Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3
Người đàn ông trong rừng

❊ ❊ ❊

Tôi trông thấy ở phía xa xa có hai, ba người mặc váy kẻ ô đang chạy trối chết qua một khoảng đất trống nhỏ. Có tiếng “bùm bùm” vang lên mà tôi sửng sốt nhận ra là tiếng súng nổ.

Ngay sau đó là sự xuất hiện của năm, sáu người đàn ông mặc áo khoác đỏ và quần ống túm, tay vung vẩy những khẩu súng hỏa mai, khiến tôi chắc mẩm mình vẫn đang bị ảo giác. Tôi chớp chớp mắt và nhìn chằm chằm, rồi giơ hai ngón tay lên trước mặt. Tôi vẫn nhìn thấy đúng hai ngón tay, rõ ràng và chuẩn xác, vậy là tôi không bị hoa mắt. Tôi dè dặt hít ngửi không khí, cảm nhận mùi hăng hăng của cây cối mùa xuân và mùi cỏ ba lá nhàn nhạt tỏa ra từ một bụi cây gần chân tôi. Như vậy khứu giác của tôi không có vấn đề gì.

Tôi sờ lên đầu. Chẳng bị đau ở đâu cả. Vậy là đầu tôi không bị chấn động. Mạch đập hơi nhanh nhưng ổn định.

Tiếng hét phía xa đột ngột thay đổi. Có tiếng móng guốc nện rầm rầm trên mặt đất rồi vài con ngựa phi như bay về phía tôi, trên lưng là những người Scot mặc váy kẻ ô, đang hát kiểu yodel[1] bằng tiếng Gaelic. Tôi lập tức tránh sang một bên, phản ứng nhanh nhẹn ấy chứng minh rằng thân thể tôi không bị tổn hại gì.

Và rồi tôi chợt nghĩ ra, khi một gã áo đỏ bị một người Scot hạ đo ván đứng dậy dứ dứ nắm đấm về phía lũ ngựa. Đương nhiên rồi. Một bộ phim! Tôi lắc đầu trước sự chậm hiểu của mình. Họ đang quay một bộ phim cổ trang nào đó, vậy thôi. Dạng phim nói về Hoàng tử Xinh đẹp[2] trong bãi thạch nam, hẳn rồi!

Chà. Với một bộ phim có giá trị nghệ thuật như thế này, đoàn làm phim chắc chắn sẽ oán trách tôi vì đã đem một “hạt sạn” vào trong những cảnh quay của họ. Tôi quay trở vào rừng, định đi vòng quanh khoảng đất trống để ra đường cái nơi tôi đậu xe. Nhưng việc đi lại khó khăn hơn tôi tưởng. Khu rừng còn non, những bụi cây thấp ken dày cào rách váy áo tôi. Tôi phải hết sức cẩn thận khi đi qua những cây non khẳng khiu, vừa đi vừa gỡ các lớp váy bị mắc vào những bụi gai.

Nếu hắn là một con rắn, hẳn là tôi đã giẫm lên hắn. Hắn đứng im lìm giữa những cái cây non khiến bản thân hắn gần giống như một thân cây, và tôi không để ý cho đến khi hắn vươn tay tóm lấy cánh tay tôi.

Bàn tay còn lại bịt miệng tôi, lôi tôi về phía lùm sồi, khiến tôi hoảng loạn quẫy đạp loạn xạ. Kẻ bắt giữ tôi, dù hắn là ai, có vẻ không cao hơn tôi là mấy nhưng có cánh tay khỏe ghê gớm. Tôi ngửi thấy mùi hoa thoang thoảng, như là mùi nước hoa oải hương, và thứ gì đó nồng hơn, quyện lẫn với mùi mồ hôi đàn ông găn gắt. Nhưng khi những chiếc lá bật trở lại vị trí cũ khi chúng tôi đi qua, tôi nhận thấy nét quen thuộc ở bàn tay và cánh tay đang siết chặt eo tôi.

Tôi lắc đầu nguầy nguậy để giật ra khỏi bàn tay đang bịt miệng mình.

“Frank!” Tôi hét to. “Anh đang làm trò quái quỷ gì vậy?” Tôi vừa nhẹ nhõm khi phát hiện ra anh ở đây vừa giận dữ trước trò đùa này. Vốn đang bối rối vì những gì vừa trải qua ở chỗ vòng tròn đá, tôi không có tâm trạng để chơi những trò cảm giác mạnh.

Hai bàn tay buông tôi ra, nhưng khi quay mặt lại, tôi lập tức cảm thấy có gì đó không đúng. Không chỉ là mùi nước hoa xa lạ, mà còn là thứ gì đó mơ hồ hơn. Tôi đứng im như tượng, tóc gáy dựng đứng.

“Anh không phải là Frank,” tôi lẩm bẩm.

“Đúng vậy,” hắn đồng ý, săm soi tôi với sự thích thú rõ rệt. “Một người bà con của tôi có tên như thế, nhưng tôi không nghĩ cô nhầm tôi với cậu ta, thưa cô. Chúng tôi không giống nhau lắm.”

Chẳng cần biết người bà con đó của hắn trông như thế nào, nhưng gã đàn ông này thì giống hệt Frank, như thể hắn là anh em ruột của Frank vậy. Hắn cũng có vóc dáng mảnh khảnh, khung xương nhỏ, khuôn mặt với những đường nét như được tạc, lông mày ngang, đôi mắt to màu hạt dẻ và mái tóc sẫm màu, uốn cong trước trán.

Nhưng tóc hắn để dài, được cột lại đằng sau bằng dây da, và làn da nâu sạm vì dãi dầu nắng gió suốt hàng tháng, mà không, phải đến hàng năm trời, chứ không phải là màu nâu vàng mà Frank có được trong chuyến đi nghỉ ở Scotland của chúng tôi.

“Vậy anh là ai?” Tôi hỏi, cảm thấy bất an. Mặc dù Frank có rất nhiều họ hàng và người quen, nhưng tôi nghĩ tôi biết tất cả bà con người Anh của anh. Trong số họ chẳng có ai trông giống người đàn ông này. Và nếu có bất cứ người họ hàng gần nào sống ở vùng cao nguyên thì Frank phải kể với tôi chứ? Không những thế, anh còn khăng khăng đến thăm họ, mang theo bảng phả hệ và những cuốn sổ tay, háo hức tìm hiểu bất cứ mẩu tin tức nhỏ nhoi nào về lịch sử gia đình có liên quan đến Jack Randall Hắc Ám nổi tiếng nữa kìa.

Người lạ nhướng mày trước câu hỏi của tôi.

“Tôi là ai ấy hả? Chính tôi mới là người nên hỏi câu đó, thưa cô, bởi tôi có nhiều lý do để hỏi hơn.” Đôi mắt hắn chầm chậm săm soi tôi từ đầu đến chân, sỗ sàng đánh giá chiếc váy cotton mỏng thêu hoa mẫu đơn mà tôi đang mặc, và nấn ná ở đôi chân tôi với vẻ thích thú kỳ quái. Tôi hoàn toàn chẳng hiểu nổi ánh mắt đó, nhưng nó khiến tôi vô cùng lo lắng, và tôi lùi lại một, hai bước, cho đến khi đột ngột khựng lại vì va vào một thân cây.

Cuối cùng gã đàn ông đó cũng dời mắt khỏi người tôi và quay sang bên cạnh. Như thể vừa thoát khỏi bàn tay kìm kẹp của hắn, tôi thở phào nhẹ nhõm, tới lúc đó mới nhận ra nãy giờ mình đã nín thở.

Hắn quay người để nhặt cái áo khoác vắt trên cành thấp nhất của một cây sồi non, phủi phủi mấy chiếc lá vương trên áo rồi mặc vào.

Hẳn là tôi đã xuýt xoa kinh ngạc, bởi vì hắn lại ngước nhìn lên. Chiếc áo khoác có màu đỏ sẫm, đuôi dài và không có ve áo, dọc mặt trước là một hàng khuy khuyết thùa. Cổ tay áo lật ngược lên đúng mười lăm phân, để lộ lớp vải lót màu nâu sẫm, và một chùm tua rua màu vàng ánh lên từ một bên ngù vai. Đó là áo khoác của một kỵ binh châu Âu thế kỷ mười bảy, mười tám, dành cho sĩ quan. Rồi tôi chợt nghĩ ra - đương nhiên rồi, hắn là một diễn viên, cùng hội với đám người mà tôi đã nhìn thấy ở phía bên kia cánh rừng. Mặc dù thanh kiếm ngắn mà hắn bắt đầu cột lại trên người có vẻ thật hơn bất cứ đạo cụ nào mà tôi từng nhìn thấy.

Tôi ép mình vào thân cây đằng sau, sự rắn chắc của nó khiến tôi thấy vững tâm hơn. Tôi khoanh tay trước ngực vẻ phòng thủ.

“Anh là kẻ quái quỷ nào thế?” Tôi hỏi lại. Lần này thì đến chính tôi cũng phải sửng sốt vì giọng điệu gay gắt đáng sợ của mình.

Hắn làm như không nghe thấy, cứ nhẩn nha cài khuy áo. Chỉ khi đã xong việc, hắn mới lại nhìn tôi. Rồi hắn cúi đầu vẻ nhạo báng, tay đặt lên ngực chỗ trái tim.

“Thưa quý cô, tôi là Quý ngài Jonathan Randall, Đại úy của Đội Kỵ binh Hoàng gia Số tám. Sẵn sàng phục vụ quý cô.”

Tôi lập tức bỏ chạy, thở hồng hộc khi đâm bổ qua màn cây sồi và tống quán sủi, chẳng màng đến những bụi mâm xôi, tầm ma, đá sỏi, thân cây đổ, tất cả những gì trên đường đi. Tôi nghe thấy tiếng quát tháo đằng sau mình, nhưng quá kinh hoàng đến nỗi không xác định được nó phát ra từ đâu.

Tôi cứ cắm đầu cắm cổ mà chạy, mặc kệ những cành cây chìa ra chắn lối cào xước mặt và hai cánh tay, mắt cá chân thì bị trẹo khi tôi giẫm vào những cái hố và vấp phải những hòn đá. Trong đầu tôi chẳng còn chỗ để chứa đựng bất cứ ý nghĩ sáng suốt nào; tôi chỉ muốn chạy thoát khỏi hắn.

Một vật nặng đập mạnh vào phần lưng dưới của tôi khiến tôi chúi về phía trước và ngã phịch xuống đất, đau đến nghẹt thở. Một đôi bàn tay xù xì lật ngửa tôi lại, và tôi thấy Đại úy Jonathan Randall đang quỳ bên cạnh tôi. Hắn thở hổn hển và đã làm mất thanh kiếm trong cuộc rượt đuổi. Trông hắn xộc xệch, bẩn thỉu và vô cùng bực bội.

“Cô bỏ chạy như thế là có ý gì?” Hắn hỏi. Một lọn tóc dày màu nâu sẫm rủ xuống cong cong trên trán, khiến hắn trông càng giống Frank hơn.

Hắn cúi xuống, túm lấy hai cánh tay tôi. Vẫn còn thở hổn hển, tôi vùng vẫy giằng ra, nhưng lại làm hắn ngã chúi về phía tôi.

Hắn mất thăng bằng và nằm đè lên người tôi, khiến tôi nằm bẹp gí dưới đất. Đáng ngạc nhiên là điều này có vẻ khiến hắn hết bực bội.

“Ồ, là như thế phải không?” Hắn nói, cười khùng khục. “Chà, ta rất sẵn lòng thỏa mãn cưng, nhưng không may là cưng lựa chọn thời điểm chẳng thích hợp chút nào.” Hắn ép chặt hông tôi xuống đất, và một viên đá nhỏ cắm sâu vào thắt lưng tôi đau điếng. Tôi vặn vẹo người để hẩy nó ra. Hông hắn đè nghiến hông tôi, và tay hắn ghim chặt vai tôi xuống đất. Tôi phẫn nộ mở miệng.

“Anh làm cái…” Tôi vừa cất tiếng thì hắn đã cúi đầu hôn tôi, ngắt ngang lời tôi. Lưỡi hắn thọc sâu vào miệng tôi sục sạo với sự suồng sã trơ trẽn. Thế rồi hắn đột ngột rời ra hệt như lúc bắt đầu.

Hắn vỗ vỗ má tôi. “Khá lắm, cưng. Có lẽ để lần sau nhé, khi nào có thời gian rỗi, ta sẽ phục vụ cưng đàng hoàng hơn.”

Lúc này thì tôi đã lấy lại hơi sức. Tôi hét thẳng vào lỗ tai hắn, khiến hắn giật bắn mình như thể bị đâm một sợi dây kim loại nóng rực vào tai. Tôi lợi dụng thời cơ thúc mạnh đầu gối vào mạng sườn sơ hở của hắn, khiến hắn ngã sóng soài trên đống lá mủn.

Tôi lồm cồm bò dậy. Hắn lăn người lại một cách điệu nghệ và xông tới bên cạnh tôi. Tôi cuống cuồng liếc quanh, tìm một lối thoát, nhưng chúng tôi đang bị chặn lại ở chân một vách đá hoa cương cao chót vót nhô lên đột ngột từ mặt đất. Hắn bắt kịp tôi ở chỗ mặt đá lõm vào trong, tạo nên một cái hốc nông. Hắn chặn đứng lối vào, hai cánh tay dang rộng chống vào hai bên vách đá, khuôn mặt đen sạm điển trai mang vẻ giận dữ pha lẫn tò mò.

“Cô đang ở với ai vậy?” Hắn hỏi. “Frank, hắn là ai? Trong đám lính của tôi không có người nào tên như vậy. Hay đó là một người sống ở gần đây?” Hắn cười giễu cợt. “Trên người cô không có mùi phân, chứng tỏ cô không ở với một gã tá điền. Với lại, trông cô đắt đỏ hơn mức các nông dân trong vùng có thể chi trả.”

Tôi siết chặt nắm tay và nghiến răng. Chẳng hiểu thằng cha này đang nghĩ gì trong đầu nữa.

“Tôi không hiểu anh đang nói gì, vui lòng để tôi đi ngay lập tức!” Tôi nói, đổi sang tông giọng của một nữ y tá trưởng. Điều này thường có hiệu quả đối với những hộ lý cứng đầu và những thực tập sinh trẻ, nhưng có vẻ chỉ làm cho Đại úy Randall thêm thích thú. Tôi quyết tâm nén lại cảm giác sợ hãi và hoang mang đang nhộn nhạo trong lồng ngực như một đàn gà mái hoảng hốt.

Hắn chậm rãi lắc đầu, tỉ mỉ săm soi tôi lần nữa.

“Không phải bây giờ, cưng ạ. Tôi đang tự hỏi,” hắn nói, như đang chuyện trò, “tại sao một con điếm mặc váy lót ra đường lại đi giày? Và còn là một đôi giày khá tốt nữa chứ,” hắn nói thêm, liếc nhìn đôi giày lười màu nâu trơn của tôi.

“Một cái gì cơ?” Tôi hét lên.

Hắn hoàn toàn lờ tôi đi. Ánh mắt hắn đã trở lại mặt tôi. Hắn đột nhiên bước lên phía trước và nắm lấy cằm tôi. Tôi tóm lấy cổ tay hắn và giật ra.

“Bỏ tay ra!” Nhưng những ngón tay hắn cứng như thép vậy. Chẳng thèm đếm xỉa đến nỗ lực tự giải thoát của tôi, hắn xoay mặt tôi sang bên này bên kia, để ánh chiều tà nhàn nhạt chiếu lên nó.

“Làn da của một quý cô,” hắn lẩm bẩm, ghé lại gần hít ngửi. “Và tóc cô có mùi nước hoa Pháp.” Rồi hắn thả tôi ra. Tôi phẫn nộ xoa xoa cằm, như để xóa đi sự đụng chạm mà tôi vẫn còn cảm thấy trên da mình.

“Những thứ khác cô có thể có được nhờ tiền của người bảo trợ,” hắn suy ngẫm, “nhưng cô cũng có lối nói năng của một quý cô.”

“Cảm ơn nhiều!” Tôi gắt gỏng. “Tránh đường cho tôi. Chồng tôi đang đợi; nếu trong vòng mười phút nữa mà tôi không quay lại, anh ấy sẽ đi tìm đấy.”

“Ồ, chồng của cô á?” Vẻ ngưỡng mộ nhạo báng giảm đi phần nào, nhưng không hoàn toàn biến mất. “Và mong cô vui lòng cho biết chồng cô tên là gì vậy? Anh ta ở đâu? Và tại sao anh ta lại cho phép vợ mình đi lang thang một mình qua cánh rừng hoang vắng trong tình trạng hớ hênh như thế này?”

Tôi đang sắp phát điên vì cố gắng lý giải toàn bộ các sự kiện của buổi chiều nay, nhưng vẫn còn đủ lý trí để tự nhủ rằng nếu cho gã này biết Frank cùng họ với hắn thì chỉ tổ chuốc thêm nhiều rắc rối. Do đó, tôi không thèm trả lời mà cố gắng lách qua hắn. Hắn giơ cánh tay rắn chắc chắn đường và vươn bàn tay còn lại để chạm vào tôi.

Bỗng vù một tiếng, một cái bóng lao bổ xuống khiến Đại úy Randall ngã huỵch. Hắn nằm ngay dưới chân tôi, bị cả một khối đồ sộ trông như bọc giẻ rách bằng vải len kẻ ô đè lên. Từ cái khối đó, một nắm tay sạm nâu cứng như đá vung ra nện mạnh xuống. Nghe tiếng rắc vang lên là đủ biết cú đấm đã trúng vào xương. Đôi chân đi giày cao cổ màu nâu bóng loáng của Đại úy đang vùng vẫy đột nhiên khựng lại.

Tôi nhận thấy mình đang nhìn chòng chọc vào một cặp mắt đen sắc bén. Bàn tay gân guốc vừa tạm thời làm gã Đại úy bất tỉnh lập tức bám dính vào cánh tay tôi như một con sam.

“Ông là kẻ quái quỷ nào thế?” Tôi kinh ngạc hỏi. Người giải cứu tôi, nếu tôi có thể gọi như vậy, thấp hơn tôi khoảng chục phân và có vóc dáng gầy gò, nhưng đôi cánh tay trần lộ ra qua chiếc áo sơ mi tả tơi lại cuồn cuộn cơ bắp và thân hình ông ta có vẻ dẻo dai như lò xo đệm. Ông ta cũng chẳng đẹp trai chút nào, với khuôn mặt rỗ, cái trán thấp và cái hàm hẹp.

“Lối này.” Ông ta giật cánh tay tôi, và tôi ngoan ngoãn tuân theo vì vẫn còn đang ngơ ngẩn trước một loạt sự kiện vừa mới xảy ra.

Người bạn đồng hành mới của tôi nhanh nhẹn len qua màn cây tống quán sủi, đột ngột rẽ ngoặt quanh một tảng đá lớn, và một con đường mòn thình lình xuất hiện. Bị đám kim tước và thạch nam che kín, lại ngoằn ngoèo uốn lượn nên chẳng bao giờ nhìn thấy được quá hai mét đường trước mặt, nhưng rõ ràng nó là một đường mòn dẫn lên đỉnh của một ngọn đồi.

Mãi đến khi chúng tôi thận trọng đi xuống phía bên kia của ngọn đồi, tôi mới lấy lại được hơi sức và can đảm để hỏi chúng tôi đang đi đâu. Chẳng nhận được câu trả lời nào từ người bạn đồng hành, tôi hỏi lại lớn hơn: “Chúng ta đang đi tới nơi khỉ ho cò gáy nào vậy?”

Ông ta đột ngột quay lại, khuôn mặt nhăn nhó và đẩy tôi ra khỏi đường. Khi tôi mở miệng phản đối, ông ta liền bịt miệng tôi và kéo tôi xuống đất, rồi nằm đè lên người tôi.

Không phải lại thế chứ! Tôi nghĩ, đang vùng vẫy dữ dội để thoát ra thì nghe thấy thứ mà ông ta đã nghe thấy nên lập tức nằm im phăng phắc. Những tiếng gọi nhau, kèm theo tiếng giậm chân và tiếng nước bắn tóe lên. Rõ ràng là giọng Anh. Tôi quẫy đạp dữ dội để giằng miệng ra, cắm phập hàm răng vào tay ông ta, và chỉ kịp cảm nhận rằng ông ta đã ăn bốc món cá trích dầm giấm trước khi thứ gì đó đập vào sau đầu tôi, rồi mọi thứ trước mắt trở nên tối sầm.

•••

Ngôi nhà bằng đá lờ mờ hiện ra qua màn sương đêm mù mịt. Những cánh cửa chớp được đóng chặt, chỉ để lọt ra một tia sáng. Vì không biết mình đã bất tỉnh bao lâu nên tôi không thể đoán được nơi này cách ngọn đồi Craigh na Dun hay thị trấn Inverness bao xa. Chúng tôi đang ở trên lưng ngựa, tôi ngồi phía trước kẻ bắt giữ tôi, hai tay bị trói vào núm yên ngựa[3], nhưng vì chẳng có con đường lớn nào nên việc di chuyển vẫn khá chậm chạp.

Tôi nghĩ mình ngất đi không lâu; tôi không thấy có biểu hiện nào của sự chấn động não hay những hậu quả nghiêm trọng khác từ cú đánh kia, ngoại trừ một mảng đau ở sau gáy. Kẻ bắt giữ tôi, một người đàn ông kiệm lời, đã trả lời những câu hỏi, những yêu cầu và những lời chửi rủa gay gắt của tôi bằng duy nhất một âm thanh đặc trưng của người Scot mà nghe giống nhất với từ “Ừmmmmm.” Nếu tôi có chút nghi ngờ nào về quốc tịch của ông ta thì chỉ riêng âm thanh đó thôi cũng đủ để xóa tan nó.

Đôi mắt tôi dần thích nghi với ánh sáng lờ mờ ở bên ngoài khi con ngựa loạng choạng giẫm lên những hòn đá và những bụi kim tước, vì vậy tôi đã bị lóa mắt khi bước từ chỗ gần như là bóng tối vào nơi có ánh sáng chói lòa ở bên trong. Khi mắt đã bớt chói, tôi nhận thấy thực ra căn phòng chỉ được thắp sáng bởi một ngọn lửa trong lò sưởi, vài cây nến và một ngọn đèn dầu trông có vẻ cũ kĩ đến mức nguy hiểm.

“Anh mang theo thứ gì vậy, Murtagh?”

Gã đàn ông có bộ mặt giống như một con chồn tóm lấy cánh tay tôi và đẩy tôi tới chỗ ánh lửa.

“Nghe lối nói chuyện thì là một cô ả Sassenach, Dougal.” Trong phòng có mấy người đàn ông, tất cả đều nhìn tôi chằm chằm, vài kẻ tò mò, vài kẻ lộ vẻ dâm đãng thấy rõ. Váy của tôi bị rách lỗ chỗ từ lúc chiều, và tôi vội vàng đánh giá sự tổn hại. Nhìn xuống, tôi có thể thấy rõ đường cong của một bên ngực qua một vết rách, và tôi tin chắc mấy gã đàn ông đang tụ tập ở đây cũng có thế nhìn thấy nó. Nhận thấy rằng nếu cố gắng kéo các mép rách lại với nhau thì sẽ càng thu hút sự chú ý; tôi quyết định lựa chọn một khuôn mặt bất kỳ và táo bạo nhìn chằm chằm vào hắn, hy vọng làm hắn hoặc chính tôi sao nhãng.

“Ê, dù có là Sassenach hay không thì cũng là một người đẹp đấy,” gã đàn ông đó đang ngồi bên lò sưởi, trông có vẻ mỡ màng, béo tốt. Hắn đứng dậy, tiến về phía tôi mà không buồn đặt khoanh bánh mỳ đang cầm trên tay xuống. Hắn nâng cằm tôi lên bằng mu bàn tay, gạt tóc ra khỏi mặt tôi. Vài mẩu vụn bánh mỳ rơi xuống cổ váy tôi. Những kẻ khác xúm lại, trông như một khối áo choàng len kẻ ô râu ria xồm xoàm, sực nức mùi mồ hôi và rượu. Chỉ đến khi đó tôi mới nhận thấy chúng đều mặc váy - thật kỳ cục, cho dù là ở vùng này của cao nguyên. Phải chăng tôi đã lạc vào cuộc họp mặt của một thị tộc hoặc một trung đoàn nào đó của Scotland?

“Lại đây, cô gái!” Một gã đàn ông to lớn có bộ râu sẫm màu nãy giờ vẫn ngồi ở cái bàn bên cửa sổ vẫy tay ra hiệu cho tôi. Nhìn dáng chỉ huy của ông ta, có vẻ như ông ta là người đứng đầu nhóm người này. Đám đàn ông miễn cưỡng tách ra khi Murtagh kéo tôi về phía trước, rõ ràng chúng tôn trọng quyền của kẻ bắt giữ tôi.

Gã đàn ông râu sẫm săm soi tôi kĩ càng, gương mặt chẳng lộ chút biểu cảm. Trông ông ta cũng ưa nhìn đấy, và không phải là không thân thiện, nhưng giữa hai lông mày ông ta hiện lên những nếp hằn căng thẳng, đó không phải là gương mặt mà người ta muốn chạm trán.

“Tên cô là gì, cô gái?” Giọng ông ta thật nhẹ nhàng trái ngược với vóc dáng đồ sộ, không phải là chất giọng trầm đục mà tôi nghĩ sẽ phát ra từ bộ ngực vạm vỡ kia.

“Claire… Claire Beauchamp,” tôi nói, quyết định dùng tên từ thời con gái không chút đắn đo. Nếu đám người này định bắt cóc tống tiền, tôi không muốn giúp chúng bằng cách nêu ra cái tên có liên quan đến Frank. Và tôi cũng không muốn những gã đàn ông có vẻ dữ tợn này biết tôi là ai trước khi tôi tìm hiểu được chúng là ai. “Ông nghĩ ông đang…” Gã đàn ông râu sẫm chẳng thèm đoái hoài đến lời tôi, hết người này đến người khác đều tỏ thái độ như vậy khiến tôi bắt đầu thấy mệt mỏi.

“Beauchamp?” Đôi lông mày rậm nhướng lên, cả nhóm người xôn xao vì kinh ngạc. “Một cái họ của Pháp, đúng không?” Ông ta phát âm tên tôi bằng thứ tiếng Pháp chuẩn xác, dù tôi phát âm nó theo thứ tiếng Anh thông dụng là “Beecham.”

“Vâng, đúng thế,” tôi trả lời, có chút ngạc nhiên.

“Anh tìm thấy cô ả này ở đâu vậy?” Dougal quay sang hỏi Murtagh, người đang nốc rượu ừng ực từ một cái chai bẹt bằng da để tự làm mình tươi tỉnh lại.

Gã đàn ông nhỏ thó ngăm đen ấy nhún vai. “Ở chân đồi Craigh na Dun. Cô ta đang lời qua tiếng lại với một gã đại úy kỵ binh mà tôi tình cờ quen biết,” ông ta nói thêm, nhướng mày đầy ẩn ý. “Dường như họ đang tranh cãi xem liệu quý cô này có phải là một con điếm hay không.”

Dougal lại tỉ mỉ quan sát tôi, soi kĩ mọi chi tiết của chiếc váy cotton in hoa và đôi giày dã ngoại.

“Ta hiểu. Vậy quý cô đây nói thế nào”? Ông ta hỏi, nhấn mạnh từ “quý cô” với vẻ châm biếm khiến tôi chẳng thích thú gì. Tôi nhận thấy mặc dù giọng ông ta không nặng bằng giọng của gã đàn ông có tên Murtagh, nhưng ông ta phát âm từ “quý cô” nghe cứ như là “wí cô” vậy.

Murtagh có vẻ tức cười lắm; chí ít thì một bên khóe miệng mỏng tang của ông ta cũng vén lên. “Ả nói ả không phải. Viên đại úy có vẻ phân vân, nhưng vẫn muốn kiểm tra thử.”.

“Chúng ta cũng có thể kiểm tra.” Gã béo có bộ râu đen cười nhe nhởn, bước về phía tôi, hai tay kéo mạnh thắt lưng. Tôi vội lùi xa hết mức có thể, nhưng cũng chẳng được là bao vì không gian hạn hẹp của ngôi nhà.

“Đủ rồi, Rupert!” Dougal vẫn đang cau mày với tôi, nhưng giọng nói đầy uy lực của ông ta khiến Rupert lập tức dừng bước và tỏ vẻ thất vọng một cách khoa trương trông đến là khôi hài.

“Ta không tán thành việc cưỡng hiếp. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng không có đủ thời gian để làm chuyện đó.” Tôi vui mừng khi nghe thấy chính sách này, nhưng vẫn hơi căng thẳng trước những ánh mắt dâm đãng hiện rõ trên một số gương mặt khác. Có cảm giác như tôi đang mặc đồ lót mà xuất hiện ở chốn công cộng vậy. Và dù tôi không biết băng cướp cao nguyên này là ai hay chúng đang mưu mô gì nhưng chúng có vẻ nguy hiểm khủng khiếp. Tôi cắn răng nén lại những câu nói ít nhiều thiếu suy nghĩ đang dâng lên trong lòng.

“Anh nghĩ sao, Murtagh?” Dougal hỏi kẻ bắt giữ tôi. “Ít nhất thì cô ta cũng tỏ ra không thích Rupert.”

“Điều đó chẳng chứng tỏ được gì,” một gã hói lùn tịt phản đối. “Anh ta không ngỏ ý cho cô ả tiền. Ngài không thể mong đợi một người phụ nữ chấp nhận một gã như Rupert khi mà anh ta không trả trước một khoản tiền lớn,” hắn nói thêm, khiến đám bạn cười hô hố. Nhưng Dougal đột nhiên ra hiệu cho mọi người im lặng và hất đầu về phía cửa. Gã hói vừa cười vừa ngoan ngoãn lướt ra ngoài bóng tối.

Murtagh không cười hùa theo đám người kia mà cau mày soi xét tôi. Rồi ông ta lắc lắc đầu, khiến cho phần tóc mái xõa trên trán lay động.

“Không,” ông ta nói chắc nịch. “Tôi không biết cô ta có thể là gì - hay là ai - nhưng tôi đánh cược cái áo sơ mi tốt nhất của tôi rằng cô ta không phải một con điếm.” (Tôi hy vọng chiếc áo đẹp nhất của ông ta không phải là cái áo ông ta đang mặc, vì trông nó chẳng đáng một xu.)

“Chà, anh thì biết rõ rồi, Murtagh, anh đã thấy quá nhiều ả điếm mà,” Rupert chế giễu, nhưng bị Dougal chặn lại.

“Chúng ta sẽ giải quyết chuyện này sau,” Dougal cộc cằn nói. “Tối nay chúng ta còn phải đi một chặng đường dài, trước hết phải làm gì đó cho Jamie đã; nó không thể cưỡi ngựa trong tình trạng thế kia.”

Tôi lùi vào bóng tối gần lò sưởi, hy vọng tránh được sự chú ý. Gã đàn ông tên Murtagh đã cởi trói cho tôi trước khi dẫn tôi vào đây. Có lẽ tôi sẽ lẻn được ra ngoài trong lúc họ bận tâm đến chuyện khác. Đám đàn ông đã quay sang một chàng trai trẻ đang ngồi khom người trên một cái ghế đẩu ở góc nhà. Anh ta chẳng hề ngẩng lên suốt từ lúc tôi xuất hiện và bị tra hỏi, đầu cứ gục xuống, tay ôm lấy bờ vai bên kia, khẽ đu đưa qua lại vì đau đớn.

Dougal nhẹ nhàng gạt bàn tay đó ra. Một gã kéo cái áo choàng len của chàng trai xuống, để lộ cái áo sơ mi vải lanh lấm lem bùn đất loang lổ máu. Một gã nhỏ thó có bộ ria dày cầm dao tiến tới đằng sau chàng trai, túm lấy cổ áo sơ mi, rạch một đường chéo qua ngực và dọc theo tay áo, khiến mảnh vải rơi xuống khỏi vai.

Tôi cất tiếng xuýt xoa kinh ngạc giống như vài gã khác. Vai anh ta có một vết thương nham nhở sâu hoắm, và máu đang chảy ròng ròng xuống ngực. Nhưng điều đáng kinh hãi hơn là cái khớp vai. Nó gồ lên đáng sợ và cánh tay bị lệch đến mức không thể tưởng tượng nổi.

Dougal càu nhàu. “Hừm. Trật khớp rồi, thằng quỷ tội nghiệp.” Chàng trai trẻ ngẩng lên lần đầu tiên. Mặc dù đang nhăn nhó vì đau và mang bộ râu đỏ lởm chởm, khuôn mặt anh ta vẫn rắn rỏi và vui vẻ.

“Một viên đạn hỏa mai hất cháu khỏi lưng ngựa, cháu giơ tay chống nên trọng lượng cả cơ thể mới dồn vào đấy, vậy là khục, nó thành ra thế này.”

“Đúng là nó đã bị trật khớp.” Gã đàn ông có ria mép - nghe giọng nói thì có vẻ là một người Scot có học - đang sờ nắn vai chàng trai, khiến anh ta nhăn mặt vì đau. “Vết thương không vấn đề gì, viên đạn đã xuyên thẳng ra ngoài. Chỉ cần cầm máu thôi.” Ông ta nhấc một mảnh vải cáu bẩn trên bàn lên để thấm máu. “Nhưng tôi không biết phải làm gì với cánh tay bị trật khớp. Chúng ta sẽ cần một thầy thuốc để nắn lại nó. Cậu không thể cưỡi ngựa trong tình trạng đó, đúng không, Jamie?”

Đạn hỏa mai? Tôi ngây người nghĩ. Thầy thuốc?

Chàng trai trẻ lắc đầu, khuôn mặt trắng bệch. “Đến ngồi yên một chỗ còn đau nữa là. Tôi không thể cưỡi ngựa được.” Anh ta nhắm mắt lại và cắn chặt môi dưới.

Murtagh sốt ruột nói. “Chà, chúng ta không thể để cậu ấy ở lại, đúng không? Bọn lưng tôm[4] không giỏi lần theo dấu vết trong bóng tối, nhưng chúng sẽ tìm ra nơi này không sớm thì muộn, dù có đóng chặt cửa. Và với cái lỗ thủng to tướng trên người kia, Jamie khó có thể được coi là một nông dân vô tội.”

“Đừng lo hão,” Dougal nói ngắn gọn. “Ta không định để nó ở lại.”

Gã đàn ông có ria thở dài. “Vậy thì chẳng còn cách nào. Chúng ta sẽ phải cố gắng nắn lại khớp. Murtagh, anh và Rupert giữ lấy cậu ta; tôi sẽ nắn thử.”

Tôi nhìn ông ta cầm cổ tay và khuỷu tay của chàng trai trẻ rồi vặn ngược nó lên mà thấy tội nghiệp. Góc độ không đúng; hẳn là chàng trai đau đớn lắm. Mồ hôi vã ra như tắm trên mặt nhưng anh ta chẳng kêu tiếng nào, chỉ khẽ rên rỉ. Rồi đột nhiên anh ta đổ nhào về đằng trước, nhờ những cánh tay đang giữ mới không bị ngã xuống sàn.

Một người mở nắp bình rượu và ấn vào môi anh ta. Mùi rượu mạnh nguyên chất nồng nặc phả tới chỗ tôi đứng. Chàng trai trẻ ho sặc sụa và bị nghẹn nhưng vẫn cố nuốt, những giọt chất lỏng màu hổ phách từ khóe miệng nhỏ xuống phần còn lại của cái áo sơ mi.

“Cậu đủ sức để thử một lần nữa chứ?” Gã để ria mép hỏi. “Có lẽ lần này nên để Rupert làm,” ông ta đề nghị, quay sang gã vô lại béo ú có bộ râu đen.

Rupert hào hứng bẻ khớp các ngón tay như thể sắp sửa ném một ngọn lao, rồi nhấc cổ tay chàng trai trẻ lên, rõ ràng định dùng sức để nắn lại khớp; cánh tay chàng trai trẻ sẽ bị bẻ gãy như một cái cán chổi mất.

“Đừng có làm liều như vậy!” Toàn bộ ý nghĩ bỏ trốn bị nhấn chìm trong nỗi phẫn nộ của một y tá nhà nghề, tôi bước về phía trước, chẳng thèm đoái hoài đến vẻ mặt sửng sốt của đám đàn ông quanh tôi.

“Cô có ý gì?” Gã để ria mép quát, rõ ràng bực tức vì sự can thiệp của tôi.

“Ý tôi là các ông sẽ bẻ gãy tay anh ta nếu làm như thế,” tôi gắt gỏng đốp lại. “Làm ơn tránh sang một bên.” Tôi huých Rupert lùi lại và cầm lấy cổ tay của bệnh nhân. Bệnh nhân cũng có vẻ ngạc nhiên như những người còn lại, nhưng không chống cự. Da anh ta rất ấm, nhưng không phải bị sốt.

“Phải đặt xương cánh tay vào đúng góc độ thì mới nắn được khớp,” tôi càu nhàu khi kéo cổ tay lên và xoay khuỷu tay vào trong. Chàng trai này khá đô con; cánh tay anh ta nặng như chì vậy.

“Đây là phần tệ nhất đây,” tôi cảnh báo bệnh nhân, cầm lấy khuỷu tay, sẵn sàng vặn nó về vị trí.

Miệng anh ta nhếch lên, không hẳn là một nụ cười. “Cũng chẳng thể đau hơn nhiều nữa. Cô cứ làm đi!” Lúc này thì đến lượt tôi toát mồ hôi. Bẻ lại khớp vai là việc khó khăn ngay cả trong điều kiện thuận lợi nhất. Huống hồ trước mặt tôi bây giờ lại là một người đàn ông to lớn đã di chuyển hàng tiếng đồng hồ kể từ lúc gặp nạn, các thớ cơ hiện sưng phồng chèn hết lên khớp. Vì vậy tôi thực sự phải dốc hết sức lực. Lò sưởi ở gần đến mức nguy hiểm; tôi hy vọng cả hai chúng tôi sẽ không ngã nhào vào đó.

Bỗng “cách!” một tiếng, cái khớp trở về đúng vị trí. Bệnh nhân có vẻ kinh ngạc. Anh ta ngờ vực giơ tay lên để kiểm tra.

“Nó không còn đau nữa!” Anh ta cười toe toét vì nhẹ nhõm và vui sướng, đám đàn ông xung quanh ồ lên tán thưởng.

“Rồi nó sẽ đau.” Tôi toát hết mồ hôi vì nỗ lực vừa rồi, nhưng rất tự đắc với kết quả này. “Trong mấy ngày tới, nó sẽ rất dễ bị tổn thương. Anh không được duỗi căng khớp trong ít nhất là hai, ba ngày; khi nào có thể cử động trở lại, trước hết anh phải giơ tay lên thật từ từ, nếu thấy đau thì dừng ngay, và phải chườm gạc ấm mỗi ngày.”

Trong lúc khuyên nhủ, tôi nhận ra rằng mặc dù bệnh nhân của tôi kính cẩn lắng nghe nhưng những người khác thì lại nhìn tôi với ánh mắt từ ngạc nhiên đến nghi ngờ.

“Tôi là một y tá,” tôi giải thích, vẻ phòng thủ.

Cả Dougal và Rupert đều hướng ánh mắt xuống ngực tôi với vẻ thích thú đáng ghê tởm. Họ đưa mắt nhìn nhau rồi Dougal nhìn lên mặt tôi.

“Tuy là một vú nuôi[5],” ông ta nhướng mày, nói, “cô cũng có tài trị thương đây. Cô có thể cầm máu vết thương của thằng bé để nó có thể ngồi trên lưng ngựa không?”

“Miễn là các ông có thứ gì đó để băng bó. Nhưng ông nói “vú nuôi” là có ý gì vậy? Và tại sao ông lại cho rằng tôi sẽ muốn giúp các ông nhỉ?”

Dougal lờ tôi đi và quay sang nói với một người phụ nữ ngồi co ro trong góc nhà bằng thứ tiếng mà tôi lờ mờ nhận ra là tiếng Gaelic. Bị cả đống đàn ông vây quanh, ban nãy tôi đã không nhìn thấy cô ta. Cô ta mặc một cái váy dài tả tơi và áo vai bồng dài tay, bên ngoài còn khoác thêm một cái áo chẽn hay áo gi lê gì đó, trông đến là kỳ quặc. Cả mặt mũi lẫn người ngợm cô ta đều hết sức dơ dáy. Liếc nhìn quanh, tôi nhận thấy căn nhà không chỉ thiếu hệ thống điện mà còn thiếu cả hệ thống ống nước; có lẽ đó chính là nguyên nhân của sự dơ bẩn này.

Người phụ nữ khẽ nhún gối rồi sấp sấp ngửa ngửa đi vụt qua Rupert và Murtagh để tới chỗ cái rương gỗ được sơn màu mè bên cạnh lò sưởi. Sau một hồi đào bới lục lọi, cuối cùng cô ta cũng quay trở lại với một đống vải nhàu nát.

“Không, cái này không được đâu,” tôi nói, rón rén sờ vào chúng. “Vết thương cần được khử trùng rồi băng lại bằng vải sạch, nếu không có băng vô trùng.”

Những hàng lông mày xung quanh tôi đều nhướng lên. “Khử trùng ư?” Người đàn ông nhỏ thó dè dặt hỏi lại.

“Đúng vậy,” tôi khẳng định, nghĩ bụng giọng nói của ông ta nghe có vẻ có học mà sao ông ta lại ngờ nghệch thế. “Phải rửa sạch bụi đất và bôi lên vết thương một dung dịch có tác dụng ngăn chặn vi trùng và thúc đẩy vết thương mau lành.”

“Chẳng hạn như?”

“Chẳng hạn như iốt,” tôi nói. Thấy những khuôn mặt xung quanh vẫn còn ngơ ngác, tôi thử lại lần nữa. “Merthiolate? Acid carbolic loãng?” Tôi gợi ý. “Hoặc thậm chí là cồn[6]?” Những gương mặt tỏ vẻ nhẹ nhõm. Cuối cùng thì tôi cũng tìm ra một từ mà họ có vẻ hiểu được. Murtagh dúi cái bình dẹt vào tay tôi. Tôi thở dài bực tức. Ai chả biết vùng cao nguyên còn hoang sơ lắm, nhưng đến mức này thì thật không thể tin nổi.

“Nghe này,” tôi nói, kiên nhẫn hết mức có thể. “Tại sao các ông không đưa anh ta vào thị trấn? Nó hẳn không ở xa đây lắm, ở đó chắc chắn sẽ có bác sĩ chăm sóc vết thương cho anh ta.”

Người phụ nữ trố mắt nhìn tôi. “Thị trấn nào cơ?”

Gã đàn ông to lớn tên Dougal chẳng thèm đếm xỉa đến cuộc bàn cãi này, ông ta thận trọng quan sát bóng tối bên ngoài qua mép tấm rèm cửa sổ, rồi buông rèm và lặng lẽ bước tới cửa ra vào. Cánh đàn ông trở nên im lặng khi ông ta biến mất vào màn đêm.

Lát sau, ông ta quay lại, mang theo gã hói và mùi thông hăng hắc lạnh lẽo, lắc đầu trước những ánh mắt dò hỏi của đám đàn ông.

“Không có gì nguy hiểm. Chúng ta sẽ đi ngay trong lúc vẫn còn an toàn.”

Nhìn thấy tôi, ông ta dừng lại, ngẫm nghĩ trong một thoáng. Đột nhiên ông ta hất đầu về phía tôi, đưa ra quyết định.

“Cô ta sẽ đi với chúng ta,” ông ta nói, lục lọi đống vải trên bàn và nhấc lên một miếng vải tả tơi, trông như một cái khăn quàng cổ đã từng rất đẹp.

Gã để ria có vẻ không muốn mang tôi theo.

“Tại sao ngài không để cô ta ở lại đây?”

Dougal nhìn ông ta với ánh mắt mất kiên nhẫn, nhưng để mặc cho Murtagh giải thích. “Cho dù lúc này lũ Áo đỏ[7] đang ở đâu, đến tảng sáng là chúng sẽ tới được đây, mà từ giờ tới lúc đó chẳng còn xa nữa đâu. Nếu người phụ nữ này là một gián điệp của quân Anh thì chúng ta không thể mạo hiểm để cô ta ở lại đây để nói cho chúng biết chúng ta đã đi hướng nào. Còn nếu cô ta không có mối liên hệ gì với chúng” - ông ta nhìn tôi với vẻ ngờ vực - “chúng ta không thể bỏ mặc một người phụ nữ mặc váy lót ở lại nơi này một mình.” Mặt ông ta ngời lên, vân vê lớp vải trên váy tôi. “Hơn nữa, có thể giữ cô ta để đòi tiền chuộc; tuy cô ta ăn mặc thiếu vải nhưng váy của cô ta là hàng tốt đấy.”

“Vả lại,” Dougal ngắt ngang lời Murtagh, “với chút hiểu biết về y thuật, cô ta có thể có ích trên đường đi. Bây giờ chúng ta không có thời gian để chữa trị hẳn hoi cho Jamie. Ta e là cháu sẽ phải lên đường mà không được khử trùng,” ông ta vỗ vỗ vào lưng chàng trai trẻ. “Cháu có thể cưỡi ngựa bằng một tay không?”

“Được.”

“Tốt lắm. Đây,” ông ta nói, ném miếng vải nhờn bẩn cho tôi. “Mau băng bó vết thương cho nó. Chúng ta sẽ lên đường ngay bây giờ. Hai anh đi lấy ngựa đi,” ông ta quay sang nói với gã mặt chồn và gã béo Rupert.

Tôi nhăn mặt ghê tởm khi lật miếng vải lại.

“Tôi không thể dùng thứ này,” tôi phàn nàn. “Nó bẩn quá!”

Rõ ràng không hề thấy ông ta di chuyển, vậy mà chỉ trong nháy mắt, gã đàn ông to lớn đã nắm lấy vai tôi, đôi mắt sẫm màu của ông ta gí sát mắt tôi. “Làm đi,” ông ta nói.

Rồi ông ta đẩy tôi ra và sải bước tới cửa, biến mất sau hai gã tay sai. Tôi run rẩy bắt tay vào việc, nhưng lương tâm nghề nghiệp không cho phép tôi dùng chiếc khăn quàng cổ bẩn thỉu này để băng bó vết thương cho chàng trai trẻ. Tôi cố gắng chôn giấu nỗi bối rối và sợ hãi, cố gắng tìm kiếm thứ gì đó thích hợp hơn, và sau một hồi phí công lục lọi trong đống vải, cuối cùng tôi quyết định xé một mảnh vải bằng tơ nhân tạo từ váy lót của mình. Mặc dù không hẳn vô trùng nhưng nó vẫn là mảnh vải sạch sẽ nhất trong tầm tay tôi.

Chiếc áo sơ mi vải lanh mà bệnh nhân của tôi đang mặc đã cũ và rách bươm, nhưng nó vẫn dai đến đáng kinh ngạc. Đánh vật với nó một lúc, tôi mới xé được phần tay áo còn lại và biến nó thành một cái băng đeo. Tôi lùi lại để kiểm tra kết quả việc băng bó ngẫu hứng của mình và va phải gã đàn ông to lớn đã lặng lẽ bước vào từ lúc nào để theo dõi tình hình.

Ông ta tỏ vẻ tán thưởng “tác phẩm” của tôi. “Làm tốt lắm, cô gái. Đi nào, tất cả đã sẵn sàng rồi.”

Dougal đưa cho người phụ nữ kia một đồng tiền và lùa tôi ra khỏi nhà. Jamie lê bước theo sau, mặt vẫn còn hơi tái. Khi đứng dậy khỏi chiếc ghế đẩu thấp lè tè, hóa ra bệnh nhân của tôi rất cao; anh ta phải cao hơn Dougal đến vài phân dù Dougal vốn đã rất cao to rồi.

Gã Rupert râu đen và Murtagh đang giữ sáu con ngựa ở bên ngoài, thì thầm âu yếm với chúng bằng tiếng Gaelic trong bóng tối. Đêm nay không có trăng, nhưng những mảnh kim loại của bộ yên cương vẫn lấp lánh như thủy ngân dưới ánh sao. Tôi ngước lên và gần như há hốc miệng vì kinh ngạc; chưa bao giờ tôi được thấy bầu trời đêm nào rực rỡ như thế này. Liếc nhìn khu rừng xung quanh, tôi đã hiểu ra lý do. Vì không có ánh đèn điện của chốn thị thành che lấp bầu trời nên những vì sao ở đây mới giữ được quyền thống trị tuyệt đối trong đêm đen.

Và rồi tôi sững lại, cảm thấy lạnh toát. Chẳng có ánh đèn điện nào cả. “Thị trấn nào cơ?” Người phụ nữ ở trong nhà đã hỏi như vậy. Đã quen với việc cắt điện tạm thời và những cuộc không kích trong chiến tranh nên lúc đầu tôi cũng chẳng để ý lắm đến điều này. Nhưng đây là thời bình cơ mà, ánh đèn điện của Inverness phải lan tỏa đến hàng dặm mới phải chứ!

Đám đàn ông chỉ là những khối không rõ hình dạng trong bóng tối. Tôi định cố gắng lẻn vào trong những rặng cây, nhưng Dougal, rõ ràng đoán được suy nghĩ của tôi, tóm lấy khuỷu tay tôi và kéo tôi về phía lũ ngựa.

“Jamie, lên ngựa đi,” ông ta gọi. “Cô gái này sẽ cưỡi chung ngựa với cháu.” Ông ta siết chặt khuỷu tay tôi. “Cô có thể giữ dây cương nếu Jamie không thể điều khiển bằng một tay, nhưng nhớ bám sát những người còn lại. Nếu cô cố gắng làm gì khác, ta sẽ cắt cổ cô. Rõ chứ?”

Tôi gật đầu, cổ họng khô đến mức không thể trả lời được. Giọng ông ta nghe không đáng sợ lắm nhưng tôi tin vào từng lời ông ta nói. Tôi chẳng còn muốn “cố gắng làm gì khác” nữa rồi, vì thực ra tôi cũng chẳng biết phải làm gì. Tôi không biết mình đang ở đâu, những người bạn đồng hành của tôi là ai, tại sao bọn tôi lại rời đi gấp gáp như thế và chúng tôi đang đi đâu, nhưng tôi không có bất cứ sự lựa chọn nào khác hợp lý hơn ngoài việc đi với họ. Tôi thấy lo cho Frank, hẳn là anh đã đi tìm tôi từ lâu rồi, nhưng bây giờ có vẻ không phải là lúc để nhắc đến anh.

Chắc là Dougal đã cảm nhận được cú gật đầu của tôi nên mới buông tay tôi ra và khom người bên cạnh tôi. Tôi cứ đứng ngẩn ra nhìn cho đến khi ông ta rít lên: “Chân của cô, cô gái! Đặt chân của cô lên đây! Chân trái ấy,” ông ta bực tức nói thêm. Tôi vội vàng bỏ bàn chân phải đặt nhầm chỗ của mình ra khỏi bàn tay ông ta và bước lên đó bằng chân trái. Ông ta vừa khẽ càu nhàu vừa đẩy tôi lên ngồi trước mặt Jamie trên yên ngựa. Anh ta liền kéo sát tôi vào người bằng cánh tay lành lặn.

Dù ngại ngùng nhưng tôi thấy biết ơn vì hơi ấm tỏa ra từ chàng trai người Scot. Anh ta sực mùi khói gỗ, mùi máu và mùi đàn ông chưa tắm giặt, nhưng hơi lạnh ban đêm đang xuyên qua làn váy mỏng của tôi nên tôi rất sẵn lòng dựa vào người anh ta.

Trong không gian khẽ vang lên tiếng dây cương loảng xoảng, thế rồi chúng tôi khởi hành vào màn đêm đầy ánh sao. Đám đàn ông không trò chuyện gì, bầu không khí tràn ngập sự cảnh giác. Lũ ngựa phi nước kiệu ngay khi chúng tôi ra đến đường cái. Sự xóc nảy khiến tôi khó chịu đến mức chẳng buồn nói năng, kể cả có ai đó sẵn sàng lắng nghe.

Dù không thể sử dụng bàn tay phải nhưng người bạn đồng hành của tôi có vẻ chẳng lấy gì làm bất tiện. Đùi anh ta kề sát đùi tôi, thi thoảng lại nhúc nhích và ép chặt để điều khiển con ngựa. Tôi bám chắc mép cái yên ngắn để ngồi vững; trước đây tôi từng cưỡi ngựa rồi nhưng dù thế nào tôi cũng không phải là một kỵ sĩ chuyên nghiệp như anh chàng Jamie này.

Đi được một lúc, chúng tôi tới một giao lộ và dừng lại trong thoáng chốc để chờ gã hói và người chỉ huy thì thầm hội ý với nhau. Jamie thả cương con ngựa và mặc nó tha thẩn đi tới ven đường gặm cỏ, còn anh ta thì bắt đầu vặn vẹo đằng sau tôi.

“Cẩn thận!” Tôi nói. “Đừng vặn vẹo như thế, nếu không lớp băng quấn của anh sẽ bị tuột ra đấy! Anh đang làm cái gì vậy?”

“Cởi áo choàng len để phủ lên người cô,” anh ta đáp. “Cô đang run lẩy bẩy kìa. Nhưng tôi không thể làm thế bằng một tay. Cô có thể cởi cái ghim cài giúp tôi không?”

Sau một hồi loay hoay, cuối cùng chúng tôi cũng cởi được chiếc áo choàng. Với một cú xoay khéo léo, anh ta biến nó thành một chiếc khăn lớn và choàng lên người cả hai chúng tôi, rồi dém hai đầu của nó xuống dưới mép yên ngựa, do đó chúng tôi đều được bao bọc trong lớp áo choàng ấm áp.

“Đó!” Anh ta nói. “Chúng tôi không muốn cô chết cóng trước khi tới nơi.”

“Cảm ơn anh,” tôi nói, biết ơn vì sự che chở ấy. “Nhưng chúng ta đang đi đâu vậy?”

Tôi không thể nhìn thấy mặt anh ta, chỉ thấy anh ta ngập ngừng một lúc.

Cuối cùng, anh ta cười khì. “Thú thực với cô, tôi cũng không rõ. Nhưng tôi nghĩ chúng ta sẽ biết được điều đó khi nào tới nơi, đúng không?”

•••

Vùng đồng quê mà chúng tôi đang băng qua có nét gì đó hơi quen thuộc. Chắc chắn là tôi biết khối đá lớn trông giống cái đuôi của một con gà trống kia!

“Khối đá Cocknammon!” Tôi thốt lên.

“Ừ, tôi cho là vậy,” người bạn đồng hành của tôi hoàn toàn dửng dưng trước sự phát hiện này.

“Chẳng phải người Anh dùng nó làm nơi để mai phục sao?” Tôi hỏi, cố gắng nhớ lại những chi tiết buồn thảm của lịch sử vùng này mà Frank đã dành hàng giờ để giải khuây cho tôi trong tuần qua. “Nếu có một toán quân Anh ở quanh đây…” Tôi ngập ngừng. Nếu một toán quân Anh ở quanh đây, có lẽ tôi đã sai khi khơi lên sự chú ý về phía khối đá ấy. Tuy nhiên, nếu có quân mai phục thật, lính Anh sẽ khó mà phân biệt được tôi và người bạn đồng hành, vì cả hai chúng tôi đều được bao phủ chung trong một chiếc áo choàng len. Chợt nghĩ đến Đại úy Jonathan Randall, tôi bất giác rùng mình. Tất cả mọi thứ tôi đã thấy kể từ lúc bước qua khe nứt của cột đá trên đồi Craig na Dun đều dẫn đến cái kết luận hoàn toàn phi lý rằng người đàn ông mà tôi gặp trong rừng quả thực là cụ cố sáu đời của Frank. Tôi ngoan cố phủ nhận điều này, nhưng không thể nghĩ ra bất cứ kết luận nào khác khớp với các sự kiện đã xảy ra.

Ban đầu, tôi tưởng mình chỉ đang mơ một giấc mơ sống động hơn bình thường, nhưng nụ hôn suồng sã và thô bạo của Randall đã xóa tan ấn tượng đó. Tôi cũng không nghĩ mình đã mơ bị Murtagh đánh vào đầu; chỗ đau trên đầu tôi cũng như vết phồng rộp ở mặt trong của đùi do cọ vào yên ngựa hoàn toàn là thật. Và máu nữa chứ; phải, tôi đã quen với máu đến nỗi từng mơ về nó. Nhưng tôi chưa bao giờ mơ thấy mùi máu; thứ mùi ấm áp giống như mùi đồng mà tôi vẫn đang ngửi thấy trên cơ thể người đàn ông ở đằng sau.

“Tắc.” Anh ta chặc lưỡi với con ngựa chúng tôi đang cưỡi và thúc nó đi lên bên cạnh con ngựa của người chỉ huy, khẽ nói mấy lời với cái bóng lực lưỡng đó bằng tiếng Gaelic. Lũ ngựa giảm tốc độ, chỉ còn rong ruổi từng bước.

Nhận được tín hiệu từ người chỉ huy, Jamie, Murtagh và gã hói nhỏ thó tụt lại đằng sau, trong khi hai người còn lại thúc ngựa phi nước đại về phía khối đá nằm chếch về phía bên phải ở đằng trước, cách chỗ chúng tôi một phần tư dặm. Vầng trăng bán nguyệt đã nhô lên, ánh trăng soi tỏ từng chiếc lá của những cây cẩm quỳ mọc ven đường, nhưng bóng tối trong những khe đá có thể che giấu bất cứ thứ gì.

Ngay khi hai bóng hình phi nước đại băng qua khối đá, một tia lửa lóe lên nơi họng súng hỏa mai chĩa ra từ một cái hốc. Một tiếng hét ghê rợn vang lên ngay đằng sau tôi, và con ngựa nhảy chồm về phía trước như thể bị đâm bằng một que nhọn sắc bén. Chúng tôi lao như bay qua bãi thạch nam hướng tới khối đá, Murtagh và người còn lại phóng bên cạnh, những tiếng hét dựng tóc gáy và những tiếng gầm xé toạc màn đêm.

Tôi cố sống cố chết bám chặt núm yên ngựa. Jamie đột nhiên ghì cương cạnh một bụi kim tước lớn, choàng tay quanh eo tôi và thô lỗ ném tôi xuống đó. Con ngựa quay ngoắt đi và tiếp tục phi hết tốc lực, vòng qua khối đá để tới mặt phía nam. Tôi có thể thấy Jamie cúi rạp người trên yên khi con ngựa biến mất đằng sau khối đá. Khi nó xuất hiện trở lại, vẫn đang phi nước đại, cái yên trống trơn.

Bề mặt của khối đá loang lổ bóng tối; tôi có thể nghe thấy những tiếng la hét và thi thoảng là tiếng súng hỏa mai, nhưng không thể nhận ra liệu những chuyển động mà tôi nhìn thấy là của con người hay chỉ là bóng của những cây sồi còi cọc nhô lên từ các kẽ đá.

Tôi chật vật gỡ mình ra khỏi bụi cây, nhặt những mẩu kim tước đầy gai bám trên váy và tóc. Liếm một vết xước trên bàn tay, tôi tự hỏi bây giờ mình nên làm gì. Đợi trận chiến kết thúc chăng? Nếu người Scot thắng, hoặc ít nhất là sống sót, họ chắc chắn sẽ quay lại tìm tôi. Nếu họ mất mạng, tôi có thể tiếp cận đám lính Anh, nhưng họ nhất định sẽ cho rằng vì tôi đi cùng những người Scot nên tôi ắt hẳn là đồng bọn của đám người đó. Dựa vào thái độ của cánh đàn ông trong ngôi nhà đá, rõ ràng mấy người họ đang mưu đồ một chuyện mà người Anh hoàn toàn không cho phép.

Tốt hơn hết là nên tránh cả đôi bên. Dù gì bây giờ cũng biết mình đang ở đâu, tôi có thể quay lại một thị trấn hay một ngôi làng mà tôi biết, cho dù có phải đi bộ hết cả quãng đường. Tôi quả quyết đi về phía đường cái, vấp vào vô số những tảng đá hoa cương, đám con cháu chết tiệt của khối đá Cocknammon.

Ánh trăng khiến tôi dễ lầm lẫn trong lúc đi bộ; mặc dù có thể thấy mọi chi tiết trên mặt đất nhưng tôi không thể phân biệt được độ nông sâu cao thấp của chúng; những loài cây mọc sát đất và những hòn đá lởm chởm trông cao như nhau, khiến tôi vụng về nhấc chân qua những chướng ngại vật không tồn tại và vấp vào những hòn đá nhô lên trên đường. Tôi bước đi nhanh hết mức có thể, lắng nghe xem có ai đuổi theo không.

Lúc tôi tới đường cái thì những âm thanh của trận chiến đã tắt. Tôi nhận ra đi trên đường thế này thì lộ liễu quá nhưng tôi cần phải bám theo nó nếu muốn tới được một thị trấn. Tôi không có khả năng xác định phương hướng trong bóng tối, và chưa bao giờ học được từ Frank ngón nghề định hướng nhờ những ngôi sao. Nghĩ về Frank khiến tôi muốn òa khóc, vì vậy tôi cố gắng làm mình sao nhãng bằng cách suy nghĩ rõ ràng về các sự kiện của buổi chiều nay.

Điều này có vẻ phi lý, nhưng mọi biểu hiện bên ngoài đều chỉ ra rằng tôi đang ở một nơi mà các phong tục và nền chính trị cuối thế kỷ mười tám vẫn ngự trị. Tôi sẽ nghĩ toàn bộ chuyện này chỉ là một cuộc trình diễn hóa trang nếu không có những vết thương của chàng trai trẻ mà họ gọi là Jamie. Đó quả thực là một vết thương do đạn của súng hỏa mai gây ra. Hành vi của đám đàn ông trong ngôi nhà đá cũng không giống như đang diễn kịch. Họ rất nghiêm túc, dao găm và kiếm của họ đều là đồ thật.

Lẽ nào đây là một khu vực biệt lập, hẻo lánh, nơi dân làng định kỳ tổ chức diễn lại một phần lịch sử của họ? Tôi đã nghe nói đến những câu chuyện như vậy ở Đức, dù ở Scotland thì chưa bao giờ. Ta cũng chưa bao giờ nghe nói các diễn viên bắn đạn thật vào nhau, đúng không? Phần trí óc sáng suốt đến mức khó chịu của tôi cười nhạo.

Tôi ngoảnh nhìn khối đá để kiểm tra vị trí của mình, rồi nhìn thẳng về đường chân trời phía trước, và máu tôi như đông cứng lại. Ở đó chẳng có gì ngoài chóp nhọn của những cây thông đen sì dưới bức màn sao. Những ánh đèn điện của Inverness đâu cả rồi? Nếu đằng sau tôi là khối đá Cocknammon, vậy thì Inverness phải ở cách đây chưa đầy ba dặm về phía tây nam. Ở khoảng cách này, tôi phải nhìn thấy ánh sáng rực rỡ của thị trấn tỏa lên nền trời chứ! Nếu nó có ở đó.

Tôi cáu kỉnh lắc lắc đầu, ôm chặt hai khuỷu tay trước cơn ớn lạnh. Ngay cả khi thoáng thừa nhận cái ý niệm hoàn toàn phi lý là tôi đang ở một thời đại khác thì Inverness cũng đã tồn tại khoảng sáu trăm năm rồi. Nó đang ở đó. Nhưng rõ ràng không có ánh đèn, chứng tỏ rằng ở đó không có đèn điện. Lại thêm một bằng chứng nữa, nếu tôi cần phải có. Nhưng bằng chứng cho cái gì cơ chứ?

Một hình dáng bất chợt bước ra từ trong bóng tôi khiến tôi suýt nữa đâm sầm vào. Nén lại tiếng thét, tôi quay đầu định bỏ chạy, nhưng một bàn tay to lớn đã tóm chặt lấy cánh tay tôi.

“Đừng sợ. Là tôi đây mà.”

“Là anh nên tôi mới sợ đấy,” tôi cấm cảu, mặc dù thực tế thì tôi thấy nhẹ nhõm khi đó là Jamie. Tôi không sợ anh ta bằng mấy người khác, dù trông anh ta cũng nguy hiểm chẳng kém gì bọn họ. Tuy nhiên, anh ta còn trẻ, thậm chí trẻ hơn cả tôi. Và tôi khó có thể sợ một người mà tôi vừa mới coi là bệnh nhân của mình.

“Tôi hy vọng anh đã không ngược đãi cái vai đó,” tôi khiển trách bằng giọng của một nữ y tá trưởng. Nếu giọng tôi đủ uy lực, có lẽ tôi sẽ thuyết phục được anh ta thả tôi đi.

“Cuộc náo loạn vừa rồi đã ảnh hưởng đến nó,” anh ta thừa nhận, xoa bóp bờ vai bằng bàn tay lành lặn.

Lúc đó, anh ta bước vào một vệt ánh trăng, và tôi thấy ngực áo anh ta ướt sũng máu. Chảy máu động mạch, tôi lập tức nghĩ; nhưng tại sao anh ta vẫn đứng được?

“Anh bị thương rồi kìa!” Tôi thốt lên. “Anh đã làm toác vết thương ở vai hay đó là vết thương mới vậy? Ngồi xuống cho tôi kiểm tra nào!” Tôi đẩy anh ta tới một đống đá mòn, nhanh chóng ôn lại các quy trình cấp cứu dã chiến. Chẳng có miếng vải nào trong tay ngoại trừ bộ đồ tôi đang mặc. Tôi đang sờ vào cái váy lót đã bị xé rách lúc nãy, định xé thêm một mảnh nữa để cầm máu thì anh ta bật cười to.

“Không, đừng bận tâm. Đó không phải là máu của tôi. Dẫu có cũng không nhiều lắm đâu,” anh ta nói thêm, rón rén nhón lớp vải ướt sũng.

Tôi nuốt khan, cảm thấy hơi nôn nao. “Ồ,” tôi yếu ớt nói.

“Dougal và những người khác đang đợi bên đường. Đi thôi!” Anh ta nắm lấy cánh tay tôi, không phải vì lịch thiệp mà là để ép buộc tôi đi theo. Tôi đánh liều chùn chân lại.

“Không! Tôi không đi với anh đâu!”

Anh ta dừng bước, tỏ vẻ ngạc nhiên trước sự kháng cự của tôi. “Cô phải đi.” Anh ta chẳng hề tức giận mà có vẻ hơi thích thú khi thấy tôi phản đối việc bị bắt cóc lần nữa.

“Nếu tôi không đi thì sao? Anh sẽ cắt cổ tôi ư?” Tôi hỏi dồn. Anh ta cân nhắc các lựa chọn và điềm tĩnh trả lời:

“Ồ, không. Trông cô không nặng gì. Nếu cô không đi, tôi sẽ vác cô trên vai. Cô có muốn tôi làm thế không?” Anh ta bước một bước về phía tôi, tôi vội vàng lùi lại. Tôi không nghi ngờ chút nào lời nói của anh ta, dù anh ta có bị thương hay không.

“Không! Anh không thể làm thế; anh sẽ lại làm tổn thương vai mình đấy.”

Những đường nét trên mặt anh ta không rõ ràng, nhưng hàm răng anh ta ánh lên dưới bóng trăng khi anh ta nhoẻn miệng cười.

“Vậy thì, vì cô không muốn tôi làm tổn thương chính mình, tôi cho là cô sẽ đi với tôi?” Tôi cố gắng tìm một câu trả lời nhưng không được. Anh ta lại nắm cánh tay tôi và dẫn tôi về phía đường cái.

Jamie giữ chặt cánh tay tôi, kéo tôi dậy mỗi lần tôi vấp vào những hòn đá và bụi cây. Anh ta bước đi như thể bãi đất hoang lởm chởm là một con đường lát gạch trong ánh sáng ban ngày rực rỡ. Hẳn là anh ta mang dòng máu của loài mèo, tôi chua chát nghĩ, thế nên anh ta mới có thể lén bám theo tôi trong bóng tối.

Đúng như anh ta nói, những người còn lại cùng với lũ ngựa đang đợi chúng tôi ở một chỗ không xa lắm; chẳng có người nào bị chết hay bị thương, vì họ đều có mặt đầy đủ. Vụng về trườn lên lưng ngựa, tôi ngồi bịch xuống cái yên. Đầu tôi chẳng may đập vào cái vai bị thương của Jamie, khiến anh ta xuýt xoa.

Tôi cố tình mắng mỏ anh ta để che giấu nỗi căm phẫn khi bị bắt lại và sự áy náy vì đã làm anh ta bị đau.

“Đáng đời anh vì cái tội đánh đấm hùng hục và rượt đuổi nhau khắp vùng đất đá gồ ghề này. Tôi đã dặn anh không được cử động cái khớp đó rồi mà; bây giờ có lẽ bắp cơ của anh đã bị rách và bầm tím cũng chưa biết chừng.”

Anh ta có vẻ thích thú trước lời quở trách của tôi. “Ầy, tôi làm gì có nhiều lựa chọn. Nếu tôi không cử động cái vai này, tôi sẽ chẳng còn cử động được thứ gì khác nữa. Chỉ cần một tay tôi cũng có thể xử lý một tên Áo đỏ - thậm chí là hai tên,” anh ta nói, hơi khoác lác, “nhưng ba tên thì không thể.”

“Hơn nữa,” anh ta nói, kéo tôi sát vào cái áo sơ mi bê bết máu, “cô có thể chữa cho tôi khi chúng ta đến cái đích mà chúng ta đang hướng tới.”

“Tự anh nghĩ vậy thôi,” tôi lạnh lùng nói, vặn vẹo người để tránh xa lớp vải nhơ nhớp. Anh ta chặc lưỡi giục ngựa, và chúng tôi lại lên đường. Đám đàn ông cực kỳ hưng phấn sau cuộc chiến, họ cứ cười đùa không ngớt. Đóng góp nhỏ nhoi của tôi trong việc phá vỡ trận mai phục được khen ngợi rất nhiều, và họ cụng bình rượu với nhau để uống mừng tôi.

Tôi được mời uống nhưng từ chối ngay với cái cớ là trong trạng thái tỉnh táo tôi còn thấy khó mà ngồi vững trên lưng ngựa nữa là bị say. Từ cuộc bàn luận của đám đàn ông, tôi biết được toán phục kích vừa rồi là một đội tuần tra nhỏ khoảng mười người lính Anh, được trang bị súng hỏa mai và kiếm lưỡi cong.

Ai đó chuyển một cái bình dẹt cho Jamie, và tôi có thể ngửi thấy mùi rượu nóng hổi khi anh ta uống. Tôi chẳng khát chút nào, nhưng mùi mật ong phảng phất nhắc tôi nhớ rằng bụng tôi đang đói meo. Dạ dày tôi phát ra một tiếng ùng ục to tướng đáng xấu hổ, phản đối sự lơ là của tôi với nó.

“Ê, này, Jamie! Đói rồi hử? Hay cậu mang theo cả một bộ kèn túi thế?” Rupert hét gọi, hiểu nhầm nơi phát ra âm thanh ấy.

“Cháu đói đến nỗi có thể ăn cả một bộ kèn túi ấy chứ,” Jamie gọi với lại, lịch thiệp nhận lời khiển trách. Lát sau, một bàn tay cầm chiếc bình dẹt vòng đến trước mặt tôi.

“Tốt hơn là cô nên uống một ngụm,” anh ta thì thầm. “Nó không giúp cô no bụng nhưng đủ khiến cô quên đi cơn đói.”

Và hy vọng là quên được nhiều điều khác nữa. Tôi nghiêng cái bình để uống.

•••

Người bạn đồng hành của tôi đã đúng; rượu whisky nhen lên một ngọn lửa nhỏ ấm áp dễ chịu trong dạ dày, lấp đi sự cồn cào của cơn đói. Chúng tôi đã đi được vài dặm mà không có gì bất trắc xảy ra, cứ thay phiên nhau cầm cương và uống whisky. Tuy nhiên, khi đến gần một túp nhà tranh đổ nát, hơi thở của Jamie dần biến thành tiếng thở hổn hển đứt quãng. Anh ta đột nhiên nghiêng hẳn người đi. Tôi bối rối; nếu tôi không say thì anh ta cũng không thể say được.

“Dừng lại! Giúp với!” Tôi la lên. “Anh ta sắp ngã rồi!” Tôi nhớ lại “cú hạ cánh” bất ngờ mới đây và không muốn lặp lại nó.

Những thân hình tối đen quay lại và vây quanh chúng tôi, những tiếng thì thầm rối rít lẫn vào nhau. Jamie ngã chúi xuống như một bao tải đựng đá, may mà có người giơ tay đỡ kịp. Lúc tôi lồm cồm bò xuống, những người còn lại đã xuống ngựa và đặt anh ta nằm xuống một cánh đồng.

“Cậu ấy đang thở,” một người nói.

“Chà, thông tin hữu ích quá nhỉ,” tôi cấm cảu, cuống cuồng bắt mạch cho anh ta trong bóng tối. Mạch anh ta đập nhanh nhưng khá mạnh. Đặt tay lên ngực và ghé tai vào miệng anh ta, tôi có thể cảm thấy ngực anh ta nhô lên hạ xuống đều đặn, tiếng thở cũng đã bớt hổn hến. Tôi ngồi thẳng dậy.

“Tôi nghĩ anh ta chỉ bị ngất thôi,” tôi nói. “Hãy kê một cái túi yên ngựa[8] dưới chân anh ta và nếu có nước, hãy mang tới cho tôi một ít.” Tôi ngạc nhiên khi thấy mệnh lệnh của mình được tuân theo ngay lập tức. Có vẻ như chàng trai trẻ này là người quan trọng với họ. Anh ta rên rỉ và mở đôi mắt trông như hai cái hố đen ngòm dưới ánh sao. Trong ánh sáng lờ mờ, khuôn mặt anh ta trông như một cái đầu lâu, làn da trắng bệch ôm sát những gò xương góc cạnh quanh hai hốc mắt.

“Tôi không sao,” anh ta nói, cố gắng ngồi dậy. “Chỉ chóng mặt chút xíu.” Tôi đặt tay lên ngực anh ta và đây anh ta nằm xuống.

“Nằm yên nào,” tôi ra lệnh, nhanh chóng sờ nắn chỗ bị thương đế kiểm tra rồi quỳ dậy và quay sang một thân hình to lù lù mà tôi đoán là người chỉ huy, Dougal.

“Vết thương do bị đạn bắn lại chảy máu rồi, và gã ngốc này mới bị đâm thêm một nhát dao nữa. Tôi nghĩ nó không nghiêm trọng, nhưng anh ta đã mất khá nhiều máu. Cái áo sơ mi của anh ta ướt sũng, nhưng tôi không biết bao nhiêu trong số đó là máu của anh ta. Anh ta cần được nghỉ ngơi yên tĩnh; chúng ta nên nghỉ lại ở đây ít nhất cho đến sáng mai.” Thân hình kia phác một cử chỉ bác bỏ.

“Không. Tuy chúng ta đã ở cách xa chỗ quân đồn trú dám bén mảng đến, nhưng vẫn còn phải dè chừng bọn tuần phòng. Chúng ta phải đi đúng mười lăm dặm nữa.” Cái đầu trông không rõ đường nét ngửa lên, quan sát sự di chuyển của các vì sao.

“Ít nhất cũng mất năm, bảy tiếng. Chúng ta chỉ có thể nán lại một lúc để cô cầm máu và băng bó lại vết thương cho Jamie; không thể lâu hơn được.”

Tôi vừa bắt tay vào việc vừa lẩm bà lẩm bẩm, trong khi Dougal khẽ cắt cử một trong những cái bóng còn lại tới đứng canh gác cạnh lũ ngựa bên đường. Những người khác thì tạm thời nghỉ ngơi thư giãn, uống rượu và thì thầm tán gẫu. Gã Murtagh mặt chồn giúp tôi xé những dải vải lanh, lấy thêm nước và nâng bệnh nhân lên để băng bó. Jamie bị cấm cử động dù anh ta cứ càu nhàu rằng mình ổn cả.

“Ai cũng biết là anh chẳng ổn chút nào,” tôi cấm cảu, trút hết nỗi sợ hãi và giận dữ lên đầu anh ta. “Có gã ngốc nào bị dao đâm mà không thèm dừng lại để chăm sóc vết thương không? Anh không nhận ra là mình đang chảy máu trầm trọng à? May cho cái thân anh là anh không chết đây nhé, ai đời lại chạy lồng lên khắp nơi suốt cả đêm, gào thét, đánh đấm và nhảy xuống khỏi lưng ngựa… Yên nào, đồ ngốc chết tiệt!” Trong bóng tối, những mảnh vải lanh và tơ nhân tạo cứ trượt đi như những con cá có cái bụng trắng hếu ngoe nguẩy lặn xuống lòng sông. Dù trời lạnh nhưng mồ hôi vẫn ướt đẫm cổ tôi. Cuối cùng tôi cũng cột xong một đầu băng vải và với lấy đầu kia, nó cứ tuột đi sau lưng bệnh nhân. “Yên nào… Ồ, đồ khốn quái quỷ chết tiệt!” Jamie đã cử động và nút thắt vừa mới cột xong lại bị tuột ra.

Tất cả mọi người đều im lặng vì sốc. “Chúa ơi,” gã béo Rupert nói. “Trong đời tôi chưa bao giờ nghe thấy một người phụ nữ ăn nói lỗ mãng như thế.”

“Vậy là anh chưa bao giờ gặp dì Grisel của tôi rồi,” một giọng khác vang lên khiến mọi người cười ồ.

“Chồng cô nên dạy cho cô một bài học, cô gái,” một giọng nói hà khắc vọng tới từ dưới một bóng cây. “Thánh Paul nói: Phụ nữ phải im lặng, và…”

“Ông đi mà lo chuyện của mình,” tôi hằm hè, mồ hôi nhỏ giọt sau tai, “và Thánh Paul cũng vậy.” Tôi giơ tay áo lên quệt trán. “Lật anh ta sang trái. Và nếu anh,” tôi nói với bệnh nhân của mình, “nhúc nhích một chút thôi trong lúc tôi buộc cái băng này, tôi sẽ bóp cổ anh đấy.”

“Ối, vâng,” anh ta ngoan ngoãn trả lời.

Tôi kéo lớp băng quấn cuối cùng quá mạnh nên toàn bộ miếng vải tuột mất.

“Quỷ tha ma bắt!” Tôi gầm lên, giận dữ đấm xuống đất. Đám người xung quanh lại im lặng vì sốc, và rồi, khi tôi mò mẫm trong bóng tối tìm những đầu bị tuột của dải băng, lại có thêm những lời bình phẩm về ngôn từ không thích hợp của tôi.

“Có lẽ chúng ta nên gửi cô ấy đến tu viện Ste. Anne, Dougal,” một trong những dáng hình có khuôn mặt tối đen ngồi chồm hỗm bên đường đề nghị. “Từ lúc chúng ta rời khỏi bờ biển, tôi chưa từng nghe thấy Jamie chửi thề lần nào, trong khi trước đó cái miệng của cậu ấy có thể khiên cho một thủy thủ phải xấu hổ. Bốn tháng trong tu viện hẳn đã có chút tác dụng. Cậu thậm chí đã không còn gọi tên Chúa một cách bừa bãi nữa, đúng không, chàng trai?”

“Ngay cả ông cũng sẽ không làm thế nếu bị bắt nằm trên sàn đá nhà nguyện ba tiếng đồng hồ vào giữa đêm tháng Hai khi trên người chỉ mặc độc cái áo sơ mi để sám hối cho việc đó,” bệnh nhân của tôi trả lời.

Đám đàn ông cười ồ khi anh ta tiếp tục. “Thực ra chỉ phải sám hối có hai tiếng thôi, nhưng mất một tiếng tôi mới ngồi dậy được; tôi nghĩ cái… ờ, tôi nghĩ tôi đã bị đóng băng dưới sàn luôn rồi, nhưng hóa ra chỉ bị tê cứng thôi.”

Rõ ràng anh ta đã đỡ hơn. Tôi không nhịn được cười, nhưng vẫn cứng rắn nói. “Yên nào,” tôi nói, “nếu không tôi sẽ làm anh đau đấy.” Anh ta rón rén chạm vào chỗ băng bó, và tôi tét vào tay anh ta.

“Ồ, cô đe dọa tôi đấy hả?” Anh ta trâng tráo hỏi. “Sau khi tôi đã chia sẻ bình rượu với cô!”

Cái bình dẹt đã đi hết một vòng. Dougal quỳ xuống bên cạnh tôi, cẩn thận nghiêng nó cho bệnh nhân của tôi uống. Mùi cay nồng của whisky nguyên chất xộc lên, và tôi đặt tay lên cái bình dẹt để cản lại.

“Không được uống rượu mạnh nữa,” tôi nói. “Anh ta cần trà, hoặc tệ nhất là nước. Không phải đồ uống có cồn.”

Dougal giật cái bình ra khỏi tay tôi, chẳng thèm đếm xỉa đến lời tôi nói, và đổ một lượng lớn thứ chất lỏng nóng bỏng đó vào họng bệnh nhân của tôi, khiến anh ta ho sặc sụa. Vừa thấy hơi thở Jamie ốn định trở lại, ông ta đã lại kề cái bình vào miệng anh ta.

“Ngừng lại!” Tôi lại chặn bình whisky. “Ông muốn anh ta say đến mức không đứng dậy được à?”

Ông ta thô lỗ dùng khuỷu tay huých tôi sang một bên.

“Cô ả này nhiều chuyện thật đấy!” Bệnh nhân của tôi có vẻ thích thú.

“Lo việc của cô đi, cô gái,” Dougal ra lệnh. “Tối nay chúng ta còn phải đi một chặng đường dài, thằng bé cần loại rượu này tiếp thêm sức mạnh.”

Ngay khi được băng bó xong, bệnh nhân của tôi liền cố gắng ngồi dậy. Tôi đây anh ta nằm xuống và chẹn đầu gối lên ngực anh ta để giữ anh ta ở yên đó. “Không được cử động,” tôi gay gắt nói, rồi tóm lấy gấu váy của Dougal và thô bạo giật nó, khiến ông ta quỳ xuống bên cạnh tôi.

“Nhìn thứ này đi,” tôi gắng hết sức để có thể ra lệnh bằng giọng của một nữ y tá trưởng, ném cái áo sơ mi ướt sũng vào tay ông ta. Ông ta kêu lên ghê tởm và hất nó ra ngay.

Tôi cầm lấy tay ông ta, đặt lên vai bệnh nhân. “Và nhìn chỗ này nữa. Anh ta bị thứ gì đó đâm xuyên qua cơ thang.”

“Một cái lưỡi lê,” bệnh nhân xen vào.

“Lưỡi lê á!” Tôi thốt lên. “Vậy tại sao anh không nói với tôi?”

Anh ta nhún vai rồi dừng khựng lại, khẽ rên rỉ. “Tôi cảm thấy nó đâm vào người nhưng không biết vết thương nghiêm trọng ra sao; nó không đau lắm.”

“Bây giờ nó có đau không?”

“Có,” anh ta nói cộc lốc.

“Tốt,” tôi châm chọc. “Đáng đời anh. Có lẽ anh sẽ học được một bài học là đừng có chạy loạn lên quanh vùng đồng quê đế bắt cóc phụ nữ và g-giết người, và…” Cảm thấy mình sắp khóc, tôi bèn ngừng lại, cố gắng kìm nén.

Dougal bắt đầu mất kiên nhẫn vớí cuộc đối thoại này. “Cháu có thể ngồi giạng chân trên lưng ngựa không?”

“Anh ta không thể đi đâu cả!” Tôi phẫn nộ phản đối. “Anh ta nên ở bệnh viện! Chắc chắn là anh ta không thế…”

Những lời phản đối của tôi, như thường lệ, hoàn toàn bị phớt lờ.

“Cháu có cưỡi ngựa được không?” Dougal hỏi lại.

“Được, nếu cậu lôi cô ả này ra khỏi ngực cháu và mang tới cho cháu một cái áo sạch sẽ.”

[1] Kiểu hát đổi giọng trầm sang giọng kim, luyến láy liên tục, tạo nên những âm thanh trầm bổng bất ngờ trong một thời gian ngắn.

[2] Chỉ Hoàng tử Charles Stuart.

[3] Phần ở yên ngựa có hình vòng cung nhô lên ở phía trước.

[4] Chỉ quân Anh.

[5] Từ nurse trong tiếng Anh vừa có nghĩa là “y tá”, vừa có nghĩa là “vú nuôi”.

[6] Từ alcohol trong tiếng Anh vừa có nghĩa là “cồn” vừa có nghĩa là “rượu”.

[7] Chỉ lính Anh.

[8] Túi đeo mỗi bên ở sau yên ngựa.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.