Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN BẢY - NƠI TRÚ ẨN - 35
Ngục Wentworth

❊ ❊ ❊

Ngài[1] Fletcher Gordon là một người đàn ông béo lùn, chiếc áo gi lê lụa kẻ sọc ôm khít thân hình ông ta như một lớp da thứ hai. Với bờ vai dốc và cái bụng phệ, trông ông ta giống hệt một miếng giăm bông to tướng ngồi trên cái ghế tựa lưng tròn của giám thị trại giam.

Cái đầu hói và làn da hồng hào của ông ta chẳng giúp xua tan được ấn tượng ấy, dù hiếm có miếng giăm bông nào có đôi mắt xanh sáng ngời như thế. Ngón tay trỏ của ông ta thong thả, chậm rãi lật xấp giây trên bàn.

“A, đây rồi,” ông ta nói sau một hồi im lặng gần như vô tận để đọc một trang giấy. “Fraser, James. Bị kết tội giết người. Kết án treo cổ. Lệnh thi hành án đâu nhỉ?” Ông ta lại dừng lại, lúi húi lật giở mớ giấy tờ. Tôi bấu chặt vào lớp xa tanh của chiếc túi xách tay, cố giữ vẻ mặt bình thản.

“À, đây rồi! Ngày thi hành án, Hai mươi ba tháng Mười hai. Vâng, hắn vẫn còn ở chỗ chúng tôi.”

Tôi nuốt khan, nới lỏng tay, vừa mừng rỡ vừa hoang mang. Vậy là anh vẫn còn sống. Trong hai ngày nữa. Và anh đang ở trong cùng một tòa nhà với tôi. Hai tay tôi bất giác run rẩy.

Tôi ngồi ngả người về phía trước trên cái ghế dành cho khách, cố tỏ vẻ quyến rũ.

“Tôi có thế gặp anh ta không, Ngài Fletcher? Chỉ một lát thôi, phòng khi anh ta... anh ta muốn nhờ tôi gửi lời đến gia đình mình.”

Trong lốt một người bạn Anh quốc của gia đình Fraser, tôi dễ dàng được cho phép vào trong ngục Wentworth và tới văn phòng của Ngài Fletcher, giám thị của nhà ngục. Đề nghị gặp Jamie là một việc nguy hiểm; vì không biết câu chuyện ngụy tạo của tôi, anh có thể làm tôi bị lộ tẩy nếu anh bất ngờ nhìn thấy tôi. Mà tôi cũng có thể tự làm mình lộ tẩy; tôi không chắc mình có thể duy trì được sự kiềm chế tạm thời này nếu tôi nhìn thấy anh. Nhưng bước tiếp theo là phải tìm hiểu được anh đang ở đâu; trong cái hang thỏ bằng đá khổng lồ này, cơ hội tìm thấy anh mà không cần chỉ dẫn gần như bằng không.

Ngài Fletcher cau mày, cân nhắc. Rõ ràng ông ta thấy phiền toái khi một người quen sơ của gia đình phạm nhân đưa ra yêu cầu này, nhưng ông ta không phải là người vô cảm. Cuối cùng, ông ta miễn cưỡng lắc đầu.

“Không được, thưa cô. Tôi e là tôi không thể chấp nhận điều đó. Nhà ngục hiện chật ních, không đủ điều kiện để cho phép những cuộc gặp gõ riêng tư. Hơn nữa, người đàn ông này hiện đang bị nhốt chung vơi vài kẻ phạm trọng tội ở” - ông ta xem lại đống giấy tờ lần nữa - “một xà lim lớn thuộc chái nhà phía tây. Đến thăm hắn sẽ vô cùng nguy hiểm. Cô cũng hiểu gã đó là một tù nhân đáng gờm mà; tôi thấy trong này viết rằng chúng tôi đã phải xích hắn lại ngay từ lúc hắn mới đến.”

Tôi lại siết chặt cái túi xách; lần này là để ngăn mình không đánh ông ta.

Ông ta lại lắc đầu, bộ ngực núng nính nhô lên hạ xuống theo hơi thở nặng nề. “Nếu cô là người nhà của hắn, có lẽ...” Ông ta ngước lên, chớp chớp mắt. Tôi nghiến chặt răng, quyết tâm không để lộ điều gì. Trong hoàn cảnh này, tỏ ra bối rối một chút có vẻ là điều hợp lý.

“Nhưng có lẽ, thưa cô...” Như vừa chợt nảy ra một ý nghĩ, ông ta chậm chạp đứng dậy, đi tới chỗ viên lính mặc đồng phục đứng gác bên trong cửa, thì thầm đôi ba câu với người đó. Hắn gật đầu một cái và biến mất.

Trên đường trở lại bàn làm việc, Ngài Fletcher dừng lại một lát để lấy cái bình thon cổ và mấy chiếc ly trên nóc tủ. Tôi nhận lấy ly rượu vang đỏ của ông ta; lúc này tôi thực sự cần nó.

Chúng tôi uống được nửa ly thứ hai thì viên lính gác quay lại. Hắn sải bước vào mà không cần xin phép, đặt một cái hộp gỗ lên bàn cạnh khuỷu tay Ngài Fletcher, rồi quay người bước ra. Tôi phát hiện hắn liếc nhìn mình nên e lệ cụp mắt xuống. Cái váy tôi đang mặc là đồ Rupert mượn của một người phụ nữ có quen biết với ông ta ở một thị trấn gần đây, và từ mùi hương sực nức trên váy cùng cái túi xách đồng bộ với nó, tôi đã phần nào đoán được cô ta làm nghề gì. Hy vọng tên lính gác không nhận ra bộ váy này.

Sau khi uống hết rượu, Ngài Fletcher đặt ly xuống và kéo cái hộp về phía mình. Đó là một cái hộp trơn hình vuông bằng gỗ thô có nắp trượt. Trên nắp có những chữ được viết bằng phấn. Dù nhìn ngược nhưng tôi vẫn có thể đọc được chúng: FRAYSER.

Ngài Fletcher mở nắp ra, nhòm vào bên trong cái hộp một thoáng rồi đóng nó lại và đây về phía tôi.

“Đây là những vật dụng cá nhân của tù phạm,” ông ta giải thích. “Theo thông lệ, sau cuộc hành quyết, chúng tôi sẽ gửi chúng đến người mà tù nhân đã chỉ định. Nhưng người đàn ông này” - ông ta lắc đầu - “kiên quyết không hé răng nửa lời về gia đình mình. Ắt hẳn giữa họ có một mối bất hòa nào đó. Đương nhiên, chuyện đó cũng không có gì lạ, nhưng trong hoàn cảnh này thì cũng khá đáng tiếc. Tôi hơi ngần ngại khi đưa ra yêu cầu này, cô Beauchamp, nhưng vì cô có quen biết với gia đình hắn nên tôi nghĩ có lẽ cô sẽ đồng ý giúp tôi chuyển vật dụng cá nhân của hắn tới người thích họp?”

Tôi không dám nói gì, chỉ gật đầu và giấu mũi vào ly rượu.

Ngài Fletcher có vẻ nhẹ nhõm, chẳng biết là vì tống khứ được cái hộp hay vì tôi sắp rời đi. Ông ta ngả người ra sau, thở khò khè và nở nụ cười rạng rỡ với tôi.

“Cô thật tử tế, cô Beauchamp! Tôi biết chuyện này là một nhiệm vụ khó khăn đối với một người phụ nữ trẻ giàu cảm xúc, và tôi xin ghi nhận lòng tốt của cô vì đã nhận lời.”

“K-không có gì,” tôi lắp bắp, cố gắng đứng lên và cầm lấy cái hộp. Nó nhỏ và nhẹ, rộng 15x20 centimét, cao khoảng chục phân, lưu giữ những gì còn lại trong cuộc đời của một người đàn ông.

Tôi biết trong hộp có những gì. Ba sợi dây câu được cuộn lại gọn gàng; một mẩu bần dùng để cắm lưỡi câu; một bộ đồ đánh lửa; một miếng kính vỡ nhỏ được mài mòn ở các mép; mấy hòn đá nhỏ nhẵn nhụi hoặc có hình dáng thú vi; một bàn chân chuột chũi khô dùng làm lá bùa chống bệnh thấp khớp. Một cuốn Kinh Thánh - hoặc có lẽ chúng đã để cho anh giữ nó? Tôi hy vọng là vậy. Một cái nhẫn hồng ngọc, nếu nó chưa bị đánh cắp. Và một con rắn nhỏ được tạc bằng gỗ anh đào, ở mặt dưới có khắc cái tên SAWNY.

Tôi ngừng lại ở cửa, bám vào khung cửa để tự trấn tĩnh.

Ngài Fletcher tiễn tôi theo phép lịch sự, đứng lại bên tôi trong một thoáng.

“Cô Beauchamp! Cô cảm thấy mệt à? Này anh lính gác, hãy lấy cho ta một cái ghế!”

Tôi cảm thấy mồ hôi lạnh toát ra hai bên thái dương, nhưng vẫn gắng gượng nở nụ cười và xua tay trước cái ghế được đem tới. Tôi muốn ra khỏi đây hơn bất cứ điều gì - tôi cần thật nhiều không khí trong lành và cần được ở một mình để thỏa sức khóc lóc.

“Không, tôi không sao,” tôi nói, cố gắng tỏ ra có sức thuyết phục. “Chỉ là... trong này hơi ngột ngạt. Tôi sẽ ổn thôi. Dù sao đi nữa, người giữ ngựa của tôi cũng đang đợi ở bên ngoài.”

Tôi buộc mình đứng thẳng dậy và mỉm cười, trong đầu nảy ra một ý nghĩ. Nó có thể không giúp được gì, nhưng cũng chẳng thể gây tổn hại.

“Ồ, Ngài Fletcher...”

Ông ta vẫn còn lo lắng bởi vẻ ngoài của tôi nên rất lịch thiệp và ân cần.

“Vâng, thưa cô?”

“Tôi chợt nghĩ... Thật tội nghiệp khi một chàng trai bị gia đình ghẻ lạnh trong tình cảnh này. Tôi nghĩ có lẽ... anh ta muốn viết cho họ một lá thư hòa giải chăng? Tôi sẽ vui lòng chuyển nó cho... cho mẹ anh ta.”

“Cô thật chu đáo!” Ngài Fletcher tỏ ra mừng rỡ khi tôi không còn có vẻ như sắp ngã gục xuống tấm thảm của ông ta. “Đương nhiên rồi. Tôi sẽ hỏi hắn. Cô đang ở đâu vậy? Nếu hắn viết một lá thư, tôi sẽ gửi nó cho cô.”

“Chà,” nụ cười của tôi đỡ gượng gạo hơn một chút. “Hiện giờ tôi không ở nơi nào cố định. Tôi có vài người bà con và bạn bè thân thiết trong thị trấn, e rằng tôi sẽ phải ở với mỗi người vài hôm để tránh làm mếch lòng ai.” Tôi cố gắng cất tiếng cười khẽ. “Vì vậy, nếu ông không phiền, liệu người giữ ngựa của tôi có thể ghé qua để hỏi thăm về lá thư không?”

“Đương nhiên, đương nhiên! Hoàn toàn được, thưa cô! Hoàn toàn được!”

Và sau khi liếc nhanh cái bình thon cổ, ông ta đỡ lấy cánh tay tôi, dìu tôi ra cổng.

•••

“Khá hơn chưa, cô gái?” Rupert gạt mớ tóc của tôi để nhìn vào mặt tôi. “Trông cô như một miếng thịt thiu vậy. Đây, cô nên uống thêm một ít.”

Tôi lắc đầu trước bình whisky được mời và ngồi dậy, lau mặt bằng chiếc khăn ẩm mà ông ta đưa cho tôi.

“Không, tôi ổn rồi.”

Người giữ ngựa của tôi chính là Murtagh cải trang. Vừa cùng ông đi khuất khỏi nhà ngục, tôi đã tuột xuống từ trên lưng ngựa, nôn thốc nôn tháo trên tuyết. Rồi tôi cứ ngồi đó, ôm khư khư cái hộp của Jamie trong lòng và khóc nức nở cho đến khi Murtagh bế bổng tôi lên, ép tôi ngồi lên lưng ngựa và đưa tôi đến quán rượu nhỏ kiêm quán trọ mà Rupert tìm được ở thị trấn Wentworth. Chúng tôi đang ở một phòng thuộc tầng trên, từ đây có thể lờ mờ nhìn thấy khối hình đồ sộ của nhà ngục trong ánh hoàng hôn đang buông.

“Cậu ấy chết rồi à?” Khuôn mặt to bạnh bị bộ râu xồm xoàm che mất một nửa của Rupert đầy vẻ nghiêm túc và tử tế, chẳng có lấy một chút bỡn cợt thường thấy.

Tôi lắc đầu và hít sâu một hơi. “Chưa.”

Sau khi nghe câu chuyên của tôi, Rupert chậm rãi đi đi lại lại quanh phòng, bặm môi suy nghĩ. Murtagh ngồi yên như thường lệ, trên mặt không có dấu hiệu gì của sự bối rối. Ông sẽ là một tay chơi poker cừ khôi!

Rupert quay lại, ngồi phịch xuống giường cạnh tôi, thở dài.

“Chà, cậu ấy vẫn còn sống, đó là điều quan trọng nhất. Nhưng tôi chẳng biết phải làm gì tiếp theo. Chúng ta chẳng có cách nào để vào đó cả.”

“Ồ, có đấy,” Murtagh đột nhiên nói. “Nhờ ý tưởng của cô ấy về lá thư.”

“Ừmmmm. Nhưng chỉ có một người được vào trong ngục thôi. Và cũng chỉ đến được văn phòng của giám thị trại giam. Nhưng đó là một sự khởi đầu.” Rupert rút con dao găm, lơ đãng dùng mũi dao nhọn gãi gãi chòm râu dày. “Tìm kiếm ở một nơi rộng lớn khủng khiếp như vậy chẳng phải là việc dễ dàng gì.”

“Tôi biết anh ấy ở đâu,” tôi nói, cảm thấy tâm trạng khá hơn nhờ kế hoạch này và việc biết rằng những người bạn đồng hành của tôi sẽ không bỏ cuộc, dù kế hoạch của chúng tôi có vô vọng ra sao. “Ít nhất tôi biết anh ấy ở chái nhà nào.”

“Cô biết ư? Hừm.” Rupert cất con dao đi và lại đi đi lại lại, rồi dừng lại để hỏi. “Cô có bao nhiêu tiền?”

Tôi lục cái túi trên váy. Tôi có túi tiền của Dougal, số tiền Jenny dúi cho và chuỗi vòng ngọc trai. Rupert không lấy chuỗi vòng, chỉ lấy túi tiền của Dougal và dốc vào lòng bàn tay to lớn của mình.

“Thế này là được rồi,” ông ta nói, xóc xóc chúng để ước lượng, rồi nhướng mắt với anh em song sinh nhà Coulter. “Hai cậu và Willie đi với tôi. John và Murtagh thì ở lại đây với cô ấy.”

“Các ông định đi đâu?” Tôi hỏi.

Ông ta bỏ tiền vào cái túi da của mình, giữ lại một đồng, tư lự thảy lên không.

“Ồ,” ông ta mập mờ nói. “Ở đầu kia thị trấn có một quán rượu khác. Lính gác của nhà ngục thường tới đó khi hết ca trực, vì nó gần hơn và đồ uống rẻ hơn một chút.” Ông ta dùng ngón tay cái búng đồng tiền, rồi lật tay lại, bắt lấy nó giữa hai khớp ngón tay.

Tôi nhìn theo động tác của ông ta, dần dần đoán ra điều ông ta đang dự tính.

“Vậy ư?” Tôi nói. “Họ cũng sẽ chơi bài ở đó, đúng không?”

“Tôi không biết, không biết,” ông ta đáp, lại tung đồng tiền lên và chập hai bàn tay vào nhau, bắt lấy nó, rồi xòe hai bàn tay ra, để lộ lòng bàn tay trống trơn. Ông ta mỉm cười, phô ra hàm răng trắng nổi bật giữa chòm râu đen.

“Nhưng chúng ta có thể tới đó xem sao, đúng không?” Ông ta búng ngón tay và đồng tiền lại xuất hiện.

•••

Ngày hôm sau, vừa qua một giờ chiều, tôi lại đi qua bên dưới khung lưới sắt có những mấu nhọn bảo vệ cánh cổng của Wentworth từ lúc nó được xây dựng vào cuối thế kỷ mười sáu. Hai trăm năm sau, vẻ đáng sợ của nó vẫn chẳng mất đi là bao, và tôi chạm vào con dao găm trong túi để lấy can đảm.

Theo thông tin mà Rupert và những tay do thám phụ tá của ông ta thu thập được từ bọn lính gác ngục trong cuộc sát phạt tối hôm trước, giờ này chắc Ngài Fletcher đang thưởng thức bữa trưa. Mấy người họ đã chệnh choạng bước vào phòng trọ với cặp mắt đỏ ngầu và sực nức mùi bia rượu ngay trước rạng đông. Rupert trả lời mọi câu hỏi của tôi chỉ bằng một câu: “Ôi, cô gái, muốn thắng thì cần vận may. Còn muốn thua thì cần kỹ năng!” Thế rồi ông ta cuộn tròn mình trong một góc và ngủ thiếp đi, để mặc tôi đi đi lại lại trên sàn trong nỗi phẫn nộ như đã làm suốt đêm qua.

Nhưng một tiếng sau, ông ta thức dậy, đôi mắt trong sáng, đầu óc thông suốt, và trình bày sơ qua về cái kế hoạch mà tôi sắp sửa thực thi.

“Ngài Fletcher không cho phép bất cứ ai hay bất cứ thứ gì quấy rầy các bữa ăn của mình,” Rupert nói. “Người nào muốn gặp ông ta vào lúc đó phải đợi cho đến khi ông ta ăn uống xong. Và sau bữa trưa, ông ta có thói quen trở về phòng mình để chợp mắt một lát.”

Trong vai trò người giữ ngựa của tôi, Murtagh đã đến nhà ngục từ mười lăm phút trước và được phép vào trong mà không gặp trở ngại gì. Có lẽ ông đã được dẫn đến văn phòng của Ngài Fletcher và được đề nghị ngồi đợi ở đó. Trong khoảng thời gian ấy, ông sẽ lục soát văn phòng, trước hết là để tìm sơ đồ của chái nhà phía tây, sau đó, họa may có thể tìm thấy chìa khóa mở được các xà lim.

Tôi nán lại một lát, liếc nhìn bầu trời để ước lượng thời gian. Nếu tôi tới trước khi Ngài Fletcher ngồi ăn, tôi có thể được mời dùng bữa cùng ông ta, như thế sẽ cực kỳ phiền phức. Nhưng những gã lính gác cùng chơi bài với Rupert đã quả quyết rằng thói quen của viên giám thị không bao giờ thay đổi; chuông báo giờ ăn được rung vào đúng một giờ, và năm phút sau, món xúp sẽ được bưng đến.

Viên lính gác trực ở cửa vẫn là người hôm trước. Hắn có vẻ ngạc nhiên nhưng vẫn lịch sự chào tôi.

“Bực mình quá!” Tôi nói. “Tôi đã dặn người giữ ngựa mang một món quà nhỏ cho Ngài Fletcher, để đáp lại sự tử tế của ngài ấy đối với tôi ngày hôm qua. Nhưng gã ngốc đó lại quên mang nó theo, vì vậy tôi buộc phải đích thân mang đến, hy vọng đuổi kịp ông ta. Ông ta đã đến chưa?” Tôi giơ cái gói nhỏ mà mình mang theo lên và mỉm cười. Giá mà tôi có lúm đồng tiền thì tốt biết bao, nhưng vì không có, tôi đành phải phô bày hết mức hàm răng trắng bóng.

Có vẻ chỉ cần như thế là đủ. Viên lính gác đồng ý cho tôi vào và dẫn tôi đi qua các hành lang của nhà ngục để tới văn phòng của ông giám thị. Mặc dù khu vực này được trang hoàng tử tế, nhưng hầu như ai cũng có thể nhận ra nó là một nhà tù. Nó toát lên một thứ mùi mà tôi cho là mùi của nỗi khốn khổ và sự sợ hãi, mặc dù đó hẳn chỉ là mùi của sự dơ dáy, cũ kĩ và thiếu cống thoát nước mà thôi.

Viên lính gác để tôi đi trước, còn hắn thì thận trọng theo sau, cách tôi vài bước để tránh giẫm vào áo choàng của tôi. Cũng may là hắn làm thế, vì khi rẽ vào văn phòng của Ngài Fletcher, qua cánh cửa để ngỏ, tôi thấy Murtagh đang lôi thân hình bất tỉnh của tên lính gác văn phòng ra đằng sau cái bàn khổng lồ.

Tôi lùi lại một bước và thả cái gói trên tay xuống sàn nhà bằng đá. Tiếng thủy tinh vỡ chói tai vang lên, mùi brandy đào bốc lên nồng nặc.

“Ôi trời,” tôi nói, “tôi đã làm gì thế này?”

Trong lúc viên lính gác gọi một tù nhân tới lau dọn đống đổ vỡ đó, tôi khéo léo thì thầm với hắn rằng tôi sẽ đợi Ngài Fletcher trong văn phòng của ông ta, rồi nhanh nhẹn bước vào trong và vội vàng đóng cửa lại.

“Ông làm cái quái gì thế?” Tôi gắt lên với Murtagh.

Ông ngước lên khi đang lục soát cơ thể của tên lính gác, không quan tâm đến giọng điệu của tôi.

“Ngài Fletcher không cất chìa khóa trong văn phòng,” ông nhỏ giọng nói, “nhưng thằng nhãi này thì có một chùm.” Ông rón rén lôi chùm chìa khóa to tướng ra khỏi áo khoác của hắn để nó không kêu xủng xoảng.

Tôi quỳ xuống đằng sau Murtagh. “Ồ, tốt lắm!” Tôi nói, rồi liếc mắt về phía tên lính đang nằm sõng soài trên mặt đất, ít nhất hắn vẫn còn thở. “Còn sơ đồ nhà ngục thì sao?”

Ông lắc đầu. “Cũng không có, nhưng anh bạn đây đã nói sơ qua cho tôi biết trong lúc chờ đợi. Các xà lim giam những người bị kết án tử hình nằm cùng tầng với văn phòng này, ở giữa chái nhà phía tây. Nhưng ở đó có ba xà lim, và tôi không thể hỏi kĩ hơn - vì hắn đã bắt đầu nghi ngờ.”

“Thế là đủ rồi, tôi hy vọng như vậy. Nào, đưa tôi chùm chìa khóa và ra ngoài đi!”

“Tôi ư? mới là người nên rời đi, ngay lập tức!” Ông liếc về phía cánh cửa, nhưng bên ngoài không có tiếng động nào.

“Không, người làm việc này phải là tôi,” tôi nói, lại giơ tay lấy chùm chìa khóa. “Nghe này,” tôi sốt ruột nói. “Nếu họ phát hiện ông cầm một chùm chìa khóa đi loanh quanh trong nhà ngục và gã lính gác ở đây nằm im bất động như một con cá thu, chúng ta đều sẽ tiêu đời, bởi vì họ sẽ thắc mắc tại sao tôi không hét gọi người đến giúp?” Tôi cố gắng giằng lấy chùm chìa khóa và nhét vào trong túi.

Murtagh vẫn còn nghi ngại, nhưng đã đứng dậy.

“Nếu bị bắt gặp thì sao?” Ông hỏi.

“Tôi sẽ ngất xỉu,” tôi quả quyết nói. “Và khi tỉnh lại - tôi sẽ nói rằng tôi thấy ông giết tên lính gác nên hoảng hốt bỏ chạy mà chẳng biết mình đang chạy đi đâu. Tôi bị lạc đường trong lúc đi tìm người giúp.”

Murtagh chậm rãi gật đầu. “Ừ, được rồi.” Ông đi về phía cửa, rồi dừng lại.

“Nhưng tại sao tôi lại... Ồ.” Ông vội vã đi tới bàn làm việc, kéo hết ngăn kéo này đến ngăn kéo khác, một tay khuấy tung các đồ vật trong đó, tay còn lại ném các món đồ lên sàn.

“Trộm cắp,” ông giải thích rồi trở lại cửa, mở he hé và nhìn ra ngoài.

“Nếu là một vụ trộm cắp, chẳng phải ông nên lấy thứ gì đó sao?” Tôi gợi ý, nhìn quanh để tìm thứ gì đó nhỏ gọn và dễ mang theo, rồi nhấc một hộp thuốc lá hít tráng men lên. “Cái này chăng?”

Ông sốt ruột ra hiệu cho tôi đặt nó xuống, mắt vẫn nhòm qua khe cửa.

“Không! Nếu tôi bị phát hiện mang đồ của Ngài Fletcher trên người, tôi sẽ bị treo cổ. Còn tội trộm cắp bất thành chỉ bị đánh roi hoặc cắt xẻo thôi.”

“Ồ.” Tôi vội vàng đặt hộp thuốc lá xuống và đứng đằng sau nhòm qua vai ông. Hành lang có vẻ vắng tanh.

“Để tôi đi trước,” ông nói. “Nếu gặp ai đó, tôi sẽ đánh lạc hướng chúng. Cô đếm đến ba mươi rồi hẵng đi theo. Chúng tôi sẽ gặp cô ở khu rừng nhỏ phía bắc.”

Ông mở cửa rồi dừng lại và ngoảnh ra sau. “Nếu cô bị bắt gặp, nhớ ném chùm chìa khóa đi!”

Trước khi tôi có thể nói gì, ông đã luồn qua cửa như một con lươn và lặng lẽ đi xuôi theo hành lang như một cái bóng.

•••

Có vẻ như phải mất cả đời tôi mới tìm được chái nhà phía tây, vì cứ phải lẩn lút qua các hành lang của lâu đài cổ, nhòm quanh ở các góc rẽ và trốn sau những cây cột. Nhưng trên đường đi, tôi chỉ nhìn thấy một tên lính gác, và xoay xở tránh được hắn bằng cách nhảy trở lại chỗ góc rẽ, nép mình vào bức tường với trái tim đập thình thịch cho đến khi hắn đi qua.

Nhưng khi đã đến nơi, tôi chắc chắn mình đã tìm được đúng chỗ. Trên hành lang có ba cánh cửa lớn, mỗi cửa có một ô cửa sổ nhỏ có song sắt mà qua đó tôi chỉ có thể nhìn thấy lờ mờ bên trong căn phòng.

“Úm ba la xì bùa[2],” tôi lẩm bẩm và tiến về phía xà lim ở giữa. Những chiếc chìa khóa không được dán nhãn nhưng chúng có kích cỡ khác nhau. Rõ ràng chỉ có một trong ba cái chìa khóa lớn mới vừa cái ổ khóa trước mặt tôi. Đương nhiên, phải đến cái thứ ba tôi mới mở được cửa. Tôi hít sâu một hơi khi ổ khóa kêu “tách” một tiếng, rồi lau hai bàn tay mướt mồ hôi vào váy và đẩy mở cánh cửa.

Tôi dáo dác nhìn khắp đám người lố nhố hôi hám trong xà lim, bước qua những cái chân đang duỗi ra, gạt đi những cơ thể nặng nề di chuyển với sự ì ạch đáng bực mình. Sự xâm nhập đột ngột của tôi đã gây nên một cơn náo động; những tiếng rì rầm kinh ngạc đánh thức những kẻ đang ngủ trên sàn nhà bẩn thỉu, họ bắt đầu ngồi dậy. Vài kẻ bị xích vào tường; xiềng xích kêu lanh canh trong ánh sáng lờ mờ khi họ cử động. Tôi tóm lấy một gã đang đứng. Đó là một tộc viên mặc váy len kẻ ô màu vàng xanh rách rưới và có bộ râu màu nâu. Cánh tay hắn chỉ còn da bọc xương; quân Anh chẳng hề phí phạm thức ăn cho tù nhân của họ.

“James Fraser! Một người đàn ông tóc đỏ cao lớn! Anh ấy có ở trong xà lim này không? Anh ấy đâu?”

Gã này đang đi về phía cửa với những tù nhân khác không bị xích, nhưng hắn vẫn dừng lại một thoáng để nhìn tôi. Các tù nhân giờ đã hiểu ra vấn đề và đang đổ xô qua cánh cửa mở như một cơn lũ ào ạt, họ vừa chen lấn vừa nhìn ngó và thì thầm với nhau.

“Ai cơ? Fraser? Ồ, chúng mang hắn đi vào sáng nay rồi.” Gã đàn ông nhún vai, đẩy tay tôi ra.

Tôi nắm lấy thắt lưng hắn và siết chặt, ngăn hắn lại. “Chúng đưa anh ấy đi đâu? Ai đưa anh ấy đi?”

“Tôi không biết hắn bị đưa đi đâu; chỉ biết Đại úy Randall - một con quái vật có bộ mặt khô đét - đưa hắn đi.” Hắn nóng nảy giật mạnh người để thoát khỏi bàn tay tôi và quả quyết bước về phía cánh cửa.

Randall. Tôi đứng ngây ra trong một thoáng, để mặc mình bị xô đây giữa những gã đàn ông đang vội vội vàng vàng chạy trốn, nhắm mắt làm ngơ trước tiếng kêu la của đám bạn tù bị xiềng xích. Cuối cùng, tôi lắc lắc đầu để tỉnh táo lại và cố gắng suy nghĩ. Geordie đã quan sát lâu đài từ lúc bình minh. Không có ai rời khỏi đây vào buổi sáng trừ một nhóm nhỏ nhân viên nhà bếp đi mua đồ. Vậy là họ vẫn ở đây, đâu đó thôi.

Randall là một đại úy; có vẻ như trong cái nhà ngục này, chắng ai có cấp bậc cao hơn hắn, trừ Ngài Fletcher. Có lẽ Randall đã ra lệnh cho binh lính trong lâu đài tìm cho hắn một địa điểm thích hợp để tra tấn tù nhân khi nào hắn muốn.

Chắc chắn là hắn sẽ tra tấn tù nhân rồi. Cho dù việc này có dẫn đến cái giá treo cổ, nhưng gã đàn ông mà tôi đã gặp ở pháo đài William có bản tính của một con mèo. Hắn không thể cưỡng lại cơ hội vờn con chuột đặc biệt này, cũng như hắn không thể thay đổi chiều cao hay màu mắt của hắn vậy.

Tôi hít sâu một hơi, quyết tâm gạt bỏ mọi suy nghĩ về những gì có thể đã xảy ra từ lúc sáng và lao ra khỏi cửa, đâm sầm vào một gã Áo đỏ Anh quốc đang xộc vào. Hắn lảo đảo lùi lại. Tôi cũng loạng choạng va đầu và sườn trái vào khung cửa, đau điếng. Trong lúc bám vào khung cửa để đứng vững, bên tai tôi văng vẳng giọng nói của Rupert: Hãy tận dụng khoảnh khắc đối phương đang bị bất ngờ!

Vấn đề là, ai là người bị bất ngờ hơn. Tôi cuống cuồng lần tìm cái túi đựng con dao và nguyền rủa sự ngu ngốc của mình vì đã không rút dao ra từ lúc bước vào xà lim.

Gã lính Anh đã lấy lại thăng bằng và nhìn tôi chằm chằm, miệng há hốc, nhưng tôi có thể cảm nhận được mình đã tuột mất cái khoảnh khắc quý giá mà Rupert căn dặn. Bỏ qua cái túi khó tìm, tôi cúi xuống rút con dao từ cạp tất rồi dồn hết sức bình sinh đâm ngược lên. Mũi dao cắm vào dưới cằm tên lính khi hắn đang vừa xông tới vừa chạm tay vào thắt lưng. Hai tay hắn giơ lên cổ họng được nửa chừng rồi hắn nghiêng ngả lùi lại, tựa vào tường, vẻ mặt kinh ngạc. Sau đó, hắn từ từ trượt xuống khi sinh khí của hắn dần cạn kiệt. Giống như tôi, hắn đã chạy vào đây để kiểm tra mà không buồn rút vũ khí ra từ trước, và sơ suất nhỏ đó khiến hắn phải trả giá bằng cả tính mạng. Chúa nhân từ đã cứu giúp tôi trong lần sai lầm này; tôi không được mắc thêm sai sót nào nữa. Đột nhiên cảm thấy vô cùng lạnh giá, tôi bước qua cơ thể đang quằn quại dưới đất mà không nhìn vào nó.

Tôi vội vã chạy ngược lại con đường cũ cho đến chỗ ngoặt để rẽ ra cầu thang. Ở đây tôi có thể giấu mình khỏi tầm nhìn từ cả hai phía. Tôi tựa vào tường, tự cho phép mình nôn ọe và run rẩy trong một thoáng.

Sau khi chùi hai bàn tay đầy mồ hôi vào váy, tôi móc con dao ra khỏi cái túi bí mật. Giờ nó là thứ vũ khí duy nhất của tôi; tôi không có thời gian hay lòng dạ nào để lấy lại con dao đã đâm gã lính. Có lẽ như thế cũng tốt, tôi nghĩ, xoa xoa các ngón tay vào áo chẽn; chúng không dính nhiều máu lắm, và tôi co rúm lại khi nghĩ đến luồng máu sẽ phun ra nếu tôi rút con dao khỏi cơ thể hắn.

Lăm lăm con dao trong tay, tôi thận trọng nhòm ra ngoài hành lang. Các tù nhân mà tôi vô tình giải thoát đã đi về phía bên trái. Tôi không biết họ định làm gì, nhưng chắc chắn họ sẽ làm cho đám lính Anh bận rộn. Chẳng có căn cứ gì để lựa chọn hướng này hay hướng kia trong cuộc tìm kiếm của mình, tôi nên khôn ngoan tránh xa cuộc náo loạn mà họ sẽ gây ra.

Ánh nắng hắt vào từ các ô cửa sổ hẹp trên cao đang chiếu xiên xuống đằng sau tôi; vậy thì đây là chái phía tây của lâu đài. Tôi phải xác định đúng phương hướng trong lúc di chuyển, vì Rupert sẽ đợi tôi gần cổng phía nam.

Cầu thang. Tôi ép trí óc tê liệt của mình phải suy nghĩ, cố gắng suy luận ra địa điểm mà mình đang tìm kiếm. Nếu muốn tra tấn ai đó, ta cần một nơi riêng tư và kín đáo. Vậy thì một địa lao biệt lập là thích hợp nhất. Và trong những lâu đài như thế này, các địa lao thường ở dưới mặt đất. Ở đó, hàng tấn đất sẽ chặn lại những tiếng gào thét, và bóng tối sẽ che giấu mọi tội ác khỏi con mắt của những người có trách nhiệm.

Bức tường uốn cong ở cuối hành lang; tôi đã tới một trong bốn tòa tháp ở góc - và các tòa tháp đều có cầu thang.

Cầu thang xoắn ốc với những bậc thang hình nêm dốc xuống hun hút khiến người ta hoa mắt chóng mặt. Sự tối tăm tương phản với vẻ sáng sủa trên hành lang càng khiến tôi khó phán đoán khoảng cách giữa các bậc thang, và tôi bị hụt chân mấy lần, phải chống tay vào bức tường đá để lấy lại thăng bằng, khiến các khớp ngón tay và lòng bàn tay bị trầy xước.

Tuy nhiên, nó cũng có ưu điểm. Qua một ô cửa sổ hẹp được trổ để giúp cho cầu thang không bị chìm trong bóng tối hoàn toàn, tôi có thể nhìn thấy sân chính. Ít nhất bây giờ tôi có thế định hướng. Một toán lính nhỏ mặc áo đỏ đang sắp thành hàng ngũ gọn gàng để duyệt binh chứ không phải để chứng kiến cuộc trừng phạt một gã Scot nổi loạn. Trên sân có một cái giá treo cổ đen sì trông rất đáng sợ, nhưng trên giá treo cổ không có ai cả. Tôi như bị thụi một cú đấm vào bụng khi nhìn thấy nó. Sáng mai. Tôi lách cách chạy xuống cầu thang, chẳng còn để ý gì đến hai khuỷu tay và những ngón chân sây sát.

Đến chân cầu thang, tôi dừng lại nghe ngóng. Sự im lặng tuyệt đối phủ khắp xung quanh, nhưng chí ít nơi này cũng có người; những ngọn đuốc trên tường đang nhuộm những khối đá hoa cương thành từng quầng đỏ lập lòe. Khói đuốc xám cuộn thành những vòng xoáy lan dọc theo mái vòm của hành lang.

Từ chỗ này chỉ có một đường để đi. Tôi dấn bước, con dao vẫn lăm lăm trong tay. Cảm giác thật kỳ quái. Trước đây tôi đã từng nhìn thấy những địa lao như thế này khi cùng Frank đến tham quan các tòa lâu đài có giá trị lịch sử. Nhưng bấy giờ những khối đá hoa cương đồ sộ đã bị tước đi vẻ đáng sợ bởi ánh sáng của những ống đèn huỳnh quang treo trên trần. Tôi nhớ mình đã rụt người lại khỏi những căn buồng nhỏ tối om dù lúc đó chúng đã không còn được sử dụng hơn một thế kỷ. Nhìn thấy dấu vết còn lại của những con đường cổ gớm ghiếc, những cánh cửa dày và những cái xiềng xích hoen gỉ treo trên tường, tôi đã nghĩ mình có thể mường tượng ra nỗi thống khổ của những người bị giam cầm trong các xà lim gớm ghiếc này. Giờ thì tôi muốn bật cười vì sự ngây thơ ấy. Giống như Dougal đã nói, có những thứ mà trí tưởng tượng không thể hình dung ra nổi.

Tôi nhón chân đi qua những cánh cửa đóng kín dày tới bảy, tám phân, đủ để chặn lại bất cứ âm thanh nào bên trong. Tôi cúi người sát đất, kiểm tra xem có dải ánh sáng nào hắt ra ở chân mỗi cánh cửa không. Các tù nhân có thể bị bỏ mặc cho chết rục trong bóng tối, nhưng Randall sẽ cần thắp đèn nến để tra tấn họ. Sàn đất dấp dính phủ một lớp bụi dày. Rõ ràng khu vực này của nhà ngục hiện không được sử dụng, nhưng những ngọn đuốc chỉ ra rằng có ai đó đang ở dưới này.

Cánh cửa thứ tư trong hành lang hắt ra thứ ánh sáng tôi đang tìm kiếm. Tôi quỳ xuống đất, áp tai vào khe hở để lắng nghe, nhưng chẳng nghe thấy gì ngoài tiếng lửa khẽ lách tách cháy.

Cửa không khóa. Tôi mở he hé và rón rén nhòm vào trong. Jamie đang ở đó. Anh ngồi bệt trên sàn, tựa người vào một bức tường, úp mặt vào giữa hai đầu gối. Anh chỉ có một mình.

Căn phòng nhỏ nhưng sáng sủa nhờ ngọn lửa đang cháy rực trong lò than. So với một địa lao thì nơi này khá ấm cúng; sàn đá phần nào sạch sẽ và có một cái giường nhỏ kê sát tường. Ngoài ra còn có hai cái ghế và một cái bàn, trên bàn bày một số đồ vật, trong đó có một cái bình dẹt bằng thiếc to tướng và mấy cái cốc bằng sừng. Quả là một cảnh tượng đáng kinh ngạc sau một hồi chỉ thấy những bức tường ẩm ướt và những con chuột chạy hối hả. Có lẽ các sĩ quan của quân đồn trú đã biến nơi này thành một địa điểm giải trí bí mật với những người phụ nữ mà chúng có thể dụ dỗ đến nhà ngục thăm chúng; rõ ràng ở đây kín đáo và riêng tư hơn hẳn so với ở doanh trại.

“Jamie!” Tôi gọi khẽ. Anh không ngẩng lên hay trả lời tôi, khiến tôi rùng mình sợ hãi. Tôi vội vàng đóng cửa rồi đi tới chỗ anh và chạm vào vai anh.

“Jamie!”

Bấy giờ anh mới ngẩng lên, khuôn mặt trắng bệch, râu ria không cạo, nhễ nhại mồ hôi; tóc và áo anh cũng ướt sũng. Căn phòng bốc lên mùi sợ hãi và mùi của chất nôn mửa.

“Claire!” Anh nói, chất giọng khàn khàn thoát ra qua đôi môi khô nẻ. “Làm thế nào mà em... Em phải ra khỏi đây ngay lập tức. Hắn sắp quay lại đây.”

“Đừng ngớ ngẩn thế!” Tôi đánh giá nhanh tình hình, hy vọng rằng nếu tập trung vào việc trước mắt, tôi sẽ xoa dịu được cảm giác nghẹt thở và làm tan chảy được cục băng to tướng trong lòng mình.

Cổ chân anh bị xích, nhưng những bộ phận khác thì được tự do. Giữa đống vật thể lộn xộn trên bàn có một cuộn dây rõ ràng đã được sử dụng; ở cổ tay và khuỷu tay anh vẫn còn in hằn dấu vết bị trói.

Tôi cảm thấy hoang mang trước tình trạng của anh. Anh rõ ràng đang bị choáng và mỗi đường nét trên cơ thể đều toát lên nỗi đau đớn, nhưng tôi không thể nhìn thấy bất cứ sự tổn hại nào. Không có máu, cũng không có thương tích. Tôi quỳ xuống và bắt đầu tra thử từng chìa trong chùm chìa khóa của mình vào ổ khóa của cái còng trên cổ chân anh.

“Hắn đã làm gì anh vậy?” Tôi thì thào hỏi vì sợ Randall quay lại.

Jamie ngồi lảo đảo, hai mắt nhắm lại, mồ hôi toát ra như tắm. Anh dường như sắp ngất, nhưng thoáng mở mắt khi nghe thấy giọng tôi, rồi hết sức rón rén dùng tay trái nhấc lên vật mà anh đang nâng niu trong lòng. Đó là bàn tay phải của anh. Tôi gần như không thể nhận ra nó là bàn tay của một con người. Nó sưng vù lên, chỗ đỏ chỗ tím, các ngón tay gãy lủng lẳng. Ngón giữa còn bị rách lòi cả xương, các khớp ngón tay lấm tấm máu.

Bàn tay con người là một kỳ công tinh xảo của tạo hóa, một hệ thống khớp và dây chằng phức tạp, được điều khiển bởi mạng lưới hàng triệu dây thần kinh nhỏ xíu, cực kỳ nhạy cảm. Chỉ cần gãy một ngón tay cũng đủ khiến một người đàn ông khỏe mạnh quỵ xuống vì đau đớn.

“Cái giá phải trả,” Jamie nói, “cho cái mũi của hắn - còn bị tính thêm lãi nữa.”

Tôi nhìn chằm chằm vào hình ảnh ấy trong một thoáng, rồi nói bằng giọng mà tôi không nhận ra là giọng của mình: “Em sẽ giết hắn.”

Miệng Jamie hơi nhếch lên khi khiểu hài hước chen vào giữa sự đau đớn và choáng váng. “Anh sẽ đứng cầm áo choàng giúp em, Sassenach,” anh thì thầm, rồi lại nhắm mắt và gục xuống, chẳng còn đủ tỉnh táo để phản đối sự xuất hiện của tôi ở đây nữa.

Tôi lại loay hoay mở khóa, mừng rỡ khi thấy tay mình không còn run. Nỗi sợ hãi đã biến mất và được thay thế bằng một cơn thịnh nộ điên cuồng.

Tôi thử hết chùm chìa khóa đến lần thứ hai mà vẫn không mở được cái còng. Hai bàn tay tôi ướt đẫm mồ hôi và những chiếc chìa khóa cứ trượt đi như những con cá tuế khi tôi bắt đầu thử lại lần nữa những chìa có vẻ phù hợp nhất. Tiếng lầm bầm chửi thề của tôi đánh thức Jamie khỏi tình trạng mơ màng, và anh chậm rãi cúi xuống nhìn việc tôi đang làm.

“Em không cần tìm ra chìa nào xoay được ổ khóa đâu,” anh nói, tựa một bên vai vào tường để giữ thẳng người. “Nếu có chìa nào nhét được vào trong ổ, em chỉ cần đập một cú thật mạnh vào đầu của nó là mở được cái còng thôi.”

“Anh đã từng nhìn thấy loại còng này rồi à?” Tôi muốn anh nói chuyện liên tục để giúp anh tỉnh táo; anh sẽ phải đi bộ nếu chúng tôi rời khỏi đây được.

“Anh từng bị đeo một cái còng như thế. Khi đám lính Anh mang anh đến đây, chúng nhốt anh trong một xà lim lớn với rất nhiều người khác. Bị xích cạnh anh là một anh chàng tên Reilly, quê ở Leinster[3] - anh ta nói mình đã trải qua hầu hết các nhà tù ở Ireland và quyết định thử nhà tù ở Scotland để thay đổi môi trường.” Jamie cố gắng nói vì cũng nhận ra rằng mình phải giữ tỉnh táo. Anh gắng gượng nở nụ cười yếu ớt. “Anh ta kể với anh khá nhiều về các loại ổ khóa, và chỉ cho anh cách bẻ khóa những cái còng mà bọn anh đang đeo, nếu bọn anh có một thanh kim loại thẳng, chỉ có điều bọn anh lại không có.”

“Hướng dẫn em đi!” Nỗ lực để nói chuyện khiến anh toát mồ hôi, nhưng anh có vẻ tỉnh táo hơn. Tập trung vào vấn đề mở khóa có vẻ có ích đấy!

Theo chỉ dẫn của anh, tôi tìm được một chìa khóa thích hợp và nhét nó vào sâu nhất có thể. Theo lời Reilly, một cú đập mạnh vào đầu kia của chìa khóa sẽ khiến đầu còn lại ép mạnh vào các lẫy khóa, khiến chúng bật ra. Tôi nhìn quanh tìm một dụng cụ thích hợp để đập.

“Dùng cái búa trên bàn kia kìa, Sassenach,” Jamie nói. Nghe giọng điệu đáng sợ của anh, tôi liếc nhìn lên bàn, trên đó có một cái búa gỗ cỡ trung bình với phần cán được quấn dây nhúng nhựa đường.

“Có phải cái đó...” Tôi kinh hãi nói.

“Ừ. Hãy tì cái còng vào tường trước khi em đập nó.”

Tôi rón rén nhấc cái búa lên. Để tì được cái còng sắt vào tường thì cũng hơi bất tiện vì việc này đòi hỏi Jamie phải luồn cái chân bị còng xuống dưới cái chân còn lại và ấn đầu gối vào bức tường đối diện.

Hai cú đập đầu tiên của tôi quá yếu và nhát. Đến lần thứ ba, tôi dồn hết sức bình sinh giáng một cú thật mạnh xuống phần đầu tròn của chìa khóa. Cái búa trượt đi, đập vào mắt cá chân anh, khiến anh giật nẩy người, mất thăng bằng và đổ người xuống. Theo bản năng, anh vươn tay phải ra để chống đõ, rồi rên lên một tiếng khủng khiếp khi cánh tay phải sụm xuống và vai bị va xuống sàn.

“Ồ, chết tiệt,” tôi bực bội nói. Jamie đã ngất đi. Cũng chẳng trách anh được. Tận dụng khoảnh khắc anh nằm im bất động, tôi xoay cổ chân anh để cái còng tì chắc vào tường, và bền bỉ đập cái chìa khóa, nhưng chẳng có mấy tác dụng. Tôi đang hậm hực nghĩ tới những gã thợ khóa Ireland thì cánh cửa bên cạnh tôi đột ngột mở toang.

Cũng giống như khuôn mặt Frank, khuôn mặt của Randall hiếm khi biểu lộ những gì mình đang nghĩ. Hắn thường trưng ra vẻ mặt bình thản và khó dò. Nhưng vào lúc này, tư thế đĩnh đạc quen thuộc của hắn đã biến mất. Hắn đứng ở ngưỡng cửa với cái miệng há hốc, trông chẳng khác gì kẻ đi cùng hắn. Viên phụ tá của hắn là một gã đàn ông rất to lớn, mặc bộ quân phục lấm lem, rách rưới. Gã có cái trán dô, mũi tẹt và đôi môi trễ dày cộp, đặc trưng của những người có trí tuệ chậm phát triển. Vẻ mặt gã không thay đổi khi nhìn qua vai Randall, chẳng tỏ chút hứng thú với tôi hay với người đàn ông đang nằm bất tỉnh trên sàn nhà.

Khi đã bình tâm lại, Randall bước vào phòng, thò tay chọc chọc cái còng quanh cổ chân Jamie. “Cô đang phá hoại tài sản hoàng gia đấy! Tội này có thể bị pháp luật trừng trị. Chưa nói đến tội cố gắng giúp một tên tù phạm nguy hiểm vượt ngục.” Đôi mắt màu xám nhạt của hắn ánh lên một tia thích thú. “Chúng tôi sẽ phải thu xếp một thứ gì đó thích hợp cho cô. Trong lúc chờ đợi...” Hắn lôi tôi dậy, bẻ quặt hai tay tôi ra đằng sau và quấn cái khăn đeo cổ của hắn quanh hai cổ tay tôi.

Vùng vẫy rõ ràng chẳng ích gì, tôi lấy hết sức giẫm mạnh vào mũi giày của hắn, chỉ để trút giận.

“Ối!” Hắn xoay tôi lại và ẩn tôi một cái khiến tôi va vào giường và ngã xuống, nửa nằm nửa ngồi trên những tấm chăn xù xì. Randall vừa quan sát tôi với vẻ thỏa mãn ác nghiệt vừa lau mũi giày bằng một cái khăn tay vải lanh. Tôi trừng mắt nhìn hắn, và hắn cất một tiếng cười ngắn.

“Phải công nhận rằng cô không phải một kẻ hèn nhát. Rất xứng với hắn,” hắn hất đầu về phía Jamie đang bắt đầu động đậy, “và tôi không thể tặng cô một lời khen nào hay hơn.” Hắn nhẹ nhàng sờ lên một vết bầm tối sẫm trên cổ. “Hắn đã cố giết tôi, bằng một tay, khi tôi cởi trói cho hắn. Và suýt thì làm được. Tiếc là tôi không sớm nhận ra hắn thuận tay trái.”

“Anh ấy thật quá đáng,” tôi mỉa mai nói.

“Đúng vậy,” Randall nói, gật đầu. “Tôi nghĩ cô không bất lịch sự như thế, đúng không? Tuy nhiên, để đề phòng...” Hắn quay sang tên phụ tá to lớn vẫn đang đứng thõng tay ở cửa, chờ nghe lệnh.

“Marley,” Randall nói, “lại đây lục soát xem người phụ nữ này có mang vũ khí không.” Hắn thích thú quan sát khi gã hộ pháp vụng về mò mẫm khắp người tôi, cuối cùng phát hiện và lôi ra con dao găm.

“Cô không thích Marley à?” Gã Đại úy hỏi khi thấy tôi cố tránh những ngón tay dày sờ nắn tôi quá mức sỗ sàng. “Tiếc thật; tôi chắc chắn hắn khá thích cô.”

“Marley tội nghiệp không may mắn lắm với phụ nữ,” gã Đại úy tiếp tục, trong mắt ánh lên tia hiểm ác. “Đúng không, Marley? Ngay cả bọn gái điếm cũng không chấp nhận hắn.” Randall ghim chặt ánh mắt giảo hoạt vào tôi, nở nụ cười giống như một con sói. “Họ nói hắn quá to.” Hắn nhướng một bên lông mày. “Một ả điếm mà còn nói như vậy thì cô biết thế nào rồi đấy!” Hắn nhướng nốt bên lông mày còn lại, biếu lộ ý mình khá rõ ràng.

Marley bắt đầu thở hồng hộc. Gã ngừng lại và chùi một sợi nước dãi lòng thòng trên khóe miệng. Tôi dịch người ra xa nhất có thể, cảm thấy buôn nôn.

Randall nhìn tôi, nói: “Tôi cho là Marley sẽ muốn tiêu khiển với cô trong phòng riêng khi nào chúng ta nói chuyện xong. Đương nhiên, sau đó hắn có thể chia sẻ vận may của mình với bạn bè.”

“Ồ, ông không muốn chứng kiến sao?” Tôi mỉa mai hỏi.

Randall cười, thực sự thích thú.

“Tôi có thể có “những sở thích bất thường”, như cô đã biết, nhưng tôi cũng có những nguyên tắc về thẩm mỹ.” Hắn liếc nhìn gã thuộc hạ hộ pháp luộm thuộm, bấn thỉu, cái bụng phệ căng ra bên trên chiếc thắt lưng, đôi môi trễ dày cộp liên tục mút chùn chụt, như đang ngốn ngấu một mẩu thức ăn, và những ngón tay ngắn, dày căng thẳng vầy vò đũng quần lấm lem. Randall thoáng rùng mình.

“Không,” hắn nói. “Mặc dù miệng lưỡi chua ngoa nhưng cô là một người phụ nữ rất duyên dáng. Phải nhìn cô với Marley - không, tôi không nghĩ mình muốn chứng kiến cảnh đó. Chưa kể ngoại hình, Marley còn có những thói quen chẳng ai chịu nổi.”

“Ông cũng thế mà,” tôi nói.

“Đúng vậy. Nhưng dù gì những thói quen của tôi cũng sẽ không làm phiền cô lâu hơn nữa.” Hắn ngừng lại, nhìn tôi. “Tôi vẫn muốn biết cô là ai. Rõ ràng cô là một Jacobite, nhưng làm việc cho ai? Marischal? Seaforth? Hẳn là Lovat, vì cô đang ở với nhà Fraser.” Randall đá nhẹ mũi giày sáng bóng vào người Jamie, nhưng anh vẫn nằm bất động. Ngực anh nhô lên hạ xuống đều đặn; có lẽ anh chỉ chuyển từ trạng thái bất tỉnh sang trạng thái ngủ. Những quầng thâm dưới mắt cho thấy gần đây anh chẳng được nghỉ ngơi mấy.

“Tôi thậm chí còn nghe vài người nói rằng cô là một phù thủy,” gã Đại úy tiếp tục. Tuy giọng nói nhẹ nhàng nhưng hắn nhìn tôi chăm chú, cứ như tôi có thể thình lình biến thành một con cú và bay đi vậy. “Có chút rắc rối ở Cranesmuir, đúng không? Một cái chết nào đó? Nhưng rõ ràng đó chỉ là chuyện mê tín dị đoan vớ vẩn.”

Randall nhìn tôi với ánh mắt suy đoán. “Tôi có thể chấp nhận thương lượng với cô,” hắn đột nhiên nói, ngả người ra sau, tựa vào bàn, mời tôi lên tiếng.

Tôi cười chua chát. “Tôi không có vị thế hay tâm trạng để thương lượng vào lúc này. Ông định đề nghị tôi điều gì?”

Randall liếc nhìn Marley. Đôi mắt của gã ngốc gắn chặt vào tôi, và gã đang khẽ lẩm bẩm gì đó.

“Một sự lựa chọn, ít nhất là vậy. Nói cho tôi biết - và thuyết phục được tôi - rằng cô là ai và ai cử cô đến Scotland. Cô đang làm nhiệm vụ gì và cô đã gửi những thông tin gì cho ai. Nếu cô nói với tôi điều đó, tôi sẽ đưa cô đến chỗ Ngài Fletcher thay vì giao cô cho Marley.”

Tôi tránh nhìn vào Marley. Tôi đã thấy những cái chân răng bị sâu cắm trên bộ nướu mưng mủ của gã, và nghĩ đến việc gã hôn tôi, chưa kể... Tôi nén lại ý nghĩ đó. Randall nói đúng; tôi không phải kẻ hèn nhát. Nhưng tôi cũng không phải một con ngốc.

“Ông không thể đưa tôi đến chỗ Ngài Fletcher,” tôi nói, “tôi biết điều đó rõ như ông vậy. Đưa tôi đến đó để tôi kể cho ông ta nghe chuyện này ư?” Tôi hất đầu, ám chỉ căn phòng nhỏ ấm cúng, ngọn lửa ấm áp, cái giường tôi đang ngồi và Jamie đang nằm dưới chân tôi. “Cho dù Ngài Fletcher có nhiều khiếm khuyết nhưng tôi không nghĩ ông ta sẽ chấp nhận việc sĩ quan của mình tra tấn tù nhân. Ngay cả quân đội Anh cũng phải có chút tiêu chuẩn.”

Randall nhướng cả hai bên lông mày. “Tra tấn? Ồ, chuyện đó à?” Hắn thờ ơ phẩy tay về phía bàn tay của Jamie. “Một tai nạn. Hắn bị ngã trong xà lim và những tù nhân khác đã giẫm lên hắn. Trong xà lim khá đông, cô biết đây.” Hắn cười nhạo báng.

Tôi im lặng. Chẳng rõ Ngài Fletcher có tin chuyện thương tích ở tay Jamie chỉ là một tai nạn hay không, nhưng ông ta chắc chắn sẽ không tin bất cứ điều gì tôi nói khi tôi bị lột mặt nạ là một gián điệp người Anh.

Randall đang quan sát tôi, đôi mắt hắn rình mò bất cứ dấu hiệu yếu đuối nào. “Thế nào? Sự lựa chọn nằm trong tay cô đấy!”

Tôi thở dài và nhắm mắt lại. Tôi đã chán phải nhìn vào hắn. Sự lựa chọn nào có nằm trong tay tôi, nhưng tôi khó có thế nói cho hắn biết lý do tại sao.

“Cũng vậy cả thôi,” tôi mệt mỏi nói. “Tôi không thể nói gì với ông.”

“Hãy nghĩ kĩ một chút.” Hắn đứng dậy, cẩn thận bước qua thân hình nằm im như tượng của Jamie và lấy ra một chiếc chìa khóa từ trong túi áo. “Bây giờ tôi có thể cần sự trợ giúp của Marley, nhưng sau đó tôi sẽ đuổi hắn về phòng - cùng với cô, nếu cô không chịu hợp tác.” Hắn cúi xuống, mở khóa còng và nhấc cơ thể bất động trên sàn lên, phô bày một sức mạnh đáng nể so với vóc dáng mảnh khảnh của hắn. Bắp tay hắn nổi lên cuồn cuộn dưới lớp vải áo sơ mi trắng tinh khi hắn mang Jamie tới một cái ghế đẩu trong góc. Hắn hất đầu về phía cái xô ở gần đó.

“Đánh thức hắn dậy,” hắn cộc lốc ra lệnh cho gã hộ pháp trầm lặng. Nước lạnh bắn vào những phiến đá trên tường và tạo thành một cái vũng bẩn thỉu trên sàn. “Một lần nữa,” Randall nói, nhìn Jamie khẽ rên rỉ, đầu hơi ngọ nguậy bên bức tường đá. Anh nhăn nhó và ho khù khụ dưới luồng nước thứ hai tạt vào người mình.

Randall bước tới, nắm lấy tóc Jamie, giật ngửa đầu anh ra sau và lắc lắc như thể anh là một con vật bị chết đuối, những giọt nước hôi hám bắn tung lên các bức tường. Đôi mắt Jamie chẳng khác gì hai khe nhỏ đờ đẫn. Randall ghê tởm hất đầu Jamie lại, vừa quay đi vừa chùi hai bàn tay vào mép quần. Hẳn là hắn đã thoáng thấy sự chuyển động, bởi vì hắn lập tức quay ngoắt lại, nhưng không kịp trở tay trước cú lao tới bất ngờ của Jamie.

Jamie kẹp cả hai cánh tay quanh cổ Randall. Vì không thể sử dụng bàn tay phải nên anh dùng cổ tay để siết chặt khí quản hắn. Khi Randall trở nên tím tái và bắt đầu lả đi, anh thụi bàn tay trái vào thận của gã Đại úy. Dù đã yếu đi nhưng cú đấm của Jamie vẫn khiến Randall khuỵu xuống.

Jamie thả gã Đại úy mềm nhũn ra, quay lại đối mặt với gã tay sai hộ pháp, kẻ chứng kiến những sự kiện xảy ra từ nãy đến giờ với khuôn mặt không mảy may cảm xúc. Tuy biểu cảm trên mặt gã vẫn không thay đổi nhưng khi Jamie tiến về phía gã, bàn tay trái lành lặn cầm chân cái ghế đẩu, gã liền nhặt cây búa trên bàn lên. Vẻ thận trọng bắt đầu lờ mờ hiện lên trên khuôn mặt gã cần vụ khi hai người đàn ông chậm rãi đi vòng quanh, tìm sơ hở của nhau.

Vì nắm trong tay thứ vũ khí tốt hơn nên Marley tấn công trước. Gã vụt cây búa vào mạng sườn Jamie. Jamie xoay người tránh và dứ dứ cái ghế đẩu, ép gã cần vụ lùi về phía cửa. Gã lại tấn công bằng một cú bổ trí mạng từ trên cao xuống, ắt hẳn sẽ làm vỡ sọ Jamie nếu nó trúng đích. Tuy nhiên, cái ghế đẩu đã đỡ đòn thay anh. Nó bị bửa đôi, một chân và mặt bị gãy rời.

Jamie nóng ruột đập cái ghế vào tường, biến nó thành một cây gậy tuy nhỏ hơn nhưng thuận tiện hơn; giờ nó đã là một thanh gỗ dài sáu mươi phân với một đầu nham nhở, lởm chởm.

Không khí trong xà lim ngột ngạt vì khói tỏa ra từ những ngọn đuốc và tĩnh lặng ngoại trừ tiếng thở hồng hộc của hai người đàn ông và thi thoảng là một cú đập vào da thịt. Không dám lên tiếng vì sợ làm ảnh hưởng đến sự tập trung của Jamie, tôi thu chân lên giường, nép vào tường, cố gắng tránh xa cuộc chiến.

Jamie đang đuối sức nhanh chóng. Nhìn nụ cười háo hức của gã cần vụ, tôi nghĩ có lẽ gã cũng biết được điều này. Việc anh có thể đứng dậy đã là một kỳ tích, huống hồ là đánh nhau. Cả ba chúng tôi đều cảm nhận rõ cuộc chiến không thể kéo dài lâu hơn nữa; nếu có bất kỳ cơ hội nào, anh phải hành động ngay. Với những cú đâm ngắn và mạnh bằng cái chân ghế gãy anh thận trọng tiến về phía Marley ép gã đàn ông to xác vào một góc khiến không gian của gã bị giới hạn. Nhận ra điều này nhờ bản năng, gã cần vụ liền quét ngang một đường búa đầy hiểm hóc, hy vọng có thể ép Jamie lùi lại.

Tuy nhiên, Jamie vẫn bước thẳng tới, nhận lãnh trọn vẹn nhát búa vào sườn trái, đồng thời vung gậy giáng toàn lực vào thái dương của Marley. Quá chăm chú vào cảnh tượng trước mặt, tôi không để ý đến cơ thể đang nằm sấp của Randall ở gần cửa. Nhưng khi gã cần vụ lảo đảo, đôi mắt đờ đẫn, tôi nghe thấy tiếng giày nghiến lạo xạo trên mặt đá và một tiếng thở nặng nề bên tai.

“Đánh hay lắm, Fraser!” Giọng nói của Randall hơi khàn song vẫn điềm tĩnh như thường lệ. “Nhưng mày cũng phải trả giá bằng mấy cái xương sườn, đúng không?”

Jamie dựa vào tường, thở hổn hển từng quãng, tay vẫn cầm cây gậy, cùi chỏ ấn mạnh vào mạng sườn. Anh liếc nhìn xuống sàn, ước lượng khoảng cách.

“Đừng có thử, Fraser!” Giọng hắn nhẹ nhàng, ôn tồn. “Cô ta sẽ chết trước khi mày bước được bước thứ hai đấy.” Lưỡi dao mảnh lạnh lẽo lướt qua tai tôi; tôi có thể cảm nhận mũi dao nhọn nhẹ nhàng chọc vào góc hàm mình.

Jamie vẫn tựa vào tường, đôi mắt bình thản quan sát cảnh tượng ấy. Thế rồi, anh đột ngột nén đau để vươn thẳng người, thân hình khẽ lảo đảo. Cây gậy rơi xuống sàn đá, kêu lách cách. Mũi dao chọc mạnh hơn một chút, nhưng Randall vẫn đứng yên khi Jamie chậm rãi đi vài bước về phía chiếc bàn, trên đường đi khẽ cúi xuống để nhặt cái búa. Anh dùng hai ngón tay đung đưa cái búa trước mặt, thể hiện rõ mình không có ý định tấn công.

Cây búa lách cách văng đi trên cái bàn trước mặt tôi, cán búa xoay tít đẩy đầu búa nặng nề tới gần mép bàn. Thứ dụng cụ rắn chắc, thô kệch, tối sẫm ấy nặng nề nằm trên mặt gỗ sồi. Giữa đống vật thể lộn xộn ở đầu bàn bên kia có một cái giỏ đan bằng sậy đụng những cây đinh nửa xu[4]; có lẽ chúng là những thứ bị bỏ lại sau khi các thợ mộc đã hoàn thiện căn phòng. Bàn tay lành lặn của Jamie bám chặt mép bàn, những ngón tay thẳng băng đẹp đẽ như được viền một lớp màu vàng kim trong ánh lửa. Anh nỗ lực hết sức để từ từ ngồi xuống một cái ghế và xòe hai bàn tay trên bề mặt gỗ sứt sẹo, cái búa nằm ngay trong tầm với.

Ánh mắt anh khóa chặt ánh mắt Randall suốt lúc anh đau đớn đi ngang căn phòng, đến bây giờ nó vẫn không tỏ chút nao núng. Anh hất đầu về phía tôi mà không hề nhìn sang tôi và nói: “Để cô ấy đi đi!”

Bàn tay cầm dao dường như nới lỏng một chút. Giọng nói của Randall toát lên vẻ khoái chí và tò mò. “Tại sao?”

Jamie có vẻ đã hoàn toàn kiểm soát được bản thân, dù mặt anh trắng bệch và mồ hôi chảy tràn trên mặt như những giọt nước mắt.

“Ông không thể chĩa dao vào hai người một lúc. Nếu ông giết cô ấy hoặc lơ là một giây, tôi sẽ giết ông.” Giọng anh nhẹ nhàng nhưng đanh thép.

“Vậy điều gì ngăn cản tao lần lượt giết cả hai đứa mày?”

Tôi sẽ gọi biểu cảm trên mặt Jamie là một nụ cười chỉ vì hàm răng của anh đang được phô ra. “Cái gì, và sau đó nghĩ cách nói dối đao phủ ư? Hơi khó giải thích vào sáng mai, đúng không?” Anh hất đầu về phía gã hộ pháp đang bất tỉnh trên sàn. “Ông nên nhớ rằng ông đã phải nhờ gã tay sai của mình trói tôi bằng dây thừng trước khi ông làm gãy tay tôi.”

“Thì sao?” Con dao vẫn nằm ở tai tôi.

“Giờ thì phụ tá của ông sẽ không giúp gì được cho ông.” Đây là sự thật không thể chối cãi; gã tay sai gớm ghiếc đang nằm úp mặt trong góc, rống lên những tiếng ngáy to tướng, đứt quãng. Gã đã bị chấn động mạnh. Có thể xuất huyết não. Nhưng tôi chẳng quan tâm cho dù gã có chết trước mắt tôi.

“Một mình ông không thể làm gì được tôi, dẫu cho tôi chỉ có một tay.” Jamie chậm rãi lắc đầu, ước lượng vóc dáng và sức lực của Randall. “Tôi đô con hơn, và giỏi hơn ông nhiều khi đấu tay đôi. Nếu không phải ông đang uy hiếp cô ấy, tôi đã tước được con dao và căm vào họng ông. Ông biết rõ điều đó, vì vậy ông mới không làm hại cô ấy.”

“Nhưng tao đang giữ ả trong tay. Đương nhiên, mày có thể bỏ đi. Có một lối ra ở khá gần đây. Đương nhiên, thế thì vợ mày - mày nói ả là vợ mày? - sẽ chết.

Jamie nhún vai. “Cả tôi cũng sẽ chết. Tôi sẽ không đi được xa khi bị cả đội quân đồn trú săn đuổi. Bị bắn ở ngoài trời có lẽ sẽ đỡ hơn là bị treo cổ ở đây, nhưng cũng chẳng mấy khác biệt.” Khuôn mặt anh thoáng nhăn nhó vì đau đớn, và anh nín thở trong giây lát. Rồi anh chầm chậm thở ra, hơi thở nông và hổn hển. Rõ ràng thứ sức mạnh bí ẩn giúp anh chống chọi với cơn đau đang dần cạn kiệt.

“Có vẻ như chúng ta đang đi vào ngõ cụt?” Giọng nói Anh quốc chuẩn xác của Randall nghe thật bình thản. “Trừ phi mày có một gợi ý?”

“Dĩ nhiên là tôi có. Ông muốn tôi.” Giọng Scot lạnh lùng của Jamie nghe cũng thản nhiên không kém. “Nếu ông thả cho cô ấy đi, ông có thể có tôi.” Mũi dao hơi di chuyển, cứa vào tai tôi. Tôi cảm thấy đau nhói khi máu rỉ ra âm ấm.

“Hãy làm những gì ông muốn với tôi. Tôi sẽ không chống cự, nếu cần, tôi sẽ để ông trói tôi lại. Và ngày mai tôi sẽ không nói gì về chuyện này. Nhưng trước hết, ông phải đưa cô ấy ra khỏi đây một cách an toàn.” Tôi liếc nhìn bàn tay bị hủy hoại của Jamie. Bên dưới ngón tay giữa có một vũng máu đang lớn dần, và tôi bàng hoàng nhận ra anh đang cố tình ấn ngón tay vào bàn, lợi dụng nỗi đau đớn để kích thích sự tỉnh táo. Anh đang dùng thứ duy nhất mà mình có để đánh đổi lấy tính mạng của tôi - đó là bản thân anh. Nếu bây giờ anh ngất xỉu, cơ hội duy nhất ấy sẽ biến mất.

Randall đã hoàn toàn điềm tĩnh lại; con dao nằm hờ hững trên vai phải của tôi khi hắn suy tính. Tôi đang ở trước mặt hắn. Jamie sẽ bị treo cổ vào ngày mai. Sớm hay muộn, người ta sẽ nhớ đến anh, và tòa lâu đài cổ này sẽ bị lục soát. Mặc dù việc sử dụng một chút bạo lực với tù nhân như khiến họ bị gãy tay hay tróc lưng có thể được tha thứ, nhưng những trò bệnh hoạn khác của Randall ắt hẳn sẽ không được bỏ qua. Dù Jamie là một tử tù, nhưng nếu sáng mai, khi đứng ở chân giá treo cổ, anh tuyên bố mình bị Randall lạm dụng, người ta sẽ tiến hành điều tra những lời cáo buộc ấy. Nếu kết quả khám xét thân thể chứng tỏ rằng những lời tố cáo ấy là đúng, sự nghiệp của Randall - và có thể cả mạng sống của hắn nữa - sẽ tiêu tùng. Nhưng nếu Jamie thề sẽ im lặng...

“Mày thề chứ?”

Đôi mắt Jamie xanh biếc như ngọn lửa diêm trên khuôn mặt trắng nhợt tựa tấm giấy da. Sau một thoáng, anh chậm rãi gật đầu. “Để đổi lấy lời thề của ông.”

Sức hút của một nạn nhân vừa miễn cưỡng vừa phục tùng quả là không cưỡng lại nổi.

“Đồng ý.” Con dao rời khỏi bờ vai tôi và tôi nghe thấy tiếng kim loại tra vào vỏ. Randall chậm rãi bước qua tôi, đi vòng quanh bàn, cầm lấy cái búa. Hắn giơ nó lên, mỉa mai hỏi: “Mày sẽ cho tao thử sự chân thành của mày chứ?”

“Được!” Giọng Jamie vững vàng như hai bàn tay đang nằm bất động trên bàn. Tôi cố cất tiếng phản đối nhưng cổ họng khô khốc.

Randall đủng đỉnh cúi qua người Jamie để nhặt một cây đinh nửa xu trong cái giỏ đan bằng sậy. Hắn đặt mũi nhọn lên bàn tay phải của Jamie, cẩn thận chỉnh vị trí và giáng bốn nhát búa chắc chắn, ghim bàn tay của Jamie xuống bàn. Những ngón tay gãy co rút lại rồi bật duỗi ra, giống như những cái chân của một con nhện bị gắn vào tấm bảng sưu tập.

Jamie rên lên, hai mắt mở to và dại đờ vì sốc. Randall chậm rãi đặt cây búa xuống, nâng cằm Jamie lên. “Giờ thì hôn ta đi,” hắn nói khẽ và cúi xuống cái miệng không chống cự của Jamie.

Khi Randall ngẩng lên, khuôn mặt hắn đầy mơ màng, đôi mắt dịu dàng và xa xăm, khóe miệng dài nhếch lên một nụ cười. Ngày xưa, tôi đã từng yêu một nụ cười giống như thế, và ánh mắt mơ màng đó đã từng khiến tôi xao xuyến. Giờ thì nó chỉ khiến tôi buồn nôn. Nước mắt chảy xuống khóe miệng tôi, dù tôi không nhớ là mình đã khóc. Randall đứng ngơ ngẩn trong một thoáng, nhìn Jamie chằm chằm. Rồi hắn sực tỉnh và lại rút con dao ra khỏi vỏ.

Lưỡi dao chém bừa vào tấm vải trói quanh cổ tay tôi, sượt cả vào da. Tôi còn chưa kịp xoa tay để máu lưu thông thì hắn đã tóm lấy khuỷu tay tôi, thúc tôi đứng dậy, đẩy tôi về phía cửa.

“Đợi đã!” Jamie lên tiếng từ đằng sau chúng tôi, và Randall quay lại với vẻ sốt ruột.

“Ông cho phép tôi nói lời tạm biệt chứ?” Đó là một lời khẳng định hơn là một câu hỏi. Randall chỉ đắn đo trong thoáng chốc rồi gật đầu, đẩy tôi trở lại thân hình bất động bên bàn.

Cánh tay lành lặn của Jamie choàng quanh vai tôi và khuôn mặt ướt đẫm của tôi vùi vào cổ anh.

“Anh không thể,” tôi thì thầm. “Anh không thể làm thế. Em sẽ không để cho anh làm vậy đâu.”

Miệng anh ấm áp bên tai tôi. “Claire, sáng mai anh sẽ bị treo cổ. Từ giờ cho đến lúc đó, dù chuyện gì xảy ra với anh cũng chẳng còn quan trọng nữa.”

Tôi lùi lại và nhìn anh chằm chằm.

“Nó quan trọng với em!”

Đôi môi anh run run như thể đang cười, và anh đặt bàn tay lành lặn lên gò má ướt đẫm của tôi.

“Anh biết, mo duinne. Đó là lý do em phải đi ngay bây giờ. Như thế anh sẽ biết là vẫn có ai đó quan tâm đến anh.” Anh lại kéo tôi lại, nhẹ nhàng hôn tôi và thì thầm bằng tiếng Gaelic: “Hắn để em đi vì nghĩ em không làm gì được. Nhưng anh biết là không phải như vậy.” Khi buông tôi ra, anh nói bằng tiếng Anh: “Anh yêu em. Giờ thì đi đi!”

Randall dừng lại sau khi đây tôi ra cửa. “Ta sẽ trở lại ngay.” Đó là giọng của một người đàn ông miễn cưỡng rời khỏi người tình của mình, và dạ dày tôi cuộn lên.

Ngọn đuốc đằng sau hắt bóng đỏ lên người Jamie, anh duyên dáng hất đầu về phía bàn tay bị ghim chặt. “Tôi cho là ông vẫn sẽ thấy tôi ở đây.”

•••

Jack Hắc Ám. Một cái tên phổ biến dành cho những gã ma cà bông và những tên du thủ du thực ở thế kỷ mười tám. Là một yếu tố chủ chốt của những cuốn tiểu thuyết lãng mạn, cái tên này gợi lên hình ảnh những tên cướp đường quyến rũ, những gã trai bảnh bao đội mũ lông chim. Và kẻ mang cái tên ấy trong thực tế đang đi bên cạnh tôi.

Người ta chưa bao giờ thắc mắc nền tảng của những cuốn tiểu thuyết hư cấu là gì. Đó chính là bi kịch và nỗi kinh hoàng được chuyển hóa theo thời gian. Chỉ cần thêm vào một chút nghệ thuật kể chuyện, thế là có ngay một câu chuyện lãng mạn xúc động khiến máu trong cơ thể chảy nhanh hơn và các cô thiếu nữ phải xuýt xoa thở dài. Đúng là máu tôi đang chảy nhanh và chẳng có cô thiểu nữ nào thở dài ghê gớm bằng Jamie khi anh nâng niu cái tay bị thương.

“Lối này.” Đây là lần đầu tiên Randall mở miệng kể từ lúc chúng tôi rời khỏi xà lim. Hắn chỉ vào một hốc tường hẹp mà ánh đuốc không rọi tới. Đó chính là lối thoát mà hắn nói với Jamie.

Lúc này, tôi đã đủ bình tĩnh để cất tiếng. Tôi lùi lại một bước để ánh đuốc soi tỏ cả người mình, vì tôi muốn hắn ghi nhớ khuôn mặt tôi.

“Đại úy, ông đã hỏi rằng tôi có phải là phù thủy không,” tôi nói, giọng trầm thấp và vững vàng. “Bây giờ tôi sẽ trả lời ông. Tôi chính là phù thủy. Phù thủy! Và tôi nguyền rủa ông. Ông sẽ cưới vợ, Đại úy ạ, và vợ ông sẽ mang thai, nhưng ông sẽ không sống đến lúc đứa con đầu lòng chào đời. Tôi nguyền rủa ông bằng sự hiểu biết của mình, Jack Randall - tôi sẽ cho ông biết giờ khắc cái chết của ông.”

Khuôn mặt hắn đang chìm trong bóng tối, nhưng tia sáng lóe lên trong mắt hắn mách bảo cho tôi biết rằng hắn tin tôi. Tại sao lại không chứ? Tôi đã nói sự thật. Tôi có thể nhìn thấy những dòng kẻ và những cái tên trong bảng phả hệ của Frank như thể chúng được vẽ trên những phiến đá trên bức tường ở đây vậy. “Jonathan Wolverton Randall,” tôi khẽ nói như đang đọc từ trên các phiến đá. “Sinh ngày mồng 3 tháng 9 năm 1705, chết ngày...” Hắn run rẩy xông về phía tôi, nhưng không kịp ngăn tôi nói ra.

Cánh cửa hẹp cuối hốc tường kẽo kẹt mở. Cứ ngỡ sẽ thấy bóng tối thăm thẳm hơn, nào ngờ hai mắt tôi bỗng chói lòa bởi ánh sáng lóa mắt phản chiếu trên nền tuyết. Một cú đẩy nhanh từ đằng sau khiến tôi ngã chúi đầu xuống đất, và cánh cửa đóng sầm lại.

Tôi lập tức xoay người, thấy mình đang nằm trong một cái rãnh đằng sau nhà ngục. Tuyết trắng phủ lấp hết những đống gì đó quanh tôi - chắc là rác thải của nhà tù. Dưới lớp tuyết tôi vừa ngã lên có thứ gì đó cúng ngắc; có lẽ là gỗ. Ngước lên bức tường gần như thẳng đứng trước mặt, tôi có thể nhìn rõ dấu vết in trên đá của rác thải bị đổ xuống từ một ô cửa nằm ở độ cao mười hai mét. Đó hẳn là khu bếp.

Tôi lật sấp người lại, chống tay nhổm dậy, và phát hiện mình đang nhìn thẳng vào một cặp mắt xanh mở to. Khuôn mặt y cũng tím tái gần bằng đôi mắt và cứng đờ như gỗ. Tôi loạng choạng đứng dậy, lặng người đi và lảo đảo lùi về phía bức tường của nhà ngục.

Tôi cúi đầu, thở sâu, kiên quyết tự nhủ: Mày không được ngất xỉu, mày đã từng nhìn thấy người chết rồi mà, rất nhiều là khác, mày không được ngất xỉu - Chúa ơi, anh ta có đôi mắt xanh giống như - mày không được ngất xỉu, mẹ kiếp!

Hơi thở của tôi cuối cùng cũng đều đặn trở lại, nhịp tim đang đập thình thịch cũng trở nên chậm dần. Khi sự hoảng loạn đã dịu đi, tôi run rẩy chùi hai bàn tay vào váy, ép mình quay lại chỗ cái xác thảm hại kia. Tôi không biết mình muốn nhìn anh ta lần nữa là vì lòng thương hại, nỗi tò mò hay chỉ đon giản là bị sốc. Khi không còn kinh ngạc nữa, tôi thấy người đàn ông đã chết này hoàn toàn chẳng có gì đáng sợ. Cho dù một người có tư thế chết xấu xí đến cỡ nào, nhưng khi đã mất đi linh hồn, những gì còn lại chỉ là một cái vỏ rỗng.

Người lạ có cặp mắt xanh đã bị treo cổ. Anh ta không phải là cư dân duy nhất của cái rãnh. Tôi không buồn đào bới lớp tuyết, nhưng vì bây giờ đã biết nó chứa đựng những gì, tôi có thể nhìn thấy rõ ràng hình dáng của những cẳng tay, cẳng chân cúng đờ và những cái đầu tròn mềm nhũn. Ít nhất có một tá người nằm đó, chờ đến lúc tuyết tan để được chôn cất hoặc đợi lũ thú hoang trong khu rừng gần bên tới “dọn dẹp”.

Ý nghĩ đó làm tôi sực tỉnh. Tôi không có thời gian để ngồi trầm tư mặc tưởng, nếu không, sẽ có thêm một cặp mắt xanh vô hồn nhìn lên những bông tuyết đang rơi.

Tôi phải đi tìm Murtagh và Rupert. Chúng tôi có thể sử dụng cánh cửa hậu kín đáo kia. Rõ ràng nó không được gia cố hay canh gác như cổng chính và các lối vào khác của nhà ngục. Nhưng tôi cần sự trợ giúp, và cần thật gấp.

Tôi liếc nhìn lên mép con rãnh. Mặt trời đã hạ xuống khá thấp và đang tỏa sáng đằng sau một màn mây ngay bên trên những ngọn cây. Không khí vô cùng ẩm thấp. Có vẻ như đến tối trời sẽ lại đổ tuyết; sương mù dày đặc phía đằng đông. Có lẽ còn một tiếng đồng hồ nữa thì tắt nắng.

Tôi bắt đầu đi xuôi theo con rãnh, không muốn trèo lên những mặt đá dốc cho đến chừng nào bắt buộc phải làm thế. Chẳng mấy chốc, con rãnh sẽ uốn mình tách khỏi nhà ngục, trông như sắp sửa dẫn xuống một dòng sông; có lẽ luồng chảy của tuyết tan sẽ cuốn đi rác rưởi của nhà ngục. Khi gần tới góc của bức tường cao vút, tôi nghe thấy một tiếng động nhẹ ở đằng sau. Tôi liền xoay người lại. Tiếng động ấy là do một hòn đá rơi xuống từ mép rãnh vì bị bàn chân của một con sói xám rất lớn đá phải.

Trong mắt con sói, so với những thân thể bị vùi dưới tuyết kia, tôi có những đặc điểm vô cùng hấp dẫn. Một mặt, tôi có thể di chuyển, khó tóm được hơn và có khả năng chống cự. Mặt khác, tôi chậm chạp, vụng về và hơn hết, không cứng đờ, do đó không có nguy cơ làm nó bị gãy răng. Ngoài ra, tôi còn có mùi máu tươi, ấm áp một cách quyến rũ trong bãi rác lạnh giá này. Nếu tôi là một con sói, tôi sẽ không đắn đo. Có vẻ như con vật và tôi đã đưa ra quyết định cùng một lúc.

Ở bệnh viện Pembroke có một người lính Mỹ tên là Charlie Marshall. Anh ta là một gã dễ chịu, thân thiện giống như tất cả các lính Mỹ khác và rất thích kể chuyện về vật nuôi. Vật nuôi ưa thích của anh ta là chó; Charlie là một trung sĩ ở quân đoàn K-9. Anh ta cùng với hai con chó của mình đã bị trúng mìn sát thương bên ngoài một ngôi làng nhỏ gần Arles và bị thổi tung đi. Anh ta rất đau buồn vì cái chết của lũ chó và thường kể cho tôi nghe về chúng mỗi khi tôi ngồi trò chuyện với anh ta trong những giờ phút rảnh rỗi ít ỏi của ca trực.

Trở lại vấn đề trước mắt, có lần anh ta đã nói cho tôi biết phải làm gì và không nên làm gì nếu tôi bị một con chó tấn công. Tôi cảm thấy hơi khiên cưỡng khi gọi sinh vật kỳ quái đang rón rén đi xuống vách đá này là một con chó, nhưng tôi hy vọng nó cũng có chung vài đặc điểm cơ bản với đám hậu duệ thuần chủng của nó.

“Con chó gớm ghiếc,” tôi nghiêm giọng nói, nhìn chằm chằm vào con mắt màu vàng của nó. “Thực ra,” tôi nói, chầm chậm lùi về phía bức tường nhà ngục, “mày là một con chó đáng ghê tởm.” (Nói to và dứt khoát, Charlie đã căn dặn thế.) “Có lẽ là con chó đáng ghê tởm nhất mà tao từng thấy,” tôi nói to và dứt khoát. Tôi tiếp tục lùi lại, một tay sờ soạng đằng sau để xem mình đã đến chỗ bức tường đá chưa. Khi đã chạm được vào bức tường đá, tôi rón rén lần về phía góc tường cách đó chừng mười thước.

Tôi cởi dây buộc áo choàng trên cổ và bắt đầu dò dẫm cởi móc áo choàng, vừa làm vừa nói thật to và dứt khoát những gì tôi nghĩ về con sói, tổ tiên và gia đình của nó. Con vật có vẻ chăm chú lắng nghe tràng công kích kịch liệt ấy, lưỡi lè ra, răng nhe trắng ởn. Nó không vội vã; khi nó lại gần hơn, tôi có thể thấy nó hơi khập khiễng, gầy nhom và toàn thân ghẻ lở. Có lẽ nó không thể săn mồi, và thể trạng yếu ớt buộc nó phải mò tới bãi rác của nhà ngục để đào bới. Mong là như vậy; càng yếu ớt càng tốt.

Tôi sờ thấy đôi găng tay bằng da của mình trong túi áo choàng và đeo chúng vào, rồi quấn chiếc áo choàng nặng nề vài lần quanh cẳng tay bên phải, thầm cảm ơn Chúa vì lớp nhung khá dày. “Chúng sẽ tấn công cổ họng,” Charlie đã hướng dẫn tôi, “trừ phi người huấn luyện của chúng bảo chúng tấn công vào chỗ khác. Cứ nhìn vào mắt nó; cô sẽ thấy thời điểm nó quyết định nhảy lên. Đó chính là khoảnh khắc cô phải hành động.”

Tôi có thể nhìn thấy rất nhiều thứ trong cầu mắt màu vàng gớm ghiếc kia, bao gồm sự đói khát, tò mò và suy đoán, nhưng chưa có quyết định nhảy lên.

“Đồ đáng ghét,” tôi nói với con sói, “mày dám nhảy vào họng tao không!” Tôi có những ý tưởng khác. Tôi quấn cái áo choàng thành vài lớp lỏng lẻo quanh cánh tay phải để nó có thể đung đưa qua lại, nhưng vẫn đủ dày để răng của con sói không cắm xuyên qua được.

Con sói gầy nhưng không hốc hác. Tôi đoán nó nặng chừng bốn, năm chục cân; nhẹ hơn tôi, nhưng điều đó không tạo cho tôi lợi thế lớn nào. Còn lợi thế của con sói chính là sức bật; bốn chân sẽ giữ thăng bằng tốt hơn so với hai chân trên lớp tuyết trơn trượt. Tôi hy vọng việc dựa lưng vào tường có thể giúp ích cho mình.

Cảm giác trống trải ở lưng mách bảo rằng tôi đã tới góc tường. Con sói còn cách tôi chừng sáu mét. Thời khắc quan trọng đã đến. Tôi lấy chân cào tuyết để đứng vững hơn và chờ đợi.

Tôi thậm chí không nhìn thấy con sói rời khỏi mặt đất. Tôi chắc chắn mình vẫn đang nhìn vào mắt nó, nhưng nếu trong mắt nó có hiện lên cái quyết định nhảy chồm tới thì nó cũng hành động quá nhanh khiến tôi không kịp nhận thấy. Chính bản năng, chứ không phải ý nghĩ, đã nâng cánh tay tôi lên khi một cái bóng màu xám trắng lao về phía tôi.

Hàm răng cắm vào lớp vải đệm mạnh đến nỗi khiến cánh tay tôi thâm tím. Con sói nặng hơn tôi nghĩ; trọng lượng của nó làm tôi bất ngờ và cánh tay tôi thõng xuống. Tôi đã dự tính ném con vật vào tường để làm nó choáng váng. Thay vì thế, tôi lao mình vào tường, ép con sói giữa những khối đá và hông tôi. Tôi gắng sức quấn cái áo choàng quanh người nó. Móng vuốt của nó cào rách váy tôi và làm trầy xước đùi tôi. Tôi điên cuồng thúc đầu gối vào ngực nó, khiến nó kêu lên ăng ẳng. Chỉ đến khi đó tôi mới nhận ra những tiếng gầm gừ đang phát ra từ chính miệng mình chứ không phải từ miệng nó.

Kỳ lạ làm sao, tôi không sợ hãi chút nào, dù tôi đã hoảng hốt khi thấy con sói theo dõi mình. Trong đầu tôi chỉ có một ý nghĩ duy nhất: Nếu tôi không giết con vật này, nó sẽ giết tôi. Vì thế, tôi phải giết nó.

Có một thời điểm khi người ta vận dụng hết sức lực của cơ thể để nỗ lực làm một điều gì đó, chẳng màng đến những cái giá phải trả. Đối với phụ nữ là trong lúc sinh đẻ; đối với đàn ông là trong một cuộc chiến.

Vượt qua bước ngoặt đó, ta sẽ không còn sợ hãi hay đau đớn. Cuộc sống trở nên rất đơn giản; ta sẽ làm được điều ta đang cố gắng làm, hoặc ta sẽ chết, dù kết quả thế nào cũng không quan trọng.

Tôi đã từng nhìn thấy loại nỗ lực này ở các phòng bệnh trong khóa huấn luyện, nhưng chưa bao giờ đích thân trải nghiệm nó. Bây giờ, toàn bộ sự tập trung của tôi đang đổ dồn vào hàm răng khóa chặt cẳng tay mình và con quỷ quằn quại đang cào xé cơ thể tôi.

Tôi cố gắng đập đầu con thú vào tường nhưng không đủ mạnh nên chẳng có tác dụng gì nhiều. Tôi đang xuống sức nhanh chóng; nếu con sói khỏe mạnh bình thường, tôi sẽ không có cơ hội nào. Bây giờ, tôi cũng không có nhiều cơ hội, nhưng tôi nắm chắc những gì mình có. Tôi ấn con vật xuống đất, nằm đè lên người nó khiến nó nghẹt thở, phả ra mùi hôi thối. Nó hồi phục gần như ngay lập tức và bắt đầu quằn quại bên dưới cơ thể tôi, nhưng sự lơi lỏng trong giây lát ở hàm nó cũng đủ khiến tôi rút được cánh tay ra khỏi mõm nó và dùng một tay chẹn cổ nó.

Tôi móc các ngón tay vào mép nó, cố gắng xoay xở cho chúng không bị mắc vào giữa hai hàm răng sắc nhọn. Nước dãi chảy dọc theo cánh tay tôi. Tôi đang nằm trên người con sói. Góc tường nhà ngục có lẽ còn cách tôi bốn mươi lăm phân. Dù thế nào tôi cũng phải tới được đó mà không để tuột mất con vật hung tợn đang lồng lộn dưới người tôi.

Tôi quờ quạng hai bàn chân trên mặt đất, ráng hết sức bấm chặt xuống, đẩy mình về phía trước từng chút một, vừa nhích người vừa liên tục chống chọi với con sói để ngăn cặp răng nanh của nó cắm vào cổ họng mình. Mất không quá vài phút để vượt qua khoảng cách bốn mươi lăm phân ấy, nhưng tôi có cảm giác mình đã nằm đó cả đời, bị khóa chặt trong cuộc chiến với con thú hung dữ này, móng vuốt ở chân sau của nó cào xé chân tôi, tìm cơ hội xé toạc bụng tôi.

Cuối cùng tôi đã có thể nhìn qua góc tường. Góc tường đá có dạng tù đang ở ngay trước mặt tôi. Bây giờ là phần khó khăn nhất. Tôi phải xoay người con sói để có thể đặt cả hai bàn tay dưới mõm nó; tôi sẽ không bao giờ dốc được hết sức lực cần thiết khi chỉ có một tay.

Tôi đột ngột lăn đi, con sói lập tức trượt vào khoảng trống nhỏ giữa cơ thể tôi và bức tường. Trước khi nó kịp nhổm dậy, tôi thúc một cú trời giáng vào sườn nó, ghim chặt nó vào tường trong giây lát, khiến nó rên ư ử.

Giờ thì cả hai bàn tay tôi đều đang ở dưới hàm nó. Thậm chí các ngón tay của một bàn tay còn nằm hẳn trong miệng nó. Các khớp ngón tay đeo găng bị nghiến đau điếng nhưng tôi cố phớt lờ và dùng góc tường làm điểm tựa để liên tục bẻ ngửa cái đầu lông lá ra đằng sau. Tôi nghĩ hai cánh tay tôi sẽ bị gãy, nhưng đây là cơ hội duy nhất.

Không có tiếng động nào rõ rệt, nhưng tôi cảm nhận được sự chấn động dội khắp cơ thể khi cổ nó bị gãy. Tứ chi và bàng quang căng cứng của nó lập tức thả lỏng. Sự căng cứng không thể chịu đựng nổi trên hai cánh tay tôi cũng dãn ra. Tôi gục xuống, mềm nhũn hệt như con sói đang hấp hối kia. Trái tim của con thú đập loạn bên dưới má tôi, đó là bộ phận duy nhất vẫn còn có thể chiến đấu trong cuộc chiến sinh tử này. Bộ lông xơ xác ướt sũng và bốc mùi nước tiểu. Tôi muốn bỏ đi, nhưng không thể.

Nghe có vẻ kỳ quặc, nhưng hẳn là tôi đã áp má lên xác con vật mà ngủ thiếp đi trong chốc lát. Khi mở mắt ra, tôi thấy bề mặt bằng đá xanh của nhà ngục chỉ cách mũi tôi có chục phân. Ý nghĩ về những gì đang xảy ra ở bên kia bức tường là động lực duy nhất giúp tôi đứng dậy.

Tôi loạng choạng đi dọc theo cái rãnh, áo choàng trễ xuống một bên vai, liên tục vấp vào những hòn đá ẩn dưới tuyết và va chân vào những cành cây bị chôn vùi một nửa. Hẳn là trong tiềm thức của tôi vẫn có cái khái niệm sói chạy theo đàn, bởi vì tôi nhớ là mình không thấy ngạc nhiên khi nghe tiếng hú vang vọng từ phía khu rừng bên trên và đằng sau tôi. Nếu tôi có cảm giác gì thì đó chỉ là nỗi giận dữ khủng khiếp trước thứ có vẻ là một âm mưu nhằm cản trở và trì hoãn tôi.

Tôi mệt mỏi ngoảnh lại để xem âm thanh ấy phát ra từ đâu. Lúc này tôi đã đi khá xa nhà ngục; không còn bức tường nào để tựa vào, cũng không có món vũ khí nào trong tay. May mắn đã giúp tôi trong cuộc chiến với con sói đầu tiên; nhưng giờ tôi chẳng còn cơ may giết được thêm một con sói nào nữa bằng tay không - chưa kể chúng còn biết bao nhiêu con khác nữa? Tôi từng nhìn thấy một đàn sói đang ăn dưới ánh trăng mùa hè, chúng có ít nhất mười con. Trong trí nhớ của mình, tôi vẫn còn nghe thấy tiếng cắn xé và tiếng xương gãy răng rắc. Vấn đề duy nhất bây giờ là liệu tôi có buồn chiến đấu nữa không, hay tôi sẽ nằm xuống nền đất tuyết và bỏ cuộc. Sau khi cân nhắc mọi thứ, lựa chọn đó có vẻ đặc biệt hấp dẫn.

Tuy nhiên, Jamie đã hy sinh tính mạng và còn nhiều hơn thế để giúp tôi thoát khỏi nhà ngục. Tôi nợ anh điều đó, chí ít tôi cũng phải cố gắng.

Tôi chậm rãi bước lùi lại. Ánh sáng đang nhạt dần; chẳng mấy chốc nơi này sẽ chìm trong bóng tối. Tôi không nghĩ điều đó sẽ có lợi cho tôi. Lũ sói chắc chắn có thị lực tốt hơn tôi vào ban đêm.

Kẻ săn mồi đầu tiên xuất hiện trên mép rãnh giống như con sói lúc nãy; thân hình xù xì đứng bất động, đầy cảnh giác. Tôi bàng hoàng nhận ra có thêm hai con nữa đã ở trong rãnh cùng với tôi, chúng đủng đỉnh bước tới, gần như cùng nhịp bước với nhau. Chúng có màu gần giống màu của tuyết trong bóng chiều chạng vạng - màu xám bẩn thỉu - và gần như vô hình, dù chúng chẳng hề che giấu sự di chuyển của mình.

Tôi dừng bước. Có bỏ chạy cũng vô ích. Tôi cúi xuống, nhặt một cành thông rụng trên mặt tuyết, vỏ của nó đen sì, ướt át và ngay cả khi đeo găng, tôi vẫn cảm nhận được sự thô nhám của nó. Tôi huơ huơ cành cây quanh đầu và hét lên. Lũ sói dừng bước nhưng không lùi lại. Con gần nhất cụp tai xuống như thể khó chịu với âm thanh ấy.

“Không thích ư?” Tôi rít lên. “Hai con vật thối tha! Lùi lại, đồ khốn!” Tôi nhặt một hòn đá bị chôn vùi một nửa dưới tuyết để ném vào con sói. Cú ném bị trượt nhưng con sói nhảy sang một bên. Được khuyến khích, tôi bắt đầu ném lia lịa; nào đá, nào cành cây, những nắm tuyết, bất cứ thứ gì tôi có thể tóm được bằng một tay. Tôi rít lên như những con sói cho đến khi cổ họng đau buốt vì khí lạnh.

Ban đầu, tôi nghĩ một trong những cú ném của tôi đã trúng đích. Con sói gần nhất kêu lên ăng ẳng và có vẻ co giật. Mũi tên thứ hai bay sượt qua tôi chừng ba mươi phân và tôi thấy bóng nó vút qua trước khi cắm vào ngực con sói thứ hai. Con vật chết ngay tại chỗ. Con thứ nhất, bị trúng vào chỗ ít hiểm hơn, đang giãy giụa trên nền tuyết, trông chẳng khác gì một khối hình thù kỳ dị phập phồng trong bóng hoàng hôn đang buông.

Tôi đứng ngẩn ngơ nhìn nó một lúc, rồi nhìn lên miệng rãnh theo bản năng. Con sói thứ ba đã khôn ngoan lẩn vào trong rặng cây, run rẩy hú lên một tiếng.

Tôi vẫn đang nhìn về phía rặng cây tối sẫm thì một bàn tay tóm lấy khuỷu tay tôi. Tôi xoay người lại, thốt lên một tiếng kêu kinh ngạc và thấy mình đang đối mặt với một người lạ. Bộ râu ngắn lưa thưa không che giấu nổi cái hàm hẹp và cái cằm lẹm của anh ta. Anh ta thực sự là một người lạ, nhưng chiếc áo choàng len và con dao găm cho thấy anh ta là một người Scot.

“Giúp với,” tôi nói, và ngã vào vòng tay anh ta.

[1] Nguyên văn là từ “Sir”, từ tôn xưng dùng trước tên của một tòng nam tước hay hiệp sĩ ở Anh.

[2] Nguyên văn: Eenie, meenie, minis, mo: Một câu khẩu ngữ của người Anh được nói khi phải chọn đại một vật gì trong số những vật trước mặt.

[3] Tỉnh nổi tiếng về mặt lịch sử ở miền đông Ireland.

[4] Từ thời xưa, ở Anh, các loại đinh được đặt tên dựa theo số tiền xu phải trả cho một trăm cây đinh thuộc loại đó.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.