Jenny nhanh chóng hồi sức sau khi sinh Margaret. Chị khăng khăng xuống nhà vào ngày hôm sau. Trước sự kiên quyết của cả Ian và Jamie, chị miễn cưỡng kiềm chế, không động tay vào bất cứ việc gì, chỉ ngồi trên chiếc sofa trong phòng khách, giám sát mọi việc. Bé Margaret thì ngủ trong cái nôi đặt bên cạnh.
Nhưng chẳng chịu nổi việc ngồi không, chỉ một, hai ngày sau, chị đã mon men xuống bếp, sau đó là khu vườn đằng sau nhà. Chị ngồi trên tường, địu đứa bé được quấn tã cẩn thận và trò chuyện với tôi khi tôi vừa nhổ những dây leo bị chết vừa để mắt tới cái vạc khổng lồ dùng để luộc quần áo và đồ vải của cả nhà. Bà Crook cùng những cô giúp việc đã lấy hết quần áo với đồ vải ra để đem đi phơi, tôi chỉ đang đợi nước nguội để đổ đi.
Nhóc Jamie đang “giúp” tôi, nó giật mạnh những sợi dây leo và ném đi tứ tung. Tôi gọi nó lại khi nó tới quá gần cái vạc, rồi đuổi theo khi nó lờ đi lời cảnh báo của tôi. May mà cái vạc đã nguội; nước chỉ còn âm ấm. Sau khi khuyên thằng bé trở lại chỗ mẹ nó, tôi nghiêng cái vạc đi.
Tôi nhảy lùi lại tránh đường khi nước bắn trào ra như thác lũ từ miệng vạc, bốc khói trong không khí lạnh lẽo. Nhóc Jamie ngồi xổm bên cạnh tôi, vui vẻ vọc tay vào lớp bùn ấm, khiến những giọt nước đen ngòm bắn lên khắp váy tôi.
Mẹ nó trườn từ trên tường xuống, túm cổ áo nó lôi dậy và phát vào mông nó một cái rõ đau.
“Con mất trí rồi sao, gille[1]? Nhìn con kìa! Cái áo của con sẽ phải giặt lại! Và xem con đã làm gì với váy của mợ con, đồ hư hỏng!”
“Không sao đâu,” tôi phản đối, khi thấy môi dưới của thằng bé “hư hỏng” run run.
“Với em thì không sao nhưng với chị thì có đấy,” Jenny nói, lườm con trai với ánh mắt sắc lẻm. “Xin lỗi mợ con đi, nhóc, rồi đi vào nhà bảo bà Crook tắm rửa cho.” Chị vỗ vào mông nó, lần này thì nhẹ nhàng hơn, và đẩy nó đi về phía ngôi nhà.
Chúng tôi đang quay lại chỗ đống quần áo ướt sũng thì nghe thấy tiếng vó ngựa phi trên đường.
“Chắc Jamie về đấy,” tôi lắng nghe và nói. “Nhưng anh ấy về sớm nhỉ!”
Jenny lắc đầu, chăm chú nhìn về phía con đường. “Không phải ngựa của nó.”
Khi con ngựa xuất hiện trên đỉnh đồi, chị liền nhíu mày, điều đó cho thấy chị không hề biết con ngựa này. Nhưng người đàn ông đang cưỡi trên lưng nó chẳng phải ai xa lạ. Chị cứng đờ người bên cạnh tôi, rồi chạy về phía cổng, choàng hai tay quanh đứa bé để giữ cho nó không bị xóc nẩy.
“Đó là Ian!” Chị nói với tôi.
Khi anh xuống ngựa, trông anh thật tả tơi, bẩn thỉu, mặt mày bầm tím. Một vết bầm trên trán sưng vù lên và một vết rách gớm ghiếc xẻ dọc lông mày. Jenny chạy lại đỡ anh khi chân anh chạm đất, chỉ đến khi đó tôi mới nhận thấy cái chân gỗ của anh đã biến mất.
“Jamie,” anh hổn hển nói. “Bọn anh chạm trán Đội Tuần Phòng gần xưởng xay. Chúng đang đợi bọn anh. Chúng biết bọn anh sẽ đến.”
Bụng tôi quặn lên. “Anh ấy còn sống không?”
Anh gật đầu, thở hồng hộc. “Còn. Cũng không bị thương. Chúng đưa cậu ấy đi về phía tây, hướng Killin.”
Jenny đang thăm khám mặt anh. “Anh có đau lắm không?”
Anh lắc đầu. “Không. Chúng đã lấy mất con ngựa và cái chân gỗ của anh; chúng không cần giết anh mà vẫn có thể ngăn anh đi theo.”
Jenny liếc về phía chân trời, vầng dương đang nằm ngay bên trên những rặng cây. Tôi ước chừng bây giờ khoảng bốn giờ. Ian dõi theo ánh mắt chị và đoán được câu hỏi của chị.
“Bọn anh gặp chúng lúc gần giữa trưa. Mất hơn hai giờ anh mới tới được một nơi có ngựa.”
Chị đứng yên trong một thoáng, thầm tính toán, rồi quả quyết quay sang tôi.
“Claire. Em dìu Ian vào nhà nhé! Nếu anh ấy cần chữa trị gì thì em hãy làm thật nhanh. Chị sẽ đưa đứa bé cho bà Crook và đi lấy ngựa.”
Chị thoăn thoắt rời đi trước khi cả hai chúng tôi kịp phản đối.
“Ý chị ấy là... Nhưng không thể được!” Tôi thốt lên. “Chị ấy không thể bỏ mặc đứa bé!”
Ian nặng nề dựa vào vai tôi khi chúng tôi chậm chạp leo lên con đường dẫn vào nhà. Anh lắc đầu.
“Ừ. Nhưng tôi nghĩ cô ấy cũng không muốn để cho quân Anh treo cổ em trai cô ấy.”
•••
Lúc chúng tôi tới chỗ Jamie và Ian bị phục kích thì trời đã sẩm tối. Jenny xuống ngựa, sục sạo khắp các bụi cây như một con chó sục nhỏ. Chị gạt các cành cây chắn đường và lẩm bẩm gì đó nghe giống như những lời chửi thề của em trai chị.
“Phía đông.” Cuối cùng chị cũng chui ra khỏi những bụi cây, mình mẩy trầy xước và lem luốc. Chị phủi những chiếc lá héo bám trên váy và cầm lấy dây cương ngựa từ hai bàn tay tê dại của tôi. “Chúng ta không thể đi theo chúng trong bóng tối, nhưng ít nhất chị biết phải đi đường nào khi bình minh lên.”
Chúng tôi dựng trại rất đơn giản, chỉ buộc chằng chân ngựa và nhóm một đống lửa nhỏ. Tôi tán tụng năng lực của Jenny, khiến chị mỉm cười.
“Hồi còn nhỏ, chị thường đòi Jamie và Ian dạy cho mọi thứ: nhóm lửa, trèo cây, thậm chí cả lột da. Và cách lần theo dấu vết.” Chị lại liếc về hướng mà Đội Tuần Phòng đã đi.
“Đừng lo, Claire!” Chị mỉm cười với tôi và ngồi xuống bên đống lửa. “Hai mươi con ngựa không thể chui qua bụi rậm, nhưng hai con thì có thể. Có vẻ như Đội Tuần Phòng sẽ chọn con đường tới Eskadale. Chúng ta có thể đi tắt qua những ngọn đồi và gặp chúng gần Midmains.”
Chị lanh lẹ cởi áo chẽn. Tôi kinh ngạc nhìn chằm chằm khi chị vạch ra bộ ngực lớn và căng cứng vì ứ sữa. Vốn thiếu kinh nghiệm và hiểu biết trong vấn đề này, tôi đã không nghĩ gì đến việc một người mẹ đang cho con bú sẽ phải làm thế nào khi xa con.
“Chị không thể rời xa đứa bé quá lâu,” chị trả lời những suy nghĩ của tôi, mặt nhăn nhó khi cầm lấy một bầu ngực. “Chị sẽ bị căng sữa.” Bị kích thích, sữa bắt đầu rỉ ra, loãng và hơi xanh. Jenny rút một cái khăn tay lớn từ trong túi, đặt nó bên dưới bầu ngực. Trên mặt đất bên cạnh chị có một cái cốc nhỏ bằng thiếc mà chị đã lấy ra từ trong cái túi da. Kề miệng cốc vào ngay bên dưới nhũ hoa, chị nhẹ nhàng dùng hai ngón tay xoa ngực, khẽ miết về phía núm vú. Sữa chảy nhanh hơn, rồi đột nhiên phun ra thành một tia nhỏ với lực mạnh đến đáng kinh ngạc.
“Em không biết nó lại như thế!” Tôi thốt ra, say sưa nhìn.
Jenny di chuyển cái cốc để hứng tia sữa và gật đầu. “Ừ. Động tác bú của đứa bé sẽ kích thích sữa chảy ra, sau đó, đứa trẻ chỉ cần nuốt thôi. Ôi, dễ chịu hơn rồi!” Chị nhẹ nhõm nhắm mắt. Rồi chị đổ sữa xuống đất và nói: “Thật tiếc khi phải lãng phí nó thế này, nhưng biết làm gì hơn, đúng không?” Chị đổi tay, kề cái cốc sang bầu ngực bên kia và lặp lại những động tác vừa rồi.
“Phiền toái quá!” Chị nói khi thấy tôi vẫn đang dõi theo. “Hầu hết những gì dính dáng đến con cái đều phiền toái. Tuy nhiên, chẳng ai muốn mình không có con.”
“Vâng,” tôi đáp khẽ. “Chẳng ai muốn điều đó.”
Chị nhìn tôi qua đống lửa, khuôn mặt tỏ vẻ quan tâm và lo lắng.
“Đối với em, bây giờ vẫn chưa phải lúc,” chị nói. “Nhưng một ngày nào đó, em sẽ có những đứa con của riêng mình.”
Tôi cười, hơi run rẩy. “Trước hết, chúng ta phải tìm được cha của chúng đã.”
Chị đổ cốc sữa thứ hai đi và bắt đầu chỉnh trang lại váy xống.
“Ồ, chúng ta sẽ tìm được. Vào ngày mai. Chúng ta buộc phải tìm được, bởi vì chị không thể xa Maggie lâu hơn thế.”
“Tìm được rồi thì sao?” Tôi hỏi. “Chúng ta sẽ làm gì?”
Chị nhún vai và với tay lấy cuộn chăn.
“Điều đó còn tùy vào Jamie. Và tùy vào mức độ thương tích của nó.”
Jenny đã đúng; chúng tôi tìm thấy Đội Tuần Phòng vào ngày hôm sau. Trời còn chưa rạng, chúng tôi đã lên đường và chỉ dừng lại để chị vắt sữa. Dường như chị có năng lực tìm ra những con đường mòn hẻo lánh và tôi đi theo chị vào một vùng cây cối rậm rạp mà không hỏi một lời. Vì phải luồn lách giữa những bụi cây um tùm nên chúng tôi không thể đi nhanh, nhưng chị trấn an tôi rằng con đường chúng tôi đi thẳng hơn con đường mà Đội Tuần Phòng sẽ lựa chọn, vì chúng bị giới hạn bởi số lượng người trong nhóm.
Chúng tôi chạm trán chúng vào lúc gần trưa. Khi tiếng yên cương ngựa leng keng và những giọng nói mà tôi đã từng nghe thấy lọt vào tai, tôi bèn giơ tay ngăn Jenny lại.
“Có một khúc suối cạn ở bên dưới,” chị thì thầm với tôi. “Chắc là chúng đã dừng lại ở đó để tắm cho ngựa.” Chị xuống ngựa, cầm cả hai bộ dây cương và buộc hai con ngựa của chúng tôi lại với nhau. Thế rồi, chị ra hiệu cho tôi đi theo và lẩn vào bụi rậm giống như một con rắn.
Từ trên gờ đá nhỏ trông ra khúc suối cạn, chúng tôi có thể nhìn thấy gần như toàn bộ người của Đội Tuần Phòng, phần lớn bọn chúng đã xuống ngựa và đang nói chuyện theo từng nhóm, vài tên ngồi ăn trên mặt đất, vài tên dẫn hai, ba con ngựa tới bên mặt nước. Có điều chúng tôi không thấy Jamie đâu cả.
“Chị có nghĩ rằng chúng đã giết anh ấy không?” Tôi hoảng hốt thì thầm. Tôi đã đếm đi đếm lại từng gã đàn ông để chắc chắn rằng không bỏ sót một ai. Có hai mươi gã và hai mươi sáu con ngựa, nhưng không có dấu vết nào của một tù nhân và cũng không hề thấy mái tóc đỏ lấp lánh ánh mặt trời.
“Chị không nghĩ vậy,” Jenny đáp. “Nhưng chỉ có một cách để tìm hiểu.” Chị bắt đầu lùi lại khỏi gờ đá.
“Cách gì?”
“Tra hỏi.”
Cách khúc suối cạn một đoạn, con đường bắt đầu hẹp lại, trông chẳng khác gì một con đường mòn bụi bặm xuyên qua những khóm thông và tống quán sủi dày đặc. Đội Tuần Phòng sẽ không thể cưỡi ngựa sóng đôi mà phải đi theo hàng một.
Khi gã cuối cùng trong hàng tới gần một khúc quanh trên đường, Jenny Murray đột nhiên nhảy xổ ra trước mặt hắn. Con ngựa của hắn liền chồm lên, và gã đàn ông cố gắng ghì cương ngựa, mồm lẩm bẩm chửi thề. Khi hắn phẫn nộ mở miệng để hỏi chị có ý đồ gì, tôi bèn bước ra khỏi bụi rậm đằng sau hắn và vụt mạnh một cành cây rụng vào sau tai hắn.
Bị bất ngờ, hắn mất thăng bằng và ngã xuống đường khi con ngựa lại chồm lên. Nhưng hắn không bị bất tỉnh; cú đập chỉ đủ làm hắn ngã nhào. Jenny lập tức sửa chữa thiếu sót đó bằng một hòn đá lớn.
Chị nắm lấy dây cương ngựa và ra hiệu cho tôi.
“Nào!” Chị thì thầm. “Lôi hắn ra khỏi đường trước khi chúng nhận ra hắn mất tích.”
Vì vậy, khi Robert MacDonald của Đội Tuần Phòng Thung lũng Elrive tính lại, hắn thấy mình đang bị trói chặt vào một thân cây, trước mặt là một nòng súng nằm trong tay chị gái của người từng là tù nhân của hắn. Ánh mắt chị sắc lẹm.
“Mày đã làm gì Jamie Fraser?” Chị hỏi.
MacDonald sửng sốt lắc lắc đầu, rõ ràng hắn nghĩ chị là một ảo ảnh. Nhưng ý nghĩ ấy lập tức bị dập tắt khi hắn cố gắng cử động, và sau một tràng nguyên rủa, đe dọa liên quan đến pháp luật, cuối cùng hắn đành chấp nhận sự thật rằng cách duy nhất để thoát ra là nói với chúng tôi điều chúng tôi muốn biết.
“Hắn chết rồi,” MacDonald sưng sỉa nói. Sau đó, khi ngón tay Jenny chực siết chặt cò súng, hắn hoảng hốt nói thêm. “Không phải tại tôi! Đó là lỗi của hắn!”
Hắn nói, Jamie đã bị trói chặt hai cánh tay bằng một sợi dây da và được đưa lên lưng ngựa đằng sau một trong những tên lính tuần phòng trong tư thế cúi gập người. Con ngựa chở anh còn bị kẹp giữa hai con ngựa của hai gã khác. Anh tỏ ra ngoan ngoãn, dễ bảo nên chúng không đề phòng lắm khi lội qua con sông cách xưởng xay sáu dặm.
“Gã ngốc chết tiệt đó đã nhảy xuống ngựa và lao xuống dòng nước sâu,” MacDonald nói, nhún vai dù hai tay bị trói quặt ra sau. “Chúng tôi đã bắn hắn. Hẳn là hắn đã trúng đạn, vì hắn không nổi lên nữa. Nhưng khúc sông đó khá sâu. Chúng tôi tìm kiếm một lúc mà không thấy thi thể hắn. Có lẽ hắn đã bị cuốn theo dòng nước. Bây giờ, vì Chúa, các quý cô, xin hãy thả tôi ra!”
Sau một hồi đe dọa mà hắn không nói thêm điều gì hay thay đổi chi tiết nào, chúng tôi quyết định tin rằng hắn nói thật. Tuy không thả hẳn MacDonald nhưng chí ít Jenny cũng nới lỏng dây trói để hắn có thể dần dần tự thoát ra được. Rồi chúng tôi lập tức chạy đi.
“Chị có nghĩ anh ấy đã chết rồi không?” Tôi thở hổn hển khi chúng tôi tới chỗ buộc lũ ngựa.
“Không. Jamie bơi giỏi như cá vậy, và chị đã từng chứng kiến nó nín thở hẳn ba phút. Đi nào! Chúng ta sẽ đi tìm ở bờ sông.”
Chúng tôi tìm kiếm ngang dọc hai bên bờ sông, vấp phải những hòn đá, lội bì bõm ở những chỗ cạn và bị những cành liễu gai chĩa ra bên trên mặt nước cào xước tay và mặt.
Cuối cùng, Jenny hân hoan kêu lên một tiếng, và tôi bì bõm lội tới, chệnh choạng giữ thăng bằng trên những hòn đá trơn trượt vì bị rêu bám ở đáy khúc sông cạn.
Chị đang cầm một sợi dây da vẫn còn đang buộc thành vòng tròn. Một mặt của nó nhuốm máu.
“Nó cởi trói ở chỗ này,” chị nói, uốn cong sợi dây da. Sau đó, chị ngoảnh nhìn về hướng chúng tôi vừa tới, nơi có những tảng đá lởm chởm, những hố sâu và những thác ghềnh sủi bọt trắng xóa, rồi lắc lắc đầu.
“Em đã xoay xở thế nào vậy, Jamie?” Chị nửa như tự nói với chính mình.
Chúng tôi tìm thấy một bãi cỏ bằng phẳng không xa bờ lắm, có vẻ là nơi anh đã nằm nghỉ. Trên vỏ một cây dương lá rung ở gần đó có một vết nhỏ màu nâu.
“Anh ấy bị thương,” tôi nói.
“Ừ, nhưng nó vẫn đi lại được,” Jenny trả lời, vừa bước đi vừa nhìn xuống mặt đất.
“Chị có giỏi lần theo dấu vết không?” Tôi hỏi, lòng tràn đầy hy vọng.
“Chị không phải là thợ săn,” chị đáp, tiếp tục bước đi, còn tôi bám theo sát phía sau, “nhưng nếu chị không thể lần theo thứ gì to như Jamie Fraser qua bãi dương xỉ diều hâu khô héo, vậy thì chị chẳng khác nào vừa điên vừa mù.”
Y như rằng, trước mắt chúng tôi xuất hiện một con đường mòn được hình thành bởi những cây dương xỉ màu nâu bị giẫm nát. Nó dẫn lên sườn đồi và biến mất trong một lùm thạch nam dày đặc. Xung quanh chỗ này không xuất hiện thêm dấu vết nào, cũng không gợi lên bất cứ đáp án nào.
“Nó biến mất rồi,” Jenny nói, ngồi xuống một khúc gỗ và tự quạt cho mình. Trông chị thật xanh xao. Tôi chợt nhận ra việc bắt cóc và đe dọa những gã đàn ông có vũ khí không hề thích hợp với một người phụ nữ mới sinh con chưa được một tuần.
“Jenny,” tôi nói, “chị phải về thôi. Hơn nữa, biết đâu anh ấy đã về Lallybroch.”
Chị lắc đầu. “Không, nó sẽ không về đó đâu. Với một phần thưởng ngay trong tầm tay, đám lính tuần phòng sẽ không dễ dàng bỏ cuộc, cho dù MacDonald có kể với chúng ta như thế nào. Chúng chưa đi truy lùng nó là vì chúng chưa thể đi, nhưng chúng sẽ cử người tới điền trang để canh chừng. Vì vậy, Jamie sẽ không trở về đó.” Chị nới lỏng cổ áo. Trời lạnh nhưng chị đang vã mồ hôi, và tôi có thể thấy những vết tối sẫm loang dần trên ngực áo chị, sữa của chị đang rỉ ra.
Chị gật đầu. “Ừ, chị sắp phải về rồi. Bà Crook đang cho con bé ăn sữa dê và nước đường, nhưng nó không thể vắng chị lâu hơn, mà chị cũng không thể xa nó thêm nữa. Nhưng chị không muốn để em lại một mình.”
Tôi cũng không muốn phải một mình đi khắp vùng cao nguyên Scotland để tìm một người đàn ông có thể đang ở bất cứ đâu, nhưng ngoài mặt vẫn tỏ vẻ dũng cảm.
“Em sẽ cố gắng xoay xở,” tôi nói. “Đáng lẽ mọi chuyện còn có thể tồi tệ hơn. Chí ít anh ấy vẫn còn sống.”
“Đúng vậy.” Chị liếc nhìn vầng dương đang hạ thấp nơi chân trời. “Ít nhất chị sẽ ở lại với em đêm nay.”
Chúng tôi ngồi sát bên nhau quanh đống lửa vào ban đêm nhưng không nói chuyện nhiều. Jenny mải nghĩ về đứa con bị bỏ mặc, còn tôi thì bận rộn tính toán cách xoay xở một mình khi không hề biết tiếng Gaelic hay có kiến thức thực tế về địa lý học.
Đột nhiên, Jenny ngẩng phắt đầu lên để nghe ngóng. Tôi ngồi thẳng dậy và cũng dỏng tai lên, nhưng chẳng nghe thấy gì. Nương theo ánh mắt Jenny, tôi nhìn chằm chằm vào những lùm cây tối sẫm, nhưng chẳng thấy đôi mắt nào lóe lên từ nơi sâu thẳm ấy, ơn Chúa!
Khi tôi quay đầu lại đống lửa thì đã thấy Murtagh ngồi điềm tĩnh hơ tay ở phía bên kia. Tiếng thốt kinh ngạc của tôi khiến Jenny giật mình nhìn lại và bật cười khúc khích.
“Tôi có thế cắt cổ hai cô trước khi hai cô kịp ngoảnh đầu lại đấy,” người đàn ông bé nhỏ nhận xét.
“Ồ, thế ư?” Jenny đang ngồi bó gối, hai bàn tay siết chặt mắt cá chân. Nhanh như chớp, bàn tay chị chợt luồn vào trong váy và lưỡi dao sgian dhu lóe lên trong ánh lửa.
“Không tồi lắm,” Murtagh tán thưởng, gật đầu như một nhà thông thái. “Còn cô gái Sassenach này có giỏi thế không?”
“Không,” Jenny nói, giắt lưỡi dao vào trong tất. “Vì vậy, cô ấy cần có bác ở bên. Ian bảo bác đến à?”
Người đàn ông nhỏ bé gật đầu. “Ừ. Cháu tìm thấy Đội Tuần Phòng chưa?”
Chúng tôi kể cho ông nghe những gì đã xảy ra. Khi nghe tin Jamie đã trốn thoát, khóe miệng ông khẽ nhích lên, nhưng chưa đủ để gọi đó là một nụ cười.
Cuối cùng, Jenny đứng dậy, gấp chăn.
“Chị đi đâu đấy?” Tôi kinh ngạc hỏi.
“Về nhà.” Chị hất đầu về phía Murtagh. “Có bác ấy ở bên em rồi; em không cần chị nữa, trong khi có những người khác đang cần chị.”
Murtagh ngước nhìn trời. Vầng trăng khuyết lờ mờ hiện ra đằng sau một đám mây, và một cơn mưa nhẹ tí tách rớt xuống những cành thông trên đầu chúng tôi.
“Sáng mai hẵng đi. Gió đang nổi, chẳng ai đi xa vào một buổi tối như tối nay cả.”
Jenny lắc đầu và tiếp tục nhét mái tóc xuống dưới chiếc khăn trùm. “Cháu thạo đường mà. Vả lại, nếu tối nay không có người nào đi lại thì sẽ chẳng có ai gây trở ngại cho cháu trên đường đi, đúng không?”
Murtagh thở dài vẻ mất kiên nhẫn. “Thứ lỗi cho bác nói thẳng, cháu cứng đầu y như cậu em đầu bò của cháu vậy. Bác chẳng thấy có lý do gì để cháu phải vội vàng trở về cả. Bác không nghĩ ông chồng tử tế của cháu sẽ đưa một ả điếm lên giường trong lúc cháu đi vắng.”
“Bác chỉ nhìn xa đến cái chóp mũi của bác thôi, duine, mà nó thì ngắn một mẩu,” Jenny đanh đá đáp trả. “Và nếu bác sống đến từng này tuổi mà còn ngăn cản một bà mẹ đang cho con bú trở về với đứa trẻ sơ sinh đang đói bụng thì bác chẳng đủ khôn ngoan để đi săn những con lợn, nói gì đến việc tìm kiếm một người đàn ông trong bãi thạch nam.”
Murtagh giơ tay đầu hàng. “Thôi được rồi, cháu cứ làm theo ý cháu. Bác không biết là mình đang cố nói lý với một con lợn rừng cái đấy. Vã cả bọt mép để rồi bị đâm một nhát răng nanh vào chân.”
Jenny đột nhiên cười phá lên, lộ rõ lúm đồng tiền. “Cháu mong bác bị như vậy lắm, lão già xỏ lá ạ!” Chị cúi người nhấc cái yên ngựa nặng nề lên đầu gối. “Hãy chăm sóc em dâu cháu cẩn thận và báo tin về khi bác tìm thấy Jamie nhé!”
Khi chị quay đi để đóng yên cho con ngựa, Murtagh nói thêm. “Mà này, lúc nào về cháu sẽ thấy có một người hầu bếp mới đấy.”
Chị ngừng lại, nhìn ông, rồi chậm rãi đặt cái yên xuống đất. “Ai vậy?” Chị hỏi.
“Quả phụ MacNab,” ông thong thả đáp.
Chị sững lại trong một thoáng, toàn thân bất động, chỉ có chiếc khăn trùm đầu và cái áo choàng phấp phới bay trong làn gió đang nối lên.
“Sao lại như vậy?” Cuối cùng, chị hỏi.
Murtagh cúi xuống nhấc bộ yên để đặt lên lưng ngựa và nhẹ nhàng cài cái đai yên.
“Hỏa hoạn,” ông nói, thắt cái dây da ở bàn đạp ngựa lần cuối cùng. “Hãy cẩn thận khi đi qua cánh đồng cao; tro vẫn còn nóng đấy!”
Ông khum tay lại cho chị giẫm chân lên, nhưng chị lắc đầu, cầm lấy dây cương và ra hiệu với tôi. “Hãy đi cùng chị lên đỉnh đồi, Claire, nếu em muốn.”
Không khí ẩm thấp và lạnh lẽo. Váy tôi bị ướt vì ban nãy ngồi bệt dưới đất nên bây giờ nó cứ bám dính vào ống chân khi tôi bước đi. Jenny cúi đầu trước cơn gió, nhưng tôi vẫn nhìn thấy nét mặt trông nghiêng của chị, môi chị tái nhợt và bặm lại vì lạnh.
“MacNab đã bán đứng Jamie cho Đội Tuần Phòng à?” Cuối cùng, tôi hỏi.
Chị chậm rãi gật đầu. “Ừ. Chắc là Ian hoặc ai đó đã phát hiện ra; nhưng là ai cũng không quan trọng.”
Giờ đang là cuối tháng Mười một, đã qua ngày Guy Fawkes[2] lâu rồi, nhưng tôi bất chợt mường tượng ra hình ảnh của một đống lửa lớn, những ngọn lửa liếm lên các bức tường gỗ xẻ và mái nhà tranh như những cái lưỡi của Chúa Thánh Thần, trong khi ngọn lửa ở bên trong gầm lên lời cầu hồn cho kẻ bị nguyền rủa. Và kẻ tội đồ, giống như một hình nộm trong lễ đốt lửa, chỉ còn là đống tro tàn trên nền lò sưởi và chực bay đi khi cơn gió lạnh tiếp theo quét qua ngôi nhà. Thi thoảng công lý và sự tàn bạo chỉ cách nhau một lằn ranh rất mỏng manh.
Nhận ra Jenny đang nhìn thẳng vào mình, vẻ như muốn dò hỏi điều gì, tôi bèn gật đầu đáp lại ánh mắt chị. Ít nhất là trong trường hợp này, chúng tôi cùng đứng về một phía của cái lằn ranh khắc nghiệt đó.
Chúng tôi dừng lại ở đỉnh đồi. Murtagh chỉ còn là một đốm nhỏ tối sẫm bên đống lửa phía dưới. Jenny lục cái túi ở váy rồi nhét vào tay tôi một cái túi da sơn dương nhỏ.
“Tiền tô thu được của quý này đấy,” chị nói. “Em có thể cần tới nó.”
Tôi cố gắng trả lại cho chị, khăng khăng rằng Jamie sẽ không muốn lấy số tiền cần để duy trì điền trang, nhưng chị nhất định không nhận lại. Cho dù Janet Fraser chỉ nhỏ bé bằng một nửa em trai mình, nhưng chị lại hơn anh về khoản bướng bỉnh.
Không địch nổi chị, tôi đành bỏ cuộc và cất tiền vào túi. Chị còn kiên quyết dúi cho tôi thanh sgian dhu nhỏ.
“Đây là dao của Ian, nhưng anh ấy còn một con khác,” chị nói. “Hãy nhét nó vào cạp tất và giữ nó yên vị bằng nịt bít tất. Đừng bỏ nó ra, ngay cả khi ngủ.”
Chị ngừng lại trong một thoáng, như thể còn muốn nói thêm điều gì.
“Jamie nói rằng,” chị cẩn thận lựa lời, “một lúc nào đó em có thể... nói với chị vài chuyện. Nó nói rằng nếu em làm thế, chị phải làm theo lời em bảo. Em có... muốn nói với chị điều gì không?”
Jamie và tôi đã bàn bạc về việc chuẩn bị cho Lallybroch và các cư dân của nó chống lại những thảm họa của cuộc nổi dậy sắp tới, nhưng lúc đó chúng tôi cứ nghĩ là mình còn nhiều thời gian. Giờ thì tôi không còn thời gian nữa, cùng lắm chỉ có một vài phút để cung cấp cho chị chồng đầy đủ thông tin về cách bảo vệ Lallybroch trước trận bão táp sắp tới.
Làm một nhà tiên tri đúng là chẳng thoải mái chút nào. Đây không phải là lần đầu tiên tôi nghĩ đến điều này. Tôi thấy rất đồng cảm với Jeremiah và Ai ca[3] của ông. Tôi cũng hiểu được tại sao Cassandra[4] lại không được yêu mến. Tuy nhiên, chẳng còn cách nào khác. Trên đỉnh một ngọn đồi ở Scotland, khi làn gió đêm của cơn bão mùa thu hất tung tóc và váy tôi như tấm áo choàng của một nữ thần báo tử, tôi ngẩng đầu nhìn bầu trời đen sì và chuẩn bị ban ra lời sấm truyền.
“Trồng khoai tây,” tôi nói.
Jenny hơi há miệng rồi khép lại và gật đầu. “Khoai tây. Ừ. Nơi gần đây nhất có khoai tây là Edinburgh, chị sẽ cho người đi mua. Cần số lượng bao nhiêu?”
“Càng nhiều càng tốt. Bây giờ chúng chưa được trồng ở cao nguyên nhưng sau này thì có. Chúng là loài cây ăn củ có thể tích trữ trong một thời gian dài, và sản lượng mỗi vụ tốt hơn hắn lúa mỳ. Hãy dành thật nhiều đất để trồng các loại cây lương thực có thể tích trữ được. Sẽ có một nạn đói rất trầm trọng kéo dài trong hai năm. Nếu hiện giờ có mảnh đất hoặc điền sản nào không có lợi, hãy bán đi để lấy vàng. Sẽ có chiến tranh và giết chóc. Đàn ông sẽ bị săn lùng, ở đây và khắp nơi trên cao nguyên.” Tôi suy nghĩ trong giây lát. “Trong nhà có hầm ngầm[5] nào để trốn không?”
“Không, ngôi nhà được xây sau thời Hộ quốc công[6] mà.”
“Vậy thì hãy xây một cái, hoặc tạo ra một chỗ an toàn để ẩn náu. Em hy vọng Jamie sẽ không cần nó,” tôi nuốt khan trước ý nghĩ ấy, “nhưng có thể ai đó sẽ cần.”
“Được rồi. Còn gì nữa không?” Mặt chị nghiêm trang và chăm chú trong ánh sáng lờ mờ. Tôi cầu Chúa phù hộ cho Jamie vì đã sớm nghĩ tới chuyện căn dặn chị, và cầu Chúa phù hộ cho chị vì đã tin tưởng em trai mình. Chị không hỏi tôi thế nào hay tại sao mà chỉ ghi nhớ kĩ càng những gì tôi nói, và tôi biết chị sẽ làm theo những lời hướng dẫn vội vàng của tôi.
“Thế thôi. Hiện giờ em chỉ có thể nghĩ ra mấy điều đó.” Tôi cố gắng mỉm cười, nhưng ngay cả tôi cũng nhận ra nụ cười ấy rất gượng gạo.
Nụ cười của chị thì tươi tắn hơn. Chị thoáng chạm vào má tôi để chào tạm biệt.
“Chúa phù hộ cho em, Claire. Chúng ta sẽ gặp lại, khi em đưa em trai chị về nhà.”
[1] Tiếng Gaelic, có nghĩa là thằng nhóc, cậu bé.
[2] Guy Fawkes (1570-1606): Là một thành viên của một nhóm tín đồ Công giáo Anh, âm mưu ám sát Vua James I của Anh nhưng đã bị bắt và bị hành quyết. Hằng năm, vào ngày mồng Năm tháng Mười một, người ta lại tổ chức lễ hội đốt lửa và đốt hình nộm của Guy Fawkes để kỷ niệm sự kiện này.
[3] Một quyển trong Cựu ước, chủ yếu là những khúc bi thương tương truyền do Jeremiah biên soạn sau khi vùng Judah thất thủ.
[4] Theo thần thoại Hy Lạp, nàng là con gái của Vua Priam (vua thành Troy) và Hoàng hậu Hecuba, có tài tiên tri nhưng bị Thần Apollo nguyền rủa rằng sẽ không một ai tin nàng.
[5] Nguyên văn: priest-hole, thuật ngữ dùng để chỉ một căn hầm hoặc căn phòng bí mật được xây trong một số ngôi nhà ở Anh để dành cho các tu sĩ Công giáo trốn tránh trong thời kỳ Công giáo bị bài trừ ở nước này vào thế kỷ 16 và 17.
[6] Chỉ giai đoạn cai trị của Oliver Cromwell (1653-1658) và Richard Cromwell (1658-1659).