Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
38
Tu viện

❊ ❊ ❊

Tu viện là một tòa kiến trúc khổng lồ được xây từ thế kỷ mười hai, có tường bao xung quanh để chống lại sự tàn phá của bão biển và sự tấn công của những kẻ xâm lược trên mặt đất. Bây giờ, ở thời điểm yên bình hơn, những cánh cổng của nó được bỏ ngỏ để việc qua lại với ngôi làng gần bên được thuận tiện, và những căn phòng nhỏ bằng đá ở chái nhà dành cho khách trở nên mềm mại hơn bởi được bổ sung thêm thảm thêu và những đồ đạc tiện nghi.

Tôi đứng dậy khỏi cái ghế độn trong phòng mình, không biết phải chào một tu viện trưởng như thế nào cho đúng cách; có cần phải quỳ xuống và hôn chiếc nhẫn của ông không nhỉ, hay nghi lễ đó chỉ dành cho giáo hoàng? Cuối cùng, tôi đành chọn cách nhún gối cúi chào đầy lễ phép.

Đôi mắt xếch như mắt mèo của Jamie là được di truyền từ nhà Fraser. Cái quai hàm rắn chắc cũng vậy, dù quai hàm của người đang đứng đối diện với tôi đã bị bộ râu đen che lấp phần nào.

Tu viện trưởng Alexander cũng có cái miệng rộng giống cháu trai mình, dù ông có vẻ hơi ít cười. Đôi mắt xếch màu xanh vẫn giữ vẻ điềm tĩnh và suy đoán khi ông chào tôi bằng một nụ cười ấm áp, dễ chịu. Ông thấp hơn Jamie nhiều, chỉ cao chừng bằng tôi, và có vóc người đậm đà. Ông mặc áo chùng thầy tu, nhưng có dáng đi của một chiến binh. Có thể trước đây ông vừa là một chiến binh vừa là một thầy tu cũng nên.

“Chào mừng con đến tu viện, ma nièce[1],” ông nói, gật đầu. Tôi hơi giật mình trước lời chào ấy, nhưng vẫn cúi đầu đáp lại.

“Con cảm ơn sự hiếu khách của bác,” tôi thực lòng nói. “Bác... bác đã gặp Jamie chưa?” Các thầy tu đã đưa Jamie đi tắm rửa, một thủ tục mà tôi nghĩ mình không nên nhúng tay vào.

Tu viện trưởng gật đầu. “Rồi,” ông nói, tiếng Anh của ông lộ chút thổ âm của người Scot. “Ta đã gặp nó và sai Thầy Ambrose chăm sóc các vết thương cho nó.” Hẳn là mặt tôi lộ vẻ nghi ngại, vì ông nói, giọng hơi giễu cợt. “Con đừng lo; Thầy Ambrose rất thạo việc đó.” Ông nhìn tôi từ đầu đến chân với vẻ đánh giá thẳng thắn khiến người khác phải bối rối, giống hệt cháu trai mình.

“Murtagh nói con là một thầy thuốc giỏi.”

“Vâng,” tôi cộc lốc đáp.

Ông cười xòa. “Ta thấy con không mắc phải tội khiêm tốn giả tạo,” ông nhận xét.

“Con có những tội lỗi khác,” tôi nói, mỉm cười đáp lại.

“Ai chẳng vậy,” ông nói. “Ta chắc chắn Thầy Ambrose sẽ rất háo hức muốn được nói chuyện cùng con.”

“Murtagh đã kể với bác... chuyện gì xảy ra chưa?” Tôi ngập ngừng hỏi.

Cái miệng rộng mím chặt. “Rồi. Ông ta đã kể những gì mình biết.” Ông chờ đợi, như thể đang mong tôi nói thêm điều gì, nhưng tôi chỉ im lặng.

Rõ ràng ông có nhiều điều muốn hỏi, nhưng vì lịch sự nên không thúc giục tôi. Cuối cùng, ông giơ tay lên như để ban phúc lành và gạt chủ đề ấy đi.

“Chào mừng con đến với tu viện,” ông lặp lại. “Ta sẽ bảo người mang đến cho con ít đồ ăn.” Ông lại nhìn kĩ tôi một lượt. “Và ít đồ để tắm rửa.” Ông làm dấu thánh giá trên người tôi để chào tạm biệt hoặc có lẽ là để thanh tẩy tình trạng bẩn thỉu của tôi, rồi xoay người rời đi.

Đột nhiên cảm thấy vô cùng mệt mỏi, tôi thả phịch người xuống giường, tự hỏi liệu tôi có thức nổi để kịp ăn tắm không. Tôi vẫn còn đang băn khoăn thì đầu đã đập xuống gối tự lúc nào.

•••

Tôi có một cơn ác mộng đáng sợ. Jamie đang ở phía bên kia của một bức tường đá rắn chắc không có cửa. Tôi có thể nghe tiếng anh gào thét hết lần này đến lần khác, nhưng không thế tới được chỗ anh. Tôi tuyệt vọng đấm thùm thụp vào bức tường, nhưng chỉ thấy hai bàn tay mình chìm vào khối đá như thể nó là nước.

“Ối!” Tôi ngồi bật dậy trên chiếc giường hẹp, ôm lấy bàn tay vừa bị đập vào bức tường cứng cạnh giường. Tôi đu đưa qua lại, siết chặt bàn tay đau nhói giữa hai đùi, rồi nhận ra tiếng thét vẫn đang vang vọng.

Nó dừng lại đột ngột khi tôi chạy ra hành lang. Cửa phòng Jamie đang mở, ánh đèn lập lòe tràn ngập hành lang.

Một vị tu sĩ tôi chưa từng nhìn thấy đang ôm chặt Jamie. Máu tươi rỉ ra nhuộm đỏ các lớp băng trên lưng anh, và vai anh run lên như thể bị lạnh.

“Một cơn ác mộng,” vị tu sĩ giải thích khi nhìn thấy tôi đứng ở ngưỡng cửa. Ông ta giao Jamie cho tôi, rồi đi lấy bình nước và một mảnh vải ở trên bàn.

Jamie vẫn đang run rẩy, mặt bóng loáng mồ hôi. Mắt anh vẫn nhắm, hơi thở hổn hển, khò khè. Vị tu sĩ ngồi xuống bên cạnh tôi và bắt đầu nhẹ nhàng lau mặt cho Jamie, gạt đi những lọn tóc ướt dính bết vào hai bên thái dương anh.

“Chắc con là vợ của cậu ấy,” ông ta nói với tôi. “Ta nghĩ cậu ấy sẽ chóng khỏe thôi.”

Một, hai phút sau, cơn run rẩy bắt đầu dịu đi, Jamie mở mắt, thở dài.

“Anh ổn rồi,” anh nói. “Claire, bây giờ thì anh ổn rồi. Nhưng vì Chúa, hãy khử thứ mùi đáng ghét ấy đi!”

Đến lúc đó, tôi mới nhận thấy mùi hương trong phòng - một thứ mùi nhẹ nhàng, quyến rũ, quen thuộc đến mức tôi chẳng hề để ý đến. Oải hương. Mùi hương của xà phòng và dầu thơm. Lần cuối tôi ngửi thấy nó là ở dưới địa lao của ngục Wentworth, trên quần áo hoặc trên người Đại úy Jonathan Randall.

Mùi hương này tỏa ra từ một cái cốc kim loại nhỏ đựng dầu thơm treo bên trên một ngọn nến.

Nó có tác dụng giúp tâm trí thanh thản, nhưng rõ ràng lúc này nó không đạt được hiệu quả mong muốn. Jamie đã thở dễ dàng hơn, anh tự ngồi dậy và cầm lấy cốc nước mà vị tu sĩ đưa cho anh, nhưng mặt anh vẫn trắng bệch và khóe miệng mím lại vẻ khó chịu.

Tôi gật đầu ra hiệu cho vị tu sĩ dòng Franciscan làm theo lời anh nói, và ông ta nhanh chóng quấn một cái khăn quanh cốc dầu nóng rồi mang nó ra ngoài hành lang.

Jamie thở phào nhẹ nhõm, rồi nhăn nhó khi mạng sườn đau nhói.

“Lưng anh bị toác một chút,” tôi nói, khẽ lật người anh lại để kiểm tra những lớp băng. “Nhưng không đến nỗi tệ lắm.”

“Anh biết. Chắc là anh đã lăn người nằm ngửa trong lúc ngủ.” Cái chăn được gấp dày để chèn người anh, giúp anh nằm nghiêng, đã rơi xuống sàn. Tôi nhặt nó lên và đặt nó trên giường, bên cạnh anh.

“Anh nghĩ đó là lý do anh gặp ác mộng. Anh đã mơ mình bị quất roi.” Anh rùng mình, nhấp một ngụm nước rồi đưa cái cốc cho tôi. “Anh cần thứ gì đó mạnh hơn, nếu có.”

Như thể đó là một tín hiệu, vị khách hữu ích của chúng tôi bước vào phòng, một tay cầm bình rượu vang, tay kia cầm bình si rô anh túc.

“Rượu hay thuốc phiện?” Ông ta cười, hỏi Jamie, giơ cả hai cái bình lên. “Con có thể lựa chọn.”

“Con sẽ chọn rượu, nếu Cha vui lòng. Con không muốn phải mơ thêm giấc mơ nào nữa,” Jamie nói, nở nụ cười nửa miệng. Anh từ từ uống rượu khi tu sĩ giúp tôi thay những tấm băng lốm đốm máu, xoa dầu cúc vạn thọ lên các vết thương. Cho đến lúc tôi chèn lưng và đắp chăn xong xuôi cho Jamie để giúp anh ngủ lại, vị khách của chúng tôi mới rời đi.

Lúc đi qua giường, ông ta cúi xuống và làm dâu thánh giá trên đầu Jamie. “Ngủ ngon,” ông ta nói.

“Cảm ơn Cha.” Jamie mơ màng trả lời, rõ ràng anh đã lơ mơ ngủ. Nhận thấy rằng từ giờ cho đến sáng mai, Jamie sẽ không cần đến tôi, tôi chạm vào vai anh để tạm biệt và đi theo vị khách ra ngoài hành lang.

“Cảm ơn Cha,” tôi nói. “Con rất biết ơn sự giúp đỡ của Cha.”

Vị tu sĩ xua tay, gạt đi những lời cảm ơn của tôi.

“Ta rất vui vì có thể giúp con,” ông ta nói. Tiếng Anh của ông ta rất chuẩn, dẫu vẫn còn vương một chút thổ âm Pháp. “Ta đang tới nhà nguyện St. Giles thì nghe thấy tiếng hét ở chái nhà dành cho khách.”

Tôi nhăn mặt khi nhớ đến tiếng hét khàn đục và đáng sợ ấy, hy vọng mình sẽ không phải nghe thấy nó thêm lần nào nữa. Liếc nhìn ô cửa sổ ở đầu kia hành lang, tôi không thấy dấu hiệu nào của bình minh bên ngoài cánh cửa chớp.

“Tới nhà nguyện ạ?” Tôi kinh ngạc nói. “Con cứ tưởng kinh cầu nguyện buổi sáng được tụng ở nhà thờ chính? Vả lại, giờ vẫn còn sớm mà.”

Vị tu sĩ mỉm cười. Ông ta còn khá trẻ, có lẽ mới ngoài ba mươi, nhưng mái tóc nâu mượt mà của ông ta đã lốm đốm bạc. Tóc ông ta cắt ngắn, được cạo gọn gàng, và chòm râu màu nâu được cắt tỉa tinh tế vừa vặn dài đến cổ áo chùng thâm.

“Đúng là còn quá sớm để tụng kinh sáng,” ông ta đồng ý. “Ta tới nhà nguyện vào giờ này là vì đến lượt ta chầu thánh thể.” Ông ta liếc lại vào trong phòng của Jamie, ngọn nến đồng hồ ở đó cho thấy hiện mới hai giờ rưỡi.

“Ta muộn quá rồi,” ông ta nói. “Chắc Thầy Bartolome đã buồn ngủ lắm!” Ông ta giơ tay lên, vội vã ban phúc cho tôi, rồi xoay gót và đi qua cánh cửa lò xo ở cuối hành lang trước khi tôi kịp nghĩ đến việc hỏi tên ông ta.

Tôi bước vào phòng, cúi xuống để kiểm tra Jamie. Anh đã ngủ, hơi thở nhẹ nhàng, trán hơi cau lại. Tôi thử vuốt tóc anh. Trán anh hơi dãn ra, rồi lại cau lại. Tôi thở dài và đắp lại chăn cho anh.

•••

Sáng hôm sau, tôi cảm thấy khá hơn nhiều, nhưng Jamie thì lờ đờ và cáu kỉnh sau một đêm ngủ không tròn giấc. Anh dứt khoát từ chối món xúp nóng trong bữa sáng và gắt gỏng với tôi khi tôi cố gắng kiểm tra những lớp băng trên bàn tay anh.

“Vì Chúa, Claire, em không để anh yên được sao! Anh không muốn bị chọc vào người thêm nữa!”

Anh cau có giật tay ra. Tôi lẳng lặng quay đi, xếp gọn những cái lọ nhỏ và những gói thuốc trên chiếc bàn cạnh giường. Tôi sắp chúng thành từng nhóm nhỏ, phân loại theo chức năng: dầu cúc vạn thọ và nhựa cây dương để bồi; vỏ cây liễu gai, vỏ cây anh đào và cúc La Mã để uống trà; cây ban Âu, tỏi và cỏ thi dùng để sát trùng.

“Claire!”

Tôi quay lại, thấy anh đang ngồi trên giường, cười bẽn lẽn nhìn tôi.

“Anh xin lỗi, Sassenach. Bụng anh đang quặn lên, và sáng nay tâm trạng anh tồi tệ quá! Nhưng anh không nên cáu gắt với em. Em tha lỗi cho anh nhé?”

Tôi nhanh chóng đến bên và khẽ ôm anh.

“Anh biết là anh chẳng có lỗi gì mà. Nhưng bụng anh đang quặn lên là sao?” Đây không phải là Lần đầu tiên tôi nhận ra rằng sự thân mật và lãng mạn không đồng nghĩa với nhau.

Anh nhăn nhó, hơi cúi người và ôm bụng. “Có nghĩa là,” anh nói, “anh muốn được ở một mình một lát. Nếu em không phiền?”

Tôi vội vàng tuân theo yêu cầu của anh và đi ăn sáng.

Một lát sau, trên đường từ nhà ăn quay lại, tôi nhìn thấy một thân hình mảnh khảnh mặc áo chùng thâm của dòng tu Franciscan đang băng ngang qua sân để đi về phía hành lang của tu viện. Tôi vội vã đuổi theo ông ta.

“Thưa Cha!” Tôi gọi, và ông ta quay lại, mỉm cười khi thấy tôi.

“Chúc con một buổi sáng tốt lành,” ông ta nói. “Phu nhân Fraser; tên con là vậy phải không? Sáng nay chồng con thế nào rồi?”

“Khá hơn rồi thưa Cha,” tôi nói, hy vọng điều đó là thật. “Con muốn cảm ơn Cha một lần nữa vì chuyện đêm qua. Cha đã bỏ đi trước khi con kịp hỏi tên Cha.”

Đôi mắt màu hạt dẻ trong veo ánh lên khi ông cúi đầu với tôi, bàn tay đặt lên ngực chỗ trái tim. “François Anselm Mericoeur[2] d’ Armagnac,” ông nói. “Đó là tên tục của ta. Bây giờ ta chỉ được biết đến là Cha Anselm.”

“Anselm có trái tim vui vẻ?” Tôi hỏi, mỉm cười. Ông nhún vai, một cử chỉ đặc trưng của người xứ Gaul, không hề thay đổi trong hàng thế kỷ qua.

“Ta luôn cố gắng để được như vậy,” ông nói, nhếch miệng châm biếm.

“Con không muốn giữ chân Cha,” tôi nói, liếc về phía hành lang của tu viện. “Con chỉ muốn cảm ơn Cha vì đã giúp đỡ.”

“Con không trì hoãn ta chút nào. Thực ra, ta đang lần lữa đi làm việc của mình; tự cho phép mình hưởng thụ sự lười biếng một cách tội lỗi.”

“Công việc của Cha là gì vậy?” Tôi tò mò hỏi. Rõ ràng người đàn ông này là một vị khách của tu viện, chiếc áo tu sĩ dòng Franciscan màu đen của ông nổi bật như một đốm mực giữa những chiếc áo màu nâu của các tu sĩ dòng Benedictine. Thầy Polydore, một trong những tu sĩ cần vụ, đã nói với tôi rằng ở đây có vài vị khách như thế. Hầu hết bọn họ là các học giả, tới đây để tham khảo các tác phẩm được lưu trữ trong thư viện trứ danh của tu viện. Anselm có vẻ là một trong số các học giả ấy. Trong vài tháng qua, ông đã miệt mài chuyển ngữ vài tác phẩm của Herodotus[3].

“Con đã nhìn thấy thư viện chưa?” Ông hỏi. “Vậy thì đi nào,” ông nói khi thấy tôi lắc đầu. “Nó thực sự rất ấn tượng, và ta chắc chắn Tu viện trưởng - bác của con - sẽ không phản đối.”

Tôi vừa tò mò muốn được thấy thư viện, vừa không muốn quay lại ngay khu nhà khách biệt lập, vì thế tôi đi theo ông không chút đắn đo.

Thư viện thật đẹp với những cây cột cao vút theo kiểu kiến trúc Gothic đỡ lấy những vòm mái hình cung nhọn. Giữa các cây cột là những ô cửa sổ cao đến trần, khiến cho thư viện luôn tràn trề ánh sáng. Hầu hết các cửa sổ đều được lắp kính trong, chỉ một số ít lắp tranh kính với những câu chuyện trong Kinh Thánh. Nhón chân đi qua đằng sau những tấm lưng cong của các tu sĩ đang miệt mài nghiên cứu, tôi dừng lại để say sưa ngắm nhìn một bức tranh mô tả cảnh Trốn sang Ai Cập[4].

Một vài giá sách trông chẳng khác gì những giá sách mà tôi quen thuộc với những cuốn sách nép sát vào nhau. Những giá khác có những cuốn sách được đặt nằm ngang để bảo vệ lớp bìa cổ. Thậm chí có một cái giá được lắp kính để lưu trữ những cuộn giấy da. Nhìn chung, trong thư viện có một nỗi hân hoan thầm lặng, như thể các cuốn sách được nâng niu đều đang lặng lẽ ca hát bên trong lớp bìa của chúng. Tôi rời khỏi thư viện, cảm thấy lòng dịu êm, và chậm rãi đi ngang qua sân chính cùng với Cha Anselm.

Tôi lại cố gắng cảm ơn ông vì sự giúp đỡ đêm qua, nhưng ông nhún vai gạt đi.

“Không có gì đâu, con của ta. Ta hy vọng hôm nay chồng con đã khá hơn?”

“Con cũng hy vọng như vậy,” tôi nói. Không muốn dấn sâu vào chủ đề đó, tôi hỏi: “Chầu thánh thể là gì, thưa Cha? Đêm qua Cha nói Cha phải đi làm việc đó.”

“Con không phải là tín đồ Công giáo à?” Ông kinh ngạc hỏi. “À, ta quên mất, con là người Anh. Vì vậy đương nhiên con là một tín đồ theo đạo Tin Lành.”

“Về mặt đức tin, con không chắc con là một tín đồ,” tôi nói. “Nhưng về mặt lý thuyết thì con là một tín đồ Công giáo.”

“Về mặt lý thuyết?” Ông nhướng mày kinh ngạc.

Tôi ngập ngừng, thận trọng sau những gì Cha Bain đã làm với tôi, nhưng người đàn ông này không có vẻ gì là sẽ ve vẩy những cây thánh giá trước mặt tôi.

“Chà,” tôi nói, cúi xuống để nhổ một ngọn cỏ nhỏ giữa những kẽ đá lát, “con đã được rửa tội để làm một tín đồ Công giáo, nhưng cha mẹ con mất từ lúc con mới năm tuổi, vì vậy con tới sống với bác con. Bác Lambert là...” Tôi ngừng lại, nhớ đến lòng ham hiểu biết điên cuồng của bác Lambert và quan niệm coi mọi tôn giáo chỉ như một dấu hiệu nhận diện để phân biệt các nền văn hóa. “Chà, về mặt đức tin, con cho rằng bác ấy là tín đồ của mọi tôn giáo nhưng lại không phải là tín đồ của riêng một tôn giáo nào cả,” tôi kết luận. “Bác ấy hiểu biết tường tận tất cả nhưng lại chẳng tin vào tôn giáo nào. Vì vậy con chẳng được dạy dỗ gì về tôn giáo. Và... người chồng đầu tiên của con là một tín đồ Công giáo, nhưng con e là anh ấy không ngoan đạo lắm. Vì thế con cho là mình giống như một kẻ ngoại đạo vậy.”

Tôi dè dặt nhìn ông, nhưng thay vì bàng hoàng bởi lời tiết lộ này, ông cười vui vẻ.

“Là tín đồ của mọi tôn giáo nhưng lại không phải là tín đồ của riêng một tôn giáo nào cả,” ông nói, nghiền ngẫm cụm từ đó. “Ta thích điều đó lắm. Nhưng còn con, ta e là con không giống như bác con. Một khi đã là thành viên của Giáo hội Công giáo thiêng liêng, con vĩnh viễn được coi là một người con của Giáo hội. Tuy con không mấy hiểu biết về đức tin của mình nhưng con vẫn là một tín đồ Công giáo như Đức Giáo hoàng của chúng ta.” Ông liếc nhìn trời. Bầu trời đầy mây, nhưng những tán lá tống quán sủi gần nhà thờ vẫn im lìm.

“Gió đã lặng. Ta định đi dạo một lát để đầu óc thư thái và tận hưởng bầu không khí trong lành. Sao con không đi với ta nhỉ? Con cần không khí và vận động, nhân dịp này, ta cũng có thể khai sáng cho con về nghi thức Chầu thánh thể.”

“Một mũi tên trúng ba đích ạ?” Tôi đùa giỡn. Viễn cảnh đi dạo trong bầu không khí tươi mát, dẫu không có ánh nắng, thật hấp dẫn, và tôi lập tức đi lấy áo choàng, không chút đắn đo.

Liếc mắt về phía thân hình đang cúi đầu cầu nguyện ở bên trong, Anselm dẫn tôi đi ngang qua cánh cửa nhà nguyện tối om, tĩnh lặng và đi dọc theo hành lang để tới mép vườn.

Khi đã ra khỏi phạm vi có thể làm ảnh hưởng đến các tu sĩ trong nhà nguyện, ông nói: “Đó là một khái niệm rất đơn giản. Con còn nhớ câu chuyện về vườn Gethsemane[5] trong Kinh Thánh, nơi Đức Chúa của chúng ta đã chờ đợi giờ phút bị bắt đem đi xét xử và đóng đinh lên cây thập tự, và các môn đệ của người, đáng lẽ phải ở bên người, lại ngủ say như chết chứ?”

“Ồ,” tôi nói, hiểu ra ngay lập tức. “Và người đã nói: “Anh em không thể canh thức nổi với thầy một giờ sao?” Đó chính là việc Cha đang làm - canh thức với người trong một giờ - để bù đắp.” Tôi thích ý tưởng ấy, và bóng tối của nhà nguyện đột nhiên có vẻ ấm áp và dễ chịu hơn.

“Oui, madame,”[6] ông đồng ý. “Rất đơn giản. Chúng ta thay phiên nhau canh thức, và thánh thể trên ban thờ ở đây chưa bao giờ bị bỏ mặc”.

“Việc giữ mình tỉnh táo có khó không?” Tôi tò mò hỏi. “Hay Cha luôn canh thức vào ban đêm?”

Ông gật đầu, một làn gió nhẹ thổi tung bay những lọn tóc nâu mượt mà. Mảng đầu trọc[7] của ông đã đến lúc cần được cạo; những sợi tóc lún phún đã mọc lên trên đó như một đám rêu.

“Mỗi người canh chọn lựa thời gian phù hợp với mình nhất. Với ta, đó là lúc hai giờ sáng.” Ông liếc nhìn tôi, ngập ngừng, như thể đang tự hỏi liệu tôi có hiểu được những lời ông sắp nói ra không.

“Với ta, vào thời điểm đó...” Ông ngừng lại. “Thời gian như ngưng đọng. Tất cả các thể dịch của cơ thể, tức là máu, mật và hơi nước, những thể dịch tạo nên một con người; chúng như hài hòa với nhau.” Ông mỉm cười. Hàm răng của ông hơi khấp khểnh, đó là khuyết điểm duy nhất ở ngoại hình hoàn hảo của ông.

“Hoặc như thể tất cả bọn chúng đều đã ngừng hoạt động. Ta thường tự hỏi liệu khoảnh khắc đó có giống với khoảnh khắc lúc chúng ta được sinh ra hay chết đi không. Ta biết rằng khoảnh khắc đó là khác nhau ở mỗi người đàn ông... hay phụ nữ,” ông nói thêm, lịch sự gật đầu với tôi. “Nhưng vào lúc đó, vào khoảnh khắc đó, có vẻ như mọi điều đều có thể xảy ra. Con có thể nhìn xa hơn những giới hạn của cuộc đời con, và thấy rằng chúng thực sự chẳng là gì cả. Vào khoảnh khắc ấy, khi thời gian ngừng lại, con biết mình có thể đảm nhận bất cứ việc mạo hiểm nào, hoàn thành nó và trở lại với bản thân con, thấy rằng thế giới vẫn không thay đổi, mọi thứ vẫn giống như khi con rời bỏ nó một khoảnh khắc trước đó. Và có vẻ như...” Ông ngập ngừng trong một thoáng, cẩn thận lựa chọn từ ngữ. “Có vẻ như, vì biết rằng mọi điều đều có thể xảy ra, đột nhiên chẳng có gì là cần thiết nữa.”

“Nhưng... Cha có thực sự làm gì không?” Tôi hỏi. “Ờ, cầu nguyện chẳng hạn?”

“Ta ư? Chà,” ông chậm rãi nói. “Ta ngồi, và nhìn Người.” Đôi môi tuyệt đẹp nở một nụ cười rạng rỡ. “Và Người nhìn ta.”

•••

Lúc tôi trở lại phòng, Jamie đang ngồi dậy, sau đó, anh cố gắng tựa vào vai tôi để đi đi lại lại một chút quanh hành lang. Nhưng nỗ lực ấy khiến mặt anh tái mét và toát mồ hôi, rồi anh nằm xuống mà không cất một lời phản đối khi tôi đắp lại chăn cho anh.

Tôi mang cho anh ít xúp loãng và sữa, nhưng anh mệt mỏi lắc đầu. “Anh không muốn ăn, Sassenach. Nếu ăn vào thứ gì, anh sẽ lại nôn ra mất.”

Tôi không ép anh, lặng lẽ mang đồ ăn đi.

Vào bữa tối, tôi kiên quyết hơn và cuối cùng cũng thuyết phục được anh húp thử một vài thìa xúp. Anh cố gắng ăn được một ít, nhưng không thể giữ nó lại trong bụng.

“Anh xin lỗi, Sassenach,” lát sau, anh nói. “Anh thật gớm guốc.”

“Không sao đâu, Jamie, anh không gớm guốc chút nào.” Tôi đặt cái chậu ở ngoài cửa và ngồi xuống bên cạnh anh, gạt một lọn tóc ra khỏi trán anh. “Đừng lo! Chỉ là dạ dày của anh vẫn còn bị kích thích vì say sóng. Có lẽ em đã ép anh ăn hơi sớm. Cứ để yên cho nó bình ổn lại đã.”

Anh nhắm mắt, thở dài bên dưới bàn tay tôi.

“Anh sẽ ổn thôi,” anh nói, không vui vẻ gì. “Hôm nay em đã làm gì vậy, Sassenach?”

Anh rõ ràng đang bồn chồn và khó chịu, nhưng dịu đi một chút khi tôi kể anh nghe về những khám phá của tôi trong ngày: thư viện, nhà nguyện, máy ép nho để làm rượu vang và cuối cùng là vườn thảo mộc, nơi tôi đã gặp Thầy Ambrose nổi tiếng.

“Ông ấy thật tuyệt vời,” tôi hồ hởi nói. “Ồ, em quên mất, anh đã gặp ông ấy rồi mà.” Thầy Ambrose rất cao - thậm chí còn cao hơn cả Jamie - và nhợt nhạt, với khuôn mặt dài ủ rũ giống như một con chó basset[8]. Và mười ngón tay dài, gầy guộc tái xanh.

“Dường như ông ấy có khả năng trồng bất cứ thứ gì,” tôi nói. “Ở đó, ông ấy có tất cả những loại thảo mộc thông thường, và một nhà kính nhỏ đến nỗi ông ấy không thể đứng thẳng người khi ở bên trong, trồng những thứ không mọc vào mùa này, không mọc ở vùng đất này hoặc thậm chí là không thể mọc nổi. Chưa kể những giống gia vị và thảo dược ngoại nhập khác.”

Nhắc đến thảo dược khiến tôi nhớ tới đêm qua, và tôi liếc nhìn ra ngoài cửa sổ. Hoàng hôn mùa đông buông sớm, ngoài trời đã tối đen, những chiếc đèn xách tay của các tu sĩ trông nom chuồng ngựa và phụ trách những công việc ngoài trời lắc lư qua lại khi họ đi ngang qua.

“Trời tối rồi. Anh nghĩ anh có thể ngủ được không? Thầy Ambrose có vài thứ có thể giúp ích.”

Đôi mắt anh đượm vẻ mệt mỏi, nhưng anh lắc đầu.

“Không, Sassenach. Anh không muốn gì cả. Nếu anh ngủ... không, anh nghĩ anh sẽ đọc sách một chút.” Cha Anselm đã mang tới cho anh một tuyển tập các tác phẩm triết học và lịch sử lấy từ thư viện, và anh vươn tay lấy một quyển của Tacitus[9] nằm trên bàn.

“Anh cần ngủ, Jamie,” tôi nhẹ nhàng nói, quan sát anh. Anh mở quyển sách ra trước mặt, tựa vào gối, nhưng cứ nhìn chằm chằm vào bức tường bên trên nó.

“Anh chưa kể em nghe anh đã mơ thấy gì,” anh đột nhiên nói.

“Anh nói anh mơ thấy mình bị quất roi mà.” Tôi không thích biểu cảm trên mặt anh; khuôn mặt anh vốn đã nhợt nhạt dưới những vết bầm tím, giờ nó hơi lấp lánh vì mồ hôi.

“Đúng vậy. Anh có thể ngước lên và nhìn thấy những sợi dây trói cứa sâu vào cổ tay anh. Hai bàn tay anh tím đen lại, và sợi dây trói cọ cả vào xương khi anh cử động. Anh úp mặt vào cây cột. Rồi anh cảm nhận được những hòn chì ở cuối những ngọn roi xé toạc da thịt ở vai anh. Những ngọn roi cứ quất xuống tới tấp dù đáng lẽ chúng phải ngừng lại từ lâu rồi, và anh nhận ra hắn không hề có ý định dừng lại. Máu... máu của anh chảy tràn hai bên sườn và lưng, thấm vào cái váy của anh. Anh rất lạnh. Thế rồi anh lại ngẩng lên, thấy thịt ở hai bàn tay anh bắt đầu rụng xuống, và các ngón tay chỉ còn trơ xương đang cào vào lớp gỗ, để lại những vết xước dài. Hai cánh tay anh cũng chỉ còn lại xương và dây trói. Anh nghĩ đó là khi anh bắt đầu la hét. Anh nghe thấy tiếng lách cách kỳ lạ khi hắn đánh anh, và một lúc sau, anh nhận ra nó là gì. Hắn đã làm tróc hết thịt trên người anh, những hòn chì của ngọn roi kêu lách cách khi va vào những chiếc xương sườn khô khốc. Và anh biết rằng mình đã chết, nhưng điều đó không quan trọng. Hắn vẫn cứ tiếp tục, và sẽ không bao giờ ngừng lại. Cho đến khi anh tan vỡ thành từng mảnh và rụng xuống lả tả khỏi cây cột, những ngọn roi vẫn không hề ngùng lại, và...”

Tôi nhào tới ôm lấy anh để làm anh im lặng, nhưng anh đã ngừng lại, nắm chặt mép cuốn sách bằng bàn tay lành lặn. Răng anh cắn mạnh chỗ bị rách ở môi dưới.

“Jamie, tối nay em sẽ ở bên anh,” tôi nói. “Em có thể kê một tấm phản trên sàn.”

“Không.” Dù yếu ớt nhưng rõ ràng anh vẫn cứng đầu. “Anh nên ở một mình thì tốt hơn. Bây giờ anh cũng không buồn ngủ. Em đi ăn tối đi, Sassenach. Anh sẽ... đọc một chút.” Anh cúi đầu trên trang sách. Sau một phút quan sát anh trong nỗi bất lực, tôi làm theo lời anh nói và rời đi.

•••

Tôi càng lúc càng lo lắng cho sức khỏe của Jamie. Tình trạng nôn mửa vẫn chưa chấm dứt; anh hầu như không ăn gì, và những gì anh ăn hiếm khi ở yên trong dạ dày anh. Anh càng ngày càng xanh xao và bơ phờ, chẳng tỏ ra hứng thú với bất cứ thứ gì. Anh ngủ nhiều vào ban ngày vì ban đêm không ngủ mấy. Tuy nhiên, cho dù sợ mơ đến mức nào, anh cũng không cho phép tôi ở chung phòng với anh để không làm ảnh hưởng đến việc nghỉ ngơi của tôi.

Không muốn quanh quẩn bên anh cả ngày, ngay cả khi anh cho phép, vì vậy phần lớn thời gian tôi ở trong phòng mẫu vật hoặc phòng sấy khô với Thầy Ambrose, hoặc lang thang vơ vẩn khắp tu viện, trò chuyện với Cha Anselm. Nhân dịp này, ông cố gắng chỉ dạy tôi những điều cơ bản về Công giáo, dù tôi đã lặp đi lặp lại với ông không biết bao nhiêu lần về nền tảng theo thuyết bất khả tri của mình.

“Ma chère[10],” cuối cùng, ông nói, “con có nhớ hôm qua ta đã nói với con những yếu tố nào cấu thành tội lỗi không?”

Cho dù tinh thần tôi có sa sút ra sao, trí nhớ của tôi vẫn không có vấn đề gì.

“Thứ nhất, đó là một hành vi sai trái, và thứ hai, ta hoàn toàn nhận thức được hành vi sai trái đó,” tôi lặp lại như một con vẹt.

“Ta hoàn toàn nhận thức được hành vi sai trái đó,” ông lặp lại. “Và đó, ma chère, cũng chính là điều kiện để xuất hiện lòng vị tha.” Chúng tôi đang dựa người vào hàng rào chuồng lợn của tu viện, quan sát mấy con lợn màu nâu to lớn đang rúc vào nhau dưới ánh mặt trời mùa đông yếu ớt. Ông quay đầu, úp mặt lên hai cánh tay đang khoanh lại trên hàng rào.

“Con thấy mình không thể vị tha được,” tôi phản đối. “Lòng vị tha là thứ không phải ai cũng có. Giống như là...” Tôi ngập ngừng, không muốn tỏ ra vô lễ - “đối với Cha, thứ trên ban thờ nhà nguyện là Chúa. Còn đối với con, đó chỉ là một mẩu bánh, cho dù nó được đựng trong một vật chứa đẹp đẽ nhường nào.”

Ông thở dài vẻ mất kiên nhẫn và đứng thẳng dậy, duỗi lưng.

“Trên đường tới buổi chầu đêm, ta nhận thấy chồng con ngủ không ngon,” ông nói. “Và hậu quả là, con cũng vậy. Dù gì con cũng không ngủ, vậy thì ta mời con cùng ta tới buổi chầu đêm nay. Hãy tới nhà nguyện cùng ta trong một tiếng.”

Tôi nheo mắt nhìn ông. “Tại sao?”

Ông nhún vai. “Tại sao lại không nhỉ?”

•••

Tôi dễ dàng trở dậy đúng giờ hẹn với Cha Anselm, chủ yếu là vì tôi không ngủ. Jamie cũng vậy. Mỗi khi thò đầu ra hành lang, tôi đều thấy ánh nến hắt ra từ cánh cửa phòng khép hờ của anh, nghe thấy tiếng giở sách loạt soạt và thi thoảng một tiếng càu nhàu khó chịu khi anh đổi tư thế.

Không ngủ được nên tôi cũng chẳng cởi đồ trước khi lên giường, vì vậy khi tiếng gõ cửa vang lên, báo hiệu Cha Anselm tới thì tôi cũng đã sẵn sàng để đi.

Tu viện thật tĩnh mịch, theo cái kiểu tĩnh mịch về đêm của tất cả các khu nhà lớn; nhịp điệu hối hả của các hoạt động ban ngày đã lắng dịu, nhưng nó vẫn tiếp diễn, chỉ là chậm rãi hơn, khẽ khàng hơn chứ không hoàn toàn chấm dứt. Luôn có ai đó còn thức, lặng lẽ đi lại qua các hành lang, canh gác và duy trì sự sống động. Và bây giờ đến lượt tôi tham gia vào buổi chầu.

Nhà nguyện tối om, ngoại trừ ánh sáng từ ngọn đèn chầu màu đỏ và vài ngọn nến tạ ơn màu trắng trong. Những ngọn lửa nhô lên thẳng đứng trong không khí tĩnh lặng trước những chiếc hòm đựng thánh tích tối đen.

Tôi đi sau Cha Anselm dọc theo lối đi ngắn ngủi ở giữa, quỳ gối theo ông. Thân hình mảnh khảnh của Thầy Bartolome đang quỳ ở đằng trước, đầu cúi xuống. Ông ta không ngoảnh lại trước tiếng động khẽ mà chúng tôi gây ra khi đi vào, mà vẫn ngồi yên bất động, cúi đầu vẻ tôn sùng.

Thánh thể gần như lọt thỏm giữa cái bình đựng bánh thánh khổng lồ hình mặt trời. Nó được làm bằng vàng, rộng hơn ba mươi phân, nằm yên bình trên ban thờ, bảo vệ mẩu bánh khiêm tốn ở giữa.

Tôi lúng túng ngồi vào chỗ Cha Anselm chỉ, gần mặt trước của nhà nguyện. Các ghế ngồi chạm trổ hình thiên thần, hoa và những con quỷ được gập lại để việc đi lại được dễ dàng. Tôi nghe thấy tiếng một chiếc ghế ở đằng sau kẽo kẹt mở ra khi Cha Anselm tìm chỗ của mình.

“Nhưng con sẽ làm gì?” Vừa bước chân tới nhà nguyện, tôi đã hỏi ông với giọng thì thào để tỏ lòng tôn trọng màn đêm và sự tĩnh mịch.

“Chẳng làm gì cả, ma chère,” ông đã trả lời một cách đơn giản.

“Chỉ cần có mặt ở đây thôi.”

Vì thế tôi ngồi đó, lắng nghe hơi thở của mình và những tiếng động khẽ khàng của một chốn tĩnh mịch; thường thì những tiếng động ấy vẫn bị những âm thanh khác át đi nên không thể nghe thấy. Chẳng hạn như tiếng đá lạo xạo, tiếng gỗ cọt kẹt, tiếng những ngọn lửa kêu xèo xèo, tiếng một sinh vật nhỏ bé bay từ chỗ của nó đến tòa nhà uy nghi này.

Tôi sẽ đồng ý với Cha Anselm rằng đây là một chốn yên bình. Mặc dù đang rất mệt mỏi và lo lắng cho Jamie nhưng tôi dần dần cảm thấy thư thái hơn, sự căng thẳng trong đầu óc nhẹ nhàng lơi lòng, giống như một cái lò xo đồng hồ được kéo dãn. Thật kỳ lạ, tôi không hề cảm thấy buồn ngủ dù đêm đã khuya và những nỗi căng thẳng cứ đeo bám tôi suốt mấy tuần qua.

Suy cho cùng, ngày tháng có là gì trước sự hiện diện của vĩnh hằng? Và đây chính là vĩnh hằng, đối với Cha Anselm, Thầy Bartolome, Thầy Ambrose và tất cả các tu sĩ, kể cả Tu viện trưởng Alexander oai vệ.

Trong chừng mực nào đó, đây là một ý niệm khiến người ta yên lòng. Nếu có được tất cả thời gian trên cõi đời này, vậy thì các sự kiện xảy ra trong một khoảnh khắc nào đó sẽ không còn quá quan trọng nữa. Người ta có thể lùi lại một chút, tìm kiếm sự ngơi nghỉ trong những suy ngẫm về Sự Tồn Tại Vĩnh Hằng, bất kể người ta hiểu bản chất của nó như thế nào.

Ngọn đèn chầu màu đỏ vẫn cháy đều đặn, hắt sáng lên chiếc bình thánh bằng vàng nhẵn nhụi. Những ngọn lửa trên những cây nến trắng trước tượng Thánh Giles và Đức Mẹ Thiêng Liêng rung rinh và bập bùng, nhưng ngọn đèn đỏ thì vẫn cháy yên bình, không chút lay động.

Và nếu có sự vĩnh hằng, hoặc thậm chí khái niệm về nó, thì có lẽ Cha Anselm đã đúng; mọi thứ đều có thể xảy ra. Còn tình yêu trọn vẹn? Tôi tự hỏi. Tôi đã yêu Frank; tôi vẫn yêu anh. Và tôi yêu Jamie, hơn cả mạng sống của mình. Nhưng bị trói buộc trong những giới hạn của thời gian và xác thịt, tôi không thể giữ cả hai người họ. Nhưng vượt ra ngoài giới hạn đó thì sao? Có một nơi nào đó mà thời gian ngừng lại hoặc không còn tồn tại không? Cha Anselm nghĩ là có. Một nơi tất cả mọi thứ đều có thể xảy ra. Và không có gì là cần thiết.

Và ở đó có tình yêu không? Bên ngoài những giới hạn về xác thịt và thời gian, liệu có thể có tình yêu trọn vẹn? Nó có cần thiết không?

Những ý nghĩ của tôi nghe như giọng điệu của bác Lamb vậy. Bác chính là gia đình của tôi, và là tất cả những gì tôi biết về tình yêu hồi tôi mới chỉ là một đứa bé. Bác chưa bao giờ nói yêu tôi, và cũng không cần phải nói vậy, bởi vì tôi biết bác yêu tôi, tôi biết điều đó một cách chắc chắn như thế tôi biết mình đang sống vậy. Trong tình yêu, lời nói là không cần thiết. Tình yêu là tất cả. Là bất diệt. Là đủ đầy.

Thời gian trôi qua mà tôi không hề hay biết, và tôi giật mình bởi sự xuất hiện đột ngột của Cha Anselm trước mặt tôi qua cánh cửa nhỏ gần ban thờ. Ông đang ngồi đằng sau tôi cơ mà? Tôi quay lại nhìn, và thấy một trong những tu sĩ trẻ mà tôi không biết tên đang quỳ gối gần cửa sau. Cha Anselm cúi thấp đầu trước ban thờ, rồi hất đầu về phía cửa để ra hiệu cho tôi.

“Cha đã đi đâu đó à?” Tôi nói, khi đã ra khỏi nhà nguyện. “Nhưng con nghĩ Cha không được để mặc, ờ, thánh thể một mình?”

Ông mỉm cười bình thản. “Ta đâu có bỏ mặc thánh thể một mình, ma chère. Con đã ở đó mà.”

Tôi kìm nén thôi thúc cãi lại rằng tôi không được tính. Suy cho cùng, làm gì có cái gọi là Người Chầu Thánh Thể Chính Thức chứ. Ta chỉ cần là một con người, và tôi cho rằng mình vẫn là một con người, dù thi thoảng tôi hầu như không cảm nhận được điều đó.

Ngọn nến trong phòng Jamie vẫn cháy khi tôi đi ngang qua cửa phòng anh, và tôi nghe thấy tiếng giở sách sột soạt. Tôi định dừng lại, nhưng Cha Anselm vẫn đi tiếp, tiễn tôi tới tận cửa phòng tôi. Tôi dừng lại ở đó để chúc ông ngủ ngon, và cảm ơn ông vì đã đưa tôi tới nhà nguyện.

“Thật... yên bình,” tôi nói, cố gắng tìm đúng từ.

Ông gật đầu, nhìn tôi. “Oui, madame. Đúng vậy.” Khi tôi quay người đi, ông nói. “Ta đã nói với con rằng Thánh thể không đơn độc, vì có con ở đó. Nhưng còn con, ma chèré? Con có đơn độc không?”

Tôi ngừng lại, và nhìn ông trong một thoáng trước khi trả lời.

“Không,” tôi nói. “Con không đơn độc.”

[1] Tiếng Pháp: Cháu gái của ta.

[2] Mericoeur có nghĩa là có trái tim vui vẻ.

[3] Nhà sử học Hy Lạp sống ở thế kỷ thứ V trước Công nguyên, được coi là cha đẻ của môn Sử học trong văn hóa phương Tây.

[4] Một trích đoạn trong Kinh Thánh miêu tả sự kiện Joseph cùng Mary và Jesus (khi ấy mới là đứa trẻ sơ sinh) trốn sang Ai Cập sau chuyến viếng thăm của thiên thần vì họ biết rằng Vua Herode đang tìm cách giết đứa bé.

[5] Khu vườn nơi Chúa Jesus bị phản bội sau bữa tiệc cuối cùng.

[6] Tiếng Pháp: Đúng vậy.

[7] Các tu sĩ dòng Franciscan cạo đầu ở trên chỏm, xung quanh vẫn để tóc.

[8] Loài chó săn chân ngắn có nguồn gốc từ nước Pháp.

[9] Tacitus (56-117): sử gia nổi tiếng người La Mã.

[10] Tiếng Pháp: Con thân yêu.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.