Cậu bé mà bà FitzGibbons gọi là “nhóc Alec” tới đưa tôi đi ăn tối. Bữa tối diễn ra trong một căn phòng dài và hẹp với những cái bàn kê dọc theo mỗi bức tường. Một dòng suối gia nhân bất tận đổ ra từ những cái cổng tò vò ở cả hai đầu của căn phòng, mang theo nào khay, nào đĩa gỗ và bình nặng trĩu. Ánh chiều tà đầu hè rọi vào qua các ô cửa sổ hẹp và cao; bên dưới là những chiếc chân đèn có gắn đuốc, chúng sẽ được thắp lên khi ánh sáng ban ngày tắt lụi.
Khoảng tường giữa các ô cửa sổ treo đầy cờ hiệu và vải len kẻ ô, những chiếc áo choàng len và huy hiệu đủ loại tô điểm sặc sỡ cho mặt tường đá. Trái ngược với khung cảnh ấy, hầu hết mọi người đến ăn tối đều mặc đồ màu xám và nâu hoặc váy đi săn kẻ ô màu nâu nhạt và xanh lá, những tông màu dịu nhẹ phù hợp với việc ẩn nấp trong bãi thạch nam.
Tôi có thể cảm thấy những ánh mắt tò mò xoáy sâu vào lưng mình khi cậu nhóc Alec dẫn tôi về phía đầu căn phòng, nhưng hầu hết các thực khách đều lịch sự dán mắt vào đĩa của mình. Mọi người đều có vẻ tự nhiên. Họ ăn uống thoải mái, tự lấy thức ăn cho mình từ những cái đĩa lớn hoặc mang đĩa của mình tới đầu kia căn phòng, nơi có hai cậu bé đang quay một con cừu bằng xiên trong cái lò sưởi khổng lồ. Có khoảng bốn mươi người ngồi ăn và chừng mười người khác phục vụ. Không gian ồn ã tiếng nói cười, hầu hết là tiếng Gaelic.
Colum đã ngồi ở một cái bàn phía đầu phòng, đôi chân teo tóp giấu dưới lớp gỗ sồi sứt sẹo. Ông ta gật đầu lịch thiệp khi nhìn thấy tôi và vẫy tay ra hiệu cho tôi tới ngồi ở một chỗ bên trái ông ta, cạnh một người phụ nữ tóc đỏ đầy đặn và xinh đẹp mà ông ta giới thiệu là vợ ông ta, Letitia.
“Còn đây là con trai ta, Hamish,” ông ta nói, đặt tay lên vai một cậu bé tóc đỏ điển trai khoảng bảy, tám tuổi. Cậu ta chỉ rời mắt khỏi cái đĩa để gật đầu chào tôi rồi lại vội vàng cụp mắt xuống.
Tôi chăm chú nhìn cậu bé. Trông cậu ta giống hệt tất cả những người đàn ông MacKenzie khác mà tôi đã thấy, với gò má to, phẳng và đôi mắt sâu thẳm. Thực ra, ngoại trừ màu tóc khác biệt, cậu ta có thể được coi là một phiên bản thu nhỏ của ông chú Dougal, người đang ngồi bên cạnh cậu ta. Bên cạnh Dougal là hai cô con gái của ông ta, Margaret và Eleanor. Họ cười khúc khích và huých cùi chỏ vào nhau khi được giới thiệu với tôi.
Dougal khẽ nở nụ cười thân thiện trước khi giật lấy đĩa thức ăn mà một trong hai cô con gái đang thò thìa vào và đẩy về phía tôi.
“Con không có tí lịch sự nào sao, con gái?” Ông ta quở trách. “Phải nhường khách trước!”
Tôi hơi dè dặt cầm lấy cái thìa lớn bằng sừng, phần nào nhẹ nhõm khi thấy trong đĩa là món cá trích hun khói giản dị và quen thuộc.
Tôi chưa bao giờ ăn cá trích bằng thìa, nhưng quanh đây chẳng có thứ gì trông giống một cái dĩa cả, và tôi lờ mờ nhớ ra rằng phải mấy năm nữa những cái nĩa thìa[1] mới được sử dụng rộng rãi.
Nhìn sang những bàn khác, tôi thấy việc gì khó làm bằng thìa, chẳng hạn như cắt thịt và gỡ xương, thì các thực khách sẽ dùng đến con dao găm luôn mang theo bên mình. Vì không có dao, tôi quyết định phải nhai hết sức cẩn thận, rồi vươn người múc một con cá trích và thấy đôi mắt xanh sâu thẳm của cậu bé Hamish đang gườm gườm nhìn mình vẻ trách móc.
“Cô chưa cầu nguyện,” cậu bé nghiêm khắc nói, khuôn mặt nhỏ bé cau lại. Rõ ràng cậu ta coi tôi là một kẻ ngoại đạo vô liêm sỉ, thậm chí là suy đồi.
“Ờ, cháu vui lòng cầu nguyện giúp cô được không?” Tôi đánh bạo nói.
Đôi mắt màu hoa thanh cúc mở to kinh ngạc, nhưng sau một thoáng cân nhắc, cậu ta gật đầu và nghiêm túc chắp hai tay lại. Trước khi cúi đầu xuống, cậu ta nhìn trừng trừng quanh bàn để đảm bảo rằng mọi người đều có thái độ tôn kính đúng mực. Khi đã cảm thấy vừa ý, cậu ta bắt đầu ngâm:
“Vài người có thịt mà không thể ăn,
Vài người có thể ăn thì lại không có mà ăn.
Chúng ta có thịt, và chúng ta có thể ăn,
Vì vậy chúng ta phải cảm ơn Chúa. Amen.”
Ngẩng lên khỏi hai bàn tay đang chắp lại để tỏ lòng kính trọng, tôi bắt gặp đôi mắt của Colum và mỉm cười, tỏ ý khen ngợi sự đĩnh đạc của con trai ông ta. Ông ta nén cười và nghiêm nghị gật đầu với cậu bé.
“Giỏi lắm, con trai. Con chuyển bánh mỳ cho mọi người nhé?”
Mọi người ăn uống rất nghiêm túc, không ai nói gì ngoại trừ thi thoảng có người đề nghị lấy thêm đồ ăn. Tôi không thấy ngon miệng lắm, một phần vì vẫn còn sốc về tình cảnh của mình, một phần vì tôi thực sự không thích thú gì món cá trích. Tuy nhiên, thịt cừu khá ngon, bánh mỳ nóng giòn và những khúc bơ nhạt to tướng thì rất tươi.
“Tôi hy vọng anh MacTavish đã khá hơn,” tôi cất tiếng trong lúc tạm nghỉ. “Lúc bước vào đây, tôi không thấy anh ấy.”
“MacTavish?” Hàng lông mày thanh mảnh bên trên đôi mắt xanh của Letitia nhướng lên. Tôi cảm thấy - hơn là nhìn thấy - Dougal ngước lên bên cạnh tôi.
“Thằng nhỏ Jamie,” ông ta nói nhanh, trước khi lại chuyển sự chú ý về miếng sườn cừu trong tay.
“Jamie? Ồ, có chuyện gì xảy ra với cậu ấy vậy?” Khuôn mặt có hai gò má đầy đặn của bà ta nhăn lại vì lo lắng.
“Chỉ xước xát tí thôi, em yêu,” Colum xoa dịu, rồi nhìn sang em trai. “Mà nó đâu nhỉ, Dougal?” Có lẽ tôi đã tưởng tượng ra đôi mắt sẫm màu ấy chứa một nét nghi ngờ.
Em trai ông ta nhún vai, mắt vẫn nhìn vào cái đĩa của mình. “Em đã sai nó tới chuồng ngựa để giúp già Alec. Rốt cuộc thì đó có vẻ là nơi tốt nhất dành cho nó.” Ông ta ngước lên để đón ánh mắt anh trai. “Hay anh có ý kiến gì khác?”
Colum có vẻ nghi ngại. “Chuồng ngựa? Ầy… em tin tưởng nó đến thế ư?”
Dougal quệt tay ngang miệng và với lấy một ổ bánh mỳ. “Nếu anh không đồng ý với chỉ thị ấy của em thì anh cứ nói, Colum.”
Môi Colum thoáng mím lại, nhưng ông ta chỉ nói: “Không, anh cho là nơi đó phù hợp với nó,” rồi tiếp tục ăn.
Tôi thì không nghĩ chuồng ngựa là nơi thích hợp với một bệnh nhân bị đạn bắn, nhưng ngần ngại không dám đưa ra ý kiến giữa những người như thế này. Tôi quyết định sáng mai sẽ đi tìm anh chàng kia, chỉ để tự trấn an bản thân rằng anh ta đã được chăm sóc tử tế hết mức.
Tôi từ chối món tráng miệng và xin phép cáo lui, lấy cớ mệt mỏi. Đó cũng không phải là một lời nói dối. Tôi bải hoải đến nỗi hầu như không chú ý khi Colum nói: “Chúc cô ngủ ngon, cô Beauchamp. Ta sẽ cử người đưa cô tới đại sảnh vào sáng mai.”
Một người hầu nhìn thấy tôi dò dẫm tìm đường dọc theo hành lang đã tốt bụng soi sáng cho tôi tới tận cửa buồng. Cô ta châm cây nến của mình vào một cây nến trên bàn tôi, ánh sáng dìu dịu lập tức hắt lên những khối đá đồ sộ của bức tường, trong một thoáng tạo cho tôi cảm giác mình như đang ở trong một hầm mộ. Nhưng khi cô ta đi khỏi, tôi liền gạt tấm rèm thêu che cửa sổ sang một bên, không khí mát mẻ ùa vào nhanh chóng xua tan cảm giác ấy. Tôi cố gắng nghĩ về tất cả những chuyện đã xảy ra, nhưng trí óc tôi từ chối suy nghĩ đến bất cứ thứ gì ngoài việc ngủ. Tôi chui vào trong chăn, thổi tắt nến và thiếp đi khi đang ngắm nhìn vầng trăng chầm chậm nhô lên.
•••
Sáng hôm sau, lại là bà FitzGibbons đồ sộ tới để đánh thức tôi dậy, mang theo bộ đồ trang điểm đầy đủ dành cho một tiểu thư người Scot quyền quý. Lược chì để làm đen lông mày và lông mi, bột rễ irit thơm và bột gạo, thậm chí cả một thỏi mà tôi cho là phấn côn[2], dù tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó, và một cái tách bằng sứ có nắp tinh xảo đựng phấn hồng của Pháp, chạm khắc một hàng thiên nga mạ vàng.
Bà FitzGibbons cũng mang theo một cái váy ngoài kẻ sọc màu xanh lá và cái áo chẽn bằng lụa, với đôi tất bông màu vàng, để thay thế cho bộ đồ vải thô đơn giản mà tôi mặc ngày hôm qua. Cho dù ở đại sảnh diễn ra sự kiện gì thì nó cũng có vẻ là một dịp quan trọng. Thói bướng bỉnh thôi thúc tôi đòi mặc bộ đồ của mình để tới đó, nhưng nhớ tới thái độ của gã Rupert béo ị trước “chiếc váy lót” ấy, tôi lập tức nhụt chí.
Hơn nữa, tôi khá thích Colum, mặc dù dường như ông ta có ý định giữ tôi ở lại đây một thời gian. Chà, để xem nào, tôi nghĩ trong lúc đánh phấn hồng. Dougal nói chàng trai trẻ mà tôi giúp trị thương đang ở trong chuồng ngựa, không phải sao? Và chuồng ngựa thì phải có ngựa để cưỡi rồi. Tôi quyết định sẽ đi tìm Jamie MacTavish ngay khi sự kiện ở đại sảnh kết thúc.
Hóa ra đại sảnh chỉ là cái phòng ăn mà tôi đã ăn tối qua, nhưng bây giờ nó đã được biến đổi; bàn ghế được dẹp sát vào tường, cái bàn chính bị bỏ đi và thay thế bằng một cái ghế gỗ sẫm màu chắc nịch được chạm trổ và phủ tấm vải len kẻ ô vuông của thị tộc MacKenzie có màu xanh lá cây sẫm và đen đan xen với màu đỏ nhạt và trắng. Trên các bức tường trang trí những nhành nhựa ruồi và dưới sàn đá rải đầy cây cói tươi.
Đằng sau chiếc ghế trống, một chàng trai trẻ đang thổi vào túi hơi của một bộ kèn túi nhỏ, phát ra những tiếng ù ù. Gần anh ta là nhóm người mà tôi cho là đám tay chân thân tín của Colum: một gã mặt mỏng quẹt mặc quần bó sát bằng vải len sọc vuông và áo sơ mi có hoa văn hình tổ ong đang tựa vào tường; một gã hói nhỏ thó mặc áo khoác bằng gấm thêu kim tuyến xịn, rõ ràng làm công việc ghi chép vì ông ta đang ngồi ở một cái bàn nhỏ với bình mực bằng sừng, bút lông và giấy; hai gã mặc váy có thân hình rắn chắc, nở nang mang dáng vẻ vệ sĩ; và cuối cùng là một trong những người đàn ông to lớn nhất mà tôi từng được thấy.
Tôi nhìn chằm chằm vào gã hộ pháp này với đôi chút kính sợ. Mái tóc đen bù xù lòa xòa trên trán, gần chạm vào đôi lông mày nhô cao. Tay áo hắn xắn lên, phơi bày đôi cẳng tay to lớn ẩn dưới lớp lông đen sì rậm rạp. Không giống như phần lớn những người đàn ông mà tôi đã nhìn thấy, gã khổng lồ này có vẻ không trang bị vũ khí, ngoại trừ một con dao nhỏ xíu giắt trong cạp tất. Tôi hầu như không thể nhìn ra cái cán dao ngắn và dày lấp ló trong những búi lông xoăn tít che phủ hai chân hắn bên trên đôi bít tất dài kẻ ô sặc sỡ. Vòng eo phải rộng đến cả mét của hắn đeo một cái thắt lưng da to bản, nhưng ở đó không giắt dao găm hay kiếm. Tuy to lớn là vậy nhưng người đàn ông này lại có nét mặt tử tế và hắn có vẻ đang đùa giỡn với gã mặt mỏng, kẻ trông như một con rối khi so với người bạn khổng lồ của mình.
Người thổi kèn túi bất ngờ chơi nhạc, mở màn là một tiếng rền lớn, liền sau đó là tiếng ré chói tai, cuối cùng giai điệu du dương mới cất lên.
Có khoảng ba, bốn chục người tụ tập ở đây, tất cả đều ăn mặc chỉn chu và chải chuốt hơn các thực khách tối qua. Các mái đầu đều quay về phía thấp hơn của đại sảnh, nơi Colum bước vào sau một thoáng dừng lại để chờ tiếng kèn trở nên hùng hồn, theo sau là em trai, Dougal.
Anh em nhà MacKenzie dĩ nhiên đều mặc lễ phục với váy màu xanh lá cây sẫm và áo khoác cắt may khéo, với Colum thì là màu lục nhạt còn với Dougal là màu nâu đỏ nhạt, cả hai đều có cái khăn choàng len vắt chéo qua ngực và cố định ở một bên vai bằng cái ghim cài đính hạt châu lớn. Mái tóc đen của Colum hôm nay để xõa ngang vai, được uốn quăn và bôi dầu cẩn thận. Tóc của Dougal thì vẫn được cột lại thành bím, gần như tiệp màu với chiếc áo khoác xa tanh màu nâu đỏ nhạt của ông ta.
Colum bước chậm chạp dọc theo đại sảnh, gật đầu và mỉm cười với những khuôn mặt ở cả hai bên. Nhìn ngang qua đại sảnh, tôi có thể thấy gần chỗ chiếc ghế của ông ta còn có một cái cổng tò vò khác. Rõ ràng ông ta có thể vào đại sảnh bằng cái cửa đó, thay vì cái cửa mà ông ta vừa đi qua. Vậy là ông ta cố tình trưng ra đôi chân tàn tật và dáng đi cà nhắc vụng về kia khi lựa chọn quãng đường dài hơn, đồng thời cũng cố tình trưng ra sự tương phản với người em trai cao ráo, thân hình thẳng băng đang đi ngay đằng sau mình, mắt không hề nhìn trái nhìn phải cho tới khi đến chỗ cái ghế gỗ và đứng vào vị trí sát phía sau nó.
Colum ngồi xuống, đợi một lát rồi giơ tay lên. Tiếng kèn rền rĩ tắt dần, và sự kiện ở đại sảnh bắt đầu.
Rõ ràng đây là một sự kiện thường xuyên diễn ra, trong dịp này lãnh chúa của lâu đài Leoch sẽ ban phát công lý cho những người trương đất[3] và tá điền, lắng nghe các vụ kiện và giải quyết các tranh chấp cãi vã. Có sắp xếp thứ tự hẳn hoi; ông thư ký đầu hói đọc to những cái tên và đến lượt ai thì người đó sẽ bước lên phía trước.
Mặc dù có vài vụ được trình bày bằng tiếng Anh nhưng hầu hết các vụ kiện được xử bằng tiếng Gaelic. Tôi nhận thấy người nào người nấy đều đảo mắt và giậm chân để nhấn mạnh lời mình, vậy nên khó mà đánh giá được tính nghiêm trọng của một vụ kiện nếu chỉ nhìn vào thái độ của những người có liên quan.
Tôi vừa mới đoán định rằng người đàn ông nhếch nhác đeo cái túi to tướng bằng da của cả một con lửng ở trước váy đang tố người hàng xóm là kẻ sát nhân, đốt phá và cướp vợ thì Colum bỗng nhướng mày và nói nhanh điều gì đó bằng tiếng Gaelic, khiến cả người thưa kiện lẫn người bị kiện đều ôm bụng mà cười. Cuối cùng, người thưa kiện vừa chùi mắt vừa gật đầu và chìa tay ra với đối thủ, trong lúc viên thư ký mải miết ghi chép, tiếng bút lông soàn soạt như tiếng chân chuột chạy.
Vụ của tôi được xếp thứ năm, một vị trí được tính toán cẩn thận để cho đám đông đang tụ họp thấy được tầm quan trọng của tôi trong lâu đài.
Vì tôi không nói được tiếng Gaelic nên vụ của tôi được xử bằng tiếng Anh.
“Cô Beauchamp, mời cô đứng ra phía trước!” Người thư ký gọi.
Bàn tay mập mạp của bà FitzGibbons đẩy tôi về đằng trước khiến tôi loạng choạng bổ nhào vào khoảng trống trước mặt Colum và lóng ngóng nhún gối cúi chào như những người phụ nữ khác mà tôi đã thấy. Đôi giày bà Fitz mang cho tôi được làm bằng da và có hình thuôn, không phân biệt chân phải chân trái, khiến tôi khó mà cử động một cách duyên dáng. Đám đông trở nên chăm chú khi Colum dành cho tôi một vinh dự, đó là ông ta đứng dậy khỏi cái ghế của mình, chìa tay ra cho tôi bám vào để khỏi ngã dập mặt.
Vừa thầm nguyền rủa đôi giày vừa đứng thẳng dậy, tôi thấy mình đang nhìn chằm chằm vào bộ ngực của Dougal. Vì là người bắt giữ tôi nên rõ ràng ông ta phải là người chính thức thỉnh cầu lãnh chúa tiếp nhận - hoặc giam cầm tôi, tùy theo cách ta muốn nhìn nhận việc này. Tôi chăm chú đợi xem hai anh em họ định giải thích về tôi như thế nào.
“Thưa ngài,” Dougal trịnh trọng cúi đầu với Colum, “chúng tôi cầu xin ngài mở lòng khoan dung với một quý cô đang cần sự giúp đỡ và một nơi nương náu an toàn. Cô Claire Beauchamp, một quý cô người Anh đến từ Oxford, đã bị lũ cướp đường tấn công và chúng đã giết hại người hầu của cô ấy hết sức dã man, vì vậy cô ấy phải chạy vào trong khu rừng thuộc lãnh địa của ngài. Ở đó, tôi và người của tôi đã phát hiện và giải cứu cô ấy. Chúng tôi thỉnh cầu ngài cho quý cô đây nương tựa ở lâu đài Leoch cho tới khi” - ông ta ngừng lại, khóe miệng nhếch lên một nụ cười nhạo báng - “những người bà con Anh quốc của cô ấy nhận được tin báo về nơi ở của cô ấy và sắp xếp cho cô ấy có một chuyến đi an toàn.”
Tôi không thể không nghe ra sự nhấn mạnh vào từ “Anh quốc”, và chắc chắn là bất kỳ ai trong đại sảnh cũng vậy. Vậy là tôi sẽ được chấp nhận, nhưng vẫn luôn bị ngờ vực. Nếu ông ta nói tôi là người Pháp, tôi sẽ được coi là một vị khách thân thiện hoặc cùng lắm là một kẻ xâm phạm vô hại. Việc trốn khỏi lâu đài có thể sẽ khó khăn hơn tôi nghĩ.
Colum gật đầu lịch thiệp với tôi và ngỏ ý sẽ dành cho tôi lòng hiếu khách vô tận trong tổ ấm khiêm tốn của ông ta. Tôi lại nhún gối cúi chào, lần này khéo léo hơn một chút, và lui về vị trí của mình, theo sau là những ánh mắt tò mò nhưng ít nhiều thân thiện.
Cho tới lúc này, các vụ kiện có vẻ chỉ thu hút được sự quan tâm của các bên có liên quan. Các khán giả thì thào tán gẫu với nhau, chờ đến lượt mình. Sự xuất hiện của tôi cũng chỉ khơi lên những tiếng lầm rầm đánh giá đầy hứng thú và tôi nghĩ cả sự tán đồng nữa.
Nhưng giờ thì cả đại sảnh xôn xao hẳn lên. Một người đàn ông lực lưỡng lôi xềnh xệch một cô gái trẻ tới khoảng trống. Trông cô ta chỉ chừng mười sáu tuổi, khuôn mặt xinh đẹp mếu máo và mái tóc dài màu vàng được cột lại bằng sợi ruy băng màu xanh. Cô ta loạng choạng ngã chúi vào khoảng trống và đứng một mình trong lúc người đàn ông đằng sau vạch tội cô ta bằng tiếng Gaelic, hai cánh tay vung vẩy thi thoảng lại chỉ vào cô ta để minh họa hoặc buộc tội. Những tiếng thì thào nho nhỏ lan khắp đám đông.
Bà FitzGibbons đang ngự trên một cái ghế đẩu vững chãi, chăm chú nghển cổ về phía trước. Tôi rướn người và thì thầm vào tai bà: “Cô ấy đã làm cái gì vậy?”
Bà lão to béo trả lời mà không mấp máy môi hay dời mắt khỏi diễn biến của vụ việc. “Cha con bé tố nó có hành vi không đứng đắn, qua lại bừa bãi với mấy gã trai trẻ dù ông ta đã cấm đoán,” bà FitzGibbons thì thầm, ngả cơ thể đồ sộ ra đằng sau. “Ông ta mong Lãnh chúa MacKenzie trừng phạt nó vì tội không vâng lời.”
“Trừng phạt? Bằng cách nào?” Tôi rít lên khẽ khàng nhất có thể.
“Suỵt.”
Ở chỗ trung tâm, mọi sự chú ý đều đổ dồn vào Colum, Ông ta hết nhìn người cha lại quay sang nhìn cô con gái, rồi mới bắt đầu nói, lông mày cau lại, các khớp ngón tay gõ mạnh lên tay ghế, và đám đông rùng mình.
“Ông ấy đã quyết định rồi,” bà FitzGibbons thì thầm. Tuy nhiên, không cần bà phải nói thì cái quyết định của ông ta cũng đã rất rõ ràng. Gã hộ pháp cử động lần đầu tiên, thong thả cởi cái thắt lưng da. Hai gã vệ sĩ nắm lấy hai cánh tay của cô gái đang hoảng sợ và xoay người cô ta lại để lưng cô ta hướng về phía Colum và cha cô ta. Cô gái bắt đầu gào khóc, nhưng không hề nài xin. Đám đông háo hức theo dõi như thể đang tham dự một buổi xử tử công khai hoặc xem một vụ tai nạn trên đường. Bỗng nhiên một giọng nói bằng tiếng Gaelic cất lên từ phía cuối đám đông, nghe rõ mồn một qua những tiếng sột soạt và xì xào.
Các mái đầu quay lại để tìm chủ nhân của giọng nói đó. Bà FitzGibbons nghển cổ, thậm chí còn đứng kiễng hẳn chân lên để ngó. Tôi không hiểu câu nói vừa rồi có nghĩa là gì, nhưng tôi nghĩ tôi nhận ra giọng nói trầm ấm nhưng mềm mại ấy, với điểm đặc trưng là nuốt mất các phụ âm cuối.
Đám đông rẽ ra, và Jamie MacTavish bước vào khoảng trống. Anh ta cúi đầu thành kính với Lãnh chúa MacKenzie rồi nói thêm vài câu nữa. Những gì anh ta nói có vẻ gây ra chút tranh luận giữa Colum, Dougal, người thư ký nhỏ thó và cha cô gái.
“Anh ta nói gì vậy?” Tôi thì thầm với bà Fitz. Mặc dù mặt vẫn còn hơi tái nhưng bệnh nhân của tôi trông khá hơn nhiều so với lần cuối tôi nhìn thấy anh ta. Anh ta đã kiếm được cái áo sơ mi sạch sẽ ở đâu đó; ống tay áo bên phải trống rỗng được gấp lại và nhét vào cạp váy.
Bà Fitz đang hết sức chăm chú theo dõi diễn biến của vụ việc.
“Cậu ấy đang đề nghị nhận hình phạt thay con bé,” bà lơ đãng nói, ngó qua người một khán giả trước mặt chúng tôi.
“Cái gì? Nhưng anh ta bị thương mà! Họ sẽ không để anh ta làm một việc như thế đâu!” Tôi nói khẽ khàng nhất có thể qua tiếng rì rầm của đám đông.
Bà Fitz lắc đầu. “Tôi cũng không biết nữa, cô gái ạ. Hiện giờ họ đang tranh luận về chuyện này. Cô biết đấy, một người đàn ông cùng thị tộc với con bé được phép nhận hình phạt thay cho nó, nhưng cậu chàng lại không phải là người của thị tộc Mackenzie.”
“Không phải ư?” Tôi ngạc nhiên vì đã ngây thơ cho rằng toàn bộ nhóm bắt giữ tôi đều là người của lâu đài Leoch.
“Dĩ nhiên là không phải,” bà Fitz nói với vẻ mất kiên nhẫn. “Cô không nhìn thấy hoa văn trên y phục của cậu ấy à?”
Dĩ nhiên là tôi có nhìn thấy, sau khi bà đã chỉ ra. Mặc dù Jamie cũng mặc váy đi săn bằng vải len kẻ ô màu xanh lá và nâu, nhưng lại không hoàn toàn giống với màu sắc trên trang phục của những người đàn ông khác đang có mặt. Màu nâu trên váy anh ta sẫm hơn, gần như màu vỏ cây, với những đường kẻ sọc màu xanh nhạt.
Dường như ý kiến của Dougal có tính quyết định. Nhóm cố vấn tản ra và đám đông im lặng chờ đợi. Hai gã vệ sĩ thả cô gái ra, cô ta liền chạy biến vào trong đám đông, và Jamie bước tới để thế chỗ cô ta. Tôi sợ hãi nhìn hai gã vệ sĩ bước tới để nắm lấy cánh tay anh ta, nhưng anh ta nói gì đó bằng tiếng Gaelic với người đàn ông cầm thắt lưng, khiến hai gã vệ sĩ lùi lại. Ngạc nhiên thay, trên mặt anh ta thoáng hiện một nụ cười bình thản. Càng kỳ lạ hơn, gã khổng lồ cũng mỉm cười đáp lại.
“Anh ta nói gì vậy?” Tôi hỏi người phiên dịch của mình.
“Cậu ấy chọn nắm đấm thay vì chiếc thắt lưng. Một người đàn ông có thể lựa chọn như vậy, trong khi phụ nữ thì không.”
“Nắm đấm?” Tôi không có thời gian để hỏi thêm điều gì. Gã hộ pháp lấy đà rồi giáng một cú đấm sấm sét vào bụng Jamie, khiến anh ta gập đôi người lại và thở hổn hển. Đợi anh ta đứng thẳng dậy, hắn lại sấn tới và vung liên tiếp một loạt cú đấm như trời giáng vào mạng sườn và cánh tay anh ta. Jamie không hề chống đỡ mà chỉ đổi chân trụ để giữ mình đứng thẳng trước sự tấn công.
Cú đấm tiếp theo nhắm vào mặt. Tôi nhăn nhó và vô thức nhắm mắt lại khi đầu Jamie bật ngửa ra sau. Gã hộ pháp ngừng lại một chút giữa các cú đấm, cẩn thận không đánh gục nạn nhân hoặc đánh quá nhiều lần vào một vị trí. Đó là cả một sự tính toán khoa học, khéo léo để chỉ gây ra những vết bầm tím chứ không làm cho đối phương bị thương tật. Một bên mắt của Jamie sưng húp lên và anh ta đang thở hổn hển, nhưng tình trạng anh ta không quá tệ.
Tôi hồi hộp lo sợ một trong những cú đấm sẽ lại làm rách vết thương ở vai Jamie. Tấm vải băng bó vẫn ở nguyên vị trí cũ, nhưng nó sẽ không cầm cự được lâu trước trận đòn này. Chuyện này sẽ diễn ra bao lâu nữa đây? Căn phòng im lặng như tờ, chỉ có tiếng đánh đấm huỳnh huỵch và thi thoảng là một tiếng rên khe khẽ.
“Angus sẽ dừng lại khi nào có máu đổ.” Như thể đọc được câu hỏi không lời của tôi, bà Fitz thì thầm. “Thường là khi mũi bị gãy.”
“Thật man rợ,” tôi rít lên phẫn nộ, khiến vài người xung quanh quay sang lườm.
Dường như quyết định rằng cuộc trừng phạt diễn ra như vậy là đủ rồi, gã hộ pháp lấy đà tung một cú đấm chắc nịch khiến Jamie loạng choạng ngã khuỵu xuống. Hai gã vệ sĩ vội vàng chạy tới để kéo anh ta dậy, và khi anh ta ngẩng đầu lên, tôi nhìn thấy máu trào ra từ cái miệng bầm dập của anh ta. Đám đông thở phào nhẹ nhõm, và gã hộ pháp bước lùi lại, thỏa mãn vì đã thực hiện xong nhiệm vụ.
Một gã vệ sĩ đỡ lấy cánh tay Jamie khi anh ta lắc lắc đầu để tỉnh táo lại. Cô gái đã biến mất. Jamie ngẩng đầu nhìn thẳng vào gã hộ pháp sừng sững như một tòa tháp. Ngạc nhiên thay, anh ta lại mỉm cười, cố gắng tươi tỉnh hết sức có thể. Cái môi đang chảy máu mấp máy.
“Cảm ơn,” anh ta khó nhọc nói và trịnh trọng cúi đầu với gã đàn ông to lớn trước khi quay người rời đi. Đám đông lại dồn sự chú ý vào Lãnh chúa MacKenzie và vụ kiện tiếp theo.
Nhìn Jamie rời khỏi đại sảnh bằng cánh cửa phía đối diện, cảm thấy hứng thú với anh ta hơn là các vụ kiện, tôi vội vã cáo từ bà FitzGibbons và hối hả đi theo anh ta.
Tôi tìm thấy anh ta đang tựa vào thành giếng và lấy vạt áo chấm chấm miệng trong một cái sân phụ nhỏ.
“Đây, dùng cái này đi,” tôi nói, lấy từ trong túi ra một chiếc khăn tay đưa cho anh ta.
Anh ta nhận nó với một tiếng “ưm” mà tôi đoán là lời cảm ơn. Vầng mặt trời bạc thếch đã ló ra, nhờ ánh sáng của nó mà tôi có thể nhìn kĩ chàng trai trẻ. Có vẻ như cái môi bị nứt toác và con mắt sưng húp là những vết thương nặng nhất, dù chẳng mấy chốc dọc theo hàm và cổ anh ta cũng sẽ nổi lên những vết bầm tím.
“Bên trong miệng anh có bị rách không?”
“Ưm, ưm.” Anh ta cúi lại gần và tôi kéo hàm dưới của anh ta xuống, nhẹ nhàng vén môi anh ta để kiểm tra bên trong. Có một vết rách sâu ở má trong và một vài vết rách nhỏ ở môi trong. Máu trộn lẫn nước bọt tứa ra ngoài.
“Nước,” anh ta khó nhọc nói, lau dòng máu đang chảy xuống cằm.
“Được.” May thay, trên mép giếng có một cái gàu và một cái chén bằng sừng. Anh ta súc miệng và khạc nhổ vài lần rồi vã nước lên mặt.
“Sao anh lại làm thế?” Tôi tò mò hỏi.
“Làm cái gì cơ?” Anh ta nói, đứng thẳng dậy và lấy tay áo lau mặt. Rồi anh ta rón rén sờ lên cái môi nứt toác và khẽ nhăn nhó.
“Nhận hình phạt thay cho cô gái đó. Anh có biết cô ta không?” Tôi hơi ngần ngại khi hỏi câu này, nhưng thực sự muốn biết động cơ dẫn đến cử chỉ hào hiệp ban nãy.
“Tôi biết cô ấy là ai, nhưng chưa từng nói chuyện với cô ấy.”
“Vậy tại sao anh lại làm thế?”
Anh ta nhún vai rồi lập tức nhăn nhó vì cử động ấy.
“Bị đánh ở đại sảnh sẽ làm cô ấy cảm thấy nhục nhã. Với tôi thì dễ dàng hơn.”
“Dễ dàng hơn?” Tôi ngờ vực hỏi lại, nhìn vào khuôn mặt bầm giập của anh ta. Anh ta đang dè dặt thăm dò hai mạng sườn thâm tím bằng bàn tay lành lặn, nhưng ngẩng lên và nở nụ cười nửa miệng với tôi.
“Ừ. Cô ấy còn rất trẻ. Cô ấy sẽ cảm thấy nhục nhã trước mặt tất cả những ai biết cô ấy, và sẽ mất một thời gian dài để vượt qua điều đó. Còn tôi tuy bị đau nhưng không thực sự bị tổn thương; chỉ cần một, hai ngày là tôi sẽ ổn cả thôi.”
“Nhưng tại sao lại là anh?” Tôi hỏi.
Anh ta mang vẻ mặt như thể đây là một câu hỏi kỳ quặc.
“Tại sao không thể là tôi chứ?” Anh ta nói.
Tại sao ư? Tôi muốn nói: Bởi vì anh không quen biết cô ta, cô ta chẳng là gì đối với anh cả. Bởi vì anh đã bị thương sẵn rồi. Bởi vì phải cực kỳ can đảm mới có thể đứng trước một đám đông và để cho ai đó đánh vào mặt anh, bất kể động cơ của anh là gì.
“Chà, một viên đạn hỏa mai xuyên qua cơ thang có thể được coi là một lý do chính đáng,” tôi lạnh lùng nói.
Anh ta có vẻ buồn cười, sờ ngón tay vào chỗ vừa được nói đến.
“Nó là cơ thang à? Tôi không biết nó có tên như thế đấy.”
“Ô, cháu đây rồi! Ta thấy cháu đã tìm được người chữa trị cho mình; có lẽ cháu sẽ không cần đến ta nữa.” Bà FitzGibbons lạch bạch lách người qua cái cửa hẹp dẫn vào sân, tay bê một chiếc khay đựng mấy cái lọ, một cái bát lớn và một cái khăn vải lanh sạch.
“Tôi chưa làm gì cả ngoài việc lấy cho anh ấy một ít nước,” tôi nói. “Tôi nghĩ anh ấy bị thương không nặng lắm, nhưng tôi không biết phải làm gì ngoài việc giúp anh ấy rửa mặt.”
“Ồ, chắc chắn sẽ có việc để làm,” bà vui vẻ nói. “Để ta kiểm tra con mắt kia nào, chàng trai.”
Jamie ngoan ngoãn ngồi trên thành giếng, quay mặt về phía bà. Những ngón tay mập mạp nhẹ nhàng ấn lên chỗ sưng tím, để lại những vết lõm màu trắng, rồi chúng nhanh chóng biến mất.
“Vẫn còn chảy máu ở dưới da. Lũ đỉa sẽ giúp được.” Bà nhấc cái nắp đậy trên bát ra, để lộ vài sinh vật nhỏ màu đen giống như con sên trần, dài khoảng ba, bốn centimet, được bao phủ bởi một lớp chất lỏng trông rõ gớm guốc. Bà nhặt hai con trong đó ra, ấn một con lên chỗ ngay bên dưới xương lông mày và con kia ngay bên dưới mắt Jamie.
“Cô thấy đấy,” bà giải thích với tôi, “một khi nó trở thành vết thâm tím thì đến đỉa cũng chẳng làm được gì. Nhưng khi nó vẫn còn sưng như thế này thì chứng tỏ máu đang chảy bên dưới da, và đỉa có thể hút máu ra.”
Tôi quan sát, thấy vừa thích thú vừa ghê tởm. “Có đau không?” Tôi hỏi Jamie. Anh ta lắc đầu, khiến cho những con đỉa nảy lên trông đến là gớm ghiếc.
“Không. Chỉ cảm thấy hơi lạnh thôi.” Bà Fitz đang mải bận rộn bên đám chai lọ.
“Rất nhiều người lạm dụng đỉa,” bà giảng giải. “Đôi khi chúng rất hữu ích, nhưng cô phải hiểu cách dùng chúng. Đối với một vết thâm tím cũ, chúng chỉ hút máu lành thôi và chẳng giúp gì được cho vết thương cả. Cô cũng phải cẩn thận chớ nên dùng quá nhiều con một lúc; chúng sẽ làm một người vốn đã rất ốm yếu hoặc bị mất máu trở nên yếu thêm.”
Tôi kính cẩn lắng nghe như nuốt lấy mọi thông tin, dù tôi thực lòng hy vọng mình sẽ không bao giờ phải dùng đến cách này.
“Nào, chàng trai, súc miệng bằng thứ này đi; nó sẽ làm sạch các vết rách và xoa dịu nỗi đau đớn. Trà làm từ vỏ cây liễu đấy,” bà quay sang giải thích với tôi, “với một ít rễ irit thơm nghiền nhỏ.” Tôi gật đầu; lờ mờ nhớ lại một bài giảng về thực vật từ lâu lắm rồi rằng vỏ cây liễu có chứa acid salicylic, một nguyên liệu rất công hiệu được dùng để bào chế thuốc giảm đau.
“Chẳng phải vỏ cây liễu sẽ làm tăng nguy cơ chảy máu sao?” Tôi hỏi. Bà Fitz gật đầu tán đồng.
“Ừ. Thi thoảng. Đó là lý do cô phải cho thêm một nắm to cây ban Âu ngâm trong giấm; nó giúp cầm máu nếu được hái lúc trăng tròn và được nghiền nhỏ.” Jamie ngoan ngoãn súc miệng với thứ thuốc nước làm se vết thương đó, đôi mắt nhòe nước vì giấm thơm gây xót.
Những con đỉa lúc này đã no kềnh, phình lên gấp bốn lần so với kích cỡ ban đầu. Làn da nhăn nheo đen kịt giờ căng ra bóng láng; trông như những viên đá tròn được mài nhẵn. Một con đột nhiên rơi xuống, nảy lên trên mặt đất ngay dưới chân tôi. Tuy có thân hình đồ sộ nhưng bà Fitz vẫn dễ dàng cúi xuống để nhặt nó lên và thả trở lại cái bát. Rồi bà khéo léo tóm lấy con đỉa còn lại, nhẹ nhàng kéo nó khiến cái đầu nó căng ra.
“Cô không nên kéo quá mạnh,” bà nói. “Đôi khi chúng vỡ tung đấy.” Tôi bất giác rùng mình trước hình ảnh đó. “Nhưng nếu chúng sắp no, đôi khi chúng sẽ rời ra dễ dàng. Nếu không, cứ để mặc chúng và chúng sẽ tự rơi xuống.” Thực tế, con đỉa rời ra dễ dàng, để lại một vệt máu nơi nó đã bám vào. Tôi thấm vết thương nhỏ xíu đó bằng một góc của chiếc khăn được nhúng trong giấm. Trước sự ngạc nhiên của tôi, những con đỉa đã phát huy tác dụng; chỗ sưng đã xẹp đáng kể, và con mắt ít nhất đã mở được he hé, dù mí mắt vẫn còn húp híp. Bà Fitz kiểm tra nó kĩ lưỡng và quyết định không dùng thêm con đỉa nào nữa.
“Chắc chắn ngày mai trông cháu sẽ khủng khiếp lắm, chàng trai,” bà nói, lắc lắc đầu, “nhưng ít ra cháu có thể nhìn được bằng con mắt đó. Bây giờ cháu cần đắp lên đấy một miếng thịt sống và uống chút xúp loãng trộn với bia, để củng cố tinh thần. Lát nữa cháu hãy vào bếp, ta sẽ lấy mấy thứ đó cho cháu.” Bà nhặt cái khay lên, ngừng lại trong một thoáng.
“Việc cháu làm thực sự rất tốt đẹp, chàng trai. Laoghaire là cháu gái ta, cháu biết đây; ta thay mặt nó cảm ơn cháu. Dù nó phải đích thân cảm ơn cháu mới đúng, nếu nó biết cách cư xử.” Bà vỗ vỗ má Jamie và lạch bạch rời đi.
Tôi kiểm tra anh ta thật cẩn thận; phương pháp điều trị cổ xưa có hiệu quả đến đáng kinh ngạc. Con mắt vẫn còn hơi sưng, nhưng chỉ bị tím một chút, và vết rách ở môi giờ đã sạch sẽ, không còn lấm máu, chỉ hơi sẫm hơn vùng mô xung quanh.
“Anh cảm thấy thế nào?” Tôi hỏi.
“Ổn.” Hẳn là tôi đã tỏ vẻ ngờ vực, bởi vì anh ta mỉm cười, nhưng nụ cười vẫn khá gượng gạo. “Chỉ là những vết bầm tím thôi mà. Có vẻ như tôi sẽ phải cảm ơn cô lần nữa; chỉ trong ba ngày mà cô đã chữa trị cho tôi ba lần rồi. Cô sẽ nghĩ tôi khá là vụng về.”
Tôi chạm vào một vết bầm trên hàm anh ta. “Không phải là vụng về. Là hơi liều lĩnh mới đúng.” Mắt tôi chợt bắt gặp một bóng người mặc đồ màu vàng và xanh nước biển ở lối vào. Cô gái có tên Laoghaire bẽn lẽn chùn lại, nhìn tôi.
“Tôi nghĩ có người muốn nói chuyện riêng với anh,” tôi nói. “Tôi đi đây. Ngày mai anh có thể tháo lớp băng trên vai. Khi đó tôi sẽ đến tìm anh.”
“Ừ. Cảm ơn cô lần nữa nhé!” Anh ta khẽ siết tay tôi để tạm biệt. Tôi đi ra, tò mò nhìn cô gái. Khi nhìn gần, trông cô ta còn xinh đẹp hơn với đôi mắt màu xanh nhạt và làn da trắng hồng. Cô ta đỏ bừng mặt khi nhìn Jamie. Tôi rời khỏi sân, tự hỏi liệu hành động hào hiệp của anh ta có phải là vì sự tốt bụng như tôi đã tưởng không.
•••
Sáng hôm sau, tôi bị đánh thức vào lúc tảng sáng bởi tiếng chim hót líu lo ở bên ngoài và tiếng người cười nói đi lại ở bên trong. Sau khi mặc xong váy áo, tôi mò mẫm qua những hành lang giá lạnh để tới đại sảnh. Nó đã được khôi phục nguyên dạng là một phòng ăn, những tô cháo khổng lồ đang được đem đến cùng với những cái bánh mỳ bắp nướng vỉ được nướng trên lò sưởi và rắc mật đường. Mùi thức ăn nóng hổi tỏa ra ngào ngạt. Tuy vẫn còn hoang mang và bối rối nhưng bữa sáng nóng sốt đã vực dậy tinh thần tôi, khiến tôi muốn khám phá đôi chút.
Tìm thấy bà FitzGibbons đang nhúng tay đến tận khuỷu trong chậu bột, tôi thông báo rằng mình muốn tìm Jamie để tháo băng cho anh ta và kiểm tra xem vết thương do đạn bắn đã lành lặn chưa. Bà liền vẫy bàn tay to lớn lấm bột trắng toát để gọi một cậu bé chạy việc vặt.
“Nhóc Alec, con chạy đi tìm Jamie, người huấn luyện ngựa mới và bảo cậu ta quay lại đây cùng con để kiểm tra cái vai nhé! Chúng ta sẽ ở trong vườn thảo mộc.”
Sau tiếng búng tay đanh gọn của bà, cậu bé liền hăng hái chạy vụt đi tìm bệnh nhân của tôi.
Chuyển chỗ bột nhào cho một cô hầu gái, bà Fitz rửa tay và quay sang tôi.
“Phải mất một lúc nữa bọn họ mới quay lại. Cô có thích xem vườn thảo mộc không? Có vẻ như cô có chút kiến thức về các loài thực vật, nếu muốn, cô có thể giúp việc ở đó vào những lúc rỗi rãi.”
Vườn thảo mộc là một kho dược liệu và hương liệu giá trị nằm nép mình trong một mảnh sân, đủ rộng để đón nhận ánh mặt trời nhưng vẫn khuất mình khỏi những cơn gió xuân, với một nguồn nước riêng. Những bụi hương thảo tạo thành đường biên ở phía tây của khu vườn, ở phía nam là cúc La Mã, ở phía bắc thì là một luống rau dền, và bức tường của lâu đài tạo nên đường biên phía đông, che chắn cho mảnh vườn khỏi những cơn gió thường xuyên thổi đến. Tôi nhận ra ngay những chiếc lá nhọn màu xanh của loài hoa nghệ tây nở muộn và những chiếc lá me đất Pháp mềm mại nhô lên trên mặt đất tối sẫm. Bà Fitz chỉ cho tôi thấy cây mao địa hoàng, rau sam và hoắc hương, cùng với một số loài mà tôi không nhận ra.
Cuối mùa xuân là thời điểm gieo trồng. Chiếc giỏ trên cánh tay bà Fitz đựng vô khối nhánh tỏi, nguồn giống của vụ hè. Bà đưa cho tôi cái giỏ cùng với một cái que đào để trồng tỏi. Rõ ràng tôi đã ăn không ngồi rồi ở tòa lâu đài này quá lâu rồi; trước khi Colum bố trí cho tôi công việc gì đó, bà Fitz luôn có thể tìm ra một việc để giao cho bàn tay nhàn rỗi của tôi.
“Đây, cưng à. Cô hãy trồng chúng dọc theo mép phía nam, giữa đám cỏ xạ hương và mao địa hoàng.” Bà chỉ cho tôi cách tách củ tỏi thành từng tép riêng biệt mà không phải bóc lớp vỏ dai của chúng, rồi đến cách trồng chúng. Việc này khá đơn giản, chỉ cần cắm từng nhánh tỏi xuống đất, phần gốc hướng xuống dưới, vùi sâu khoảng bốn phân. Bà đứng dậy, phủi bụi trên những lớp váy lùng nhùng.
“Giữ lại một vài củ,” bà khuyên tôi. “Tách chúng ra và trồng rải rác từng tép tỏi ở chỗ này chỗ kia xung quanh vườn. Tỏi giúp ngăn đám sâu bọ mon men tới những loài cây khác. Hành và cỏ thi cũng có tác dụng tương tự. Và hãy cấu những ngọn cúc vạn thọ đã héo, nhưng cần giữ chúng lại, chúng có ích đấy.”
Vô số bông cúc vạn thọ màu vàng kim bung nở khắp vườn. Đúng lúc đó, cậu bé mà bà Fitz sai đi kiếm Jamie chạy tới, thở hồng hộc. Cậu ta thông báo rằng bệnh nhân của tôi không chịu rời bỏ công việc.
“Anh ấy nói là,” cậu bé hổn hển, “anh ấy không bị thương nặng đến nỗi cần phải chăm sóc, nhưng cảm ơn cô vì đã quan tâm.”
Bà Fitz nhún vai trước thông tin khiến người ta không yên tâm này.
“Chà, nếu cậu ta nói là không đến thì cậu ta nhất định sẽ không đến đâu. Nhưng nếu muốn, cô có thể tới bãi giữ ngựa vào lúc gần trưa. Cậu ta có thể không nghỉ tay để chăm sóc vết thương nhưng cậu ta vẫn cần phải ăn uống, tôi còn lạ gì các cậu trai trẻ nữa. Cậu nhóc Alec đây sẽ quay lại đón cô vào buổi trưa và dẫn cô tới bãi giữ ngựa.” Để mặc tôi trồng nốt chỗ tỏi còn lại, bà Fitz lướt đi như một con thuyền buồm lớn, còn cậu Alec thì nhảy chân sáo chạy theo sau.
Tôi vui vẻ làm việc suốt buổi sáng, trồng tỏi, cấu những bông hoa héo, nhổ cỏ dại và dấn thân vào cuộc chiến không bao giờ kết thúc giữa người làm vườn với ốc sên, sên trần và những loài gây hại tương tự. Tuy nhiên, cuộc chiến ở đây được tiến hành bằng tay không, chẳng hề có sự trợ giúp của những chất hóa học diệt trừ sâu bọ. Tôi quá mải mê với công việc của mình đến nỗi không nhận thấy Alec đã trở lại cho đến khi cậu ta lịch sự hắng giọng để thu hút sự chú ý của tôi. Vốn là người kiệm lời, chỉ đợi tôi đứng dậy và phủi bụi ở váy là cậu ta lập tức chạy biến qua cổng.
Bãi giữ ngựa mà cậu ta dẫn tôi đến nằm trên một đồng cỏ cách chuồng ngựa không xa. Trên đồng cỏ gần đó có ba con ngựa non đang vui đùa. Một con ngựa cái non màu nâu đỏ trông có vẻ sạch sẽ được cột vào hàng rào của bãi, trên lưng vắt một cái chăn nhẹ.
Jamie đang rón rén đi dọc theo thân mình con ngựa. Nó theo dõi sự tiếp cận của anh ta với vẻ nghi ngờ cảnh giác. Anh ta nhẹ nhàng đặt cánh tay lành lặn lên lưng nó, rủ rỉ trò chuyện, sẵn sàng lùi lại nếu con ngựa tỏ vẻ khó chịu. Nó đảo mắt và phì mũi nhưng không cử động. Jamie vừa tiếp tục thì thầm với con ngựa vừa chầm chậm vươn người qua tấm chăn, định leo lên lưng nó. Nó hơi chồm lên và dấn bước nhưng anh ta vẫn kiên trì, chỉ hơi cao giọng một chút.
Đúng lúc đó, con ngựa quay đầu, nhìn thấy tôi và cậu bé đang tiến đến. Ngửi thấy mùi đe dọa, nó chồm lên, hí vang và xoay người để đối mặt với chúng tôi, ép Jamie vào hàng rào. Vừa thở phì phì vừa lồng lên, con ngựa đá hậu loạn xạ và cố gắng giằng khỏi cái dây đang buộc nó. Jamie lăn người bên dưới hàng rào, tránh xa những cú đá. Anh ta đứng dậy với vẻ đau đớn, chửi thề bằng tiếng Gaelic và quay lại để xem thứ gì đã gây ra thất bại của anh ta.
Khi nhìn thấy ai đang đến, vẻ giận dữ trên mặt anh ta lập tức biến thành vẻ chào đón lịch sự, dù tôi đoán là sự xuất hiện không đúng lúc của chúng tôi vẫn không được hoan nghênh. Bà Fitz quả thực hiểu các chàng trai trẻ. Giỏ đồ ăn trưa được bà chu đáo chuẩn bị đã có tác dụng rất lớn trong việc khôi phục lại tâm trạng của anh ta.
“A, yên nào, đồ tiểu yêu đáng nguyền rủa,” anh ta quát mắng con ngựa vẫn đang phì phì và lồng lộn với cái dây buộc. Sau khi tạm biệt cậu bé Alec với một cái tát yêu, anh ta nhặt lấy cái chăn bị rơi của con ngựa, giũ bụi rồi hào hiệp trải nó ra cho tôi ngồi.
Tôi khéo léo tránh nhắc đến sự việc rủi ro vừa xảy ra, thay vào đó tôi rót bia và mời anh ta ăn bánh mỳ và pho mát.
Nhìn anh ta mải miết ăn, tôi bèn nhớ đến sự vắng mặt của anh ta ở phòng ăn hai đêm trước.
“Ngủ suốt,” anh ta nói khi tôi hỏi anh ta đã ở đâu. “Tôi lên giường ngay sau khi chia tay cô và ngủ một mạch đến tận sáng sớm hôm qua. Sau phiên tòa ở đại sảnh, tôi làm việc một chút rồi ngồi nghỉ trên một kiện cỏ khô để đợi đến bữa tối.” Anh ta cười. “Thế rồi sáng nay tỉnh giấc, tôi thấy mình vẫn ngồi nguyên đó, với một con ngựa đang gặm nhẹ tai tôi.”
Tôi nghĩ việc nghỉ ngơi đã có tác dụng tốt đối với anh ta; những vết thâm tím từ trận đòn hôm qua đã tối sẫm lại, nhưng làn da quanh chúng có màu sắc khỏe khoắn, và chắc chắn anh ta ăn uống rất ngon miệng.
Anh ta ngốn sạch phần còn lại của bữa ăn, chấm chấm những mẩu vụn rơi trên áo bằng đầu ngón tay được thấm ướt và cho tọt chúng vào mồm.
“Anh háu ăn thật đây,” tôi nói, cười to. “Tôi nghĩ anh sẽ ăn cả cỏ nếu chẳng còn cái gì khác.”
“Tôi đã ăn cỏ rồi đây chứ,” anh ta nói, hoàn toàn nghiêm túc. “Nó có vị không tệ, nhưng không làm no bụng được.”
Tôi kinh ngạc, rồi nghĩ hẳn là anh ta đang trêu tôi. “Khi nào vậy?” Tôi hỏi.
“Mùa đông năm kia. Lúc ấy cuộc sống của tôi khá khó khăn, tôi sống chui sống lủi ở trong rừng với… với một nhóm thanh niên, chuyên cướp bóc ở vùng biên giới. Chúng tôi đã không gặp may trong hơn một tuần và chẳng còn gì để ăn. Thi thoảng chúng tôi xin được chút cháo yến mạch của một chủ trại nhỏ nào đó, nhưng họ cũng nghèo đến nỗi hiếm khi có thứ gì thừa. Họ sẽ luôn tìm thấy thứ gì đó để cho một người lạ, nhưng hai mươi người thì hơi nhiều, cho dù người cao nguyên có hiếu khách thế nào.”
Anh ta đột nhiên cười toe. “Cô đã nghe nói - ờ, không, sao cô nghe thấy nó được chứ! Tôi đang định hỏi cô đã nghe nói về câu kinh họ nguyện trong các trại nhỏ chưa?”
“Chưa. Nó như thế nào?”
Anh ta lắc lắc để hất phần tóc mái ra khỏi mắt và ngâm nga.
“Lanh canh, lanh canh, chuyền thức ăn quanh bàn,
Hãy ăn hết sức vào.
Ăn nhiều vào, pooch nane[4],
Lanh canh, lanh canh, Amen.”
“Pooch nane là gì?” Tôi hỏi. Anh ta vỗ vỗ cái túi to đeo trên thắt lưng.
“Cho thức ăn vào bụng chứ đừng cho vào túi của bạn,” anh ta giải thích.
Anh ta vươn tay với lấy một ngọn cỏ lưỡi dài, tuốt nó ra khỏi vỏ, rồi lăn chầm chậm giữa hai lòng bàn tay, khiến cho những hạt cỏ mềm bay ra.
“Bấy giờ là cuối mùa đông, cũng may trời không lạnh lắm, nếu không chúng tôi sẽ không chống chọi được. Thường thì chúng tôi hay bẫy được thỏ - thi thoảng ăn sống nếu không dám nhóm lửa - và đôi khi là hươu nai, nhưng lúc đó, quãng thời gian mà tôi đang nói đến ấy, đã nhiều ngày trời chúng tôi chẳng săn được con thú nào.”
Hàm răng trắng vuông vắn cắn vào cọng cỏ. Tôi cũng nhổ một cọng và nhấm nhấm phần đuôi. Nó ngòn ngọt chua chua, nhưng chỉ có khoảng hai, ba phân của cọng cỏ là đủ mềm để ăn được; hầu như chẳng có chất dinh dưỡng gì.
Ném cọng cỏ đã ăn được một nửa đi, Jamie nhổ một cọng khác và tiếp tục kể chuyện.
“Mấy hôm trước đó, tuyết rơi nhẹ; khắp nơi toàn là bùn, nhưng bên dưới những rặng cây chỉ có một lớp tuyết mỏng. Tôi đang tìm kiếm fungas[5] - cô biết đấy, đó là những thứ màu cam to tướng thi thoảng mọc ở phía dưới những thân cây - và giẫm tuyết để bước vào một khoảnh cỏ mọc ở khoảng đất trống giữa các gốc cây; chắc là đôi khi có ít nắng chiếu vào đó. Thường thì lũ hươu vẫn tìm đến những khoảnh cỏ như vậy. Chúng đạp tuyết đi và ăn đến tận rễ cỏ. Có điều chúng chưa tìm thấy khoảnh cỏ này, và tôi nghĩ nếu chúng tồn tại được qua mùa đông theo cách ấy, tại sao tôi lại không chứ? Tôi đói đến nỗi nếu không cần ủng để đi thì tôi sẵn sàng luộc lên để ăn, vì vậy tôi quyết định ăn cỏ, đến tận rễ, giống như lũ hươu.”
“Lúc ấy đã bao lâu anh không được ăn gì rồi?” Tôi hỏi, vừa thích thú vừa kinh hoàng.
“Ba ngày không có gì bỏ bụng; một tuần chỉ ăn drammach[6] -một nắm yến mạch và một ít sữa. Ầy,” anh ta nói, trầm ngâm nhìn cọng cỏ trong tay mình, “cỏ mùa đông thì dai và chua - không giống như thế này đâu - nhưng tôi không bận tâm lắm.” Anh ta đột nhiên nhe răng cười.
“Tôi cũng không để ý là loài hươu có tới bốn túi dạ dày, trong khi tôi thì chỉ có một. Vì thế tôi bị đau bụng và đầy hơi suốt mấy ngày. Sau đó, một trong những người đàn ông lớn tuổi hơn nói với tôi rằng nếu ta định ăn cỏ, ta phải luộc nó trước, nhưng bây giờ tôi chẳng biết điều đó. Cũng chẳng quan trọng; lúc ấy tôi đói đến nỗi chẳng thể chờ đợi được.” Anh ta lồm cồm đứng dậy, cúi xuống để chìa tay ra kéo tôi dậy.
“Tôi phải làm việc tiếp đây. Cảm ơn cô vì đã mang thức ăn tới cho tôi.” Anh ta đưa cho tôi cái giỏ và đi về phía chuồng ngựa, ánh mặt trời lấp lánh trên mái tóc như thể đang chiếu lên một đống đồng xu bằng vàng hoặc đồng.
Tôi chậm rãi đi về lâu đài, nghĩ về những người đàn ông sống trong bùn lạnh và ăn cỏ. Mãi tới lúc đi đến cái sân trong tôi mới nhớ ra mình đã quên béng cái vai của anh ta.
[1] Thứ nĩa có ba mũi rộng, trong đó có một mũi có cạnh sắc và lõm xuống như một cái thìa.
[2] Phấn đen đánh mí mắt của phụ nữ Ả Rập.
[3] Người thuê đất rồi cho thuê lại.
[4] Tiếng Gaelic, có nghĩa là: Đừng bỏ gì vào trong túi.
[5] Tiếng Gaelic: có nghĩa là nấm.
[6] Một món ăn đơn giản của người Scot được làm từ yến mạch và nước hoặc sữa.