Sáng hôm sau, chúng tôi dậy khá muộn, và khi rời khỏi quán trọ thì mặt trời đã lên cao. Lần này chúng tôi đi về phía nam. Hầu hết lũ ngựa đã được đem đi khỏi bãi giữ ngựa, và không một người đàn ông nào trong đoàn còn lảng vảng quanh đây. Tôi tự hỏi thành tiếng họ đã đi đâu.
Jamie nhe răng cười. “Anh không biết chắc, nhưng anh có thể đoán được. Ngày hôm qua đội tuần phòng đi hướng đó” - anh chỉ về phía tây - “vì thế anh đoán Rupert và những người còn lại đã đi hướng kia.” Anh chỉ về phía đông.
“Gia súc,” anh giải thích khi thấy tôi vẫn không hiểu. “Những người chủ điền trang và những người trương đất trả tiền cho đội tuần phòng để trông chừng giúp và lấy lại gia súc của họ nếu chúng bị đánh cắp. Nếu đội tuần phòng đang đi về phía tây tới Lag Cruime thì mọi đàn gia súc ở phía đông đều không được bảo vệ - ít nhất là trong một thời gian. Dọc theo hướng đó là lãnh địa của thị tộc Grant, và Rupert là một trong những kẻ trộm gia súc giỏi nhất mà anh từng thấy. Lũ gia súc sẽ đi theo ông ấy tới bất cứ đâu mà chẳng hề cất một tiếng kêu. Và vì ở đây chẳng có trò giải trí nào hay ho hơn nên rất có khả năng ông ấy lại ngứa ngáy tay chân rồi.”
Jamie cũng có vẻ bồn chồn. Anh đi khá nhanh. Có một con đường mòn xuyên qua bãi thạch nam nên việc đi lại khá dễ dàng, vì vậy tôi có thể bám theo anh không khó khăn gì. Sau một lúc, chúng tôi tới một bãi hoang, nơi chúng tôi có thể bước sóng đôi.
“Còn về Horrocks thì sao?” Tôi đột nhiên hỏi. Nghe thấy anh nhắc đến thị trấn Lag Cruime, tôi liền nhớ tới kẻ đào ngũ người Anh này và những tin tức hắn ta có thể đem đến. “Anh sẽ gặp hắn ta ở Lag Cruime, đúng không?”
Anh gật đầu. “Ừ. Nhưng bây giờ anh không thể tới chỗ hẹn, vì Randall và đội tuần phòng đều đang đi về phía đó. Quá nguy hiểm.”
“Ai đó có thể đi thay anh không? Hay anh có tin tưởng ai không?”
Anh nhìn tôi và mỉm cười. “Chà, có em đây. Vì tối qua em đã không giết anh nên anh cho rằng mình có thể tin tưởng em. Nhưng anh e là em không thể tới Lag Cruime một mình. Nếu cần, Murtagh sẽ đi thay anh. Nhưng anh có thể thu xếp một cách khác - để xem thế nào đã.”
“Anh tin tưởng Murtagh sao?” Tôi tò mò hỏi. Tôi không có thiện cảm lắm với người đàn ông nhỏ bé lôi thôi lếch thếch ấy, vì ông ta đã bắt cóc tôi và ít nhiều chịu trách nhiệm cho tình cảnh khốn đốn của tôi hiện tại. Tuy nhiên, rõ ràng giữa ông ta và Jamie có một kiểu tình bạn nào đó.
“Ồ, ừ.” Anh liếc nhìn tôi, tỏ vẻ ngạc nhiên. “Murtagh biết anh từ bé - anh nghĩ ông ấy là một người họ hàng xa của cha anh. Cha Murtagh là…”
“Ý anh là, ông ấy là một người thuộc thị tộc Fraser,” tôi vội ngắt lời anh. “Em cứ tưởng ông ấy là người nhà MacKenzie. Ông ấy đi với Dougal lúc em gặp anh mà.”
Jamie gật đầu. “Ừ. Khi anh quyết định từ Pháp trở về, anh đã gửi lời nhắn cho ông ấy, đề nghị ông ấy đến bờ biển đón anh.” Anh mỉm cười ảo não. “Anh không biết kẻ đã cố giết anh lần trước có phải là Dougal không. Và anh không thích phải đơn thương độc mã đối mặt với vài người MacKenzie, chỉ để đề phòng thôi. Anh không muốn mình kết thúc cuộc đời trong những làn sóng vỗ bập bềnh ở Skye, nếu đó là điều họ nung nấu trong đầu.”
“Em hiểu. Vậy là Dougal không phải người duy nhất tin vào các nhân chứng.”
Anh gật đầu. “Các nhân chứng rất có ích.”
Ở phía bên kia của bãi hoang có những cái hố được hình thành do sự dịch chuyển của những dòng sông băng đã biến mất từ lâu. Chúng được nước mưa lấp đầy, biến thành những cái hồ nhỏ, xung quanh mọc đầy bụi kế, cúc ngải và râu dê, in bóng những nụ hoa trên mặt nước tĩnh lặng.
Những cái hồ không có cá này tạo thành nét chấm phá cho phong cảnh, đồng thời cũng trở thành cái bẫy cho các lữ khách thiếu thận trọng. Họ có thể dễ dàng sẩy chân ngã xuống đó trong đêm tối và buộc phải trải qua một đêm ướt át, khó chịu trên bãi hoang.
Chúng tôi ngồi cạnh một cái hồ như thế để ăn bữa sáng gồm bánh mỳ và pho mát. Ít nhất thì nơi này cũng có chim chóc; những con nhạn sà thấp xuống mặt hồ để uống nước, còn chim choi choi và mỏ nhác thì mổ những cái mỏ dài vào mặt đất bùn ở mép hồ, đào xới tìm côn trùng.
Tôi ném những mẩu vụn bánh mỳ xuống bùn cho lũ chim. Trong lúc một con mỏ nhác còn đang phân vân, nghi ngờ nhìn một mẩu vụn thì một con nhạn nhanh nhẹn đã vọt tới dưới cái mỏ của nó và quắp mất món bở ấy. Con mỏ nhác xù lông và quay trở lại với công việc đào xới cần mẫn của mình.
Jamie chỉ cho tôi thấy một con choi choi đang kêu và lết cái cánh gãy tới gần chúng tôi.
“Nó có một cái tổ ở gần đây,” tôi nói.
“Đằng kia.” Anh phải chỉ vài lần tôi mới nhìn ra; đó là một chỗ đất lún nông, khá lộ liễu trong không gian rộng mở, nhưng bốn quả trứng lốm đốm của nó nhìn rất giống mặt bờ hồ lốm đốm lá đến nỗi sau một cái chớp mắt, tôi đã lại mất dấu cái tổ.
Jamie nhặt một cái que, chọc nhẹ vào cái tổ, đẩy một quả trứng ra khỏi chỗ. Con chim choi choi mẹ kích động chạy ngay đến trước mặt anh. Anh ngồi bất động, để mặc nó bay qua bay lại, kêu ầm ĩ. Nhoáng một cái, anh đã nắm được nó trong tay.
Anh thì thầm khe khẽ với con chim bằng tiếng Gaelic trong lúc vuốt ve bộ lông lốm đốm mềm mại của nó. Con chim co mình trong tay anh, hoàn toàn bất động, ngay cả những cái bóng phản chiếu cũng như đông cứng trong đôi mắt đen tròn.
Anh nhẹ nhàng đặt nó xuống mặt đất, nhưng con chim không rời đi cho đến khi anh nói thêm vài từ và chầm chậm phẩy tay qua lại đằng sau nó. Nó bỗng quay ngoắt đi và lao vào trong đám cỏ dại. Nhìn nó bay đi, anh vô thức làm dấu thánh giá trên ngực mình.
“Sao anh lại làm thế?” Tôi tò mò hỏi.
“Làm gì cơ?” Anh thoáng giật mình; chắc là đã quên mất sự có mặt của tôi.
“Sao anh lại làm dấu thánh giá khi con chim bay đi?”
Anh nhún vai, hơi bối rối.
“À. Vì một truyền thuyết cổ, nói về việc tại sao lũ chim choi choi lại kêu và chạy quanh tổ với vẻ kích động như thế.” Anh chỉ sang phía bên kia của cái hồ nhỏ, nơi một con chim choi choi khác đang có hành động tương tự. Anh lơ đãng ngắm nhìn nó một lúc.
“Chim choi choi có linh hồn của những bà mẹ trẻ chết trong lúc sinh nở,” anh nói, bẽn lẽn liếc sang tôi. “Chuyện kể rằng chúng kêu và chạy quanh tổ bởi vì chúng không thể tin con mình sẽ nở ra an toàn; chúng than khóc những đứa con bị chết - hoặc tìm kiếm đứa con còn sót lại.” Anh ngồi xổm xuống bên cạnh tổ chim và dùng que đẩy nhẹ quả trứng thuôn thuôn, lật nó từng chút một cho đến khi đầu nhọn của nó ngửa lên, giống như những quả khác. Anh vẫn ngồi xổm sau khi quả trứng đã được trở về chỗ cũ, đặt cái que lên đùi, nhìn chằm chằm sang phía bên kia mặt hồ tĩnh lặng.
“Anh nghĩ đó chỉ là thói quen,” anh nói. “Lần đầu tiên anh làm thế là lúc anh còn rất nhỏ, khi mới được nghe câu chuyện này. Ngay cả hồi đó anh cũng không thực sự tin chúng có linh hồn, đương nhiên, nhưng đó chỉ là một chút kính trọng…” Anh ngước nhìn tôi và đột nhiên mỉm cười. “Anh đã làm thế nhiều lần đến nỗi bây giờ anh thậm chí còn không nhận ra mình hành động như vậy. Ở Scotland có khá nhiều chim choi choi, em biết đấy.” Anh đứng dậy và ném cái que sang một bên. “Giờ thì đi nào; có một chỗ anh muốn chỉ cho em thấy, gần đỉnh ngọn đồi đằng kia.” Anh nắm lấy khuỷu tay tôi để giúp tôi đi lên dốc.
Tôi đã nghe thấy những gì anh nói với con chim choi choi. Dù chỉ hiểu được một vài từ Gaelic nhưng tôi đã nghe lời chào cổ xưa ấy quá thường xuyên nên đã quen với nó. “Chúa phù hộ cho mi, bà mẹ,” anh đã nói vậy.
Một bà mẹ trẻ chết trong lúc sinh nở. Một đứa con còn sót lại. Tôi chạm vào cánh tay anh, khiến anh cúi xuống nhìn tôi.
“Lúc đó anh bao nhiêu tuổi?” Tôi hỏi.
Anh cười nửa miệng. “Tám,” anh trả lời. “ít nhất cũng đã cai sữa.”
Anh không nói gì thêm, lẳng lặng dẫn tôi lên đồi. Chúng tôi đang ở trên những ngọn đồi dốc dày đặc thạch nam. Phía xa xa, vùng đồng quê thay đổi đột ngột, với những khối đá hoa cương khổng lồ trồi lên từ mặt đất, bao quanh bởi những khóm cây ngô đồng và thông rụng lá. Chúng tôi trèo lên đỉnh đồi, bỏ lại lũ chim choi choi kêu inh ỏi bên những cái hồ ở đằng sau.
•••
Mặt trời càng lúc càng chói lọi, và sau một tiếng đồng hồ len lỏi qua những tán lá dày - mặc dù Jamie là người mở đường - tôi đã muốn được nghỉ ngơi.
Chúng tôi tìm thấy một chỗ râm mát ở chân một gò đá hoa cương. Địa điểm này thật dễ chịu, dù nó gợi tôi nhớ đến nơi tôi gặp Murtagh lần đầu - và thoát khỏi Đại úy Randall. Jamie nói với tôi rằng ở đây chỉ có hai chúng tôi, bởi vì xung quanh liên tục có tiếng chim hót. Nếu ai đó đến gần, hầu hết chim chóc sẽ ngừng hót, còn lũ chim giẻ cùi và quạ gáy xám sẽ kêu lên thất thanh đầy hoảng hốt.
“Nếu muốn lẩn trốn thì hãy trốn trong một khu rừng, Sassenach ạ,” anh khuyên tôi. “Nếu em không cử động quá nhiều, lũ chim sẽ sớm nói cho em biết liệu có ai ở gần không.”
Sau khi chỉ ra một con chim giẻ cùi đang kêu quác quác trong tán cây trên đầu, anh ngoảnh lại nhìn, ánh mắt anh bắt gặp ánh mắt tôi. Và chúng tôi cứ thế ngồi im như bị hóa đá, gần nhau trong tầm tay nhưng không chạm vào nhau, hầu như nín thở. Sau một lúc, con chim giẻ cùi bắt đầu chán chúng tôi và bỏ đi. Jamie là người ngoảnh đi trước, khẽ run rẩy như thể bị lạnh.
Những cây nấm mực trắng trẻo nhô lên qua lớp rêu mốc bên dưới đám dương xỉ. Jamie búng đứt một cây nấm, và lần theo đài bào tử của nó khi anh sắp xếp những lời sắp nói. Mỗi khi anh nói năng một cách cẩn thận, như lúc này, anh hầu như đánh mất âm giọng địa phương đặc trưng của mình.
“Anh không muốn… ý anh là… anh không định ám chỉ..Anh đột nhiên ngước lên và mỉm cười, phác một cử chỉ tỏ vẻ bất lực. “Anh không muốn làm em có cảm giác bị xúc phạm khi nói ra những lời khiến em cho rằng anh nghĩ em có kinh nghiệm phong phú về đàn ông. Nhưng sẽ thật ngốc nghếch nếu giả vờ rằng em cũng chẳng biết nhiều hơn anh về những vấn đề đó. Anh muốn hỏi là, chuyện này có… bình thường không? Cảm xúc giữa hai chúng ta, khi anh chạm vào em, khi em… nằm bên anh? Giữa một người đàn ông và một người đàn bà lúc nào cũng như vậy ư?”
Mặc dù anh diễn đạt một cách khó khăn nhưng tôi hiểu chính xác ý anh là gì. Ánh mắt anh nhìn thẳng vào ánh mắt tôi khi anh chờ đợi câu trả lời. Tôi muốn nhìn đi chỗ khác nhưng không thể.
“Thường thì vẫn có thứ cảm xúc tương tự như thế “ tôi nói, rồi phải ngừng lại và hắng giọng. “Nhưng không, chuyện này không… bình thường. Em không biết tại sao, nhưng đây là… một điều gì đó khác biệt.”
Anh hơi nhẹ nhõm, như thể tôi đã chứng thực một điều mà anh băn khoăn lo lắng.
“Anh cũng nghĩ vậy. Trước đây, anh chưa từng nằm bên người phụ nữ nào, nhưng anh… ờ, đã đụng chạm một vài người.” Anh cười bẽn lẽn và lắc đầu. “Cảm giác không như thế này. Ý anh là, anh đã từng ôm đàn bà trong tay, hôn họ, và… chà.” Anh phẩy tay, gạt từ và đó đi. “Việc đó thực sự rất thú vị, khiến tim anh đập thình thịch và hơi thở trở nên gấp gáp, đại loại thế. Nhưng nó không hề giống lúc anh ôm em và hôn em.” Đôi mắt anh có màu của nước hồ và bầu trời, và cũng thăm thẳm như chúng.
Anh giơ tay ra chạm vào môi dưới của tôi, hầu như chỉ quệt nhẹ vào viền môi. “Lúc đầu thì cũng không có gì khác biệt, nhưng sau một lúc,” anh khẽ nói, “anh đột nhiên có cảm giác trong vòng tay mình là một ngọn lửa đang cháy rực.” Ngón tay anh miết mạnh hơn, lần theo đường viền môi và mơn man quai hàm tôi. “Anh chỉ muốn ném mình vào trong ngọn lửa ấy và để mặc cho nó thiêu rụi.”
Tôi định nói cho anh hay rằng sự đụng chạm của anh cũng làm da tôi nóng bỏng và thắp lên một ngọn lửa trong huyết mạch tôi. Nhưng tôi thấy mình như đã bùng cháy và sáng rực lên như một cây đuốc. Tôi nhắm mắt và cảm nhận ngón tay đầy kích thích ấy di chuyển tới má, thái dương, tai và cổ, rồi rùng mình khi hai bàn tay anh hạ xuống eo tôi và kéo tôi lại gần.
•••
Jamie có vẻ đã xác định rõ chúng tôi sẽ đi đâu. Cuối cùng, anh dừng lại ở chân một khối đá khổng lồ, cao khoảng hơn sáu mét, lồi lõm mấp mô và có những khe nứt nham nhở. Cúc ngải và tầm xuân đã cắm rễ trong các vết nứt, rung rinh như những lá cờ màu vàng mong manh. Anh cầm tay tôi và hất đầu ra hiệu về phía vách đá trước mặt.
“Em có nhìn thấy những bậc đá kia không, Sassenach? Em trèo được chứ?” Thực ra, trên vách đá có những chỗ lồi lên, xiên xẹo. Vài chỗ đúng là gờ đá, nhưng có những chỗ chỉ là những búi địa y bám dày đặc. Tôi không biết liệu chúng có phải là tự nhiên không, hay người ta tạo ra chúng bằng cách nào, nhưng tôi nghĩ tôi có thể leo chúng, ngay cả khi đang mặc chiếc váy dài đến gót chân và cái áo chẽn chật cứng.
Sau vài cú trượt và sợ hãi, thi thoảng được Jamie trợ giúp bằng cách đẩy từ đằng sau, tôi đã lên đến đỉnh của khối đá và ngừng lại để nhìn quanh. Khung cảnh thật ngoạn mục. Ở đằng đông sừng sững nhô lên một ngọn núi tối thẫm, trong khi xa xa về phía nam, những ngọn đồi thấp dưới chân núi trải dài tới một bãi hoang rộng lớn trơ trụi. Bề mặt giữa đỉnh khối đá bị hõm xuống, tạo thành một cái lòng chảo nông. Ở giữa lòng chảo có một vòng tròn đen thẫm, vẫn còn tàn tích của những que củi đã cháy thành than. Vậy ra chúng tôi không phải là những người đầu tiên leo lên đây.
“Anh biết nơi này à?”
Jamie đứng chếch về một bên, ngắm nhìn tôi và lấy làm thích thú trước vẻ phấn khích của tôi. Anh nhún vai.
“Ừ. Anh biết từng ngóc ngách của khu vực này. Lại đây, có một chỗ em có thể ngồi và nhìn xuống con đường chạy ngang qua ngọn đồi.” Từ đây cũng có thể nhìn thấy quán trọ, nó không còn giống căn nhà đồ chơi nữa mà chỉ còn bé bằng khối xếp hình của trẻ con. Một vài con ngựa bị cột dưới những gốc cây bên đường, trông như những đốm nhỏ màu nâu và đen.
Trên đỉnh khối đá không có cái cây nào, ánh mặt trời nóng bỏng chiếu thẳng vào lưng tôi. Chúng tôi ngồi bên nhau, chân đung đưa qua mép khối đá, vui vẻ uống chung một trong những chai bia mà Jamie đã chu đáo lấy lên từ cái giếng trong sân quán trọ lúc chúng tôi rời đi.
Tuy không có cây lớn nhưng trên này vẫn có những loài thực vật nhỏ cắm rễ trong lớp đất cằn cỗi nơi những khe nứt hẹp, dũng cảm vươn mình và đối mặt với ánh mặt trời mùa xuân chói lọi. Có một khóm cúc nhỏ nương náu dưới bóng một mô đá trồi lên gần tay tôi, tôi bèn vươn tay để nhổ một cây.
Bỗng có một tiếng rít nhẹ, bông cúc rời khỏi thân cây, hạ cánh xưống đầu gối tôi. Tôi ngơ ngác nhìn nó, không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Jamie nhanh trí hơn tôi nên đã nằm rạp xuống mặt đá.
“Nằm xuống đi!” Anh nói, bàn tay to lớn siết chặt khuỷu tay tôi và kéo tôi nằm xuống cạnh anh. Khi đã nằm rạp xuống lớp rêu xốp như bọt biển, tôi mới nhìn thấy mũi tên đang cắm vào một khe nứt của mô đá, vẫn còn đang rung rinh.
Tôi đông cứng người lại, sợ đến nỗi chẳng dám nhìn quanh, cố gắng áp sát xuống mặt đất. Jamie nằm bất động bên cạnh tôi, im lìm như thể đã hóa đá. Dường như ngay cả lũ chim chóc và côn trùng cũng ngừng hót hoặc kêu, không khí trở nên ngột ngạt và hồi hộp. Thế rồi Jamie đột nhiên bật cười.
Anh ngồi dậy, tóm lấy thân mũi tên, cẩn thận rút nó ra khỏi mô đá. Nó được gắn lông đuôi của chim gõ kiến và ngay dưới những sợi lông ấy có khoảng một phân được quấn chỉ xanh.
Jamie đặt mũi tên sang một bên, úp hai bàn tay quanh miệng và nhái theo tiếng kêu của một con chim gõ kiến màu xanh, nghe giống đến mức khó tin. Rồi anh bỏ tay xuống, chờ đợi. Giây lát sau, từ lùm cây bên dưới phát ra tiếng kêu đáp lại, khiến anh nở một nụ cười tươi rói.
“Bạn anh à?” Tôi đoán. Anh gật đầu, đôi mắt chăm chú nhìn vào con đường hẹp dẫn đến vách núi này.
“Hugh Munro, trừ phi ai đó cũng có sở thích làm những mũi tên theo kiểu của ông ta.”
Chúng tôi đợt một lát nữa, nhưng không thấy ai xuất hiện ở con đường bên dưới.
“À,” Jamie khẽ nói, xoay người lại, đúng lúc đối mặt với một cái đầu đang từ từ nhô lên trên mép đá sau lưng chúng tôi.
Cái đầu ấy cười toe toét, phô ra hàm răng sứt, khoái chí vì đã làm chúng tôi bất ngờ. Trông nó cứ như một quả bí ngô với làn da màu nâu cam không chỉ ở khuôn mặt mà còn ở cái đỉnh đầu hói tròn xoe nữa. Tuy nhiên, hiếm có quả bí ngô nào có được bộ râu xồm xoàm hay đôi mắt xanh sáng ngời như vậy. Hai bàn tay ngắn và dày với những móng tay cáu bẩn bám vào mép đá bên dưới bộ râu, nhanh chóng nâng phần còn lại của quả bí ngô lên đỉnh khối đá.
Cơ thể ông ta khá hợp với cái đầu, trông cứ như một con yêu quái trong đêm Halloween. Đôi vai rất rộng, nhưng khòng và lệch, một bên cao hơn đáng kể so với bên còn lại. Một chân cũng có vẻ hơi ngắn hơn chân kia, tạo cho ông ta dáng đi cà nhắc, tập tễnh.
Munro - nếu đây thực sự là bạn của Jamie - như đang khoác trên người vô số lớp giẻ rách, những mẩu vải nhuộm bằng quả mọng bạc phếch thòi ra qua những vết rách của một cái áo không rõ hình thù có thể từng là một cái áo khoác ngoài của phụ nữ.
Trên thắt lưng của ông ta không đeo cái túi da nào - trông nó không hơn gì một sợi dây thừng bị sờn treo lủng lẳng hai cái xác thú chúc đầu xuống đất. Thay vào đó, ông ta đeo một cái ví da to ở trước ngực, có chất lượng tốt đến không ngờ so với phần còn lại của bộ y phục. Ở quai ví treo vô số món đồ nhỏ bằng kim loại như mề đay tôn giáo, huân chương quân đội, những thứ có vẻ là nút áo quân phục cũ, những đồng xu mòn vẹt bị xuyên thủng và xâu lại, và ba bốn mảnh kim loại nhỏ hình chữ nhật xám xỉn được khắc những ký hiệu khó hiểu trên bề mặt.
Jamie đứng dậy khi người kia bước cà nhắc nhưng lanh lẹ qua những mô đá, và họ ôm nhau thắm thiết, đấm thùm thụp lên lưng nhau theo kiểu chào hỏi kỳ cục của đàn ông.
“Gia đình Munro sống thế nào rồi?” Jamie hỏi, đứng lùi lại một khoảng và ngắm nghía người bạn cũ.
Munro cúi đầu, phát ra một tiếng gợp gợp kỳ quặc rồi nhe răng cười. Thế rồi, ông ta nhướng mày, hất đầu về phía tôi, uyển chuyển vẫy hai bàn tay ngắn và dày vẻ dò hỏi.
“Vợ tôi,” Jamie nói, hơi đỏ mặt vì vừa xấu hổ vừa kiêu hãnh trước cách giới thiệu mới mẻ này. “Mới kết hôn chưa được hai hôm.”
Munro càng cười toe toét trước thông tin này, ông ta cúi chào một cách cực kỳ duyên dáng và phức tạp: chạm nhanh lên đầu, tim và môi, rồi kết thúc trong một tư thế gần như quỳ rạp trên mặt đất trước chân tôi. Sau khi thực hiện xong động tác đầy ấn tượng ấy, ông ta uyển chuyển nhảy bật dậy như một diễn viên nhào lộn và lại đấm vào người Jamie, lần này rõ ràng là để chúc mừng.
Sau đó, Munro bắt đầu múa may đôi tay, chỉ vào mình, về phía khu rừng, vào tôi, rồi lại chỉ vào ông ta, với một loạt các động tác nhanh đến mức tôi hầu như không theo kịp. Trước đây, tôi đã nhìn thấy người câm điếc nói chuyện với nhau, nhưng chưa bao giờ thấy ai ra hiệu thoăn thoắt và duyên dáng như vậy.
“Thế à?” Jamie thốt lên. Đến lượt anh đấm vào người đàn ông kia để chúc mừng. Hẳn là cánh đàn ông đã trơ như đá trước sự đau đớn bề ngoài vì thói quen thụi nhau không ngừng này.
“Ông ấy cũng đã lấy vợ,” Jamie quay sang tôi để giải thích. “Sáu tháng trước, với một góa phụ - ồ, được rồi, một góa phụ đẫy đà,” anh sửa lại lời mình theo một cử chỉ nhấn mạnh từ Munro, “đã có sáu đứa con riêng, sống ở làng Dubhlairn.”
“Tuyệt quá,” tôi lịch sự nói. “Có vẻ chúng cũng phàm ăn đấy.” Tôi chỉ vào hai con thỏ treo trên thắt lưng ông ta.
Munro lập tức tháo một con và đưa cho tôi, vẻ mặt đầy thiện chí khiến tôi cảm thấy mình buộc phải đón nhận, rồi mỉm cười đáp lại và thầm hy vọng rằng nó không có bọ chét.
“Một món quà cưới,” Jamie nói. “Rất đáng được hoan nghênh, Munro. Ông phải cho phép chúng tôi đáp lại tấm thịnh tình này.” Vừa nói anh vừa lấy một chai bia đang đặt trên mặt đá phủ rêu và đưa cho ông ta.
Đáp lễ xong xuôi, chúng tôi lại ngồi xuống để cùng chia sẻ chai bia thứ ba. Jamie và Munro tiếp tục thoải mái chuyện gẫu với nhau bất châp việc chỉ có một người nói.
Tôi ít tham gia vào cuộc trò chuyện vì không thể hiểu được thủ ngữ của Munro, dù Jamie đã cố hết sức để lôi kéo tôi bằng cách dịch lại cho tôi nghe và thi thoảng lại hỏi han tôi.
Được một lúc, Jamie chọc ngón tay cái vào những mảnh chì hình chữ nhật đeo trên quai ví của Munro.
“Ông đã hành nghề chính thức rồi à?” Anh hỏi. “Hay chỉ khi thú săn khan hiếm?” Munro khẽ gật gù như hình nộm lò xo[1].
“Chúng là gì vậy?” Tôi tò mò hỏi.
“Gaberlunzie”
“Ồ, hẳn rồi,” tôi nói. “Thứ lỗi vì em đã hỏi.”
“Gaberlunzie là một loại giấy phép để được ăn xin, Sassenach,” Jamie giải thích. “Nó có hiệu lực trong địa phận của một giáo xứ, và chỉ vào một ngày trong tuần khi việc ăn xin được cho phép. Mỗi giáo xứ có một loại gaberlunzie riêng, vì vậy những người hành khất ở giáo xứ này không thể lợi dụng lòng từ thiện của giáo xứ khác.”
“Em thấy hệ thống này cũng khá linh động đấy chứ,” tôi nói, nhìn bốn miếng chì của Munro.
“À, Munro là trường hợp đặc biệt. Ông ấy bị người Thổ bắt giữ ở biển, nhiều năm liền phải làm nô lệ chèo thuyền, và thêm vài năm nữa làm nô lệ ở Algiers. Đó là nơi ông ấy bị mất lưỡi.”
“Họ… cắt nó đi à?” Tôi cảm thấy hơi lợm giọng.
Jamie vẫn có vẻ bình thản trước ý nghĩ ấy, nhưng đó là vì anh đã quen biết Munro một thời gian rồi.
“Ừ. Và làm ông ấy gãy chân nữa. Cả lưng nhỉ, Munro? Không,” anh sửa lại, trước một chuỗi ký hiệu từ Munro, “lưng ông ấy bị gãy là do tai nạn khi ông ấy nhảy từ trên một bức tường xuống ở Alexandria. Nhưng hai bàn chân là do người Thổ gây ra.”
Tôi thực sự không muốn biết chi tiết, nhưng cả Munro và Jamie đều có vẻ sốt sắng muốn nói với tôi. “Được rồi,” tôi nói, chịu thua. “Chuyện gì đã xảy ra với hai bàn chân của ông ấy?”
Với vẻ gần như kiêu hãnh, Munro cởi đôi guốc mòn vẹt và đôi bít tất dài, phơi bày hai bàn chân to bè với lớp da dày, sần sùi, mảng đỏ mảng trắng đan xen.
“Dầu sôi,” Jamie nói. “Đó là cách chúng ép các tù nhân Cơ Đôc giáo cải sang đạo Hồi.”
“Có vẻ là một phương pháp thuyết phục rất hiệu quả,” tôi nói. “Vậy đó chính là lý do ông ấy được phép ăn xin trong mấy giáo xứ liền? Để thay mặt các con dân Cơ Đốc giáo bù đắp cho những thử thách của ông ấy?”
“Chính xác.” Jamie vui mừng thấy rõ khi tôi nhanh chóng hiểu được tình cảnh của Munro. Munro cũng bày tỏ sự ngưỡng mộ bằng một cái cúi chào khác theo phong cách đạo Hồi, sau đó là một chuỗi động tác bằng tay tuy hơi khiếm nhã nhưng rất diễn cảm mà tôi đoán là có ý khen ngợi ngoại hình của tôi.
“Cảm ơn ông. Vâng, cô ấy khiến tôi rất hãnh diện.” Nhìn thấy hàng lông mày nhướng cao của tôi, Jamie khéo léo xoay người Munro để lưng ông ta quay về phía tôi và những ngón tay đang múa lượn bị che khuất. “Giờ thì, hãy kể tôi nghe trong các ngôi làng có chuyện gì mới mẻ không?”
Hai người đàn ông xích lại gần nhau hơn, tiếp tục tán gẫu. Tuy chỉ có một người nói còn một người ra hiệu nhưng cuộc trò chuyện càng lúc càng sôi nổi. Vì Jamie chủ yếu chỉ cất lên những tiếng cảm thán tỏ vẻ hứng thú nên tôi chẳng lượm lặt được mấy thông tin, vì thế tôi bèn quay sang nghiên cứu những loài thực vật nhỏ bé kỳ lạ mọc lên từ bề mặt tảng đá quanh chỗ chúng tôi ngồi.
Lúc họ kết thúc cuộc trò chuyện và Hugh Munro đứng dậy để đi, tôi đã thu thập được một túi tiểu mễ thảo và bạch tiền. Sau khi cúi chào tôi lần cuối cùng và đấm một cú lên lưng Jamie, ông ta lê bước tới mép khối đá và biến mất nhanh như một con thỏ chui vào trong hang.
“Anh có những người bạn thật thú vị,” tôi nói.
“Ừ. Hugh là một gã dễ thương. Anh đã đi săn với ông ấy và vài người khác vào năm ngoái. Giờ ông ấy chỉ có một mình, vì ông ấy đã trở thành một hành khất được công nhận chính thức, nhưng việc đó khiến ông ấy phải di chuyển quanh các giáo xứ; ông ấy sẽ biết mọi chuyện diễn ra trong vùng Ardagh và Chesthill.”
“Bao gồm chỗ ở của Horrocks?” Tôi đoán.
Jamie gật đầu. “Ừ. Và ông ấy sẽ đưa tin giúp anh, để đổi địa điểm gặp gỡ.”
“Điều đó sẽ gây khó khăn cho Dougal,” tôi nhận xét. “Nếu ông ta có ý định dùng Horrocks để bắt anh làm theo ý mình.”
Anh gật đầu, khóe miệng nhếch lên cười.
“Ừ, chính thế.”
•••
Lúc chúng tôi về tới quán trọ thì lại sắp đến giờ ăn tối. Nhưng lần này con ngựa ô to lớn của Dougal và năm bạn đồng hành của nó đã đứng nhai cỏ khô trong sân quán trọ.
Dougal đang ở bên trong, dùng bia chua để rửa trôi bụi đường ở cổ họng. Ông ta gật đầu với tôi và quay người lại chào cháu trai mình. Nhưng ông ta không nói gì, chỉ đứng đó, đầu nghiêng sang một bên, nhìn Jamie vẻ dò hỏi.
“À, ra thế,” cuối cùng ông ta nói, giọng điệu thỏa mãn như thể đã giải quyết được một câu đố khó. “Giờ ta biết cháu phản đối ta vì điều gì rồi.” Ông ta quay sang tôi.
“Cô đã bao giờ nhìn thấy một con hươu hung cuối mùa động dục chưa?” Ông ta nói, vẻ bí mật. “Những con vật tội nghiệp đó không ngủ hay ăn uống gì trong vài tuần, bởi vì chúng không có thời gian rỗi, chúng còn phải đánh nhau với những con hươu đực khác và phục vụ những con hươu cái. Vào cuối mùa, chúng chỉ còn da bọc xương. Mắt chúng trũng sâu và phần duy nhất của chúng không run rẩy vì tê liệt là…”
Những lời cuối cùng bị nhấn chìm trong một tràng cười khi Jamie kéo tôi lên cầu thang. Chúng tôi không xuống ăn tối.
•••
Một lúc lâu sau đó, khi đang thiu thiu ngủ, tôi cảm thấy cánh tay Jamie choàng quanh eo mình, và hơi thở ấm áp của anh phả trên cổ tôi.
“Chuyện này có bao giờ ngừng lại không? Chuyện ham muốn em ấy?” Bàn tay anh vòng qua mơn trớn bầu ngực tôi. “Kể cả khi vừa mới rời khỏi em, anh đã ham muốn em nhiều đến nỗi lồng ngực anh bí bức và các ngón tay nhức nhối muốn chạm vào em lần nữa.”
Anh ôm lấy mặt tôi, hai ngón cái mơn man theo đường cong ở lông mày tôi. “Khi anh ôm em và cảm nhận được em run rẩy chờ đợi anh… Chúa ơi, anh muốn thỏa mãn em cho đến khi em thét lên bên dưới anh và mở ra để đón nhận anh. Và khi anh nhận được niềm khoái lạc từ em, anh cảm thấy mình như đã trao cho em cả thể xác lẫn tâm hồn.”
Anh lăn lên người tôi và tôi mở hai chân ra, hơi nhăn nhó khi anh tiến vào. Anh khẽ cười, “Ừ, anh cũng hơi đau. Em có muốn anh dừng lại không?” Tôi trả lời bằng cách quấn hai chân quanh hông anh và kéo anh sát vào người mình hơn.
“Anh sẽ dừng lại chứ?” Tôi hỏi.
“Không. Anh không thể.”
Chúng tôi cùng cười và nhịp nhàng chuyển động, môi và những ngón tay khám phá nhau trong bóng tối.
•••
Và sau đó, khi ánh sáng ban mai bắt đầu làm mờ đi ánh sáng của ngọn đèn, tôi thức dậy từ giấc ngủ lơ mơ, nghe thấy Jamie lẩm bẩm: “Chuyện này có bao giờ ngừng lại không, Claire? Chuyện ham muốn ấy?”
Đầu tôi lại ngả xuống vai anh. “Em không biết, Jamie. Em thực sự không biết.”
[1] Một cái hộp đồ chơi, bên trong có hình nộm được gắn lò xo, khi mở hộp ra thì hình nộm bật lên.