Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
28
Những nụ hôn và chiếc quần đùi

❊ ❊ ❊

Dần dần tôi cũng tìm được vị trí của mình trong guồng quay của điền trang. Vì Jenny không thể đi bộ xa để tới nhà của các tá điền nữa nên tôi bèn tiếp quản việc đó, lúc thì đi cùng một anh chàng nài ngựa, lúc lại đi cùng Jamie hoặc Ian. Tôi mang theo thức ăn cùng với thuốc men, cố gắng hết sức để chăm sóc những người bị bệnh, hướng dẫn mọi người cách cải thiện sức khỏe và vệ sinh, và việc này được đón nhận bằng những thái độ rất khác nhau.

Những lúc ở Lallybroch, tôi mò mẫm khắp mọi ngóc ngách, đỡ đần mọi người bất cứ khi nào có thể, chủ yếu là ở trong các khu vườn. Ngoài vườn cây cảnh nhỏ đáng yêu, nơi đây còn có một vườn thảo mộc nhỏ và một vườn rau khổng lồ cung cấp củ cải, bắp cải và bí xanh.

Jamie góp mặt ở khắp nơi; lúc thì trong thư phòng với sổ sách giấy tờ, lúc thì ngoài cánh đồng với các tá điền, lúc lại ở trong chuồng ngựa với Ian, bù đắp cho quãng thời gian đã mất. Tôi nghĩ anh làm vậy không chỉ vì bổn phận hay hứng thú. Chúng tôi sắp phải rời đi; anh muốn sắp đặt sao cho mọi việc vẫn trôi chảy trong lúc anh vắng nhà; cho đến khi anh - chúng tôi - có thể trở về hẳn.

Dù biết không thể nán lại đây lâu nhưng được sống trong ngôi nhà yên bình này với sự bầu bạn vui vẻ của Jenny, Ian và nhóc Jamie, tôi cảm thấy mình như đã trở về nhà.

Một hôm, sau bữa sáng, Jamie thông báo rằng anh sẽ tới đầu thung lũng để xem xét một con ngựa mà Martin Mack rao bán.

Jenny ngoảnh lại từ chỗ tủ búp phê, lông mày cau lại.

“Có an toàn không, Jamie? Một tháng vừa rồi lính tuần tra Anh xuất hiện ở vùng này nhiều lắm.”

Anh nhún vai, lấy cái áo khoác vắt trên ghế.

“Em sẽ cẩn thận.”

“Ồ, Jamie,” Ian nói, ôm một đống củi bước vào. “Tôi đang định hỏi cậu - sáng nay cậu tới xưởng xay được không? Hôm qua, Jock tới nói rằng bánh xe nước bị trục trặc. Tôi đã qua đó kiểm tra, nhưng cả anh ấy và tôi hợp lực lại cũng không thể làm nó nhúc nhích. Chắc là có một mẩu rác nào đó ở dưới nước bị vướng vào nó.”

Anh khẽ giậm cái chân gỗ, mỉm cười với tôi.

“Tôi vẫn có thể đi lại và cưỡi ngựa, ơn Chúa, nhưng không bơi được. Tôi chỉ quẫy đạp loạn xạ và xoay vòng vòng như một con bọ thôi.”

Jamie lại đặt áo khoác xuống ghế, mỉm cười trước sự mô tả của anh rể.

“Trong cái rủi lại có cái may đấy, Ian, vì không bơi được nên anh khỏi phải ngâm mình cả buổi sáng trong một hồ nước lạnh giá. Được rồi, để tôi đi xem sao.”

Anh quay sang tôi. “Em có muốn đi với anh không, Sassenach? Thời tiết hôm nay khá đẹp, em có thể mang theo cái giỏ nhỏ của mình.” Anh liếc nhìn cái giỏ liễu gai to tướng mà tôi dùng để hái thảo mộc với ánh mắt châm biếm. “Anh đi thay đồ đã, rồi sẽ trở lại ngay.” Anh hướng về phía cầu thang và huỳnh huỵch leo ba bậc một.

Ian và tôi nhìn nhau, mỉm cười. Nếu anh có tiếc nuối vì mình không còn làm được những hành động như thế nữa thì cảm giác ấy cũng được che giấu bên dưới niềm vui khi nhìn thấy sự hăm hở của Jamie.

“Thật là tuyệt khi lại có cậu ấy,” anh nói.

“Giá mà bọn em có thể ở lại,” tôi nói, đầy nuối tiếc.

Đôi mắt màu nâu nhạt tỏ vẻ hoảng hốt. “Hai người sẽ không đi ngay chứ?”

Tôi lắc đầu. “Không, bọn em chưa đi ngay đâu, nhưng bọn em cần lên đường trước khi tuyết rơi.” Jamie đã quyết định rằng chúng tôi nên tới Beauly, trung tâm của thị tộc Fraser. Có lẽ ông nội của anh, Lãnh chúa Lovat, có thể giúp đỡ; nếu không, ít nhất ông ấy cũng có thể sắp xếp cho chúng tôi tới Pháp.

Ian gật đầu, an tâm. “Ừ. Nhưng cũng chỉ còn có vài tuần.”

•••

Quả là một ngày thu tươi sáng và đẹp đẽ, không khí giống như rượu táo, dễ khiến người ta say sưa, còn bầu trời thì xanh ngắt đến độ có thể nhấn chìm người ta trong đó. Chúng tôi nhẩn nha dạo bước, tán gẫu vu vơ, do đó vừa đi tôi vừa có thể để mắt đến những nụ tầm xuân và tục đoạn nở muộn.

“Tuần sau là Ngày Nộp Tô,” Jamie nói. “Lúc đó chiếc váy mới của em đã xong chưa?”

“Em hy vọng là đã xong. Sao vậy, đó là một dịp đặc biệt à?”

Anh mỉm cười với tôi, cầm lấy cái giỏ trong lúc tôi cúi xuống để ngắt một cây cúc ngải.

“Ồ, trong chừng mực nào đó. Không lớn như các dịp lễ lạt của Colum, hẳn rồi, nhưng toàn bộ tá điền ở Lallybroch sẽ tới để nộp địa tô - và chào hỏi tân phu nhân Lallybroch.”

“Chắc là họ sẽ ngạc nhiên vì anh đã cưới một phụ nữ Anh.”

“Anh cho là vài ông bố có thể thất vọng; anh đã tán tỉnh một, hai cô gái trong vùng trước khi bị bắt và đưa tới pháo đài William.”

“Anh tiếc vì đã không cưới một cô nàng địa phương chứ gì?” Tôi hỏi móc.

“Nếu em nghĩ anh sẽ nói “ừ” trong khi em đang cầm một con dao tỉa cây thì em đã đánh giá hơi thấp lý trí của anh rồi đó.”

Tôi thả con dao mà tôi định dùng để đào xới xuống, dang hai tay đứng đợi. Khi anh cuối cùng cũng chịu thua, tôi cúi xuống nhặt lại con dao, trêu chọc: “Em luôn tự hỏi làm thế nào mà anh giữ được mình lâu đến vậy. Các cô gái ở Lallybroch đều xấu xí à?”

“Không,” anh nói, nheo mắt trước ánh mặt trời buổi sáng. “Nguyên nhân chủ yếu là vì cha anh. Thi thoảng, cha con anh lại đi dạo qua những cánh đồng vào buổi tối, vừa đi vừa trò chuyện. Khi anh đủ lớn, ông đã nói với anh rằng một người đàn ông phải chịu trách nhiệm cho bất cứ “hạt giống” nào mà anh ta “gieo trồng”, vì anh ta có bổn phận chăm sóc và bảo vệ cho một người phụ nữ. Nếu anh chưa sẵn sàng làm điều đó, anh không có quyền bắt một người phụ nữ phải gánh chịu hậu quả từ những hành động của anh.”

Anh liếc nhìn ngôi nhà ở đằng sau và nghĩa địa nhỏ của gia đình ở gần chân tòa tháp, nơi cha mẹ anh được chôn cất.

“Ông nói điều tuyệt vời nhất trong đời một người đàn ông là ăn nằm với người phụ nữ mà anh ta yêu,” anh khẽ nói, mỉm cười với tôi, đôi mắt xanh thăm thẳm y hệt như bầu trời phía trên đầu. “Ông nói đúng.”

Tôi khẽ chạm vào mặt anh rồi rê ngón tay từ má đến quai hàm.

“Nhưng cũng khá khó khăn với anh khi phải chờ đợi lâu như vậy,” tôi nói.

Jamie cười toe, chiếc váy bay phấp phới quanh đầu gối trong cơn gió thu lạnh lẽo.

“Chà, giáo hội dạy rằng thủ dâm là một tội lỗi, nhưng cha anh nói nếu phải lựa chọn giữa thủ dâm hoặc hại đời một người phụ nữ tội nghiệp, một người đàn ông đường hoàng nên biết hy sinh và lựa chọn cách thứ nhất.”

Khi đã ngừng cười, tôi lắc đầu, nói: “Không. Không, em sẽ không hỏi gì đâu. Nhưng đúng là trước khi lấy em, anh vẫn còn trong trắng.”

“Nhờ ơn Chúa và cha anh đấy, Sassenach! Năm anh bước sang tuổi mười bốn, anh chẳng để ý đến bất cứ thứ gì ngoài các cô gái. Nhưng đúng lúc đó anh lại bị gửi đến ở với Dougal tại Beannachd.”

“Ở Beannachd không có cô gái nào sao?” Tôi hỏi. “Dougal có con gái mà.”

“Có. Bốn cô. Hai cô nhỏ nhất chẳng có gì đáng chú ý, nhưng cô cả rất xinh đẹp. Molly lớn hơn anh một, hai tuổi gì đấy, và chẳng hề lấy làm hãnh diện khi được anh chú ý. Anh thường nhìn chòng chọc vào cô ấy qua bàn ăn tối, còn cô ấy thì nhìn anh với vẻ khinh khỉnh và hỏi anh có bị bệnh viêm chảy không? Nếu có, anh nên đi ngủ, nếu không, cô ấy sẽ rất biết ơn nếu anh khép miệng lại, vì cô ấy không muốn nhìn thấy amiđan của anh trong lúc ăn.”

“Em bắt đầu hiểu tại sao anh giữ được sự trong trắng lâu đến vậy rồi,” tôi nói, nhấc váy để leo lên cái bục trèo. “Nhưng không thể có chuyện tất cả bọn họ đều như thế.”

“Ừ,” anh trầm ngâm nói, chìa tay đỡ tôi. “Không phải tất cả bọn họ đều như thế. Tabitha, em gái của Molly, thân thiện hơn một chút.” Anh mỉm cười khi hồi tưởng lại.

“Tibby là cô gái đầu tiên anh hôn, hay đúng ra là cô gái đầu tiên hôn anh. Hôm đó, anh xách giúp cô ấy hai thùng sữa từ chuồng gia súc đến khu chế biến sữa. Suốt đường đi, anh cứ tìm cách để đưa cô ấy đến sau cánh cửa và hôn cô ấy, vì ở đó không có chỗ nào để tránh. Nhưng hai tay anh đều đang bận nên cô ấy phải mở cửa cho anh. Vì vậy, chính anh mới là người bị đẩy tới đằng sau cánh cửa, còn Tib tiến đến cầm lấy hai tai anh và hôn anh. Làm đổ cả sữa,” anh nói thêm.

“Có vẻ là một trải nghiệm đầu tiên đáng nhớ,” tôi cười nói.

“Anh không nghĩ anh là người đầu tiên của cô ấy,” anh nói, cười nhăn nhở. “Cô ấy thành thạo hơn anh. Nhưng bọn anh cũng chẳng được thực hành nhiều; một, hai ngày sau, mẹ cô ấy bắt quả tang bọn anh trong phòng ăn. Mợ ấy chỉ lườm anh một cái sắc lẻm và bảo Tibby đi sắp bàn cho bữa tối, nhưng chắc là mợ ấy đã kể với Dougal chuyện đó.”

Dougal MacKenzie từng sôi sùng sục vì danh dự của chị gái bị xúc phạm, vì vậy tôi có thể tưởng tượng ông ta sẽ làm gì để bảo vệ danh tiết của con gái.

“Em rùng mình khi nghĩ đến cảnh đó,” tôi nói, cười toe.

“Anh cũng vậy,” Jamie nói, rùng mình. Anh liếc xéo tôi, có vẻ xấu hổ.

“Hẳn là em biết rằng vào buổi sáng, thi thoảng các chàng trai trẻ lại thức dậy với... chà, với...” Anh đỏ mặt.

“Vâng, em biết,” tôi nói. “Những người đàn ông hai mươi ba tuổi cũng vậy mà. Anh nghĩ em không để ý à? Nó đập vào mắt em bao nhiêu lần rồi.”

“Ừmmmm. Vào buổi sáng hôm sau, anh tỉnh dậy từ lúc rạng đông. Anh đã mơ thấy cô ấy - ý anh là Tib, chứ không phải là mẹ cô ấy đâu nhé - và không ngạc nhiên gì khi cảm thấy có một bàn tay đặt lên “cậu bé” của mình. Tuy nhiên, điều đáng kinh ngạc là đó không phải tay anh.”

“Hẳn là tay của Tibby?”

“Không phải. Đó là tay của cha cô ấy.”

“Dougal ư? Thế quái nào...”

“Anh mở bừng mắt, thấy ông ấy đang mỉm cười với anh rất dịu dàng. Rồi ông ấy ngồi lên giường và bọn anh đã có một cuộc trò chuyện thú vị giữa cậu và cháu, giữa cha nuôi và con nuôi. Ông ấy nói vì không có con trai nên ông ấy rất vui khi anh đến ở với ông ấy. Cả gia đình ông ấy đều quý mến anh, và ông ấy không muốn những cảm xúc ngây thơ, tốt đẹp mà các con gái của ông ấy dành cho anh bị lợi dụng, nhưng dĩ nhiên là ông ấy tin tưởng anh như tin tưởng con trai mình.”

“Trong lúc ông ấy thao thao bất tuyệt, anh cứ nằm yên ở đó. Một tay ông ấy đặt lên con dao ở thắt lưng, tay kia đặt lên “thằng nhỏ” của anh, vì vậy anh chỉ biết vâng vâng dạ dạ, và khi ông ấy rời đi, anh nằm cuộn tròn trong chăn, mơ về những con lợn. Sau đó, anh không còn hôn một cô gái nào nữa cho đến khi anh mười sáu tuổi và tới Leoch.”

Anh nhìn tôi, mỉm cười. Tóc anh được buộc túm lại bằng một sợi dây da, nhưng những sợi ngắn hơn vẫn chĩa lên tua tủa ở đỉnh đầu như thường lệ, ánh lên màu đỏ và vàng kim trong không khí trong lành, lạnh lẽo. Da anh đã sạm đi thành màu đồng hun trong suốt hành trình từ Leoch đến Craig na Dun. Trông anh như một chiếc lá mùa thu đang vui vẻ xoay tròn theo cơn gió.

“Còn em, cô nàng Sassenach xinh đẹp của anh?” Anh hỏi, cười nhăn nhở. “Em có chàng trai nhỏ nào bám gót không, hay em ngại ngùng và e lệ?”

“Sớm hơn anh một chút,” tôi thận trọng nói. “Hồi đó em mới tám tuổi.”

“Đúng là Jezebel[1]. Chàng trai may mắn đó là ai vậy?”

“Con trai của bà thông dịch viên. Đó là lúc em ở Ai Cập. Khi ấy anh ta chín tuổi.”

“Ái chà, không trách được em. Bị một “người đàn ông” lớn tuổi hơn dụ dỗ. Lại còn là một kẻ ngoại đạo quỷ quái nữa chứ!”

Ở bên dưới, xưởng xay đẹp như tranh vẽ hiện ra trong tầm mắt, với một chùm dây leo màu đỏ sẫm ánh lên rực rỡ trên mép bức tường trát vữa màu vàng và những cánh cửa chớp màu xanh lá tuy bị bong tróc nhưng rất sạch sẽ đang mở toang để đón ánh sáng ban ngày. Một dòng nước xối xả chảy vào lòng hồ theo cái máng kề ngay dưới chân bánh xe nước bất động. Trên mặt hồ còn có những con vịt, đó là lũ mòng két và vịt mắt vàng dừng chân để nghỉ ngơi trên hành trình bay về phương Nam.

“Nhìn kìa,” tôi nói, dừng lại ở đỉnh đồi, níu tay Jamie. “Đáng yêu chưa kìa!”

“Sẽ còn đáng yêu hơn nữa nếu bánh xe nước đang quay,” anh nói rồi liếc nhìn tôi và mỉm cười. “Ừ, Sassenach. Đây là một nơi tuyệt đẹp. Hồi nhỏ anh thường bơi ở đây - con suối nhỏ này đổ ra một con suối lớn hơn chỗ khúc quanh đằng kia.”

Đi xuống dốc một chút, con suối thấp thoáng hiện ra qua rặng liễu. Có bốn đứa trẻ đang đùa giỡn, té nước vào nhau và la hét ầm ĩ, tất cả đều trần như nhộng.

“Grrrừ,” tôi thốt lên khi nhìn ngắm chúng. Trời khá đẹp so với tiết thu nhưng vẫn lạnh đến nỗi khiến tôi mừng thầm vì mình đã mang khăn quàng. “Chỉ nhìn chúng thôi cũng đủ khiến máu em đông lại.”

“Ồ?” Jamie nói. “Vậy thì để anh sưởi ấm cho em nhé!”

Liếc mắt về phía lũ trẻ đang bơi dưới suối, anh lùi vào bóng của một cây dẻ to lớn, choàng tay quanh eo tôi và kéo tôi theo.

“Em không phải cô gái đầu tiên anh hôn,” anh khẽ nói. “Nhưng anh thề rằng em sẽ là người cuối cùng.” Và anh cúi xuống khuôn mặt đang ngẩng lên của tôi.

•••

Sau màn giới thiệu qua quýt khi ông chủ xưởng xay bước ra đón chúng tôi, tôi mang cái giỏ tới ngồi bên bờ hồ chứa nước trong lúc Jamie lắng nghe anh ta giải thích về vấn đề mà mình đang gặp phải. Khi ông chủ xưởng xay trở vào bên trong, cố gắng xoay cối đá, Jamie tần ngần đứng nhìn lòng hồ đen ngòm, đầy rong rêu. Cuối cùng, anh nhún vai cam chịu, bắt đầu cởi quần áo.

“Chẳng còn cách nào,” anh nói với tôi. “Ian nói đúng; có thứ gì đó mắc vào bánh xe nước, bên dưới máng dẫn. Anh sẽ phải lặn xuống và...” Nghe thấy tiếng xuýt xoa kinh ngạc của tôi, anh dừng khựng lại và quay mặt về phía tôi.

“Em làm sao vậy?” Anh hỏi. “Em chưa nhìn thấy đàn ông mặc quần đùi bao giờ à?”

“Em chưa... chưa từng thấy chiếc quần đùi nào... như vậy!” Tôi lắp bắp. Đoán trước được rằng mình có thể phải lặn xuống dưới nước, anh đã mặc bên trong cái váy một chiếc quần đùi cũ mèm trông rất kỳ quái. Nó vốn được làm từ vải flannel màu đỏ nhưng giờ chắp vá đủ kiểu. Rõ ràng chủ nhân của nó có vòng bụng lớn hơn anh đến chục phân. Nó bám hờ hững trên hông anh, cạp quần trễ xuống thành hình chữ V trên cái bụng bằng phẳng.

“Quần của ông anh à?” Tôi đoán, cố hết sức để nén cười nhưng vẫn không kìm được tiếng khúc khích. “Hay của bà anh?”

“Của cha anh,” anh lạnh lùng nói, nhìn tôi. “Em không muốn anh bơi trước mặt vợ mình và các tá điền trong tình trạng trần như nhộng đấy chứ?”

Nói rồi, anh nghiêm nghị túm phần vải thừa bằng một tay và lội xuống hồ chứa nước. Tới gần bánh xe, anh xác định vị trí, sau đó hít sâu một hơi, dựng thẳng người lên và ngụp xuống. Hình ảnh cuối cùng mà tôi nhìn thấy ở anh là cái quần đùi flannel màu đỏ phồng lên. Ông chủ xưởng xay thò ra khỏi cửa sổ, hét lên những lời khích lệ và chỉ dẫn mỗi khi cái đầu ướt nhẹp ngoi lên lấy hơi.

Mép hồ dày đặc các loài thực vật thủy sinh. Tôi dùng cái que đào của mình để nhổ rễ cây cẩm quỳ và cỏ muỗi. Khi đã hái được nửa giỏ, đằng sau tôi bỗng vang lên một tiếng hắng giọng lịch sự.

Đó là một bà cụ già. Cụ chống một cây gậy gỗ táo gai và mặc bộ đồ mà hẳn cụ đã mặc hai mươi năm trước, vì nó rộng thùng thình so với thân hình quắt queo của cụ.

“Chúc cô buổi sáng tốt lành,” cụ nói, gật đầu như một ống chỉ. Cụ quàng một cái khăn trùm đầu màu trắng hồ cứng, che giấu phần lớn mái tóc, nhưng một vài lọn màu xám sắt vẫn thòi ra, xòa xuống hai bên gò má.

“Chúc cụ buổi sáng tốt lành,” tôi nói, định đứng dậy, nhưng cụ đã bước tới và ngồi xuống bên cạnh tôi với sự duyên dáng đáng kinh ngạc. Tôi hy vọng cụ có thể lại đứng dậy được.

“Tôi...” Tôi mở miệng, nhưng chưa kịp lên tiếng thì cụ đã ngắt ngang.

“Cô là nữ chủ nhân mới ở đây, đương nhiên rồi. Tôi là MacNab - người ta thường gọi tôi là cụ MacNab để phân biệt với các con dâu của tôi, vì chúng đều được gọi là bà MacNab.” Cụ thò bàn tay xương xẩu, kéo cái giỏ của tôi về phía mình, nhòm vào bên trong.

“Rễ cẩm quỳ. A, nó tốt cho chứng ho. Nhưng đừng dùng thứ kia, cô gái!” Cụ chọc vào một củ nhỏ màu nâu. “Trông như rễ hoa huệ tây, nhưng lại không phải.”

“Vậy nó là cái gì?” Tôi hỏi.

“Cây lưỡi rắn. Nếu ăn phải nó, cô sẽ quằn quại lăn lộn quanh phòng đấy!” Cụ nhặt củ đó ra khỏi giỏ và ném tõm xuống hồ. Sau đó, cụ nhấc cái giỏ lên lòng mình, thành thạo lật lật bới bới những thứ còn lại, trong khi tôi ngồi nhìn với cảm giác vừa bực mình vừa tức cười. Cuối cùng, sau khi đã hài lòng, cụ trả cái giỏ cho tôi.

“Chà, tuy là Sassenach nhưng cô không ngốc nghếch lắm,” cụ nhận xét. “Chí ít cô cũng biết phân biệt hoắc hương và rau muối.” Cụ liếc về phía hồ nước, nơi cái đầu của Jamie thoáng ngoi lên, bóng nhẫy như một con hải cẩu, rồi lại biến mất bên dưới xưởng xay. “Tôi thấy Lãnh chúa cưới cô không chỉ vì khuôn mặt của cô.”

“Cảm ơn cụ,” tôi nói, coi đó là một lời khen.

Đôi mắt sắc nhọn như kim của bà cụ dán chặt vào vòng eo của tôi.

“Cô vẫn chưa mang thai à?” Cụ hỏi. “Dùng lá mâm xôi đi! Ngâm một nắm lá với quả tầm xuân và uống hỗn hợp đó vào thời điểm mặt trăng bắt đầu tròn dần. Sau đó, khi mặt trăng bắt đầu khuyết thành hình bán nguyệt, hãy lấy một ít hoàng liên gai để rửa vùng kín của cô.”

“Ồ,” tôi nói, “chà...”

“Tôi muốn xin Lãnh chúa một việc,” bà cụ tiếp tục. “Nhưng lúc này ngài ấy đang bận nên tôi sẽ nói với cô.”

“Được thôi,” tôi gượng gạo đồng ý vì thấy chẳng có cách nào để ngăn cụ lại.

“Tôi có thằng cháu trai,” cụ nói, đôi mắt nhỏ màu xám sáng như những viên bi gắn chặt vào tôi. “Tên nó là Rabbie; tôi có tất cả mười sáu đứa cháu, trong đó có ba đứa tên là Robert, nhưng một đứa được gọi là Bob, một đứa là Rob và đứa nhỏ nhất là Rabbie.”

“Chúc mừng cụ,” tôi lịch thiệp nói.

“Tôi muốn xin Lãnh chúa nhận thằng bé vào làm việc trong chuồng ngựa,” cụ tiếp tục.

“Chà, tôi không thể...”

“Đó là vì cha nó,” cụ nói, ngả người về đằng trước ra vẻ bí mật. “Nghiêm khắc một chút chẳng có gì là sai; không roi vọt thì không nên người, và Chúa Trời cũng hiểu rõ rằng lũ con trai cần được dạy dỗ bằng những trận đòn, vì chính Người đã gieo sự ngỗ nghịch cho chúng. Nhưng đến mức đánh một đứa trẻ ngất xỉu trên bãi thạch nam, với một vết thâm tím to bằng bàn tay tôi trên mặt, chỉ vì nó dám ăn thêm một cái bánh mỳ bắp nướng vỉ thì...”

“Ý cụ là cha của Rabbie đánh cậu bé, đúng không?” Tôi ngắt ngang.

Bà cụ gật đầu hài lòng vì sự thông minh nhanh nhạy của tôi. “Hẳn rồi. Chẳng phải tôi đã nói thế sao?” Cụ giơ một tay lên. “Nếu chỉ đánh bình thường thì dĩ nhiên tôi chẳng can thiệp. Một người đàn ông có quyền làm những gì mà mình thấy phù hợp với con trai mình, nhưng... Chà, Rabbie là đứa cháu tôi yêu quý. Thằng bé không có lỗi khi cha nó là một con sâu rượu. Thật đáng xấu hổ khi một người mẹ phải nói về con trai mình như vậy.”

Cụ giơ ngón tay trông như một cái que lên. “Cha của Ronald thi thoảng cũng uống quá chén, nhưng chưa bao giờ động tay vào tôi hay lũ nhỏ - chí ít là sau lần đầu tiên,” cụ trầm ngâm nói thêm. Rồi cụ đột nhiên nháy mắt với tôi, hai gò má nhỏ tròn trịa và rắn chắc như những quả táo mùa hè, vì vậy tôi có thể thấy cụ hẳn đã từng là một cô gái rất sống động và thu hút.

“Ông ấy từng đánh tôi một lần,” cụ thú nhận, “tôi đã chộp lấy cái vỉ nướng bánh ở lò sưởi và giáng một cú vào đầu ông ấy.” Cụ cười rung cả người. “Tôi cứ tưởng đã giết chết ông ấy nên khóc ầm lên, ôm đầu ông ấy trong lòng mình, nghĩ quẩn rằng một góa phụ như tôi biết phải làm gì để nuôi hai đứa con thơ? Nhưng rồi ông ấy tỉnh lại,” cụ thản nhiên nói, “và không bao giờ động tay vào tôi hay lũ nhỏ lần nào nữa. Tôi sinh tới mười ba đứa con,” cụ tự hào nói. “Và nuôi lớn được mười đứa.”

“Chúc mừng cụ,” tôi thực lòng nói.

“Lá cây mâm xôi,” cụ nói, đặt tay lên đầu gối tôi. “Nhớ nhé, cô gái, lá cây mâm xôi sẽ giúp được cô. Nếu không, hãy đến gặp tôi, tôi sẽ làm cho cô một loại nước từ hoa nón, hạt bí và trứng sống. Cách đó sẽ hút “hạt giống” của chồng cô vào thẳng trong tử cung của cô, và bụng cô sẽ to lên như một qưả bí ngô vào ngày lễ Phục sinh.”

Tôi khẽ ho, mặt hơi đỏ lên. “Ừmmmm. Và cụ muốn Jamie, ờ, ý tôi là Lãnh chúa, nhận cháu trai cụ vào làm trong chuồng ngựa của anh ấy, nhằm mục đích tách cậu ấy khỏi cha mình?”

“Vâng, đúng thế! Rabbie rất chăm chỉ, và Lãnh chúa sẽ không…”

Khuôn mặt của bà cụ bỗng sững lại. Tôi ngoảnh nhìn qua vai, và cũng cứng người. Lũ Áo đỏ. Sáu tên kỵ binh đang cưỡi ngựa xuống đồi, hướng về phía xưởng xay.

Với sự nhanh trí đáng ngưỡng mộ, cụ bà MacNab đứng dậy và tới ngồi lên bộ quần áo của Jamie, che giấu chúng dưới những lớp váy trải rộng của mình.

Một tiếng “roạt” vang lên kèm theo tiếng thở phì từ hồ nước khi Jamie lại ngoi lên. Tôi không dám cất tiếng gọi hay nhúc nhích vì sợ rằng sẽ hướng sự chú ý của đám kỵ binh về phía anh, nhưng sự im lặng bất ngờ ở đằng sau báo cho tôi biết anh đã nhìn thấy chúng.

“Chết tiệt,” tiếng chửi thề của anh lan qua mặt nước khẽ vọng đến chỗ tôi.

Bà cụ MacNab và tôi ngồi im như tượng, dõi theo đám lính đi xuống đồi. Vào giây phút chúng rẽ ở khúc ngoặt cuối cùng, cụ quay nhanh sang tôi, đặt ngón tay gầy guộc lên đôi môi khô héo. Tôi không được nói gì để chúng nghe ra tôi là người Anh. Tôi còn chưa kịp gật đầu tỏ vẻ hiểu ý thì tiếng vó ngựa đã dừng lại cách chỗ chúng tôi vài mét.

“Chúc buổi sáng tốt lành,” người chỉ huy nói. Hắn là một hạ sĩ, nhưng may mắn thay, không phải là Hạ sĩ Hawkins. Liếc nhanh qua đám người, tôi thấy rằng mình chưa từng chạm trán kẻ nào trong số này ở pháo đài William. Bàn tay đang siết chặt quai giỏ của tôi khẽ nới lỏng.

“Đang đi ở trên kia thì chúng tôi nhìn thấy xưởng xay,” viên kỵ binh nói, “và nghĩ rằng có lẽ chúng tôi sẽ mua được một bao bột xay thô.” Hắn gật đầu với cả tôi và bà cụ vì không chắc phải nói chuyện với ai.

Cụ MacNab lạnh lùng nhưng lịch sự.

“Chúc buổi sáng tốt lành,” cụ nói, gật đầu. “Nếu anh tới để mua bột xay thô, tôi e là anh phải thất vọng rồi. Bánh xe nước hiện không hoạt động. Có lẽ để lần khác vậy.”

“Ồ, nó bị làm sao thế?” Viên Hạ sĩ, vốn là một gã trai trẻ thấp lùn với nước da tươi tắn, tỏ vẻ quan tâm. Hắn đi xuống mép hồ, săm soi cái bánh xe nước. Chủ xưởng xay vừa mới ló ra để báo cáo tình hình của cái thớt cối vội thụt vào ngay khi nhìn thấy hắn.

Viên Hạ sĩ gọi một người tới. Hắn đi lên dốc, ra hiệu cho người lính đó cúi xuống để cho hắn leo lên lưng. Rồi hắn bám vào mép mái nhà và trèo lên. Đứng ở trên đó, hắn vừa vặn chạm tới mép của cái bánh xe to lớn. Hắn vươn cả hai tay để lung lay nó rồi cúi xuống, hét lên qua cửa sổ để bảo người chủ xưởng xay cố gắng xoay cái thớt cối bằng tay.

Tôi kìm nén không nhìn về phía mặt nước bên dưới máng dẫn. Tuy không hiểu lắm nguyên lý hoạt động của bánh xe nước nhưng tôi sợ rằng nếu nó đột nhiên chuyển động, bất cứ thứ gì ở gần nó có thể bị nghiền nát. Rõ ràng đây không phải là mối lo hão, vì cụ MacNab gắt gỏng nói với một trong số những người lính ở gần chúng tôi.

“Anh nên gọi chỉ huy của các anh xuống ngay. Anh ta sẽ không giúp được gì cho xưởng xay cũng như chính bản thân anh ta. Anh ta không nên can thiệp vào những việc mà anh ta không am hiểu.”

“Ồ, cụ không cần lo lắng, thưa cụ,” viên lính hờ hững nói. “Cha của Hạ sĩ Silvers có một xưởng xay lúa mỳ ở Hampshire. Hạ sĩ rất am hiểu về bánh xe nước.”

Cụ MacNab và tôi hoảng hốt nhìn nhau. Sau một hồi leo lên leo xuống và lung lay bánh xe, chọc đẩy thăm dò, cuối cùng viên Hạ sĩ cùng leo xuống chỗ chúng tôi đang ngồi. Mồ hôi hắn toát ra như tắm. Hắn lau khuôn mặt đỏ gay bằng một cái khăn tay to tướng và cáu bẩn trước khi nói với chúng tôi.

“Tôi không thể làm nó chuyển động, và gã chủ xưởng xay ngớ ngẩn kia dường như không biết tiếng Anh.” Hắn liếc nhìn cây gậy rắn chắc và tứ chi xương xẩu của cụ MacNab, rồi nhìn sang tôi. “Có lẽ quý cô đây có thể đến nói chuyện với hắn giúp tôi?”

Cụ MacNab nắm lấy tay áo tôi.

“Mong anh thứ lỗi cho con dâu tôi. Đầu óc nó không được bình thường kể từ lúc đứa con của nó bị chết non. Hơn một năm nay, nó không nói một lời nào, con nhỏ tội nghiệp! Và tôi không thể rời xa nó một phút vì sợ nó sẽ trẫm mình xuống hồ do quá thương tâm.”

Tôi cố hết sức để tỏ ra khờ khạo, thực ra thì với tâm trạng rối bời của mình lúc này, tôi cũng không cần phải nỗ lực lắm.

Viên Hạ sĩ có vẻ bối rối. “Ồ,” hắn nói. “Chà...” Hắn đi xuống mép hồ, cau mày nhìn xuống mặt nước. Tư thế và thái độ của hắn y hệt như Jamie một tiếng đồng hồ trước, rõ ràng hắn cũng có ý định giống anh.

“Chẳng còn cách nào, Collins,” hắn nói với người lính già. “Tôi sẽ phải lặn xuống dưới để xem thứ gì làm nó bị kẹt.” Hắn cởi cái áo khoác đỏ và bắt đầu cởi cúc ở cổ tay áo sơ mi. Tôi và cụ MacNab kinh hãi nhìn nhau. Cho dù ở bên dưới xưởng xay có thể có đủ khoảng trống để Jamie ngoi lên hít thở không khí đi chăng nữa nhưng chắc chắn sẽ chẳng có chỗ nào để trốn.

Tôi đang định giả vờ lên cơn động kinh dù không tự tin lắm là mình sẽ làm được thì cái bánh xe lớn đột nhiên kêu cọt kẹt. “Rắc” một tiếng nghe như tiếng cây bị chặt, bánh xe lớn quay nửa vòng, bị kẹt một lát, rồi bắt đầu quay đều, những cái gàu múc trên bánh xe vui vẻ đổ nước xuống lòng máng dẫn.

Viên Hạ sĩ ngừng cởi đồ, chăm chú nhìn bánh xe nước.

“Nhìn kìa, Collins! Không hiểu thứ gì bị mắc vào nó nhỉ?”

Như để trả lời, một vật thể hiện ra trên đỉnh của bánh xe nước. Nó mắc vào một trong những cái gàu múc, những nếp vải màu đỏ ướt đẫm nhỏ nước tong tỏng. Khi gàu múc va vào dòng nước đang chảy xối xả trên máng dẫn, vật thể ấy rời ra, cái quần đùi cũ rích của cha Jamie bồng bềnh oai vệ trên mặt nước.

Viên lính già lấy một cái que cời nó lại, rón rén đưa cho chỉ huy của mình. Gã chỉ huy nhón nó ra khỏi cái que như một người đàn ông buộc phải nhấc lên một con cá chết.

“Hừm,” hắn nói, giơ cái quần lên săm soi. “Không hiểu thứ này từ đâu đến? Hẳn là nó đã mắc vào trục quay. Thật lạ lùng khi một vật như thế có thể gây ra nhiều rắc rối đến vậy, đúng không, Collins?”

“Vâng, thưa ngài!” Người lính rõ ràng chẳng quan tâm đến nguyên lý hoạt động của một cái bánh xe nước ở một xưởng xay của người Scot, nhưng vẫn lịch sự trả lời.

Sau khi lật cái quần đùi một, hai lần, viên Hạ sĩ nhún vai, dùng nó để lau tay.

“Vải tốt đây,” hắn nói, vắt cái quần sũng nước. “Ít nhất có thể dùng nó để lau chùi, đánh bóng. Một vật kỷ niệm, đúng không, Collins?” Hắn cúi đầu lịch thiệp với cụ MacNab và tôi, rồi quay sang con ngựa.

Khi đám kỵ binh đã khuất khỏi tầm mắt, một tiếng “roạt” vang lên từ phía hồ chứa nước của xưởng xay báo hiệu sự ngoi lên của “con yêu quái sống dưới đáy hồ”.

Trông anh trắng bệch, tái mét, chẳng khác nào bức tượng cẩm thạch của vùng Carrara[2]. Răng anh va vào nhau lập cập khiến tôi không thể nghe ra những lời đầu tiên của anh. Dù sao đi nữa, đó cũng là tiếng Gaelic.

Cụ MacNab thì dễ dàng hiểu được, miệng cụ há hốc nhưng khép lại ngay và cụ kính cẩn cúi đầu với vị Lãnh chúa vừa trồi lên. Nhìn thấy cụ, anh ngừng tiến vào bờ, nước vỗ bập bềnh quanh hông anh. Anh hít sâu một hơi, nghiến chặt răng và gạt một dải bèo tấm ra khỏi vai.

“Bà MacNab,” anh nói, gật đầu với người tá điền già cả.

“Thưa ngài,” cụ nói, lại cúi đầu lần nữa. “Một ngày đẹp trời, phải không?”

“H-hơi lạnh chút,” anh nói, liếc mắt về phía tôi. Tôi nhún vai tỏ vẻ bất lực.

“Chúng tôi rất vui mừng khi thấy ngài đã về nhà, thưa ngài, và chúng tôi - tức tôi và các con tôi - hy vọng ngài sẽ ở lại.”

“Tôi cũng hy vọng như vậy, bà MacNab,” Jamie lịch thiệp nói, rồi hất đầu về phía tôi, trừng mắt. Tôi mỉm cười dịu dàng.

Bà cụ lờ đi cảnh tượng ấy, xếp hai bàn tay xương xẩu vào lòng và kiêu hãnh dựng thẳng lưng.

“Tôi muốn cầu xin ngài một đặc ân nhỏ,” cụ bắt đầu, “liên quan tới...”

“Cụ MacNab,” Jamie ngắt lời, tiến lên nửa bước, vẻ đe dọa, “cho dù mong muốn của cụ là gì, tôi đều sẽ đồng ý. Chỉ cần cụ đưa trả tôi cái áo trước khi các bộ phận của cơ thể tôi rơi rụng vì lạnh.”

[1] Công chúa xứ Phoenicia thế kỷ 9 trước Công nguyên, người đã du nhập tư tưởng tôn thờ thần tượng và bạo quyền vào Israel.

[2] Thành phố thuộc tỉnh Massa-Carrara, vùng Tuscany, phía bắc miền Trung nước Ý.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.