Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
27
Lý do cuối cùng

❊ ❊ ❊

Chúng tôi ăn như sói trong bữa tối rồi rút về một căn phòng ngủ rộng rãi thoáng đãng và ngủ say như chết. Sáng hôm sau, khi chúng tôi thức dậy, mặt trời đã lên cao, có điều bầu trời dày đặc mây mù. Tôi nhận ra lúc này đã khá muộn bởi cảm giác hối hả của mọi người trong nhà khi họ vui vẻ đi lại để làm việc của mình, và bởi mùi thơm quyến rũ đang lùa lên cầu thang.

Sau bữa sáng, cánh đàn ông chuẩn bị ra ngoài để đến thăm các tá điền, kiểm tra hàng rào, sửa xe ngựa và nói chung là tận hưởng sự vui vẻ. Khi họ dừng lại ở hành lang để mặc áo khoác, Ian nhìn thấy cái giỏ lớn của Jenny nằm trên chiếc bàn bên dưới tấm gương.

“Anh đi lấy ít táo từ vườn quả nhé, Jenny? Như thế em đỡ phải đi bộ xa.”

“Ý hay đấy,” Jamie nói, nhìn vào cái bụng to của chị mình. “Chúng ta không muốn chị ấy đẻ rớt đứa bé giữa đường.”

“Chị sẽ làm cho em rớt xuống đất ngay bây giờ đấy, Jamie Fraser,” chị trả miếng, điềm tĩnh giúp Ian mặc áo khoác. “Hãy tỏ ra là người có ích một lần và dẫn thằng quỷ nhỏ này ra ngoài cùng em. Bà Crook đang ở phòng tắm; em có thể để nó ở đó.” Chị dịch bàn chân, đẩy cậu nhóc Jamie đang bám lấy váy chị, miệng kêu “bế, bế”.

Cậu thằng bé liền choàng tay quanh bụng nó, lộn ngược người nó rồi nhấc nó lên, đi ra cửa. Cậu nhóc la hét thích thú.

“A,” Jenny thở phào một hơi đầy thỏa mãn, cúi xuống để kiểm tra ngoại hình của mình trong chiếc gương khung vàng. Chị nhấm nước bọt vào ngón tay để vuốt lông mày, rồi cài nút cổ áo. “Thật là tuyệt khi không còn bị ai đó bám vào váy hoặc ôm quanh đầu gối trong lúc trang điểm. Có những lúc mình còn chẳng thể vào nhà vệ sinh một mình, hoặc nói được trọn vẹn một câu.”

Hai má chị ửng đỏ, mái tóc đen nhánh nổi bật trên lớp váy lụa màu xanh. Ian mỉm cười, đôi mắt nâu ấm áp ngời sáng trước vẻ rực rỡ của chị.

“Chà, có lẽ em sẽ có thời gian để trò chuyện với Claire,” anh gợi ý, nhướng một bên lông mày về phía tôi. “Anh cho là cô ấy đủ lịch sự để lắng nghe, nhưng vì Chúa, đừng đọc bất cứ bài thơ nào của em, nếu không cô ấy sẽ bắt xe ngựa để quay lại London trước khi Jamie và anh trở về đấy.”

Jenny búng ngón tay dưới mũi anh, không hề mếch lòng trước lời trêu chọc ấy.

“Em chẳng việc gì phải lo lắng về chuyện đó. Sẽ chẳng có chuyến xe ngựa nào khởi hành trước tháng Tư sang năm, và đến lúc đó thì cô ấy đã quá quen với chúng ta rồi. Thôi anh đi đi; Jamie đang đợi kìa.”

Trong lúc cánh đàn ông đi làm việc, Jenny và tôi dành cả ngày trong phòng khách, chị thì khâu vá, còn tôi ngồi cuộn sợi và phân loại những mảnh lụa theo màu sắc.

Bề ngoài tỏ ra thân thiện, nhưng chúng tôi trò chuyện một cách thận trọng và dè dặt, thi thoảng liếc nhìn nhau qua khóe mắt. Một người là vợ, một người là chị gái của Jamie, vì vậy Jamie được ngầm mặc định là tâm điểm cho cuộc trò chuyện của chúng tôi.

Thời thơ ấu bên nhau là thứ đã kết nối họ vĩnh viễn, giống như sợi dọc và sợi ngang của một tấm vải, nhưng các mối dệt đã bị lỏng bởi sự xa cách và nghi ngờ, sau đó là hôn nhân. Sợi của Ian đã có mặt trong tấm vải dệt của họ ngay từ đầu, còn sợi của tôi hoàn toàn mới. Làm thế nào để sợi của tôi có thể đan cài chặt chẽ vào tấm vải dệt của họ?

Cuộc trò chuyện của chúng tôi có vẻ bâng quơ, nhưng ẩn chứa rõ ràng những thông điệp ngầm.

“Chị đã một mình trông nom ngôi nhà này từ lúc mẹ chị mất à?”

“Ồ, đúng vậy. Từ hồi tôi mười tuổi.”

Tôi đã săn sóc và yêu thương nó từ tấm bé. Cô sẽ làm gì người đàn ông mà tôi đã góp phần nuôi dạy?

“Jamie nói cô là một thầy thuốc giỏi hiếm có.”

“Em đã chữa vai cho anh ấy khi chúng em lần đầu gặp nhau.”

Vâng, em giỏi giang và tốt bụng. Em sẽ chăm sóc anh ấy.

“Tôi nghe nói hai người cưới nhau rất chóng vánh.”

Cô lấy em trai tôi vì đất đai và tiền bạc của nó phải không?

“Vâng, một đám cưới chóng vánh. Thậm chí ngay trước khi lễ cưới diễn ra em mới biết họ thật của Jamie.”

Lúc đó, em không biết anh ấy là lãnh chúa của nơi này; em lấy anh ấy vì chính con người anh ấy.

Cứ thế, suốt buổi sáng, trong bữa trưa và cả buổi chiều, chúng tôi tán gẫu vu vơ, thi thoảng nhẹ nhàng đùa bỡn và thử lòng nhau. Một người phụ nữ đã trông nom một ngôi nhà lớn từ thuở lên mười, đã cai quản mảnh đất này từ khi cha qua đời và em trai biến mất, không phải là người mà tôi có thể coi thường. Tôi tự hỏi chị nghĩ gì về tôi, nhưng chị có vẻ cũng giỏi che giấu những ý nghĩ của mình hệt như em trai chị vậy.

Khi chiếc đồng hồ trên mặt lò sưởi điểm năm tiếng, Jenny vươn vai và ngáp dài, chiếc áo mà chị đang vá trượt xuống sàn nhà theo độ dốc của cái bụng tròn.

Chị lóng ngóng định với lấy nó, nhưng tôi đã nhoài tới bên cạnh chị.

“Để em nhặt cho.”

“Cảm ơn cô... Claire.” Chị nở nụ cười ngượng ngùng khi lần đầu gọi tên tôi, và tôi mỉm cười đáp lại.

Chúng tôi chưa kịp trò chuyện tiếp thì bà quản gia Crook đã thò cái mũi dài vào phòng khách và lo lắng hỏi xem chúng tôi có nhìn thấy cậu nhóc Jamie không.

Jenny thở dài, đặt chiếc áo đang vá dở sang một bên.

“Nó lại biến mất rồi à? Đừng lo, Lizzie! Chắc là nó đi với bố nó hoặc cậu nó thôi. Chúng ta sẽ đi tìm thử xem, được không, Claire? Tôi cần hít thở chút không khí trong lành trước khi ăn tối.”

Chị nặng nề đứng dậy, áp hai bàn tay vào eo lưng, rồi rên rỉ và nở nụ cười méo mó với tôi.

“Còn chừng ba tuần nữa. Tôi nóng lòng quá!”

Chúng tôi chậm rãi dạo bộ qua những khoảnh sân bên ngoài, Jenny chỉ cho tôi nhà ủ bia và nhà nguyện, giải thích về lịch sử của mảnh đất này và thời gian những công trình khác nhau được xây dựng.

Khi đến góc chuồng chim bồ câu, chúng tôi nghe thấy những tiếng nói chỗ giàn cây.

“Nó đây rồi, thằng ranh con!” Jenny thốt lên. “Chờ tôi bắt được nó xem!”

“Chờ chút!” Tôi đặt tay lên cánh tay chị khi nhận ra một giọng nói trầm thấp hơn.

“Đừng lo, nhóc!” Đó là giọng của Jamie. “Cháu sẽ học được thôi. Việc này hơi khó, đúng không, khi mà “thằng nhỏ” của cháu còn chẳng lồi bằng rốn cháu.”

Tôi thò đầu qua góc tường, thấy anh đang ngồi trên một cái thớt, mải mê trò chuyện với đứa cháu cùng tên. Cậu nhóc đang loay hoay với những nếp áo khoác để cởi nó ra.

“Anh đang làm gì thằng bé thế?” Tôi thận trọng hỏi.

“Anh đang dạy nhóc James nghệ thuật không tè lên bàn chân,” anh giải thích. “Có vẻ đây là điều tối thiểu mà cậu của nó có thể làm cho nó.”

Tôi nhướng một bên lông mày. “Chỉ nói suông thì ăn thua gì! Có vẻ như điều tối thiểu mà cậu của nó có thể làm cho nó là làm mẫu để chỉ cho nó thấy.”

Anh nhe răng cười. “Chà, bọn anh đã có một vài màn thực hành. Nhưng lần cuối thì xảy ra một tai nạn nhỏ.” Hai cậu cháu nhìn nhau với ánh mắt trách móc. “Đừng có nhìn cậu như thế!” Anh nói với thằng bé. “Đó hoàn toàn là lỗi của cháu. Cậu đã bảo cháu phải đứng yên mà.”

“E hèm!” Jenny lạnh lùng hắng giọng, lườm cả em trai lẫn con trai mình. Nhóc Jamie kéo vạt trước của chiếc áo khoác lên trên đầu, còn cậu của nó, chẳng chút xấu hổ, cười toe toét và đứng dậy, phủi bụi đất trên quần. Anh đặt tay lên cái đầu đang trùm áo khoác của cháu trai và xoay thằng bé về phía ngôi nhà.

“Ở dưới bầu trời này, mọi sự đều có lúc,” anh trích dẫn, “mọi việc đều có thời[1]. Đầu tiên chúng ta làm việc, nhóc Jamie, sau đó chúng ta tắm rửa. Và rồi - ơn Chúa - sẽ đến giờ ăn tối.”

•••

Sau khi đã giải quyết xong những công việc cấp bách nhất, Jamie dành cả chiều hôm sau để dẫn tôi đi tham quan ngôi nhà. Được xây từ năm 1702, nó thực sự hiện đại so với thời của nó, với những cải tiến như lò sưởi bằng sứ và một cái lò gạch lớn xây liền vào tường bếp, do đó bánh mỳ không còn phải nướng bằng cách vùi trong tro lò sưởi. Ở hành lang tầng trệt, cầu thang và tường phòng khách treo đầy các bức họa. Lác đác có một vài bức tranh động vật hay phong cảnh đồng quê, nhưng chủ yếu là tranh vẽ các thành viên trong gia đình và những người họ hàng.

Tôi dừng lại trước một bức tranh vẽ Jenny hồi còn nhỏ. Chị đang ngồi trên bức tường bao của khu vườn, đằng sau là một loài dây leo lá đỏ. Xếp hàng trước mặt chị là một lũ chim; nào chim sẻ, chim hét, chiền chiên, thậm chí có cả một con chim trĩ, tất cả đều chen lấn xô đẩy để có được một chỗ đứng đằng trước cô chủ nhỏ đang cười sảng khoái. Nó rất khác so với hầu hết các bức tranh vẽ những vị tổ tiên với tư thế trang nghiêm và cặp mắt trợn trừng như thể cổ áo của họ đang làm họ nghẹt thở.

“Mẹ anh đã vẽ nó đấy,” Jamie nói khi nhìn thấy sự hứng thú của tôi. “Bà vẽ mấy bức ở cầu thang, nhưng ở đây chỉ có hai bức của bà thôi. Bà thích bức đó nhất.” Ngón tay to lớn của anh nhẹ nhàng chạm vào bề mặt bức tranh sơn dầu, lần theo đường nét của dây leo lá đỏ. “Đây là những con chim do Jenny thuần dưỡng. Mỗi khi có một con chim bị què chân hay gãy cánh, người ta sẽ mang nó đến chỗ chị ấy. Chỉ trong vài ngày, chị ấy sẽ chữa lành cho nó và nó sẽ ăn thức ăn trên tay chị ấy. Con chim này lưôn gợi anh nhớ đến Ian.” Ngón tay anh gõ gõ lên con chim trĩ đang dang cánh để giữ thăng bằng, đôi mắt sẫm âu yếm nhìn chằm chằm vào cô chủ.

“Anh tệ thật đấy, Jamie,” tôi nói, cười phá lên. “Có bức tranh nào vẽ anh không?”

“Ồ, có chứ!” Anh dẫn tôi tới bức tường đối diện, gần cửa sổ.

Hai cậu nhóc tóc đỏ, mặc đồ vải len kẻ ô, đang nghiêm nghị nhìn chằm chằm ra ngoài khung tranh. Bên cạnh họ là một con chó săn hươu khổng lồ. Đó hẳn là Nairn - ông của Bran, Jamie và Willie, anh trai của anh, đã chết vì bệnh đậu mùa năm mười một tuổi. Trong bức tranh này, Jamie chắc không quá hai tuổi; anh đứng giữa hai đầu gối của anh trai, một bàn tay đặt lên đầu con chó.

Jamie đã kể cho tôi nghe về Willie vào một đêm ngồi bên đống lửa trong lòng một thung lũng hẹp hoang vắng, trên đường rời khỏi Leoch. Tôi còn nhớ con rắn nhỏ được đẽo bằng gỗ anh đào mà anh lấy ra từ cái bao da để cho tôi xem.

“Willie đã tặng nó cho anh vào sinh nhật năm tuổi của anh,” anh nói, ngón tay nhẹ nhàng ve vuốt những đường cong uốn lượn. Con rắn nhỏ trông rất tức cười, toàn thân uốn éo, và đầu nó đang ngoảnh lại để nhòm thứ gì đó qua vai, nếu lũ rắn có vai.

Jamie đưa cho tôi vật thể nhỏ bằng gỗ đó, và tôi tò mò lật qua lật lại.

“Ở mặt dưới của nó có khắc chữ gì vậy? S-a-w-n-y. Sawny?”

“Đó là tên anh,” Jamie nói, cúi đầu như thể hơi xấu hổ. “Đó là tên gọi thân mật, một kiểu chơi chữ với cái tên đệm của anh, Alexander. Willie thường gọi anh như vậy.”

Hai khuôn mặt trong tranh rất giống nhau; tất cả những người con nhà Fraser đều có ánh mắt nhìn thẳng vào người đối diện khiến đối phương không dám coi thường. Nhưng ở bức chân dung này, trong khi Jamie vẫn còn có hai gò má tròn xoe, bầu bĩnh và cái mũi hếch đầy vẻ non nớt thì anh trai anh đã bắt đầu lộ rõ khung xương chắc khỏe, hứa hẹn sẽ trở thành một người đàn ông vạm vỡ trong tương lai, một sự hứa hẹn chẳng bao giờ thực hiện được.

“Anh quý anh ấy lắm đúng không?” Tôi nhẹ nhàng hỏi, chạm vào cánh tay anh. Anh gật đầu, nhìn những ngọn lửa đang nhảy nhót trong lò sưởi.

“Ừ,” anh nói, cười khẽ. “Anh ấy hơn anh năm tuổi, và anh luôn nghĩ anh ấy là Thượng Đế hoặc Chúa Jesus. Anh thường theo anh ấy đi khắp nơi; hay đúng hơn là tất cả những nơi anh ấy cho phép anh đến.”

Anh quay đi và lững thững bước về phía giá sách. Vì muốn dành cho anh một khoảnh khắc riêng tư, tôi đứng yên tại chỗ, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Từ phía bên này của ngôi nhà, dõi về đằng xa qua màn mưa, tôi có thể lờ mờ thấy hình dáng của một ngọn đồi lởm chởm đá phủ rợp cỏ. Nó gợi tôi nhớ đến ngọn đồi tiên, nơi tôi đã bước qua khe nút của một tảng đá và đến với thời đại này qua một lối đi bí ẩn. Chỉ mới sáu tháng thôi. Nhưng có vẻ đã lâu lắm rồi.

Jamie đến đứng cạnh tôi bên cửa sổ. Lơ đãng nhìn ra màn mưa xối xả, anh nói: “Có một lý do nữa. Lý do chính.”

“Lý do gì?” Tôi ngơ ngác hỏi.

“Lý do anh lấy em.”

“Đó là?” Tôi cứ tưởng anh sẽ tiết lộ thêm về những chuyện rối rắm của gia đình mình, vì vậy tôi cảm thấy hơi sốc khi anh nói ra sự thật.

“Bởi vì anh muốn có em.” Anh quay lại đối mặt với tôi. “Hơn bất cứ thứ gì anh từng muốn trong đời,” anh khẽ nói thêm.

Tôi lặng đi, nhìn anh. Tôi không hề ngờ đến điều này. Nhìn thấy vẻ sững sờ của tôi, anh nhẹ nhàng tiếp tục: “Khi anh hỏi cha anh làm thế nào mà cha biết được đâu là người phụ nữ thích hợp với mình, ông đã nói với anh rằng khi nào đến thời điểm, anh sẽ không còn gì để nghi ngờ. Và đúng là như vậy. Khi anh tỉnh dậy trong bóng tối, dưới gốc cây trên đường tới Leoch, với em đang ngồi trên ngực anh, nguyền rủa anh chảy máu đến chết, anh đã tự nhủ: “Jamie Fraser, cho dù mày không nhìn rõ mặt mũi của người phụ nữ này, và cô ấy nặng như một con ngựa thồ, nhưng đây chính là người phụ nữ của đời mày.”

Tôi nhích về phía anh, nhưng anh lùi lại, nói liến thoắng: “Anh đã thầm nghĩ: Cô ấy đã chữa trị cho mày hai lần trong chừng ấy giờ đồng hồ, cuộc sống giữa thị tộc MacKenzie khó khăn là thế, mày nên cưới một người phụ nữ có thể cầm máu vết thương và bó xương gãy.” Và anh tự nói với chính mình: Jamie, bàn tay cô ấy chạm vào xương đòn của mày mang lại cảm giác dễ chịu đến thế, thử tưởng tượng xem sẽ như thế nào nếu nó hạ xuống thấp hơn...”

Anh đi vòng quanh một cái ghế. “Đương nhiên, đó có thể là kết quả của bốn tháng trời sống trong một tu viện mà không có lấy một người phụ nữ bầu bạn, nhưng chuyến cưỡi ngựa trong bóng tối cùng nhau đó” - anh ngừng lại để thở dài một hơi, tránh né cú chộp của tôi nhắm vào tay áo anh - “với cái mông nở nang đáng yêu của em nằm giữa hai đùi anh” - anh né một cú đấm nhắm vào tai trái và bước sang bên để một cái bàn thấp chân giữa chúng tôi “ “và cái đầu cứng như đá húc vào ngực anh” - một vật trang trí nho nhỏ bằng kim loại trúng vào đầu anh rồi nẩy bật ra và rơi lanh canh trên sàn nhà - “anh đã tự nói với mình”...

Anh cười to đến nỗi vừa nói vừa thở hổn hển: “Anh đã nói... Jamie... cho dù cô ấy là một ả Sassenach... Với cái lưỡi của một con rắn độc... Với cái mông như thế... có đáng kể gì đâu nếu cô ấy có k-khuôn mặt như một con c-c-cừu?”

Tôi khéo léo ngáng chân anh khiến anh ngã xuống sàn đánh “rầm” một tiếng làm rung chuyển cả căn nhà và chẹn hai đầu gối lên bụng anh.

“Ý anh là anh cưới em không phải vì tình yêu?” Tôi hỏi. Anh nhướng mày, cố gắng hít thở.

“Chẳng phải anh... Vừa mới... nói vậy sao?”

Một tay anh nắm lấy vai tôi, tay kia luồn xuống dưới váy tôi, véo lấy véo để phần cơ thể mà anh vừa khen ngợi.

Đúng lúc này, Jenny quay lại để lấy giỏ đồ thêu và đứng nhìn em trai với vẻ thích thú. “Em đang làm trò gì vậy, Jamie?” Chị hỏi, nhướng một bên lông mày.

“Em đang làm tình với vợ em,” anh thở hổn hển vì cười đùa và giằng co với tôi.

“Em nên tìm một địa điểm thích hợp hơn,” chị nói, nhướng nốt bên lông mày còn lại. “Sàn nhà sẽ khiến em bị dặm mông đấy!”

•••

Lallybroch là một nơi yên bình nhưng cũng rất nhộn nhịp. Tất cả mọi người sống ở đây đều tỉnh giấc vào lúc gà gáy sáng, từ đó điền trang bắt đầu vòng quay ồn ào của mình như một bộ máy đồng hồ phức tạp cho đến tận hoàng hôn, khi từng chiếc bánh răng khiến nó hoạt động bắt đầu tách rời, lăn vào trong bóng tối để đi ăn và đi ngủ, rồi sáng hôm sau lại có mặt ở đúng vị trí của mình như thể có phép thuật.

Dường như mỗi người đàn ông, đàn bà và trẻ con ở đây đều là yếu tố thiết yếu cho sự hoạt động của điền trang này, khiến tôi không thể tưởng tượng nổi làm thế nào mà nó có thể tồn tại trong vài năm qua khi thiếu vắng chủ nhân của nó. Bây giờ, không chỉ Jamie mà cả tôi đều bị dúi việc cho. Lần đầu tiên, tôi hiểu được sự lên án nghiêm khắc của người Scot đối với sự lười nhác mà trước kia - hay đúng ra là sau này - tôi chỉ thấy kỳ lạ. Lười nhác không chỉ là dấu hiệu của sự suy đồi đạo đức, mà còn là một sự lăng mạ đối với lẽ tự nhiên.

Đương nhiên, vẫn có những khoảnh khắc, những khoảng thời gian ngắn ngủi, chóng vánh, khi vạn vật đều có vẻ đứng yên, như thể được đặt trên một điểm thăng bằng hoàn hảo, giống như khoảnh khắc biến đổỉ giữa bóng tối và ánh sáng, khi cả hai thứ hoặc không thứ nào trong số đó vây quanh ta.

Tôi đang tận hưởng một khoảnh khắc như thế vào buổi xế chiều của ngày thứ hai hay thứ ba ở điền trang. Ngồi trên hàng rào đằng sau nhà, tôi có thể nhìn thấy những cánh đồng màu vàng nâu trải dài tới tận vách núi phía bên kia của tòa tháp, và rừng cây ở đầu đằng kia của con đèo, lờ mờ tối dưới bầu trời màu ngọc trai. Các vật thể ở gần hay ở xa không còn phân biệt được nữa, vì những cái bóng dài ngoằng của chúng đã hòa vào cảnh nhá nhem của buổi hoàng hôn.

Không khí lạnh lẽo báo hiệu sương giá đang phủ xuống, và tôi nghĩ mình phải đi vào nhà ngay dù không muốn rời khỏi vẻ đẹp tĩnh lặng của nơi này. Tôi không nhận ra Jamie đã tới bên mình tự lúc nào cho đến khi những nếp áo choàng nặng nề được khoác lên vai tôi. Mãi đến lúc cảm nhận được sự ấm áp của lớp len dày, tôi mới để ý trời lạnh đến thế.

Jamie choàng tay quanh người tôi, và tôi dựa lưng vào anh, khẽ run rẩy.

“Từ trong nhà, anh đã thấy em run như cầy sấy rồi,” anh nói, cầm lấy tay tôi. “Nếu không cẩn thận, em sẽ bị cảm lạnh đấy!”

“Còn anh thì sao?” Tôi xoay người nhìn anh. Trời càng lúc càng lạnh nhưng trông anh vẫn hoàn toàn thoải mái dù chỉ mặc mỗi áo sơ mi và váy, mũi chỉ hơi đỏ một chút.

“À, anh quen rồi. Người Scot không yếu ớt như người miền Nam bọn em đâu.” Anh nâng cằm tôi lên, hôn lên mũi tôi rồi mỉm cười. Tôi nắm lấy tai anh, kéo xuống.

Nụ hôn kéo dài đến mức lúc anh buông tôi ra, thân nhiệt của chúng tôi đã ngang bằng với nhau, và dòng máu nóng còn chảy rần rật trong tai tôi khi tôi ngồi ghé lên hàng rào. Làn gió nhẹ lùa đến từ đằng sau, thổi những lọn tóc bay lòa xòa quanh mặt tôi. Anh gạt chúng khỏi vai tôi, tẽ những lọn tóc rối để ánh chiều tà xuyên qua chúng.

“Khi ánh sáng chiếu vào em từ đằng sau như thế này, trông em như có một vầng hào quang quanh đầu vậy,” anh khẽ nói. “Một thiên thần đội mũ miện bằng vàng.”

“Còn anh,” tôi nhẹ nhàng đáp lời, ngón tay lần theo quai hàm anh, nơi những sợi râu lún phún ánh lên màu hổ phách. “Tại sao anh không nói với em từ trước?”

Anh biết tôi đang ám chỉ điều gì. Anh mỉm cười, một bên lông mày nhướng lên, nửa khuôn mặt được chiếu sáng bởi ánh hoàng hôn rực rỡ, nửa còn lại chìm trong bóng tối.

“Chà, anh biết em không muốn lấy anh. Anh không muốn nói ra những ý nghĩ sâu kín trong lòng mình để tạo gánh nặng cho em hay tự biến mình thành thằng ngốc, vì rõ ràng em ăn nằm với anh chỉ để tôn trọng những lời thề của một cuộc hôn nhân gượng ép.” Anh cười toe, chặn lại lời phản đối của tôi, hàm răng trắng sáng lóa trong bóng tối. “Ít nhất là lần đầu tiên. Anh cũng có lòng tự trọng của mình chứ.”

Tôi vươn tay kéo anh lại gần, để anh đứng giữa hai chân tôi. Cảm nhận được hơi lạnh ở da anh, tôi quấn hai chân quanh hông anh và bao bọc anh trong chiếc áo choàng không tay của mình. Dưới lớp vải che chắn, anh vòng tay quanh người tôi, áp má tôi vào chiếc áo sơ mi vải lanh lấm lem anh đang mặc.

“Em yêu,” anh thì thầm. “Ôi, em yêu. Anh muốn em quá!”

“Muốn và yêu là hai việc không giống nhau, đúng không?” Tôi nói.

Anh cười, giọng hơi khàn. “Cũng gần như nhau cả thôi, Sassenach, ít nhất là đối với anh.”

Tôi có thể cảm nhận sức mạnh nỗi ham muốn của anh, dữ dội và gấp gáp. Anh đột ngột lùi lại, cúi xuống và nhấc tôi lên khỏi hàng rào.

“Chúng ta đi đâu vậy?” Anh bế tôi đi về phía mấy căn nhà kho chỗ lùm cây du.

“Tìm một kiện cỏ khô.”

[1] Trích trong sách Giảng viên thuộc Cựu ước.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.