủ đề lúc nãy. “Anh, ờ, à… ý tôi là… anh không nhớ tôi thuở đó sao?” Hai tay cô ta căng thẳng nghịch những nếp gấp của chiếc váy. Tôi thấy cô ta cắn móng tay.
Jamie có vẻ bị sao nhãng bởi một nhóm người băng qua phòng, tranh cãi chuyện gì đó bằng tiếng Gaelic.
“À?” Anh ta mơ hồ nói. “Không, tôi không nghĩ vậy. Tuy nhiên,” anh ta đột nhiên quay sang cô ta, cười nói, “tôi cũng khó mà nhớ được. Một thằng nhóc đần độn mười sáu tuổi có cái tôi to đùng khó mà để ý nhiều tới một đám đông nhốn nháo những đứa bé thò lò mũi xanh.”
Tôi đoán anh ta nói vậy là để tự giễu mình chứ không có ý xúc phạm người nghe, nhưng kết quả không như anh ta mong đợi. Tôi nghĩ có lẽ nên dành cho Laoghaire một chút thời gian để bình tĩnh lại, nên vội vã nói xen vào: “Không, tôi chẳng biết một từ tiếng Welsh nào. Anh có biết ông ta đang nói gì không?”
“Ồ, có chứ.” Và Jamie bắt đầu dịch sang tiếng Anh từng câu từng chữ của bài hát. Đó có vẻ là một bản ballad cũ, kể về một chàng trai trẻ yêu một cô gái trẻ (còn gì nữa chứ?), nhưng anh ta cảm thấy mình không xứng đáng với cô ấy bởi vì anh ta nghèo, do đó anh ta đã ra khơi để kiếm vận may. Chàng trai trẻ bị đắm tàu, đụng độ những con rắn biển đe dọa anh ta và những nàng tiên cá mê hoặc anh ta, trải qua những cuộc phiêu lưu, tìm được kho báu và cuối cùng trở về nhà chỉ để thấy rằng cô gái trẻ đã cưới người bạn thân nhất của anh ta, một người dẫu có nghèo hơn nhưng rõ ràng cũng khôn ngoan hơn chàng trai trẻ.
“Nếu là anh thì anh sẽ làm gì?” Tôi hỏi trêu Jamie. “Anh sẽ không cưới khi không có tiền, hay sẽ chọn cô gái và mặc xác tiền bạc?” Câu hỏi này có vẻ gây hứng thú cho cả Laoghaire, cô ta nghiêng đầu lắng nghe câu trả lời, trong khi vẫn vờ như đang hết sức chú ý tới khúc sáo mà Gwyllyn vừa mới thổi.
“Tôi ư?” Jamie có vẻ thích thú với câu hỏi này. “Chà, vì tôi vốn không có tiền, cũng rất ít khả năng kiếm được tiền, nên tôi cho là tôi sẽ dựa vào vận may của mình để tìm một cô gái cưới tôi mà chẳng màng đến tiền bạc.” Anh ta lắc đầu, cười toét miệng. “Tôi không muốn đụng độ những con rắn biển.”
Anh ta còn định nói thêm điều gì đó nhưng bị Laoghaire ngăn lại. Cô ta dè dặt chạm vào cánh tay anh ta rồi đỏ mặt, rụt tay lại như phải bỏng.
“Suỵt,” cô ta nói. “Ý tôi là… ông ấy sắp kể chuyện. Anh không muốn nghe hay sao?”
“Ồ, có chứ.” Jamie ngồi ngả về phía trước một chút, vẻ chờ đợi, rồi nhận ra rằng mình chắn mất tầm nhìn của tôi nên khăng khăng bắt tôi ngồi sang phía bên kia của anh ta, buộc Laoghaire dịch ra xa hơn trên băng ghế. Tôi có thể thấy cô gái không vui vẻ gì với sự sắp đặt này, vì vậy tôi cố gắng từ chối, nhưng anh ta rất kiên quyết.
“Không, ngồi ở đó cô sẽ nhìn và nghe rõ hơn. Với lại, nếu ông ta nói tiếng Gaelic, tôi có thể ghé tai cô để thì thầm dịch lại cho cô hiểu.”
Màn trình diễn nào của thi sĩ cũng được hoan hô nhiệt liệt, mặc dù mọi người rì rầm tán gẫu trong lúc ông ta chơi nhạc, tạo nên một tiếng âm a trầm thấp bên dưới tiếng đàn hạc cao vút, ngọt ngào. Nhưng bây giờ cả đại sảnh bỗng im phăng phắc đầy vẻ mong đợi. Giọng nói của Gwyllyn cũng trong veo như giọng hát của ông ta, mỗi lời nói đều cao vút, chạm tới tận phía cuối của cái đại sảnh cao rộng, giá lạnh mà không cần phải gắng sức.
“Đó là thời điểm cách đây hai trăm năm…” Ông ta nói bằng tiếng Anh, và tôi bỗng cảm thấy ngờ ngợ. Đây chính là cách mà hướng dẫn viên của chúng tôi trên hồ Ness đã dùng để kể về những huyền thoại ở thung lũng lớn.
Nhưng ông ta không kể chuyện ma hay chuyện về những vị anh hùng, mà là một câu chuyện về loài tiên.
“Có một tộc tiên sống gần Dundreggan,” ông ta bắt đầu. “Ngọn đồi ở đó được đặt tên theo con rồng cư ngụ nơi ấy, nó đã bị Fionn giết và chôn ngay chỗ nó ngã xuống. Sau khi Fionn và những người Feinn qua đời, tộc tiên sinh sống ở ngọn đồi đó muốn những bà mẹ loài người làm vú nuôi cho những đứa con tiên của mình, vì con người có thứ mà loài tiên không có, và loài tiên nghĩ rằng thứ đó có thể được truyền cho con mình thông qua sữa mẹ.
Chuyện kể rằng, Ewan MacDonald, một người dân ở Dundreggan, đang chăm sóc đám gia súc ngoài trời tối vào cái đêm vợ anh ta sinh hạ đứa con trai đầu lòng. Bỗng có một cơn gió đêm thổi qua, và trong tiếng gió vi vút, anh ta nghe thấy tiếng kêu của vợ mình. Cô kêu la như lúc trước khi đứa trẻ được sinh ra. Nghe thấy tiếng cô ấy, Ewan MacDonald liền quay người lại và phóng con dao vào cơn gió. Thế là vợ anh ta rơi xuống đất một cách an toàn bên cạnh anh ta.”
Mọi người đồng thanh “a” lên trước đoạn kết của câu chuyện, và nó nhanh chóng được tiếp nối bởi những câu chuyện về sự thông minh, khéo léo của loài tiên và sự tương tác của họ với thế giới loài người. Có chuyện được kể bằng tiếng Gaelic, có chuyện lại được kể bằng tiếng Anh, tùy vào việc thứ ngôn ngữ nào phù hợp nhất với nhịp điệu của các câu từ, vì ngoài nội dung câu chuyện, thứ hấp dẫn người nghe còn nằm ở giọng kể. Giữ lời hứa, Jamie thì thầm dịch cho tôi nghe những câu chuyện được kể bằng tiếng Gaelic, trôi chảy đến mức khiến tôi nghĩ hẳn anh ta đã nghe chúng nhiều lần rồi.
Có một câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý, kể về một người đàn ông đi lên một ngọn đồi tiên vào lúc đêm khuya, và nghe thấy tiếng một phụ nữ cất lời ca “buồn bã và ai oán” từ chính những tảng đá trên ngọn đồi này. Anh ta lắng tai kĩ hơn và nghe thấy những lời sau:
“Ta là vợ của Lãnh chúa Balnain,
Loài tiên đã lại bắt cóc ta lần nữa.”
Thế là anh ta vội vàng chạy tới nhà của Lãnh chúa Balnain và thấy chủ nhân đi vắng, còn vợ và đứa con trai sơ sinh của ông ta đã biến mất. Anh ta liền hớt hải đi tìm một linh mục và đưa ông ta quay lại ngọn đồi tiên. Viên linh mục ban phép cho những tảng đá của ngọn đồi và tưới nước thánh lên chúng. Đột nhiên màn đêm trở nên đen kịt và có một tiếng động lớn nghe như tiếng sấm. Thế rồi mặt trăng ló ra từ sau một đám mây và chiếu ánh sáng lên người phụ nữ, vợ của Lãnh chúa Balnain, đang kiệt sức nằm trên cỏ với đứa con trong vòng tay. Người phụ nữ mệt mỏi rã rời như thể cô đã đi một quãng đường dài, nhưng không thể nhận ra mình đã ở đâu hay làm thế nào mà cô tới được đó.
Những người khác trong đại sảnh cũng có chuyện để kể, và Gwyllyn ngồi nghỉ trên chiếc ghế đẩu của mình, nhấm nháp rượu vang trong lúc hết người này đến người khác nhường chỗ cho nhau bên cạnh lò sưởi, kể các câu chuyện khiến cho cả đại sảnh say mê.
Vài câu chuyện trong số này chẳng lọt nổi vào tai tôi. Tôi còn mải chìm đắm trong những suy nghĩ của mình, chúng đang đảo lộn lung tung trong đầu tôi dưới sức ảnh hưởng của rượu vang, âm nhạc và những chuyện thần tiên.
“Đó là thời điểm khoảng hai trăm năm trước…”
Các câu chuyện của vùng cao nguyên luôn bắt đầu bằng thời điểm hai trăm năm, giọng nói của mục sư Wakefield vang lên trong tâm trí tôi. Tương tự như “Ngày xửa ngày xưa”, chị biết đấy.
Và những người phụ nữ bị mắc kẹt giữa các tảng đá trên những ngọn đồi tiên, bị kiệt sức sau một quãng đường xa xôi, không biết mình đã ở đâu cũng như làm cách nào mà mình tới được đó.
Tôi cảm thấy lông tay dựng đứng như thể bị lạnh, và vội vàng xoa xoa chúng. Hai trăm năm. Từ 1945 ngược về 1743; vâng, gần đủ. Còn chuyện những người phụ nữ đi xuyên qua các tảng đá. Phải chăng luôn là phụ nữ? Tôi đột nhiên tự hỏi.
Một điều khác cũng chợt nảy ra trong đầu tôi. Những người phụ nữ có quay trở lại. Dù là nhờ nước thánh, bùa chú hay con dao, họ có quay trở lại. Vì vậy có lẽ, chỉ là có lẽ thôi, tôi sẽ trở về được. Tôi phải quay lại vòng tròn đá trên Craigh na Dun. Nỗi phấn khích dâng lên khiến tôi hơi nôn nao, và tôi vươn tay với lấy ly rượu để tự trấn tĩnh mình.
“Cẩn thận!” Những ngón tay mò mẫm của tôi va phải mép chiếc ly thủy tinh đầy gần đến miệng mà tôi đã bất cẩn đặt bên cạnh mình trên băng ghế. Cánh tay dài của Jamie vươn ngang qua lòng tôi, cứu cái ly thoát khỏi thảm họa trong đường tơ kẽ tóc. Anh ta nhấc cái ly lên, khéo léo kẹp chân ly giữa hai ngón tay to lớn, nhẹ nhàng đưa qua đưa lại bên dưới mũi mình. Rồi anh ta trả nó lại cho tôi, hai hàng lông mày nhướng lên.
“Rượu vang vùng sông Rhine,” tôi giải thích.
“Ừ, tôi biết,” anh ta nói, vẫn nhướng mày. “Của Colum, đúng không?”
“Đúng vậy. Anh có muốn nếm thử một chút không? Rượu ngon lắm!” Tôi giơ cái ly ra, hơi run rẩy. Sau một thoáng ngần ngừ, anh ta nhận lấy và thử một ngụm nhỏ.
“Ầy, ngon thật,” anh ta nói, đưa trả cái ly lại cho tôi. “Cũng mạnh gấp đôi rượu thường. Colum uống loại rượu này vào ban đêm bởi vì chân ông ấy bị đau. Cô đã uống mấy ly thế?” Anh ta hỏi, nheo mắt nhìn tôi.
“Hai, không, ba ly,” tôi nói, với chút kiêu hãnh. “Anh đang ám chỉ rằng tôi bị say sao?”
“Không,” anh ta nói, lông mày vẫn nhướng lên. “Tôi ngạc nhiên vì cô không say. Hầu hết những người uống với Colum đều say bí tỉ sau ly thứ hai.” Anh ta vươn tay lấy lại cái ly từ tay tôi.
“Tuy nhiên,” anh ta nói thêm với giọng kiên quyết, “tôi nghĩ cô không nên uống thêm nữa, nếu không cô sẽ không leo nổi cầu thang đâu.” Anh ta ngửa cổ uống cạn rồi đưa cái ly rỗng cho Laoghaire mà không nhìn cô ta.
“Phiền cô trả nó về chỗ cũ, được không,” anh ta lơ đãng nói. “Cũng muộn rồi; tôi nghĩ là tôi sẽ đưa cô Beauchamp về phòng.” Rồi anh ta chạm vào khuỷu tay tôi, đẩy tôi về phía cửa tò vò, bỏ mặc cô gái đứng nhìn chằm chằm theo sau chúng tôi với ánh mắt đằng đằng sát khí.
Jamie cứ thế theo tôi vào tận trong phòng khiến tôi có chút kinh ngạc. Nhưng rồi nỗi kinh ngạc ấy cũng biến mất khi anh ta đóng cửa và cởi áo. Tôi đã quên mất lớp băng bó ở vai anh ta mà tôi đã định tháo ra trong hai ngày qua.
“Tôi muốn tháo thứ này lắm rồi,” anh ta nói, xoa xoa lớp băng quấn bằng vải lanh và tơ nhân tạo. “Nó làm tôi khó chịu mấy ngày nay.”
“Tôi ngạc nhiên vì anh không tự mình cởi nó ra đấy,” tôi nói, giơ tay cởi các nút thắt.
“Tôi sợ, sau khi bị cô quát mắng lúc cô quấn lớp băng đầu tiên,” anh ta nói, cười nhăn nhở. “Tôi nghĩ mình sẽ bị tét vào mông nếu tôi chạm vào nó.”
“Anh sẽ bị tét ngay bây giờ nếu không chịu ngồi yên,” tôi đáp trả, giả vờ nghiêm khắc, đặt cả hai tay lên bờ vai lành lặn của anh ta rồi ấn anh ta ngồi xuống cái ghế đẩu, cảm thấy mình hơi chao đảo.
Tôi cởi lớp băng ra và cẩn thận thăm dò khớp vai. Nó vẫn còn hơi sưng và bầm tím, nhưng ơn trời là tôi không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy cơ bị rách.
“Nếu anh nóng lòng muốn tống khứ nó đến thế tại sao anh không để cho tôi tháo nó ra vào chiều hôm qua?” Thái độ của anh ta ở bãi giữ ngựa khi đó đã làm tôi khó hiểu, và bây giờ tôi càng khó hiểu hơn nữa khi nhìn thấy những mảng da đỏ sần lên vì bị các mép của lớp băng vải lanh cọ vào. Tôi cẩn trọng nhấc lớp băng ra, nhưng ở bên dưới tất cả đều ổn.
Anh ta liếc tôi rồi cụp mắt xuống vẻ ngượng ngùng. “Chà, chỉ là… ờ, chỉ là tôi không muốn cởi áo trước mặt Alec.”
“Anh xấu hổ à?” Tôi hỏi giễu, bắt anh ta giơ tay lên để thử sự căng duỗi của khớp vai. Anh ta hơi nhăn nhó trước cử động này, nhưng mỉm cười trước câu nói ấy.
“Nếu tôi xấu hổ, tôi đã không cởi trần ngồi trong phòng cô, đúng không? Không phải thế đâu, mà là vì những dấu vết trên lưng tôi.” Nhìn thấy tôi nhướng mày, anh ta tiếp tục giải thích. “Alec biết tôi là ai - ý tôi là, ông ấy đã nghe nói tôi bị tra tấn, nhưng ông ấy chưa được nhìn thấy thương tích của tôi. Biết là một chuyện, tận mắt nhìn thấy lại là một chuyện khác.” Anh ta rón rén sờ lên cái vai bị đau, cau mày nhìn xuống sàn nhà. “Đó là - có lẽ cô sẽ không hiểu đâu. Khi cô biết một người đàn ông phải chịu một thương tích nào đấy, đó chỉ là một trong những điều mà cô biết về anh ta, và nó không tạo ra nhiều khác biệt trong cách cô nhìn anh ta. Alec biết tôi bị quất roi, giống như ông ấy biết tôi có mái tóc đỏ, và điều đó không ảnh hưởng gì đến cách ông ấy đối xử với tôi.” Anh ta ngẩng lên, tìm kiếm dấu hiệu thấu hiểu từ tôi.
“Nhưng khi cô chính mắt nhìn thấy thì” - anh ta ngập ngừng, tìm kiếm từ thích hợp - “nó hơi… ảnh hưởng đến cảm xúc cá nhân, có lẽ vậy. Tôi nghĩ… nếu ông ấy nhìn thấy những vết sẹo, mỗi lần thấy tôi, ông ấy sẽ không thể không nghĩ đến cái lưng của tôi. Còn tôi sẽ nhìn ra ông ấy đang nghĩ về nó, và khiến tôi nhớ đến nó, và…” Anh ta đột ngột ngừng lại, nhún vai.
“Chà. Tôi giải thích tệ lắm phải không? Dù sao đi nữa, tôi chắc chắn mình rất nhạy cảm với chuyện đó. Mà xét cho cùng, tôi đâu thể nhìn thấy cái lưng của mình chứ; có lẽ nó cũng không khủng khiếp như tôi nghĩ.” Tôi đã nhìn thấy những người đàn ông bị thương chống nạng đi trên đường phố và người ta đi qua họ với ánh mắt lảng tránh, vì vậy tôi nghĩ lời giải thích của anh ta không có gì khó hiểu.
“Anh không ngại nếu tôi xem cái lưng của anh chứ?”
“Không, tôi không ngại đâu.” Giọng anh ta có vẻ hơi kinh ngạc, và anh ta ngừng lại một thoáng để suy nghĩ. “Tôi cho là… cô có khả năng bày tỏ sự thông cảm của mình mà không làm tôi cảm thấy bị thương hại.”
Anh ta kiên nhẫn ngồi im khi tôi đi vòng ra đằng sau để kiểm tra cái lưng của anh ta. Tôi không biết anh ta nghĩ nó tệ đến mức nào, nhưng nó thực sự khủng khiếp. Ngay cả trong ánh nến và dù đã từng nhìn thấy nó một lần trước đó, tôi vẫn hết sức bàng hoàng. Trước đây, tôi chỉ nhìn thấy một bên vai. Giờ thì tôi mới thấy các vết sẹo phủ kín lưng anh ta từ vai tới eo. Mặc dù nhiều vết đã mờ đi, chỉ còn là những lằn mảnh màu trắng, nhưng vẫn có những vết gồ lên dày cộm. Tôi có chút tiếc nuối khi nghĩ rằng tấm lưng anh ta hẳn đã từng rất đẹp. Da anh ta sáng và tươi tắn, từng lằn xương và bắp thịt vẫn rắn chắc và duyên dáng, hai bờ vai phẳng, vuông vức, còn xương sống là một đường rãnh thẳng băng hằn sâu giữa những búi cơ tròn lẳn nổi lên ở hai bên.
Jamie nói đúng. Nhìn những vết thương chằng chịt này, trong đầu tôi không thể không vẽ lên một bức tranh về quá trình gây ra chúng. Tôi cố gắng không tưởng tượng ra hai cánh tay cơ bắp dang rộng như cánh đại bàng, bị trói chặt đến mức những sợi dây thừng cứa thít vào cổ tay, cái đầu có mái tóc màu đồng gục mạnh vào cột trong nỗi đau đớn, nhưng những dấu vết này quá dễ dàng gợi lên những hình ảnh ấy. Anh ta có gào thét lúc bị đánh không? Tôi vội vàng xua ý nghĩ đó đi. Dĩ nhiên, tôi đã nghe kể về những hành động còn tàn bạo hơn thế này nhiều qua những câu chuyện rò rỉ ra từ nước Đức thời hậu chiến, nhưng anh ta nói đúng; chỉ nghe nói thôi thì không thể so với việc tận mắt nhìn thấy.
Tôi bất giác giơ tay ra, như thể chỉ cần chạm vào là tôi có thể chữa lành cho anh ta và những ngón tay tôi có thể tẩy xóa mọi dấu vết. Anh ta thở dài một hơi nhưng không cử động khi tôi lần theo từng vết sẹo sâu hoắm, như muốn chỉ cho anh ta thấy mức độ tổn thương mà anh ta không thể nhìn được. Cuối cùng, tôi nhẹ nhàng đặt tay lên vai anh ta trong im lặng, cố tìm lời để nói.
Anh ta đặt tay lên tay tôi, khẽ siết lại như để tỏ ý cảm ơn những điều tôi còn chưa kịp nói ra.
“Có những người còn gặp phải những chuyện tồi tệ hơn mà,” anh ta khẽ nói, rồi buông tay tôi ra và bầu không khí xúc động bị phá vỡ.
“Có vẻ như nó đang lành lại,” anh ta nói, cố gắng ngoảnh nhìn vết thương trên vai. “Nó không còn đau nhiều nữa.”
“Tốt rồi,” tôi nói, hắng giọng để xua đi cảm giác nghèn nghẹn nơi cuống họng. “Nó đang lành lại; đã đóng vảy và không bị chảy mủ. Chỉ cần giữ nó sạch sẽ và đừng cử động cánh tay nhiều hơn mức cần thiết trong hai, ba ngày nữa.” Tôi vỗ vỗ cái vai lành lặn, ra hiệu tiễn khách. Anh ta mặc lại áo mà không cần trợ giúp, nhét phần đuôi áo dài thòng vào trong váy.
Anh ta thoáng dừng lại bên ngưỡng cửa, lúng túng tìm lời tạm biệt. Cuối cùng, anh ta mời tôi ngày mai tới chuồng ngựa để xem một con ngựa mới sinh. Tôi hứa sẽ đến, rồi chúng tôi đồng thanh chúc nhau ngủ ngon và bật cười, gật đầu với nhau khi tôi đóng cửa. Tôi leo lên giường ngay lập tức, mơ màng thiếp đi trong cơn chếnh choáng, chìm vào những giấc mơ hỗn loạn mà sáng hôm sau tôi không còn nhớ được.
•••
Ngày mới lại đến, sau một buổi sáng dài khám chữa cho các bệnh nhân, lục lọi kho thực phẩm để tìm những loài thảo mộc hữu ích bổ sung cho tủ thuốc của mình, và - với chút kiểu cách - ghi chép lại các chi tiết vào cuốn sổ bìa đen của Davie Beaton, tôi rời khỏi căn phòng chật hẹp để đi bách bộ và kiếm chút không khí trong lành.
Lúc bấy giờ chẳng có ai lảng vảng xung quanh, tôi nhân cơ hội khám phá những tầng trên của lâu đài, nhòm ngó các căn phòng trống và những cầu thang xoắn ốc, đồng thời thầm vẽ sơ đồ của tòa lâu đài trong đầu. Thiết kế của tòa lâu đài rất bất thường. Nó đã được sửa sang, thêm thắt chỗ này chỗ nọ qua năm tháng, cho đến khi khó mà biết được thiết kế ban đầu của nó ra sao. Trong cái hành lang này, chẳng hạn, có một cái hốc tường xây thụt vào trong bên cạnh cầu thang, rõ ràng chẳng có mục đích gì ngoài việc lấp đầy một không gian trống vốn quá nhỏ để xây nên một căn phòng hoàn thiện.
Hốc tường được che chắn phần nào bởi một tấm rèm vải lanh kẻ sọc; nếu mắt tôi không bất chợt bắt gặp thứ gì đó trắng lấp lóa ở bên trong thì tôi đã cứ thế mà đi thẳng qua rồi. Tôi dừng lại ngay bên ngoài hốc tường, nhòm vào trong để xem nó là gì. Hóa ra đó là cái tay áo của Jamie, đang vòng qua tấm lưng của một cô gái và kéo cô ta lại để hôn. Cô ta ngồi trên đùi anh ta, mái tóc vàng bắt lấy ánh nắng hắt vào qua một khe hở nhỏ, óng ánh như một con suối đầy cá hồi vào một buổi sáng rực rỡ.
Tôi ngập ngừng, không biết phải làm gì. Tôi không muốn theo dõi bọn họ, nhưng sợ rằng tiếng bước chân của mình trên những phiến đá hành lang sẽ làm họ giật mình chú ý. Trong lúc tôi đang do dự, Jamie bỗng khựng lại và ngẩng lên nhìn. Khi đôi mắt anh ta bắt gặp ánh mắt tôi, khuôn mặt đang méo xệch vì hốt hoảng lập tức trở nên nhẹ nhõm. Khẽ nhướng mày và nhún vai, anh ta ôm cô gái chặt hơn và cúi xuống làm nốt công việc đang dang dở. Tôi lùi lại và nhón chân đi. Đây không phải việc của tôi. Tuy nhiên, tôi ngờ rằng cả Colum và cha cô gái đều sẽ coi “cuộc giao thiệp” này là một hành vi đồi bại. Trận đòn tiếp theo sẽ lại giáng xuống đầu anh ta nếu họ không cẩn thận hơn trong việc lựa chọn địa điểm gặp gỡ.
Bữa tối hôm đó, thấy anh ta và già Alec có mặt, tôi liền ngồi xuống đối diện với họ qua cái bàn dài. Jamie vui vẻ chào tôi, nhưng trong mắt ánh lên vẻ cẩn trọng. Già Alec thì chỉ ậm ừ như thường lệ. Theo lời ông ta giải thích với tôi, phụ nữ không hiểu gì về ngựa, do đó khó mà nói chuyện cùng.
“Việc huấn luyện ngựa thế nào rồi?” Tôi hỏi, cản trở cái miệng đang nhai mải miết ở phía bên kia bàn.
“Tốt,” Jamie thận trọng trả lời.
Tôi nhìn anh ta qua đĩa củ cải luộc. “Miệng anh hơi sưng, Jamie. Bị ngựa đá à?” Tôi tinh quái hỏi.
“Ừ,” anh ta trả lời, mắt gườm gườm. “Nó bất ngờ hất đầu lúc tôi không để ý.” Anh ta bình thản nói, nhưng tôi cảm thấy một bàn chân to lớn giẫm lên chân tôi bên dưới gầm bàn. Nó giẫm xuống khẽ thôi, nhưng đầy vẻ đe dọa.
“Xui xẻo quá; những con ngựa cái non[4] đó có vẻ nguy hiểm đấy,” tôi giả bộ ngây thơ nói.
Bàn chân ép mạnh xuống khi Alec nói: “Ngựa cái non? Hiện giờ bây có làm gì với lũ ngựa cái non đâu nhỉ, thằng lỏi?” Sau khi dùng bàn chân còn lại để bẩy chân anh ta ra nhưng không được, tôi bèn đá mạnh vào mắt cá chân anh ta. Jamie đột nhiên giật nẩy.
“Bây làm sao thế?” Alec hỏi.
“Cắn phải lưỡi,” Jamie lẩm bẩm, trừng mắt nhìn tôi qua bàn tay đang bịt miệng.
“Thằng ngốc vụng về. Nhưng không ngoài những gì ta dự đoán ở một thằng đần thậm chí còn không thể tránh được một con ngựa khi…” Alec lải nhải trong vài phút, mắng mỏ người trợ lý về mức độ vụng về, lười biếng, ngu ngốc và nói chung là vô tích sự. Tôi thấy Jamie chẳng hề giống với những lời ông ta buộc tội, nhưng anh ta cứ cắm cúi ăn, để mặc ông ta chỉ trích kịch liệt, có điều hai má anh ta đỏ bừng. Tôi e dè dán chặt mắt vào cái đĩa của mình trong suốt thời gian còn lại của bữa ăn.
Từ chối đĩa hầm thứ hai, Jamie đột ngột rời khỏi bàn, chấm dứt tràng đả kích của Alec. Ông lão nài ngựa và tôi lặng lẽ ăn trong vài phút. Ông ta quệt miếng bánh mỳ cuối cùng lên cái đĩa của mình, nhét vào miệng rồi tựa vào lưng ghế, chăm chú nhìn tôi với vẻ nhạo báng bằng con mắt màu xanh duy nhất.
“Cô không nên chọc tức thằng lỏi đó,” ông ta như đang trò chuyện tâm tình. “Nếu cha cô gái hay Colum biết chuyện, thằng nhỏ Jamie có thể phải nhận một thứ gì đó còn khủng khiếp hơn cả một con mắt thâm tím đấy.”
“Chẳng hạn như một người vợ?” Tôi nói, nhìn thẳng vào mắt ông ta. Ông ta chầm chậm gật đầu.
“Có thể. Và đó không phải là người vợ mà nó nên có.”
“Không phải ư?” Tôi hơi ngạc nhiên trước điều này, sau khi đã nghe lỏm được những lời nhận xét của Alec ở bãi giữ ngựa.
“Đúng vậy, thằng bé cần một người phụ nữ chứ không phải một cô gái. Mà cho đến năm mươi tuổi thì Laoghaire vẫn sẽ chỉ là một cô gái mà thôi.” Cái miệng già nua nghiêm khắc cong lên như đang cười. “Có thể cô nghĩ tôi sống cả đời trong một cái chuồng ngựa thì biết được gì, nhưng tôi từng có vợ và vợ tôi là một người phụ nữ, vì thế tôi hiểu rất rõ sự khác biệt.” Con mắt xanh ánh lên khi ông ta nhổm dậy. “Cô cũng vậy.”
Tôi hấp tấp vươn tay ra để ngăn ông ta lại. “Làm sao ông biết…” Tôi mở miệng. Già Alec phì cười.
“Có thể tôi chỉ có một con mắt thôi; nhưng thế không có nghĩa là tôi mù.” Ông ta kẽo kẹt rời đi, vừa đi vừa cười hô hố. Tôi trở về phòng mình, ngẫm nghĩ không biết ông lão nài ngựa ám chỉ điều gì, nếu có, trong câu nói cuối cùng.
[1] Rượu vang vùng sông Rhine.
[2] Trích trong bài vè Old King Cole dành cho trẻ con nước Anh.
[3] Tiếng Celt ở xứ Wales.
[4] Nguyên văn: Filly, vừa có nghĩa là ngựa cái non, vừa có nghĩa là cô gái trẻ.