Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
36
MacRannoch

❊ ❊ ❊

Trong góc căn nhà tranh tối om có một con gấu. Tôi hoảng hốt lùi sát vào người hộ tống, chẳng muốn dính dáng gì đến những con thú hoang nữa, nhưng anh ta lại ẩn mạnh tôi vào trong nhà. Khi tôi lảo đảo tiến về phía lò sưởi, thân hình đồ sộ quay về phía tôi, bấy giờ tôi mới nhận ra đó chỉ là một người đàn ông to lớn khoác da gấu mà thôi.

Nói chính xác thì là một cái áo choàng bằng da gấu, trên cổ gài một chiếc ghim cài áo dát bạc to bằng lòng bàn tay tôi, có hình hai con hươu đang nhảy lên, lưng uốn cong và đầu chụm vào nhau tạo thành một vòng tròn.

Tôi để ý đến chi tiết của chiếc ghim cài áo vì nó ở ngay trước mũi tôi. Khi ngước lên, tôi thoáng có ý nghĩ mình đã nhìn nhầm; có lẽ đây thực sự một con gấu.

Tuy nhiên, lũ gấu không đeo ghim cài áo hay có đôi mắt như trái việt quất: nhỏ, tròn và có màu xanh sẫm sáng ngời. Chúng chìm lỉm trong đôi má sệ phủ kín những sợi râu lốm đốm bạc. Mái tóc hoa râm rủ xuống bờ vai chắc nịch, hòa quyện với lớp lông áo choàng sực nức mùi chủ nhân cũ của nó.

Đôi mắt nhỏ sắc sảo liếc nhìn tôi từ đầu đến chân, đánh giá bộ trang phục tuy xộc xệch nhưng có chất liệu khá tốt mà tôi đang mặc, thậm chí không bỏ sót hai chiếc nhẫn cưới bằng vàng và bạc. “Con gấu” dựa vào sự đánh giá đó để xưng hô.

“Có vẻ như cô đang gặp chút khó khăn, thưa phu nhân,” ông ta trịnh trọng nói, gật đầu. Cái đầu to lớn vẫn còn phủ một lớp tuyết đang tan chảy. “Chúng tôi giúp được gì cho cô chăng?”

Tôi do dự không biết nói gì. Tuy rất cần sự giúp đỡ của người đàn ông này nhưng tôi sẽ bị nghi ngờ ngay khi cất giọng nói, bởi vì nó sẽ tiết lộ tôi là người Anh. Tuy nhiên, người cung thủ đưa tôi đến đây đã lên tiếng trước tôi.

“Tôi tìm thấy cô ấy gần Wentworth,” anh ta nói ngắn gọn. “Đang đánh nhau với chó sói. Một cô nàng người Anh,” anh ta nói thêm, sự nhấn mạnh ấy khiến đôi mắt giống như trái việt qưất của vị chủ nhà gắn chặt vào tôi với vẻ suy đoán khó chịu. Tôi ưỡn thẳng người và cố hết sức để ra dáng một mệnh phụ.

“Sinh ra là người Anh, nhưng lấy chồng người Scot,” tôi rắn rỏi nói. “Tôi là Claire Fraser, chồng tôi là một tù nhân trong ngục Wentworth.”

“Tôi hiểu,” con gấu chậm rãi nói. “Tôi là MacRannoch, hiện giờ cô đang ở trên lãnh địa của tôi. Qua cách ăn mặc của cô, tôi có thể thấy cô là phu nhân của một gia tộc nào đó; tại sao cô lại ở một mình trong rừng Eldridge vào một buổi tối mùa đông như thế này?”

Vậy là tôi đã nắm được cơ hội để trình bày hoàn cảnh của mình và tìm ra Murtagh cùng Rupert.

“Tôi đến Wentworth với vài tộc viên trong thị tộc của chồng tôi. Vì tôi là người Anh nên chúng tôi nghĩ tôi có thể vào được nhà ngục và tìm được cách nào đó để, ờ, để cứu anh ấy. Tuy nhiên, tôi... tôi rời khỏi nhà ngục bằng một lối khác. Tôi đang tìm các bạn tôi thì bị lũ sói tấn công - đó là lúc quý ông tốt bụng này đã cứu tôi.” Tôi cố gắng nở nụ cười biết ơn với người cung thủ gầy giơ xương, nhưng anh ta đáp lại bằng sự im lặng lạnh lùng như đá.

“Đúng là cô đã gặp một thứ gì đó có răng,” MacRannoch đồng ý sau khi nhìn những vết rách há hoác trên váy tôi. Nỗi nghi ngờ tạm thời nhường chỗ cho lòng hiếu khách. “Cô có bị thương không? Hay chỉ bị trầy xước chút ít thôi? Chà, rõ ràng cô đang bị lạnh và hơi hoảng loạn. Lại ngồi bên đống lửa này đi! Hector sẽ lấy cho cô thứ gì đó để uống, rồi sau đó cô có thể kể thêm cho tôi nghe về những người bạn của cô.” Ông ta lấy chân khều một cái ghế đẩu ba chân xù xì và dùng bàn tay đồ sộ ấn tôi ngồi xuống.

Lửa than bùn tỏa ít ánh sáng nhưng ấm áp dễ chịu. Tôi vô thức rùng mình khi hai bàn tay đông cứng vì giá buốt bắt đầu có cảm giác.

Một vài ngụm rượu từ cái bình dẹt bằng da mà Hector miễn cưỡng đem tới khiến cho máu huyết trong cơ thể tôi lưu thông trở lại.

Tôi cố gắng giải thích tình cảnh của mình nhưng vẫn không được rõ ràng lắm. Sự miêu tả qua loa về cách ra khỏi nhà ngục và cuộc chạm trán tay đôi với con sói sau đó khiến họ đặc biệt nghi ngờ.

“Cho dù cô xoay xở vào được Wentworth, không thể có chuyện Ngài Fletcher cho phép cô đi lang thang trong đó. Cũng như nếu Đại úy Randall tìm thấy cô trong địa lao, hắn không đời nào dẫn cô ra ngoài qua cửa hậu.”

“Hắn... hắn có lý do để thả tôi đi.”

“Lý do gì?” Đôi mắt việt quất lộ rõ sự cứng rắn.

Tôi bỏ cuộc và đành nói toạc sự thật; tôi đã quá mệt mỏi với việc ăn nói lấp liếm và quanh co rồi.

MacRannoch có vẻ hơi tin, nhưng vẫn chưa sẵn sàng tỏ ý định giúp đỡ.

“Vâng, tôi hiểu sự lo lắng của cô,” ông ta nói lý, “tuy nhiên, chuyện đó có thể cũng không đến nỗi tệ lắm.”

“Không đến nỗi tệ lắm ư!” Tôi giận dữ đứng bật dậy.

Ông ta lắc lắc đầu như thể đang bị đám ruồi quấy rầy. “Ý tôi là,” ông ta giải thích, “nếu hắn thích cái mông của anh chàng đó thì hắn sẽ không làm hại anh ta. Và, thứ lỗi cho tôi khi nói câu này, thưa cô” - ông ta nhướng một bên lông mày rậm rạp - “hiếm khi có người chết vì bị xâm nhập từ đằng sau.” Ông ta giơ hai bàn tay to như đĩa xúp lên để xoa dịu tôi.

“Ồ, tôi không nói anh ta sẽ thích việc đó. Ý tôi là không nên đối đầu với Ngài Fletcher Gordon chỉ để cứu anh ta khỏi bị đau mông. Vị trí của tôi ở đây rất bấp bênh, cô biết đấy, rất bấp bênh.” Ông ta phồng má, nhướng mày với tôi.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi tiếc nuối vì trên đời này không có phù thủy thực sự. Nếu tôi là phù thủy, tôi sẽ biến ông ta thành một con cóc ngay lập tức. Một con cóc béo ú chi chít mụn.

Tôi nén giận và cố gắng thuyết phục ông ta lần nữa.

“Tôi nghĩ lúc này không thể cứu được cái mông của anh ấy nữa rồi; thứ tôi quan tâm là cái cổ của anh ấy kìa. Quân Anh định treo cổ anh ấy vào sáng mai.”

MacRannoch lẩm bẩm một mình, lượn đi lượn lại như một con gấu bị nhốt trong một cái chuồng quá nhỏ. Ông ta dừng lại đột ngột trước mặt tôi và gí mũi vào cách mũi tôi có hai, ba phân. Nếu không vì quá mệt mỏi thì tôi đã rụt người lại rồi. Thay vì thế, tôi chỉ chớp chớp mắt.

“Nếu tôi nói tôi sẽ giúp cô thì cũng có ích gì chứ?” Ông ta gầm lên, quay người và bước hai bước về phía một bức tường, rồi lại xoay lại, bước hai bước về phía bức tường đối diện. Ông ta vừa đi vừa nói theo nhịp bước chân và dừng lại để thở phù phù khi ông ta quay trở lại.

“Nếu tôi đến chỗ Ngài Fletcher, tôi sẽ nói gì? “Trong đám lính của ngài có một gã đại úy thích tra tấn tù nhân trong lúc rảnh rỗi” à? Và khi ông ta hỏi làm thế nào mà tôi biết được điều đó, tôi sẽ kể cho ông ta nghe rằng người của tôi đã tìm thấy một cô nàng Sassenach bị lạc đường đang lang thang trong bóng tối, và cô ta kể cho tôi nghe rằng gã đại úy đó đang làm những trò đồi bại với chồng cô ta - một kẻ ngoài vòng pháp luật bị truy nã, đồng thời là một tên sát nhân bị kết án tử hình?”

MacRannoch dừng lại và đấm vào mặt bàn mỏng manh. “Cả việc đưa người vào nhà ngục nữa! Nếu, xin cô nhớ cho, tôi nói là nếu chúng ta có thể vào đó...”

“Các ông có thể vào đó,” tôi ngắt lời. “Tôi có thể chỉ cách cho ông.”

“Ừmmm. Cứ coi như là có thể đi. Nếu chúng ta vào được trong đó, chuyện gì sẽ xảy ra khi Ngài Fletcher thấy người của tôi lang thang khắp pháo đài của ông ta? Ông ta sẽ sai Đại úy Randall mang hai khẩu đại bác đến san phẳng Eldridge Hall vào sáng hôm sau. Chính là thế đây!” Ông ta lại lắc đầu, khiến cho những lọn tóc đen bay bay. “Không, cô gái à, tôi không thể...”

Lời nói của ông ta bị cắt ngang khi cánh cửa đột ngột mở ra. Một cung thủ khác xuất hiện. Murtagh đang đi đằng trước anh ta, bị khống chế bằng một mũi dao. MacRannoch ngừng lại và sửng sốt nhìn chằm chằm.

“Chuyện gì thế này?” Ông ta hỏi. “Cứ như bây giờ đang là lễ Mừng xuân và các chàng trai cô gái đều vào rừng hái hoa, chứ không phải là mùa đông ảm đạm với mưa tuyết và băng giá vậy!”

“Đây là một tộc viên của chồng tôi,” tôi nói. “Như tôi đã kể với ông...”

Chẳng mảy may bận tâm đến sự chào đón thiếu thân thiện của MacRannoch, Murtagh chăm chú nhìn kĩ thân hình mặc áo da gấu trước mặt, như thể đang thầm giật đi mái tóc và vài chục năm tuổi tác trên người đối phương.

“MacRannoch phải không?” Ông nói với giọng gần như là khẳng định. “Tôi nghĩ trước kia ông từng tới dự một lễ tụ hội ở lâu đài Leoch?”

MacRannoch vô cùng kinh ngạc. “Lâu lắm rồi! Phải gần ba mươi năm rồi. Làm sao ông biết được?”

Murtagh gật đầu, hài lòng. “Ồ, tôi nghĩ vậy. Tôi cũng có mặt ở đó mà. Và tôi vẫn còn nhớ lễ tụ hội năm ấy, chắc là cũng có cùng lý do như ông đấy.”

MacRannoch săm soi người đàn ông nhỏ bé, khô đét, cố gắng rút bớt ba mươi năm tuổi tác trên khuôn mặt nhăn nheo của Murtagh.

“À, tôi biết ông,” cuối cùng, ông ta nói. “Không biết tên, nhưng biết mặt. Một mình ông đã giết chết một con lợn lòi bị thương bằng dao găm trong buổi đi săn. Đó là một con thú rất dữ tợn. Đúng vậy, Lãnh chúa MacKenzie đã cho ông cặp răng nanh của nó - một cặp răng nanh xinh đẹp, có độ cong gần như hoàn hảo. Cừ lắm, ông bạn!” Ánh mắt gần như tán thưởng của MacRannoch khiến đôi má rỗ hoa của Murtagh thoáng hiện lên những nếp nhăn.

Tôi giật mình, nhớ đến cặp vòng tay hoang dã xinh đẹp mà tôi đã thấy ở Lallybroch. Của mẹ chị, Jenny đã nói, một người ngưỡng mộ đã tặng cho bà. Tôi nhìn Murtagh chằm chằm với vẻ không tin nổi. Ngay cả khi bỏ đi ba mươi năm tuổi tác, trông ông vẫn chẳng hề có dáng vẻ của một kẻ si tình.

Nghĩ đến Ellen MacKenzie, tôi nhớ đến chuỗi ngọc trai của bà mà tôi vẫn luôn mang theo bên mình bằng cách khâu vào đường may của cái túi trên váy. Tôi lần tìm đầu không bị khâu lại của chuỗi hạt, kéo nó ra ánh lửa.

“Tôi có thể trả công cho ông,” tôi nói. “Tôi không dám hy vọng người của ông mạo hiểm tính mạng chẳng vì cái gì.”

Ông ta thoăn thoắt bước tới nhanh hơn tôi nghĩ, giật lấy chuỗi ngọc trai từ tay tôi, rồi nhìn nó chằm chằm như không tin vào mắt mình.

“Cô lấy thứ này ở đâu vậy?” Ông ta hỏi. “Fraser, cô nói họ của cô là Fraser phải không?”

“Vâng.” Dù mệt mỏi, tôi vẫn cố đứng thẳng. “Và chuỗi ngọc trai này là của tôi. Chồng tôi tặng nó cho tôi trong ngày cưới.”

“Vậy sao?” Giọng nói khàn khàn đột nhiên lặng đi. Vẫn cầm chuỗi ngọc trai, ông ta quay sang Murtagh.

“Con trai của Ellen, phải không? Chồng của cô gái này là con trai của Ellen, phải không?”

“Phải,” Murtagh nói, giọng vẫn thản nhiên như mọi khi. “Ông sẽ biết ngay nếu ông nhìn thấy cậu ta; cậu ta giống bà ấy như đúc.”

Cuối cùng, MacRannoch cũng để ý đến chuỗi ngọc trai mình đang cầm. Ông ta xòe tay ra và nhẹ nhàng vuốt ve những viên ngọc sáng bóng.

“Tôi đã tặng Ellen MacKenzie chuỗi ngọc trai này,” ông ta nói, “để làm quà cưới. Tôi đã muốn tặng nó cho bà ấy khi bà ấy trở thành vợ tôi, nhưng vì bà ấy đã chọn người khác - chà, tôi đã luôn nghĩ đến cảnh nó được đeo trên cần cổ xinh đẹp của bà ấy, và tôi không thể chịu nổi nếu nó nằm trên cổ một ai khác. Vì vậy, tôi kiên quyết bắt bà ấy giữ nó và chỉ được nghĩ về tôi mỗi khi bà ấy đeo nó. Hừm!” Ông ta thoáng hừ mũi trước một ký ức nào đó, rồi cẩn thận đưa trả chuỗi ngọc trai cho tôi.

“Bây giờ nó là của cô. Hãy đeo nó trong tình trạng sức khỏe tốt nhất, cô gái.”

“Tôi sẽ có cơ hội làm vậy,” tôi nói, cố gắng kiềm chế sự sốt ruột, “nếu ông giúp tôi cứu chồng tôi về.”

Cái miệng nhỏ hồng hào đang tủm tỉm trước một ý nghĩ nào đó của chủ nhân đột nhiên mím chặt lại.

“Chà,” Ngài Marcus nói, vân vê râu. “Tôi hiểu. Nhưng như tôi đã nói với cô, tôi không biết phải thực hiện bằng cách nào. Tôi có vợ và ba đứa con ở nhà. Ầy, tôi sẽ làm một điều gì đó cho con trai của Ellen. Nhưng việc cô đòi hỏi thì hơi quá.”

Chân tôi đột nhiên mềm nhũn, tôi ngồi phịch xuống, buông thõng hai vai, đầu cúi gục. Nỗi thất vọng níu lấy tôi như một cái mỏ neo. Tôi nhắm mắt và thu mình vào một khoảng không trống rỗng xám xịt đầy đau đớn ở bên trong, và giọng tranh cãi của Murtagh chỉ còn giống như một tiếng càu nhàu yếu ớt.

Bỗng có tiếng gia súc rống đánh thức tôi khỏi trạng thái ngẩn ngơ. Tôi ngẩng đầu lên, thấy MacRannoch đang lao ra khỏi nhà như một cơn lốc. Khi ông ta mở cửa, luồng không khí mùa đông xộc vào, mang theo tiếng kêu của gia súc và tiếng người la hét. Cánh cửa đóng sập lại đằng sau thân hình lông lá to lớn, và tôi quay sang định hỏi Murtagh xem chúng tôi nên làm gì tiếp theo.

Nhưng vẻ mặt ông khiến tôi không thốt nên lời. Khuôn mặt hầu như lúc nào cũng quàu quạu ấy lúc này lại ánh lên sự phấn khích bị kìm nén.

Tôi nắm lấy cánh tay ông. “Có chuyện gì vậy? Mau nói cho tôi biết đi!”

Ông chỉ kịp nói: “Đàn bò! Chúng là của MacRannoch!”, trước khi MacRannoch đẩy một chàng trai trẻ cao gầy vào trong nhà.

Cú đẩy cuối cùng của ông ta khiến chàng trai trẻ ngã chúi vào bức tường quét vữa. Dường như MacRannoch coi sự đối mặt là một phương pháp đầy tính hiệu quả, vì ông lại áp dụng cái kỹ thuật “mũi đối mũi” giống như đã làm với tôi lúc nãy. Chẳng rõ là do kém bình tĩnh hay ít mệt mỏi hơn tôi mà chàng trai trẻ căng thẳng dán sát người vào bức tường.

MacRannoch bắt đầu bằng cách nhẹ nhàng nói lý lẽ: “Absalom, ba giờ trước ta đã sai cậu đi lùa bốn mươi con bò về. Ta đã nói cậu phải tìm chúng bằng được, bởi vì sắp có một trận bão tuyết khủng khiếp.” Giọng nói trầm bổng bắt đầu cao dần. “Và khi ta nghe tiếng bò rống ở bên ngoài, ta đã tự nhủ: A, Marcus, Absalom đã tìm được cả đàn bò về rồi đấy, cậu ta quả là giỏi, giờ thì chúng ta có thể về nhà sưởi ấm bên ngọn lửa, với đàn bò được nhốt an toàn trong chuồng.”

Bàn tay múp míp nắm chặt cổ áo Absalom. Chiếc áo bắt đầu rúm ró lại.

“Thế rồi ta liền ra ngoài để chúc mừng cậu đã làm tốt công việc, và bắt đầu đếm đàn gia súc. Và ta đếm được bao nhiêu, Absalom?” Giọng nói đã biến thành một tiếng gầm dữ dội. Dù chất giọng không quá trầm nhưng Marcus MacRannoch phải có lá phổi to gấp ba lần một người đàn ông có vóc dáng bình thường.

“Mười lăm!” Ông ta hét to, nhấc anh chàng Absalom bất hạnh lên. “Nó tìm được mười lăm trong tổng số bốn mươi con! Vậy những con còn lại ở đâu? Ở đâu? Bị thả rông ngoài trời tuyết cho chết cóng!”

Murtagh đã lặng lẽ lui vào một góc tối. Ánh mắt ông lóe lên tia thích thú khi nghe thấy những lời này. Tôi chợt hiểu ra điều ông định nói với tôi lúc nãy, và tôi biết hiện giờ Rupert đang ở đâu. Chí ít tôi cũng biết ông ta đang làm gì. Và tôi bắt đầu nhen nhóm chút hy vọng.

•••

Trời tối mịt. Ánh đèn nhà ngục tỏa sáng yếu ớt qua màn tuyết rơi như những ngọn đèn của một con tàu đắm. Chờ đợi bên dưới rặng cây với hai người bạn đồng hành, tôi thầm nhắc lại lần thứ một nghìn rằng mọi chuyện có thể không được suôn sẻ.

MacRannoch có thực hiện theo đúng thỏa thuận không? Hẳn rồi, nếu ông ta muốn lấy lại đàn gia súc cao nguyên thuần chủng quý giá của mình. Ngài Fletcher có tin MacRannoch và ra lệnh lục soát các địa lao dưới tầng hầm ngay lập tức không? Chắc là có - vì ông lão tòng nam tước ấy không phải là người có thể coi thường được.

Tôi đã nhìn thấy đàn gia súc nối đuôi nhau biến mất trong con rãnh dẫn tới cánh cửa bí mật của nhà ngục dưới sự điều khiển thành thạo của Rupert và người của ông ta. Nhưng liệu họ có thể ép chúng đi qua cánh cửa đó, dù là từng con một, hay không? Nếu có, bầy gia súc bán hoang dã ấy sẽ làm gì khi đã lọt vào bên trong, đột ngột bị mắc kẹt trong một hành lang bằng đá được thắp sáng bởi ánh đuốc chói lòa? Chà, có lẽ biện pháp ấy sẽ có hiệu quả. Cái hành lang được thắp đuốc và đầy mùi của con người ấy không phải là không giống cái chuồng gia súc có sàn lát đá của chúng. Nếu chúng lọt được vào đó, kế hoạch có thể thành công. Randall không thể cầu cứu trước cuộc xâm nhập vì sợ bị lộ tẩy những trò giải trí nho nhỏ của hắn.

Những người điều khiển phải rời khỏi nhà ngục càng nhanh càng tốt sau khi bầy gia súc đã được lùa vào trong và phi ngựa hết tốc lực về thị tộc MacKenzie. Chẳng cần phải bận tâm tới Randall; một mình hắn thì có thể làm gì trong hoàn cảnh này chứ? Nhưng nhỡ đâu tiếng ồn thu hút đám lính trong nhà ngục quá sớm thì sao? Dougal vốn không muốn cố gắng cứu cháu trai ra khỏi Wentworth, vì vậy tôi có thể hình dung ra sự tức giận của ông ta nếu vài người MacKenzie bị bắt vì đột nhập vào nơi này. Tôi cũng không muốn chịu trách nhiệm cho điều đó dù Rupert sẵn sàng mạo hiểm. Tôi cắn ngón tay cái và cố tự an ủi mình bằng cách nghĩ đến hàng tấn đá hoa cương rắn chắc, kín bưng ngăn cách các địa lao với khu vực nhà ngục bên trên.

Đương nhiên, điều đáng lo ngại nhất là mọi việc diễn ra suôn sẻ nhưng lại quá trễ. Dù Jamie là tù phạm sắp bị đem ra hành quyết nhưng Randall có thể làm gì đó quá giới hạn. Từ các câu chuyện của những người lính trở về từ các trại POW[1], tôi biết rất rõ rằng chẳng có gì dễ dàng hơn việc một tù nhân bị chết vì “tai nạn”, và thi thể của anh ta sẽ được xử lý gọn ghẽ trước khi những câu hỏi đáng ngại xuất hiện. Ngay cả khi các câu hỏi được đặt ra và hành vi của Randall bị phát hiện thì điều đó cũng sẽ chẳng giúp tôi - và Jamie - cảm thấy thanh thản hơn.

Tôi quyết tâm không nghĩ đến công dụng của những món đồ vật xấu xí, thô kệch trên cái bàn trong phòng giam, nhưng trong đầu tôi cứ hiện lên hình ảnh ngón tay gãy của Jamie ấn chặt vào bàn. Tôi xoa mạnh các đốt ngón tay vào lớp da trên yên ngựa, cố gắng xóa bỏ hình ảnh đó. Cảm thấy hơi rát, tôi bèn cởi găng tay để kiểm tra những dấu răng của con sói trên bàn tay tôi. Không tệ lắm, chỉ có vài vết xước với một lỗ thủng nhỏ do bị răng nanh của con sói đâm xuyên qua lớp da của găng tay. Tôi lơ đãng liếm vết thương. Dù tôi có tự nhủ biết bao lần rằng mình đã làm hết sức những gì có thể nhưng điều đó cũng chẳng làm cho việc chờ đợi trở nên dễ dàng.

Cuối cùng, chúng tôi nghe thấy tiếng hò hét văng vẳng vọng đến từ phía nhà ngục. Một trong hai người thuộc hạ của MacRannoch chạm vào dây cương con ngựa của tôi và ra hiệu cho tôi đi về phía lùm cây. Mặc dù ở đây tuyết rơi thưa hơn do những nhánh cây đan xen chằng chịt đã chặn lại phần nào cơn mưa tuyết nặng nề phía trên đầu, nhưng tầm nhìn vẫn kém đến nỗi những thân cây cách độ một mét chỉ là những cái bóng mờ mờ khi tôi sốt ruột thúc ngựa đi quanh khoảnh đất trống nhỏ.

Chúng tôi hầu như không nghe thấy tiếng vó ngựa trên nền tuyết cho đến khi chúng tới gần. Hai người MacRannoch rút súng ra và thúc ngựa tới gần lùm cây, chờ đợi, nhưng tôi đã nghe thấy tiếng rống đùng đục của bầy gia súc và giục ngựa đi ra khỏi lùm cây.

Nổi bật với con ngựa ô bắc và cái áo choàng da gấu, Ngài Marcus MacRannoch đang dẫn đầu đoàn đi lên dốc, tuyết bắn lên tung tóe dưới vó ngựa của ông ta. Đằng sau ông ta là mấy người đàn ông, nghe tiếng là đủ biết tất cả bọn họ đều đang rất phấn khích. Phía xa xa còn nhiều người đàn ông nữa đang lùa bầy gia súc hoảng loạn quanh chân đồi, hướng về chỗ trú ẩn xứng đáng của chúng trong các chuồng gia súc của MacRannoch.

MacRannoch thúc ngựa tới chỗ tôi, cười sảng khoái. “Tôi phải cảm ơn cô, phu nhân Fraser,” ông ta hét lên qua màn tuyết, “vì một buổi tối thú vị.” Nỗi nghi ngờ trước đây đã tan biến và ông ta chào tôi với sự vui vẻ tột độ. Tuyết bám đầy trên lông mày và râu của ông ta, khiến ông ta trông giống như Ông già Noel đang đi bù khú. Ông ta cầm lấy dây cương con ngựa của tôi, dẫn nó quay trở lại chỗ lùm cây tĩnh lặng. Sau khi ra hiệu cho hai người bạn đồng hành của tôi xuống đồi để giúp lùa đàn gia súc, ông ta xuống ngựa rồi đỡ tôi xuống, suốt lúc đó vẫn cười khùng khục.

“Giá mà cô được chứng kiến cảnh đó!” Ông ta ôm bụng, cười như nắc nẻ. “Mặt Ngài Fletcher đỏ phừng phừng như ức chim cổ đỏ lúc tôi lao vào giữa bữa tối của ông ta, hét lên rằng ông ta đang che giấu tài sản ăn cắp. Đến khi chúng tôi xuống dưới tầng hầm và ông ta nghe thấy tiếng lũ bò rống lên như sấm, tôi nghĩ ông ta đã són ra quần. Ông ta...”

Tôi sốt ruột lắc lắc cánh tay MacRannoch.

“Kệ xác cái quần của Ngài Fletcher. Ông có tìm thấy chồng tôi không?”

MacRannoch ngừng cười, lấy tay áo lau mắt. “Ồ, có chứ! Chúng tôi đã tìm thấy anh ta.”

“Anh ấy vẫn ổn chứ?” Tôi điềm tĩnh nói, dù trong lòng muốn hét lên.

MacRannoch hất đầu về phía rặng cây đằng sau tôi. Tôi xoay người lại và thấy một người đang cẩn thận điều khiển ngựa len lỏi qua những nhành cây, một thân hình vạm vỡ phủ vải nằm vắt vẻo ở đằng trước yên ngựa của anh ta. Tôi lao tới, MacRannoch chạy theo sau, giải thích: “Anh ta chưa chết, ít nhất là anh ta vẫn còn sống lúc chúng tôi tìm thấy anh ta. Nhưng chàng trai tội nghiệp đã bị hành hạ một chút!”

Tôi gạt tấm vải phủ trên đầu Jamie sang một bên và lo lắng kiểm tra người anh một cách kĩ càng nhất có thể khi con ngựa cứ bồn chồn kích động bởi chuyến đi lạnh lẽo và gánh nặng gấp đôi trên thân mình. Tôi có thể nhìn thấy những vết thâm tím và sờ thấy những cục u cứng đờ trong mái tóc bù xù, nhưng không thể thấy gì hơn dưới ánh sáng lờ mờ. Tôi nghĩ mình cảm nhận được mạch đập ở cái cổ lạnh giá của anh, nhưng không chắc chắn lắm.

MacRannoch nắm lấy khuỷu tay tôi và kéo tôi ra. “Chúng ta phải mau chóng đưa cậu ấy tới nơi ấm áp. Đi với tôi nào! Hector sẽ mang cậu ấy về nhà.”

Trong phòng khách chính của trang viên Eldridge, nhà của MacRannoch, Hector “trút gánh nặng” của mình lên tấm thảm trước lò sưởi. Nắm lấy một góc chăn, anh ta cẩn thận trải nó ra, một thân hình trần truồng, mềm nhũn liền lăn xuống những bông hoa thêu màu hồng và vàng vốn là niềm kiêu hãnh và niềm vui của phu nhân Annabelle MacRannoch.

Phu nhân Annabelle thật đáng ca ngợi, bà có vẻ không để ý đến việc tấm thảm Aubusson đắt tiền của mình bị máu thấm vào. Bà mới ngoài bốn mươi tuổi, trông giống như một chú chim kim oanh trong chiếc váy lụa màu vàng chói sáng như ánh mặt trời. Với một cái vỗ tay đanh thép, bà sai các gia nhân hối hả tỏa đi mọi hướng, và những cái chăn, những miếng vải lanh, nước nóng và rượu whisky xuất hiện ngay trong tầm tay tôi gần như trước cả khi tôi cởi xong áo choàng.

“Tốt hơn hết là lật cậu ta nằm sấp,” Ngài Marcus khuyên, rót ra hai ly whisky lớn. “Lưng cậu ta bị tróc hết rồi, nằm ngửa hẳn sẽ đau dữ lắm. Dù cậu ta có vẻ chẳng cảm nhận được gì,” ông ta nói thêm, nhìn kĩ khuôn mặt nhợt nhạt và hai mí mắt thâm tím, khép chặt của Jamie. “Cô chắc là cậu ta vẫn còn sống chứ?”

“Chắc,” tôi đáp ngắn gọn, hy vọng mình nghĩ đúng. Tôi cố gắng lật Jamie lại. Tình trạng bất tỉnh dường như làm anh nặng hơn gấp ba lần. MacRannoch giúp tôi đặt anh lên một tấm chăn.

Kiểm tra sơ qua cho thấy anh vẫn còn sống, không thiếu bộ phận nào và không có nguy cơ chảy máu đến chết, vì vậy tôi có thể kiểm tra thương tích của anh một cách chậm rãi, kĩ lưỡng hơn.

“Tôi có thể sai người đi gọi thầy thuốc,” phu nhân Annabelle nói, nghi ngại nhìn thân hình giống như một xác chết trước mặt lò sưởi, “nhưng tôi nghĩ phải hơn một tiếng nữa ông ấy mới đến được; tuyết đang lớn quá!” Sự miễn cưỡng trong giọng bà chỉ một phần là vì tuyết. Một thầy thuốc là nhân chứng nguy hiểm đối với việc có một tội phạm vượt ngục đang ở trong nhà bà.

“Không cần đâu,” tôi hờ hững nói, “tôi chính là thầy thuốc.” Lờ đi ánh mắt kinh ngạc của cả hai vợ chồng MacRannoch, tôi quỳ bên cạnh chồng tôi, đắp chăn lên người anh và bắt đầu nhúng những mảnh vải vào nước nóng để lau tay chân anh. Mối bận tâm lớn nhất của tôi là giúp anh ấm áp; máu ở lưng anh chỉ rỉ ra chầm chậm, vì vậy tôi có thể xử lý nó sau.

Phu nhân Annabelle đã đi ra xa, giọng nói kim oanh cao vút của bà gọi người này, ra lệnh cho người kia, sắp xếp mọi việc. Chồng bà ngồi xổm bên cạnh tôi, những ngón tay múp míp của ông bắt đầu xoa xoa hai bàn chân tê cóng của Jamie một cách thuần thục. Thi thoảng ông lại dừng lại để nhấp rượu whisky.

Tôi lật chăn lên từng chút một, kiểm tra tình trạng thương tổn. Từ gáy đến khoeo chân anh chằng chịt vết roi, những lằn roi đan chéo nhau gọn gàng như những mũi khâu giua. Điều đó chứng tỏ mỗi cú quất đều rất khoan thai, thong thả, khiến tôi nghẹn ngào vì phẫn nộ.

Thứ gì đó nặng nề hơn, có lẽ là một cây gậy chống, đã vụt vào vai anh không khoan nhượng. Có vài chỗ vết thương sâu đến nỗi lộ cả xương. Tôi nhẹ nhàng ấn một miếng xơ vải dày lên vết thương tồi tệ nhất trong mớ hỗn độn ấy và tiếp tục kiểm tra.

Trên sườn trái có một vết sưng giập xấu xí do bị búa đập vào, thâm đen một mảng to hơn cả bàn tay của Ngài Marcus. Chắc chắn xương sườn ở đó đã bị gãy, nhưng chúng cũng có thể đợi xử lý sau. Ánh mắt tôi bị thu hút bởi những mảng da rúm ró, đỏ lừ và phồng rộp trên cổ và ngực anh. Trong đó có một mảng còn bị cháy đen ở quanh các mép.

“Thứ quái quỷ gì đã gây ra những vết đó?” Ngài Marcus đã làm xong việc của mình và đang chăm chú nhòm qua vai tôi.

“Một que cời lửa nóng.” Giọng nói yếu ớt và không rõ ràng; phải mất một giây tôi mới nhận ra người vừa lên tiếng là Jamie. Anh ráng sức ngẩng đầu lên, cho tôi thấy được lý do vì sao giọng nói của anh lại khó nghe đến thế. Môi dưới của anh bị cắn một cách tàn bạo và sưng vù lên như bị ong đốt.

Ngài Marcus nhanh trí đặt tay sau cổ Jamie và ấn cốc whisky vào miệng anh. Jamie nhăn nhó khi rượu thấm vào làm đau nhói cái miệng bị rách, nhưng anh vẫn uống cạn cốc rượu trước khi lại ngả đầu xuống. Hai mắt anh nhìn xéo lên tôi, hơi lờ đờ vì đau đớn và tác dụng của whisky, nhưng vẫn ánh lên vẻ thích chí. “Đàn bò?” Anh hỏi. “Là thật hay là lúc ấy anh đang mơ?”

“Chà, đó là tất cả những gì em có thể xoay xở lúc bấy giờ,” tôi nói, cười tươi rói, nhẹ nhõm khi thấy anh còn sống và tỉnh táo. Tôi xoay đầu anh lại để kiểm tra một vết bầm lớn phía trên gò má. “Trông anh gớm quá! Anh cảm thấy thế nào?” Tôi hỏi, theo thói quen đã có từ lâu.

“Còn sống.” Anh gắng chống khuỷu tay nhổm dậy để gật đầu, nhận cốc whisky thứ hai từ Ngài Marcus.

“Anh thực sự nghĩ mình nên uống nhiều rượu như vậy một lúc ư?” Tôi hỏi, cố gắng kiểm tra đồng tử của anh để tìm kiếm những dấu hiệu của sự chấn động. Anh nhắm mắt lại và ngửa đầu ra sau khiến tôi chẳng xem xét được gì cả.

“Ừ,” anh nói, đưa trả cái cốc rỗng cho Ngài Marcus. Ông ta lại mang nó tới chỗ bình rượu.

“Nào, thế là đủ rồi, Marcus.” Phu nhân Annabelle đã quay trở lại như mặt trời mọc ở đằng đông, ngăn chồng mình bằng giọng nói thỏ thẻ nhưng đầy quyền uy. “Chàng trai này cần trà đặc nóng chứ không phải thêm nhiều whisky nữa.” Một cô hầu gái bưng ấm trà bằng bạc đi ngay sau bà, vẻ duyên dáng tự nhiên của cô không hề bị suy suyển dù cô vẫn đang mặc váy ngủ.

“Trà đặc nóng với nhiều đường,” tôi sửa lại.

“Và có lẽ pha thêm một chút whisky nữa,” Ngài Marcus khéo léo mở nắp ấm trà và rót vào đó một lượng rượu lớn khi cô hầu gái bưng nó đi ngang qua mặt ông. Jamie nhận lấy cốc trà pha rượu bốc hơi nghi ngút với vẻ biết ơn, giơ nó lên để tỏ lòng tôn kính với Ngài Marcus trước khi thận trọng đưa nó lên miệng. Tay anh run lẩy bẩy, và tôi phải nắm lấy những ngón tay anh để hướng chiếc cốc tới miệng anh.

Thêm nhiều người hầu tới, mang đến một cái giường con, một tấm đệm, mấy mảnh chăn, băng vải, nước nóng, một cái rương gỗ to đùng đựng thuốc men và các dụng cụ y tế trong gia đình.

“Tôi nghĩ chúng ta nên chữa trị cho anh ta ngay trước lò sưởi này.” Phu nhân Annabelle giải thích với giọng kim oanh thánh thót quyến rũ. “Vì ở đây sáng hơn và là nơi ấm áp nhất trong nhà.”

Theo sự hướng dẫn của bà, hai người hầu nam to lớn mỗi người nắm lấy một đầu chăn mà Jamie đang nằm và thuần thục chuyển nó, với tất cả những gì ở trên nó, tới cái giường con hiện đã được kê bên lò sưởi. Một người hầu khác đang miệt mài cời những hòn than âm ỉ và thổi bùng ngọn lửa trong lò. Cô hầu gái mang trà đến đang thắp các dây nến sáp trong những ngọn chúc đài nhiều nhánh trên tủ búp phê. Mặc dù có ngoại hình như một chú chim, phu nhân Annabelle rõ ràng có tâm hồn của một thượng sĩ.

“Vâng, giờ anh ấy đã tỉnh rồi, nên bắt tay vào việc càng sớm càng tốt,” tôi nói. “Bà có một tấm gỗ phẳng dài chừng sáu mươi phân không,” tôi hỏi, “và một sợi dây bền chắc, với một ít que nhỏ dẹt và thẳng, dài khoảng bao nhiêu nhỉ?” Tôi xòe các ngón tay, ước lượng chiều dài khoảng mười phân. Thoắt cái, một người hầu đã biến mất vào bóng tối như một hồn ma để đi lấy những thứ tôi yêu cầu.

Cả tòa nhà như có ma thuật, có lẽ vì sự đối lập giữa cái lạnh tột độ bên ngoài và sự ấm áp xa hoa bên trong, hoặc chỉ vì sự nhẹ nhõm khi thấy Jamie vẫn được an toàn sau bao nhiêu giờ phút sợ hãi và lo lắng.

Những món đồ đạc tối sẫm, nặng nề ánh lên nước sơn bóng loáng dưới ánh đèn, những bộ đồ bạc tỏa sáng lấp lánh trên tủ búp phê, một bộ sưu tập đồ thủy tinh và đồ sứ tinh xảo trang trí cho mặt lò sưởi, tương phản kỳ lạ với thân hình máu me, ướt đẫm đằng trước nó.

Không một câu hỏi nào được đặt ra. Chúng tôi là khách của Ngài Marcus, còn phu nhân Annabelle cư xử như thể việc có người đến và làm dây máu lên tấm thảm vào lúc nửa đêm là một sự kiện hết sức bình thường. Tôi chợt nảy ra ý nghĩ rằng có thể trước đây chuyện này đã từng xảy ra.

“Khiếp quá!” Ngài Marcus nói khi kiểm tra bàn tay bị giập nát của Jamie với sự thành thạo sinh ra từ trên chiến trường. “Chắc là đau đớn lắm. Tuy nhiên, nó sẽ không thể giết chết cậu, đúng không?” Ông ta đứng thẳng lên và nói với tôi bằng giọng điệu bí mật. “Nghe những gì cô nói với tôi, tôi cứ tưởng tình trạng còn thê thảm hơn thế này. Ngoài xương sườn và bàn tay thì không còn cái xương nào bị gãy, và những vết thương còn lại cũng sẽ chóng lành thôi. Có lẽ cậu may mắn đấy, chàng trai.”

Thân hình nằm nghiêng trên giường khẽ phì cười.

“Đúng là may mắn thật. Chúng đã định treo cổ tôi vào sáng nay đấy.” Anh ngọ nguậy đầu trên gối, cố nhìn lên Ngài Marcus. “Ông có biết điều đó không... thưa ngài?” Anh nói thêm khi nhìn thấy chiếc huy hiệu được thêu bằng chỉ bạc giữa những con bồ câu và hoa hồng trên chiếc áo gi lê thêu của Ngài Marcus.

MacRannoch phẩy tay, gạt đi chi tiết nhỏ này.

“Chà, nếu hắn muốn vẫn có thể đem cậu ra trình diện trước giá treo cổ, vậy thì hắn đã hơi quá tay với cái lưng của cậu rồi,” Ngài Marcus nhận xét, cởi miếng xơ vải ướt sũng và thay thế nó bằng một miếng xơ vải mới.

“Vâng. Hắn hơi mất trí khi hắn... khi hắn...” Jamie cố gắng nói, rồi bỏ cuộc và quay mặt về phía ngọn lửa, nhắm mắt lại. “Chúa ơi, tôi mệt quá,” anh nói.

Chúng tôi để mặc anh nghỉ ngơi cho đến khi người hầu nam mang đến những thanh nẹp mà tôi đã đòi hỏi. Tôi cẩn thận nhấc bàn tay phải bị giập nát của Jamie lên, kiểm tra nó dưới ánh nến.

Phải chữa trị nó càng sớm càng tốt. Những thớ cơ bị tổn thương làm cho các ngón tay bị quặp vào trong. Tôi cảm thấy tuyệt vọng khi nhìn trọn vẹn mức độ thương tích. Tôi sẽ phải hết sức nỗ lực thì mới có thể giúp anh cử động được bàn tay này trở lại.

Trong lúc tôi kiểm tra, phu nhân Annabelle đứng ở một bên, chăm chú quan sát. Khi tôi đặt bàn tay của Jamie xuống, bà bước tới, mở cái rương đựng thuốc men và các dụng cụ y tế ra.

“Tôi cho là cô sẽ cần cây mần tưới, và có lẽ cả vỏ cây anh đào. Tôi không biết...” Bà nghi ngại nhìn Jamie. “Cô có cần đỉa không?” Bàn tay được chăm sóc kĩ lưỡng của bà đặt hờ trên một cái lọ nhỏ đậy nắp, đựng một thứ chất lỏng đen sì.

Tôi rùng mình, lắc đầu. “Không, tôi nghĩ là không cần đâu; không phải bây giờ. Thứ tôi cần là... bà có loại thuốc giảm đau nào không?” Tôi quỳ xuống bên cạnh bà để săm soi các thứ chứa trong rương.

“Ồ, có!” Bàn tay bà lập tức hướng đến một cái bình dẹt nhỏ màu xanh. “Hoa thuốc phiện,” bà đọc cái nhãn dán trên nó. “Có được không?”

“Tuyệt vời!” Tôi nhận cái bình với vẻ biết ơn.

“Nào,” tôi nói với Jamie, rót một lượng nhỏ thứ nước thơm nức ấy vào một cái cốc, “anh cần ngồi dậy để uống thứ này. Sau đó, anh sẽ ngủ thật lâu.” Thực ra, tôi hơi ngần ngại với việc cho anh dùng thuốc phiện sau khi anh đã uống nhiều whisky đến thế, nhưng sự lựa chọn còn lại - bó lại bàn tay gãy trong lúc anh tỉnh táo - là điều không thể tưởng tượng được. Tôi nghiêng cái bình để rót thêm một ít thuốc phiện nữa.

Bàn tay lành của Jamie đặt lên tay tôi để ngăn tôi lại.

“Anh không muốn uống thuốc,” anh kiên quyết nói. “Có lẽ chỉ cần thêm một ít whisky nữa là được” - anh ngập ngừng, liếm cái môi sưng vù - “và thứ gì đó để cắn.”

Nghe thấy thế Ngài Marcus liền đi tới cái bàn kiểu Sheraton xinh đẹp nằm trong một góc và bắt đầu lục lọi. Một lát sau, ông ta quay lại, mang theo một miếng da nhỏ sờn rách. Nhìn kĩ hơn, tôi có thể thấy hàng tá vết lõm hình bán nguyệt chồng chéo lên nhau trên lớp da dày - và kinh hoàng nhận ra đó chính là dấu răng.

“Đây,” Ngài Marcus nói. “Tôi đã dùng thứ này ở St. Simone; nó đã giúp tôi chịu đựng trong suốt quá trình lấy một viên đạn hỏa mai ra khỏi chân.”

Tôi há hốc miệng khi nhìn Jamie cầm lấy miếng da và gật đầu cảm ơn, ngón tay cái mân mê các dấu răng. Tôi choáng váng, chậm rãi nói: “Anh thực sự muốn em bó lại chín cái xương gãy trong lúc anh tỉnh táo ư?”

“Ừ,” anh nói nhanh, đặt miếng da vào giữa hai hàm răng và cắn thử. Anh chỉnh nó tới lui để cảm thấy thoải mái nhất.

Nhìn thái độ kệch cỡm ấy, sự tự chủ của tôi đột nhiên sụp đổ.

“Anh đừng cố tỏ ra anh hùng rơm nữa được không!” Tôi nổi cơn tam bành với Jamie. “Chúng ta đều biết anh đã làm những gì, anh không cần phải chứng tỏ khả năng chịu đựng của mình! Hay anh nghĩ tất cả mọi người sẽ rã đám nếu không có anh kiểm soát, bảo người này làm cái này, người kia làm cái kia từng giây từng phút? Anh nghĩ anh là kẻ quái quỷ nào vậy, John Wayne[2] chết tiệt à!?”

Jamie im lặng nhìn tôi, miệng há hốc. Cuối cùng, anh nói: “Claire, chúng ta chỉ cách ngục Wentworth chừng hai dặm. Quân Anh định treo cổ anh vào sáng mai. Cho dù chuyện gì xảy ra với Randall, quân Anh sẽ nhanh chóng nhận ra anh đã biến mất.”

Tôi cắn môi. Anh nói đúng. Việc tôi vô tình phóng thích các tù nhân khác có thể làm rối tung mọi thứ trong một thời gian, nhưng cuối cùng quân Anh sẽ phải điểm danh lại các tù nhân và mở ra một cuộc tìm kiếm. Và nhờ biện pháp giải cứu khoa trương mà tôi đã lựa chọn, chúng chắc chắn sẽ đổ dồn sự chú ý vào trang viên Eldridge.

“Nếu chúng ta may mắn,” anh lặng lẽ tiếp tục, “tuyết sẽ trì hoãn cuộc tìm kiếm cho đến khi chúng ta rời đi. Nếu không...” Anh nhún vai, nhìn chằm chằm vào những ngọn lửa đang nhảy múa trong lò sưởi. “Claire, anh sẽ không để chúng bắt anh lại đâu. Nếu anh uống thuốc và bất lực nằm đây khi chúng đến, để rồi khi tỉnh dậy lại thấy mình bị còng trong xà lim... Claire, anh không thể chịu được điều đó.”

Tôi mở to mắt nhìn anh, không muốn chớp mắt vì sợ những giọt lệ đang rưng rung ở mi dưới sẽ lăn xuống má.

Anh nhắm mắt lại trước hơi nóng của lửa. Ánh lửa nhuộm hồng hai gò má trắng bệch của anh. Những thớ cơ dài ở cổ anh chuyển động khi anh nuốt khan.

“Đừng khóc, Sassenach,” anh nói khẽ đến nỗi tôi hầu như không nghe ra, rồi giơ bàn tay lành lặn ra vỗ vỗ chân tôi, cố gắng an ủi tôi. “Anh cho là chúng ta đang được an toàn. Nếu anh nghĩ chúng ta có thể bị bắt, anh chắc chắn sẽ không lãng phí một trong những giờ khắc cuối cùng của cuộc đời mình để chữa trị bàn tay mà anh sẽ không cần đến nữa. Đi kiếm Murtagh giúp anh đi! Rồi mang cho anh một cốc rượu và chúng ta sẽ tiếp tục việc này.”

Vì còn mải bận rộn chuẩn bị thuốc men và dụng cụ trên bàn nên tôi không thể nghe thấy anh nói gì với Murtagh, nhưng tôi nhìn thấy hai mái đầu thoáng chụm sát vào nhau, rồi bàn tay gầy guộc của Murtagh nhẹ nhàng chạm vào tai Jamie - một trong những chỗ hiếm hoi không bị thương trên người anh.

Murtagh gật đầu từ biệt rồi lẩn ra ngoài cửa, giống như một con chuột men dọc theo lớp ván ốp tường để không bị ai nhìn thấy. Tôi bám sau ông khi ông đi ra hành lang và nắm lấy cái áo choàng len trước khi ông thoát ra khỏi cửa chính.

“Anh ấy đã nói gì với ông vậy?” Tôi dữ dằn hỏi. “Ông đi đâu đấy?”

Người đàn ông nhỏ bé, gầy gò, đen đúa ngập ngừng trong một thoáng, rồi trả lời với giọng điềm tĩnh: “Tôi định cùng cậu Absalom đến Wentworth để canh chừng. Nếu thấy bất cứ tên Áo đỏ nào đi về phía này, tôi sẽ chạy về đây trước, và nếu có thời gian, tôi sẽ đưa cô và cậu ấy đi trốn, rồi cưỡi ba con ngựa đi để đánh lạc hướng những kẻ truy đuổi. Ở đây có một cái hầm rượu có thể dùng làm nơi ẩn náu, nếu cuộc tìm kiếm không kĩ lưỡng lắm.”

“Nếu không có thời gian để trốn thì sao?” Tôi nheo mắt nhìn ông, thách ông dám không trả lời.

“Vậy thì tôi sẽ giết cậu ấy và mang cô đi theo,” ông trả lời ngay tức khắc. “Dù cô có bằng lòng hay không,” ông nói thêm với một nụ cười tinh quái và quay người đi.

“Chờ đã!” Tôi gắt gỏng và ông dừng bước. “Ông có thừa con dao nào không?”

Cặp lông mày bẩn thỉu của ông nhướng lên, nhưng bàn tay lần tới thắt lưng không chút do dự.

“Cô cần dao à? Ở đây ư?” Ánh mắt ông liếc nhìn sự sang trọng và thanh bình ở tiền sảnh, với cái trần kiểu Adam được sơn vẽ và những tấm ván ô trang trí kiểu cuộn nếp vải.

Cái túi đựng dao găm của tôi đã bị rách đến mức không còn dùng được nữa. Tôi cầm lấy con dao ông đưa, luồn vào đằng sau thắt lưng giữa áo chẽn và áo dài, giống như những người phụ nữ du mục.

“Nào ai biết được chữ ngờ, đúng không?” Tôi điềm tĩnh nói.

•••

Chuẩn bị xong xuôi, tôi thăm dò các vết thương hết sức nhẹ nhàng, đánh giá mức độ tổn hại và quyết định xem mình phải làm gì. Jamie hít sâu một hơi khi tôi chạm vào một chỗ bị tổn thương rất nặng, nhưng anh vẫn nhắm mắt khi tôi chậm rãi sờ nắn, lần tìm vị trí của mỗi mảnh xương gãy và mỗi chỗ bị trật khớp. “Em xin lỗi,” tôi lẩm bẩm.

Tôi cầm cả bàn tay lành lặn của anh lên và cẩn thận sờ nắn dọc theo mỗi ngón của cả hai bàn tay để so sánh. Vì không có tia X hay kinh nghiệm, tôi sẽ phải trông cậy vào sự nhạy cảm của mình để tìm và nối lại những chiếc xương bị gãy.

Khớp đầu tiên thì ổn, nhưng đốt ngón thứ hai bị gãy. Tôi ấn mạnh hơn để xác định độ dài và hướng gãy. Bàn tay bị thương nằm bất động trong tay tôi, nhưng bàn tay lành lặn vô thức siết chặt.

“Em xin lỗi,” tôi lại thì thầm.

Bàn tay lành đột nhiên giằng ra khỏi tay tôi khi Jamie chống khuỷu tay nhổm dậy. Anh nhè miếng da ra, nhìn tôi với vẻ vừa buồn cười vừa bực tức.

“Sassenach,” anh nói, “nếu em cứ xin lỗi mỗi lần làm anh đau thì cả đêm cũng chưa xong được việc mất.”

Hẳn là trông tôi ngạc nhiên lắm bởi vì anh định giơ tay về phía tôi rồi ngừng lại, nhăn nhó vì đau. Nhưng anh nén đau và quả quyết nói: “Anh biết em không muốn làm anh đau, nhưng cả em và anh đều không có lựa chọn nào khác, và chỉ một trong hai ta phải chịu đau đớn là được rồi. Em cứ làm những gì cần thiết, và anh sẽ hét lên nếu anh buộc phải làm vậy.”

Đặt lại miếng da vào vị trí cũ, anh làm bộ hung dữ nhe hàm răng nghiến chặt về phía tôi, rồi cố ý làm lác mắt. Trông anh rất giống một con hổ kỳ dị khiến tôi không kìm nổi cười phá lên.

Tôi đưa tay lên bịt miệng, hai gò má đỏ bừng khi thấy vẻ mặt sửng sốt của phu nhân Annabelle và các gia nhân. Họ đứng ở đằng sau Jamie nên đương nhiên không thể nhìn thấy khuôn mặt anh. Thoáng nhìn thấy đôi chút từ chỗ ngồi của mình ở cạnh giường, Ngài Marcus cười toe.

“Hơn nữa,” Jamie nói, lại nhả miếng da ra, “nếu quân Anh xuất hiện sau chuyện này, anh nghĩ là mình sẽ van xin chúng bắt anh lại.”

Tôi nhặt miếng da lên, nhét nó vào giữa hai hàm răng của anh và đẩy đầu anh xuống.

“Chàng hề,” tôi nói. “Biết tuốt! Yêng hùng!” Nhưng anh đã giúp tôi trút được gánh nặng, khiến tôi làm việc điềm tĩnh hơn. Dù tôi vẫn để ý từng cái nhíu mày, nhăn mặt của anh, nhưng chí ít tôi không còn cảm thấy áy náy và chùn tay nữa.

Tôi bắt đầu tập trung vào công việc, dồn hết tâm trí vào các đầu ngón tay mình để đánh giá mức độ tổn hại ở từng chỗ và quyết định xem cách nào là tốt nhất để nối lại những cái xương bị gãy. May thay, ngón cái bị tổn thương ít nhất; chỉ có một vết gãy đơn giản ở khớp đầu tiên. Nó sẽ lành lặn như cũ. Khớp thứ hai ở ngón tay áp út hoàn toàn biến mất; tôi chỉ cảm thấy một mảng xương vỡ khi nhẹ nhàng vê nó giữa ngón cái và ngón trỏ, khiến Jamie rên lên. Chẳng thể làm gì với nó ngoài việc nẹp lại và cầu mong điều tốt đẹp nhất sẽ xảy ra.

Chỗ gãy xương hở ở ngón giữa là tệ nhất. Phải đẩy mẩu xương bị thòi ra qua lớp thịt rách trở về vị trí cũ để kéo thẳng ngón tay lại.

Tôi đã từng chứng kiến thủ thuật này - khi bệnh nhân được gây tê và có tia X trợ giúp.

Lúc trước, cái quyết định nắn chỉnh bàn tay gãy nát của Jamie hoàn toàn bật ra một cách tự động. Giờ thì tôi mới hiểu tại sao các bác sĩ hiếm khi chữa trị cho người nhà. Một vài công việc trong ngành y đòi hỏi phải có sự tàn nhẫn nhất định; “máu lạnh” là thái độ cần thiết để làm một số việc gây đau đớn trong quá trình trị thương.

Ngài Marcus đã lặng lẽ kéo một cái ghế đẩu tới bên giường. Sau khi tôi trói Jamie xong, ông ta thoải mái hạ thân hình đồ sộ xuống ghế và nắm lấy bàn tay lành lặn của Jamie.

“Cứ siết chặt thế nào cũng được, chàng trai,” ông ta nói.

Sau khi đã cởi cái áo da gấu và buộc lại những lọn tóc hoa râm, MacRannoch không còn là một kẻ hoang dã đáng sợ trong rừng nữa mà trở thành một người đàn ông ở cuối độ tuổi trung niên trang nghiêm, đứng đắn, với chòm râu hình con pích được cắt tỉa gọn gàng và dáng điệu quân nhân. Sự có mặt của ông đã xoa dịu phần nào nỗi lo lắng đối với những gì tôi sắp làm.

Tôi hít sâu một hơi và cầu nguyện để mình có được thái độ “máu lạnh”.

•••

Đây là một quá trình dài đằng đẵng, căng thẳng khủng khiếp, dù không phải là không có sự mê hoặc. Một vài việc diễn ra khá suôn sẻ, chẳng hạn như nẹp hai ngón tay bị gãy đơn giản. Nhưng những việc khác thì không. Jamie đã hét lên - rất to - khi tôi đẩy những mẩu xương thòi ra qua lớp da của ngón giữa về lại vị trí cũ. Tôi thoáng chùn tay, mất bình tĩnh, nhưng Ngài Marcus lặng lẽ thúc giục: “Tiếp tục đi, cô gái!”

Tôi chợt nhớ lại những gì Jamie đã nói với tôi vào cái đêm đứa con của Jenny chào đời: Anh có thể chịu đựng nỗi đau đớn của chính mình, nhưng anh không thể chịu đựng nỗi đau đớn của em. Anh không đủ sức. Anh nói đúng; việc này đòi hỏi phải có sức mạnh; tôi hy vọng cả hai chúng tôi đều đủ mạnh mẽ.

Jamie ngoảnh mặt đi, nhưng tôi có thể thấy khối cơ ở quai hàm anh phồng lên khi anh cắn miếng da chặt hơn. Tôi cũng nghiến răng để tiếp tục; mẩu xương gãy sắc nhọn từ từ chui trở lại vào trong lớp da và ngón tay thẳng lên một cách gượng ép, đau đớn, khiến cả hai chúng tôi run rẩy.

Tôi chẳng còn để ý đến bất cứ thứ gì ngoài công việc mình đang làm. Chốc chốc, Jamie lại rên rỉ, và chúng tôi phải ngừng lại hai lần để anh nôn ọe, chủ yếu là ói ra whisky, vì lúc ở trong ngục anh không ăn gì mấy. Nhưng phần lớn thời gian anh chỉ lẩm bẩm liên tục bằng tiếng Gaelic, trán áp chặt vào đầu gối Ngài Marcus. Tôi không thể nhận ra anh đang chửi thề hay cầu nguyện.

Cuối cùng thì cả năm ngón tay cũng thẳng lại và cứng ngắc trong lớp nẹp và băng quấn. Tôi sợ anh bị nhiễm trùng, đặc biệt là ở ngón giữa bị rách, nhưng cũng khá chắc chắn rằng chúng sẽ lành hẳn. May mắn là chỉ có đúng một khớp bị tổn thương nghiêm trọng. Có lẽ ngón áp út của anh sẽ trở nên cứng đờ, nhưng những ngón khác dần dà vẫn có thể cử động bình thường. Tôi chẳng thể làm gì hơn với những chỗ bị rạn xương hay vết thủng trên bàn tay anh ngoài việc sát trùng, đắp thuốc và cầu nguyện anh sẽ không bị uốn ván. Tôi lùi lại, tứ chi run rẩy vì căng thẳng, lưng áo chẽn ướt đẫm mồ hôi vì hơi nóng của lửa.

Phu nhân Annabelle lập tức đến bên tôi, dẫn tôi tới một cái ghế và nhét một tách trà pha whisky vào hai bàn tay run lẩy bẩy của tôi. Giống như một phụ tá cừ khôi trong phòng phẫu thuật, Ngài Marcus cởi cánh tay bị trói của Jamie và xoa xoa các vết hằn trên da thịt căng cứng. Tôi nhận thấy bàn tay ông đỏ ửng ở chỗ Jamie đã bấu vào.

Tôi không biết là mình ngủ gật cho đến khi giật mình, gật đầu một cái. Phu nhân Annabelle đặt bàn tay mềm mại dưới khuỷu tay tôi, giục tôi đứng dậy. “Đi nào, cưng! Cô kiệt sức rồi; cô phải chăm sóc các vết thương của mình và ngủ một chút.”

Tôi gỡ mình ra khỏi tay bà một cách lịch sự nhất có thể. “Không, tôi không thể. Tôi phải hoàn thành...” Lời tôi nói nhỏ dần, tâm trí chìm vào mơ màng lúc Ngài Marcus giành lấy chai giấm và chiếc khăn từ tay tôi.

“Tôi sẽ lo phần còn lại,” ông ta nói. “Tôi cũng có chút kinh nghiệm băng bó cấp cứu trên chiến trường.” Ông ta lật những tấm chăn lên, bắt đầu chùi máu ở những vết roi quất, động tác nhẹ nhàng, nhanh nhẹn, vô cùng ấn tượng. Bắt gặp ánh mắt tôi, ông ta nhoẻn miệng cười, chòm râu rung rung vui nhộn. “Hồi trước, tôi đã lau quá nhiều vết thương như thế này,” ông ta nói. “Và cũng gây ra vài vết. Mấy vết thương này chả là cái quái gì cả; chỉ một vài ngày là chúng sẽ lành thôi.” Biết là ông nói đúng, tôi vẫn bước tới đầu giường. Jamie đã tỉnh, hơi nhăn mặt vì xót khi nước sát trùng ngấm vào những vết thương trầy xước, nhưng mí mắt anh nặng trĩu và đôi mắt xanh tối lại vì đau đớn và mệt mỏi.

“Đi ngủ đi, Sassenach! Anh ngủ đây.”

Tôi không biết anh có ngủ thật hay không, nhưng rõ ràng tôi sẽ không ngủ hay chí ít là sẽ không ngủ trong một lúc nữa. Tôi đang lảo đảo vì kiệt sức và những vết trầy xước trên chân tôi bắt đầu rát và đau nhức. Absalom đã sát trùng chúng giúp tôi lúc ở ngôi nhà tranh, nhưng vẫn cần phải bôi thuốc mỡ cho chúng.

Tôi lặng lẽ gật đầu và tuân theo bàn tay vẫn đang kiên trì đặt trên khuỷu tay tôi của phu nhân Annabelle.

Lên cầu thang được nửa chừng, tôi mới nhớ ra mình đã quên nói với Ngài Marcus cách băng bó các vết thương. Những vết thương sâu trên vai cần phải lót gạc và băng chặt để anh có thể mặc áo khi chúng tôi bỏ trốn, nhưng những vết roi quất nhẹ hơn cần được để thoáng để chúng có thể đóng vảy. Tôi nhìn lướt căn phòng dành cho khách mà phu nhân Annabelle dẫn tôi tới, rồi xin phép bà và lảo đảo xuống cầu thang, trở lại phòng khách.

Tôi dừng lại ở ngưỡng cửa tối om, phu nhân Annabelle đứng ngay sau tôi. Jamie đang nhắm mắt; dường như anh đã thiếp ngủ vì whisky và sự mệt mỏi. Những cái chăn đã được bỏ ra, chúng không còn cần thiết vì hơi nóng của ngọn lửa. Ngài Marcus lơ đãng đặt tay lên cái mông trần của Jamie khi ông ta vươn người qua giường để lấy một miếng vải. Jamie như bị điện giật. Lưng anh ưỡn cong lên, các thớ cơ ở mông co rúm lại và anh vô thức thốt ra một tiếng kêu phản đối, rướn người lên để trừng trừng nhìn Ngài Marcus với ánh mắt sửng sốt bất chấp những cái xương sườn bị gãy. Ngài Marcus cũng giật mình, đứng im bất động trong một giây, rồi cúi xuống và nắm lấy cánh tay Jamie, nhẹ nhàng úp mặt anh xuống. Ông ta khẽ khàng rê ngón tay trên da thịt Jamie. Rồi ông ta xoa những ngón tay vào nhau, ánh dầu hiện rõ trong ánh lửa.

“Ồ,” ông ta thản nhiên nói. Sau đó, người lính già kéo cái chăn lên đến eo Jamie, và tôi nhìn thấy bờ vai căng thẳng của anh hơi dãn ra bên dưới lớp băng bó.

Ngài Marcus thân thiện ngồi ngay cạnh đầu của Jamie và rót hai cốc whisky. “Ít nhất hắn cũng bôi dầu cho cậu trước khi ra tay,” ông ta nhận xét, đưa một cốc rượu cho anh. Anh khó nhọc chống khuỷu tay nâng mình dậy để nhận cốc rượu.

“Ầy. Tôi không nghĩ hắn làm vậy là vì tôi,” anh lạnh nhạt nói.

Ngài Marcus uống một ngụm rượu và mím môi suy nghĩ. Trong một thoáng, trong phòng chẳng có âm thanh gì ngoài tiếng lửa lách tách, nhưng cả phu nhân Annabelle lẫn tôi đều không có ý định bước vào phòng.

“Không biết thông tin này có an ủi được cậu chút nào không,” Ngài Marcus đột nhiên nói, đôi mắt gắn chặt vào bình rượu, “hắn chết rồi.”

“Ông chắc chứ?” Giọng điệu Jamie thật khó đoán định.

“Tôi chưa thấy ai có thể sống sót sau khi bị ba mươi con bò nặng nửa tấn giẫm nát. Hắn đã ngó ra hành lang để xem thứ gì ồn ào đến thế, rồi cố gắng rụt lại khi nhìn thấy đàn bò. Tay áo hắn bị mắc vào một cái sừng và hắn bị kéo ra ngoài, rồi tôi thấy hắn bị lôi đi dọc theo bức tường. Bấy giờ Ngài Fletcher và tôi đang ở trên cầu thang. Đương nhiên Ngài Fletcher rất lo lắng và sai vài người đi theo hắn, nhưng họ không thể tới gần hắn khi lũ bò cứ chen lấn xô đẩy nhau, những cái sừng chĩa ra hung dữ, khiến những ngọn đuốc trên tường lung lay và rơi xuống. Chúa ơi, giá mà cậu trông thấy cảnh ấy!” Ngài Marcus cười phá lên trước ký ức ấy, nắm lấy cổ bình rượu. “Vợ cậu là một cô gái hiếm có, không nghi ngờ gì nữa, chàng trai ạ!” Ông ta cười khùng khục, rót một cốc rượu khác và nốc cạn, rồi bị sặc một chút.

“Tóm lại,” ông ta hồi lại, đấm ngực thùm thụp, “lúc chúng tôi xua đàn bò đi, hắn chỉ còn là một con búp bê vải cuộn tròn trong vũng máu. Người của Ngài Flercher đã mang hắn đi, nhưng nếu lúc đó hắn còn sống thì hắn cũng chẳng cầm cự được bao lâu nữa đâu. Uống thêm một chút nữa chứ, chàng trai?”

“Vâng, cảm ơn ông.”

Sự im lặng ngắn ngủi sau đó bị Jamie phá vỡ. “Thông tin này cũng chẳng an ủi được tôi là bao, nhưng cảm ơn ông vì đã kể với tôi.”

Ngài Marcus nhìn anh với ánh mắt sắc sảo.

“Ừm. Cậu sẽ không quên được chuyện này,” ông ta đột nhiên nói. “Đừng cố làm gì. Nếu có thể, hãy để nó lành lại như những vết thương khác của cậu. Đừng chọc vào nó, nó sẽ tự lành thôi.” Người chiến binh già giơ cao cánh tay, tay áo ông ta đã được xắn lên trong lúc chăm sóc người bệnh, để lộ vết sẹo nham nhở chạy từ khuỷu đến cổ tay. “Những vết sẹo không thể ảnh hưởng gì đến cậu.”

“Vâng. Có lẽ vài vết sẹo sẽ không ảnh hưởng gì.” Dường như nhớ ra điều gì đó, Jamie cố gắng nghiêng người.

Ngài Marcus đặt cái cốc xuống, kêu lên: “Này, chàng trai, cẩn thận! Cái xương sườn gãy sẽ chọc vào phổi cậu đấy!” Ông ta giúp Jamie chống khuỷu tay phải, rồi chèn một cái chăn ở đằng sau để cho anh tựa vào.

“Tôi cần một con dao nhỏ,” Jamie nói, thở hổn hển. “Một con dao sắc, nếu có.”

Không hỏi han gì, Ngài Marcus ì ạch đi tới cái tủ búp phê bằng gỗ hồ đào bóng loáng của Pháp và lách cách lục lọi các ngăn kéo, cuối cùng lấy ra một con dao gọt hoa quả có cán đính ngọc trai. Ông ta dúi nó vào bàn tay trái của Jamie rồi càu nhàu ngồi xuống, cầm cái cốc lên.

“Cậu nghĩ mình chưa có đủ sẹo à?” Ông ta hỏi. “Cậu định kiếm thêm vài vết nữa ư?”

“Chỉ một thôi.” Jamie run rẩy giữ thăng bằng trên một khuỷu tay, cằm tựa vào ngực, vụng về nhắm con dao sắc vào dưới ngực trái. Ngài Marcus luống cuống giơ tay ra, nắm lấy cổ tay Jamie.

“Tốt hơn hết hãy để tôi giúp cậu. Cậu sẽ ngã vào con dao mất.”

Sau một thoáng ngập ngừng, Jamie miễn cưỡng giao nộp con dao và ngả người vào chiếc chăn chèn đằng sau. Anh chỉ vào dưới núm ngực khoảng ba, bốn phân.

“Đó.”

Ngài Marcus đi tới tủ búp phê và lấy một cái đèn, đặt nó lên cái ghế đẩu mà ông ta vừa ngồi. Ở khoảng cách này, tôi không thể nhìn thấy thứ ông ta đang nhìn; nó trông như một vết bỏng nhỏ màu đỏ, gần như có hình tròn. Ông ta thong thả nhấp một ngụm rượu nữa rồi đặt cốc xuống cạnh cái đèn và ấn đầu nhọn của con dao vào ngực Jamie. Hẳn là tôi đã làm một động tác vô thức nào đó, vì phu nhân Annabelle nắm lấy tay áo tôi với một lời thì thầm quở trách. Mũi dao đột nhiên xoáy vào và gẩy lên như người ta cắt một chỗ bị hỏng ra khỏi quả đào chín. Jamie rên lên một tiếng, và một dòng máu đỏ mỏng mảnh chảy xuống bụng anh, thấm vào cái chăn. Anh lăn người nằm úp trên đệm để cầm máu.

Ngài Marcus đặt con dao xuống. “Ngay khi cậu có thể, chàng trai,” ông ta khuyên, “hãy đưa vợ cậu lên giường để cô ấy an ủi cậu. Phụ nữ thích làm thế,” ông ta nói, hướng về phía ô cửa tối om, nhe răng cười, “có Chúa mới biết tại sao.”

Phu nhân Annabelle nói khẽ: “Đi thôi, cưng! Nên để cậu ấy ở một mình một lúc.”

Tôi quyết định rằng Ngài Marcus có thể tự băng bó cho Jamie và loạng choạng theo sau bà lên cầu thang nhỏ hẹp để đến căn phòng dành cho tôi.

•••

Tôi giật mình tỉnh dậy từ giấc mơ có những cầu thang xoắn ốc bất tận, lòng thầm hoảng hốt. Lưng tôi mỏi nhừ còn chân thì đau nhức, nhưng tôi vẫn ngồi dậy, trên người mặc chiếc váy ngủ mượn của bà chủ nhà, mò mẫm tìm nến và hộp đánh lửa. Tôi cảm thấy bồn chồn sốt ruột khi ở quá xa Jamie. Nhỡ anh cần tôi thì sao? Tệ hơn, nhỡ quân Anh đến trong lúc anh chỉ có một mình ở bên dưới, trong tay không có một tấc vũ khí? Tôi áp mặt vào ô cửa sổ lạnh lẽo và được trấn an bởi tiếng tuyết đập đều đều vào những tấm kính. Tuyết còn rơi thì chúng tôi còn được an toàn. Tôi khoác áo choàng ngủ vào, cầm cây nến và con dao lên, đi tới cầu thang.

Căn nhà vô cùng yên tĩnh, chỉ có tiếng lửa nổ lép bép. Jamie đang ngủ, hay ít nhất cũng nhắm mắt, quay mặt về phía ngọn lửa. Tôi ngồi xuống tấm thảm trải trước lò sưởi một cách hết sức lặng lẽ để không làm anh thức giấc. Đây là lần đầu tiên chúng tôi ở riêng bên nhau sau những giây phút tuyệt vọng ở nhà ngục Wentworth. Có cảm giác như đã mấy năm trôi qua rồi. Tôi cẩn thận ngắm nghía Jamie như thể đang xem xét một người lạ.

Tình trạng sức khỏe của anh cũng không đến nỗi tệ lắm nhưng tôi vẫn lo lắng. Trong lúc nắn chỉnh bàn tay, anh đã uống vào một lượng whisky đủ để hạ gục một con ngựa thồ khỏe mạnh, và dù đã nôn mửa khá nhiều nhưng trong người anh rõ ràng vẫn còn chứa một lượng rượu lớn.

Jamie không phải là người hùng đầu tiên trong mắt tôi. Thường thì cánh đàn ông đến và đi khỏi các bệnh viện dã chiến nhanh như một cơn gió nên các nữ y tá khó mà thân thiết được với họ, nhưng thi thoảng bạn sẽ thấy một người đàn ông nói quá ít hoặc đùa giỡn quá nhiều, cố gồng mình lên để khỏa lấp sự đau đớn và nỗi cô đơn.

Và tôi biết đại khái có thể làm gì cho họ. Nếu có thời gian, và nếu họ là người dùng cách nói chuyện để ngăn chặn bóng tối trong tâm hồn, bạn hãy ngồi lắng nghe họ. Nếu họ im lặng, bạn hãy thường xuyên chạm vào họ một cách ngẫu nhiên, chờ đợi khoảnh khắc khi họ không phòng bị để kéo họ ra khỏi chính bản thân họ và ôm lấy họ trong lúc họ xua đuổi những con quỷ ám ảnh mình. Đó là nếu có thời gian. Còn nếu không có, bạn hãy tiêm cho họ morphine và hy vọng họ sẽ tìm được ai đó lắng nghe họ trong lúc bạn chuyển sang chăm sóc cho một người đàn ông khác có những vết thương rõ rệt hơn.

Sớm muộn gì Jamie cũng sẽ nói chuyện với ai đó. Vẫn còn thời gian. Nhưng tôi hy vọng người đó không phải là tôi.

Anh chỉ đắp chăn đến eo, và tôi cúi xuống kiểm tra lưng anh. Đó là một hình ảnh đáng kinh ngạc. Các vết roi cách nhau một khoảng gần bằng độ dày của bàn tay, đều đến mức khó tin. Hẳn là anh đã đứng im như một lính gác trong lúc bị đánh. Tôi trộm liếc cổ tay anh - không có dấu vết gì. Vậy là anh đã giữ lời hứa không chống cự và đã đứng bất động trong suốt cuộc tra tấn để chuộc lấy mạng sống của tôi.

Tôi lấy tay áo lau mắt. Anh sẽ không vui vẻ gì khi thấy tôi ngồi đây thổn thức trước thân hình sóng soài của anh. Tôi thay đổi tư thế, khiến những lớp váy khẽ kêu sột soạt. Anh mở mắt trước tiếng động ấy, nhưng không giật mình hốt hoảng mà nở nụ cười yếu ớt và mệt mỏi với tôi - một nụ cười hết sức chân thật. Tôi mở miệng, rồi chợt nhận ra tôi không biết phải nói gì. Không thể nói cảm ơn được. Hỏi “Anh cảm thấy thế nào?” thì lố bịch quá; hiển nhiên anh đang có cảm giác như ở dưới địa ngục rồi. Trong lúc tôi còn đang phân vân, anh đã cất tiếng trước.

“Claire? Em ổn chứ, em yêu?”

“Em có ổn không ư? Chúa ơi, Jamie!” Những giọt nước mắt dâng lên và tôi chớp chớp mắt thật mạnh, khụt khịt mũi. Anh chầm chậm giơ bàn tay lành lặn lên như thể nó bị trĩu nặng vì xiềng xích và vuốt tóc tôi. Rồi anh kéo tôi về phía mình nhưng tôi rụt lại, tới lúc này mới ý thức được trông mình như thế nào: mặt trầy xước và đầy nhựa cây tóc cứng đờ vì dính những chất không nên nhắc đến.

“Lại đây,” anh nói. “Anh mưốn ôm em một lát.”

“Nhưng người em đầy máu và chất nôn mửa,” tôi phản đối, cố gắng vuốt tóc dù chẳng ích gì.

Anh bật cười, nhưng những chiếc xương sườn gãy khiến tiếng cười của anh nghe như một tiếng khò khè yếu ớt. “Đức Mẹ ơi, Sassenach, đó là máu của anh và những thứ anh nôn ra mà. Lại đây!”

Cánh tay anh choàng qua vai tôi khiến tôi có cảm giác được an ủi. Tôi ngả đầu lên cái gối bên cạnh gối của anh, và chúng tôi cùng lặng lẽ nửa nằm nửa ngồi bên ngọn lửa, hút lấy sự mạnh mẽ và bình yên từ nhau. Những ngón tay anh nhẹ nhàng chạm vào vết thương nhỏ bên dưới hàm tôi.

“Anh tưởng sẽ không còn được gặp em nữa, Sassenach.” Giọng anh trầm thấp và hơi khàn vì whisky và sự la hét lúc nãy. “Anh rất mừng vì em đang ở đây bên cạnh anh.”

Tôi ngồi thẳng dậy. “Không bao giờ gặp lại em nữa ư! Tại sao? Anh nghĩ em sẽ không cứu anh ra ngoài ư?”

Anh cười nửa miệng. “Chà, anh không nghĩ em sẽ làm được. Nhưng nếu anh nói vậy, em có thể trở nên cứng đầu và không chịu đi.”

“Em trở nên cứng đầu ư!” Tôi phẫn nộ nói. “Xem ai đang nói kìa!”

Sau đó, cả tôi và anh đều rơi vào im lặng, bầu không khí dần trở nên gượng gạo. Có những điều tôi nên hỏi vì đó là điều cần thiết theo quan điểm của thầy thuốc, nhưng về mặt cá nhân thì lại khá nhạy cảm. Cuối cùng, tôi đành phải hỏi: “Anh cảm thấy thế nào?”

Đôi mắt anh tối sầm và trũng sâu dưới ánh nến. Anh nhắm mắt lại, tấm lưng rộng lớn căng cứng bên dưới lớp băng. Cái miệng rộng bầm tím nhếch lên, nửa như cười nửa như nhăn nhó.

“Anh không biết, Sassenach. Anh chưa bao giờ cảm thấy như thế này. Anh muốn làm nhiều thứ, cùng một lúc, nhưng trí óc anh chống lại anh và cơ thể anh cũng trở mặt với anh. Anh muốn ra khỏi đây ngay lập tức, muốn chạy thật nhanh và thật xa, muốn đánh ai đó. Chúa ơi, anh muốn đánh ai đó! Anh muốn thiêu rụi nhà ngục Wentworth. Anh muốn ngủ.”

“Đá đâu có cháy được,” tôi nói đầy vẻ thực tế. “Vì vậy, có lẽ anh nên ngủ đi!”

Bàn tay lành lặn của anh lần tìm bàn tay tôi, khóe miệng hơi trễ xuống, dù mắt anh vẫn nhắm. “Anh muốn ôm em thật chặt và hôn em, không bao giờ buông ra. Anh muốn đưa em lên giường và coi em như một ả điếm, cho đến khi anh quên mất mình tồn tại. Và anh muốn vùi đầu vào lòng em để khóc như một đứa trẻ.”

Khóe miệng anh lại nhếch lên, một con mắt xanh mở ra he hé.

“Rủi thay,” anh nói, “anh không thể làm những việc ấy mà không bị ngất hay bị nôn mửa, ngoại trừ điều cuối cùng.”

“Vậy thì anh phải tạm bằng lòng với điều đó thôi, và để dành những việc còn lại cho tương lai,” tôi nói, khẽ cười.

Anh lại suýt nôn mửa khi cố gắng dịch chuyển, nhưng cuối cùng cũng gối được đầu lên đùi tôi khi tôi ngồi trên giường cùng anh, lưng dựa vào tường.

“Ngài Marcus đã khoét cái gì ở ngực anh vậy?” Tôi hỏi. “Một dấu sắt nung à?” Tôi nói khẽ, khi anh không trả lời. Anh khẽ gật đầu xác nhận.

“Một con dấu riêng, với chữ viết tắt của tên hắn.” Jamie cười khẩy. “Phải mang những vết sẹo mà hắn gây ra cho anh trong suốt phần đời còn lại đã là quá đủ đối với anh rồi, anh không cần hắn phải ký tên lên anh như thể anh là một bức tranh chết tiệt nữa.”

Đầu anh nặng trĩu trên đùi tôi và hơi thở anh cuối cùng cũng đều đặn hơn khi anh chìm vào mơ màng. Những dải băng trắng ở bàn tay anh trông thật ma quái trên tấm chăn tối sẫm. Tôi nhẹ nhàng lần theo một vết bỏng ở bờ vai đang ánh lên lớp dầu ô liu của anh.

“Jamie?”

“Ừm?”

“Anh có đau lắm không?”

Anh sực tỉnh, liếc nhìn bàn tay băng bó rồi nhìn lên mặt tôi. Rồi anh lại nhắm mắt và người anh bắt đầu rung bần bật. Tôi giật mình, tưởng rằng tôi đã khơi lên một ký ức khiến anh không thể chịu đựng nổi, cho đến khi nhận ra anh đang cười đến chảy cả nước mắt.

“Sassenach,” cuối cùng, anh hổn hển nói, “có lẽ trên người anh chỉ còn mười lăm centimét vuông không bị bầm tím, bị bỏng hay bị rách. Vậy thì anh có đau không?” Và anh lại rung bần bật, khiến cho tấm đệm nỉ kêu sột soạt và kẽo kẹt.

Tôi hơi bực tức, bèn nói: “Ý em là...” nhưng anh đã cầm lấy tay tôi và đưa lên môi mình.

“Anh biết ý em là gì, Sassenach,” anh nói, ngẩng lên nhìn tôi. “Đừng lo, mười lăm centimét còn lại ấy nằm ở giữa hai chân anh.”

Tuy lời nói đùa ấy chẳng mấy hiệu quả nhưng tôi vẫn hưởng ứng. Tôi vỗ nhẹ lên miệng anh. “Anh say rồi, James Fraser,” tôi nói, rồi dừng lại trong một thoáng. “Mười lăm hả?”

“Ừ. Có thể là mười tám. Ôi, Chúa ơi, Sassenach, đừng có làm anh cười nữa, xương sườn của anh sẽ không chịu nổi mất.”

Tôi lau mắt cho anh bằng một nếp gấp ở váy và dùng đầu gối nâng đầu anh lên để cho anh uống một ngụm nước.

“Dù sao đi nữa, đó không phải là điều em muốn hỏi.” Tôi nói.

Bây giờ anh mới nghiêm túc, lại cầm lấy bàn tay tôi và siết chặt.

“Anh biết,” anh nói. “Em không cần phải tế nhị về chuyện đó đâu,” anh thận trọng hít một hơi và nhăn nhó vì đau. “Anh đã nghĩ đúng, việc ấy không đau như bị roi quất.” Anh nhắm mắt lại. “Nhưng khó chịu hơn nhiều.” Một tia tự trào cay đắng thoáng hiện lên trên khóe miệng anh. “Ít nhất anh sẽ không bị táo bón trong một thời gian.”

Tôi nhăn mặt, còn anh nghiến răng, thở những hơi ngắn và khò khè.

“Anh xin lỗi, Sassenach. Anh... đã không nghĩ mình sẽ bận tâm tới chuyện đó nhiều đến thế. Câu hỏi của em - anh xin trả lời - anh ổn cả. Anh không bị tổn hại gì.”

Tôi ráng sức giữ giọng mình vững vàng và thản nhiên. “Anh không cần phải kể với em nếu anh không muốn. Nhưng nếu kể ra có thể khiến anh thoải mái hơn...” Giọng tôi chìm dần vào sự im lặng bối rối.

“Anh không muốn.” Anh đột nhiên nhấn mạnh, giọng nói chua chát. “Anh thậm chí còn không muốn nghĩ về nó, nhưng ngoài việc tự cắt cổ mình, anh chẳng còn sự lựa chọn nào khác để trốn tránh nó. Không, anh không muốn kể với em, cũng giống như em không muốn nghe về nó... Nhưng anh nghĩ anh sẽ phải trút ra hết trước khi nó làm anh ngộp thở.” Những lời nói bật ra đầy cay đắng.

“Hắn muốn anh bò lê để van xin hắn, và vì Chúa, anh đã làm vậy. Anh đã từng nói với em rồi, Sassenach, ta có thể làm suy sụp bất cứ ai nếu ta sẵn sàng khiến họ tổn thương đến tột cùng. Chà, hắn thì vô cùng sẵn sàng. Hắn bắt anh bò, bắt anh cầu xin; hắn còn bắt anh làm nhiều điều tồi tệ hơn thế, và trước khi kết thúc, hắn khiến anh sống không bằng chết.”

Anh im lặng trong một lúc lâu, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa, rồi cất tiếng thở dài và nhăn nhó vì đau.

“Anh ước gì em có thể xoa dịu anh, Sassenach, anh tha thiết mong mỏi điều đó, vì hiện giờ lòng anh chẳng hề thanh thản. Nhưng cảm giác này không giống như một cái gai độc, chỉ cần tìm được đầu của nó là có thể nhổ ra.” Bàn tay lành lặn của anh ngơi nghỉ trên đầu gối tôi. Anh uốn cong các ngón tay hồng hào trong ánh lửa và xòe chúng ra. “Nó thậm chí không giống như bị gãy xương. Nếu em có thể chỉnh nắn lại nó, từng chút một, giống như em đã làm với bàn tay anh, anh sẽ sẵn sàng chịu đựng nỗi đau đớn.” Anh siết chặt bàn tay thành nắm đấm và đặt lên chân tôi, cau mày nhìn nó.

“Thật... khó giải thích. Cảm giác này... giống như... giống như là tất cả mọi người đều có một nơi chốn nhỏ bé riêng tư ở trong lòng. Nó giống như một pháo đài nhỏ, chứa đựng những gì bí mật nhất của em - có lẽ là chính tâm hồn em, có lẽ là thứ khiến em là chính mình chứ không phải ai khác.” Lưỡi anh vô thức thăm dò cái môi sưng vù trong lúc anh suy nghĩ.

“Thường thì em sẽ không phô bày phần riêng tư đó với bất cứ ai, trừ người mà em vô cùng yêu thương.” Bàn tay xòe ra, ôm trọn đầu gối tôi. Jamie lại nhắm mắt, hai mí mắt như dán chặt vào nhau trước ánh lửa.

“Nhưng bây giờ, giống như... giống như cái pháo đài của anh đã bị thuốc súng làm nổ tung - chẳng còn gì ngoài tro tàn và một cái đòn nóc mù mịt khói, và thứ trần trụi nhỏ bé từng sống ở đó bị lộ ra ngoài, kêu gào và rên rỉ sợ hãi, cố gắng giấu mình dưới một lá cỏ hay một chiếc lá, nhưng... nhưng không... thành công lắm.” Giọng anh nghẹn ngào, và anh vùi mặt vào váy tôi. Tôi cảm thấy bất lực, chẳng thể làm gì ngoài việc vuốt tóc anh.

Anh đột nhiên ngẩng đầu lên, khuôn mặt căng thẳng như sắp nứt vỡ. “Anh đã suýt chết vài lần, Claire ạ, nhưng anh chưa bao giờ thực sự muốn chết. Tuy nhiên, lần này thì có. Anh...” Giọng anh khản đặc. Anh ngừng nói, ôm chặt đầu gối tôi. Khi anh lại cất tiếng, giọng anh the thé và hổn hển lạ thường, như thể anh vừa chạy một quãng đường dài.

“Claire, em sẽ... anh chỉ... Claire, ôm anh đi! Nếu anh lại bắt đầu run rẩy, anh sẽ không thể ngừng lại được. Claire, ôm anh đi!” Thực ra, anh đã run rẩy dữ dội. Anh rên rỉ khi sự chấn động lan tới những chiếc xương sườn bị gãy. Tôi sợ làm anh đau, nhưng để mặc anh trong tình trạng như vậy thì còn đáng sợ hơn.

Tôi khom người xuống, choàng hai tay quanh vai anh và ôm anh thật chặt, rồi đu đưa qua lại như thể nhịp điệu an ủi ấy có thể xóa tan những cơn đau. Tôi đặt một tay sau gáy anh, bấm các ngón tay vào những thớ cơ căng cứng, xoa bóp hõm gáy anh. Cuối cùng, sự run rẩy dịu đi, và anh kiệt sức gục đầu vào đùi tôi.

“Anh xin lỗi,” một phút sau, anh nói, giọng đã trở lại bình thường. “Anh không định làm thế đâu. Chỉ là anh rất đau đớn, và anh say quá rồi. Anh không kiểm soát được mình nữa.” Đối với một người Scot, việc thừa nhận mình say, dù ở chốn riêng tư, là một dấu hiệu chỉ ra rằng anh ta đang vô cùng đau đớn.

“Anh cần ngủ,” tôi khẽ nói, vẫn xoa gáy anh. “Anh cần ngủ lắm rồi.” Các ngón tay tôi thuần thục và nhẹ nhàng xoa bóp như già Alec đã dạy, cố gắng giúp anh chìm vào mơ màng.

“Anh lạnh,” anh lẩm bẩm. Lửa đang cháy đượm, và trên giường có tới mấy cái chăn, nhưng những ngón tay anh lạnh buốt.

“Anh đang bị sốc,” tôi nói, đầy vẻ thực tế. “Anh đã mất quá nhiều máu.” Tôi nhìn quanh, nhưng vợ chồng MacRannoch và những người hầu đều đã trở về giường của họ. Còn Murtagh, tôi cho là ông vẫn đang ở ngoài trời tuyết, canh chừng hướng đi về phía Wentworth để đề phòng đám truy binh. Thầm nhún vai trước ý kiến của bất cứ ai về sự đứng đắn, tôi đứng dậy, cởi váy ngủ và chui vào dưới những lớp chăn.

Tôi nhẹ nhàng trườn tới bên anh, đem lại cho anh hơi ấm của tôi. Anh úp mặt vào vai tôi như một cậu bé. Tôi vuốt tóc anh và xoa dịu những thớ cơ căng cứng ở gáy anh, cẩn thận tránh những chỗ bị thương. “Ngủ đi nào,” tôi nói, nhớ tới Jenny và con trai chị.

Jamie khẽ thốt lên một tiếng kêu sảng khoái. “Đó là câu mẹ anh thường nói với anh,” anh lẩm bẩm, “hồi anh còn nhỏ.”

“Sassenach,” một lát sau, anh nói khi đang úp mặt vào vai tôi.

“Ừm?”

“John Wayne là thằng cha nào vậy?”

“Là anh đấy,” tôi nói. “Ngủ đi!”

[1] Tù binh chiến tranh.

[2] John Wayne (1907 - 1979): Diễn viên, đạo diễn lừng danh người Mỹ, chuyên làm phim cao bồi.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.