Dù nền văn minh có những mặt trái nhưng không thể phủ nhận các lợi ích của nó. Chẳng hạn như điện thoại. Hoặc báo chí, tuy phổ biến ở những đô thị lớn như Edinburgh hay thậm chí là Perth, nhưng ở vùng cao nguyên Scotland hoang dã thì lại hoàn toàn không được biết đến.
Khi không có những phương tiện truyền thông đại chúng, tin tức truyền từ người này qua người khác theo bước chân của con người. Mọi người thường tìm hiểu được những gì họ cần biết chậm đến vài tuần. Hậu quả là, chúng tôi chẳng biết trông cậy vào đâu để tìm ra chỗ ở chính xác của Jamie ngoại trừ khả năng ai đó tình cờ chạm trán anh và báo tin về Lallybroch. Quá trình đó có thể mất đến hàng tuần lễ. Mà mùa đông thì sắp đến rồi, lúc đó thì khó mà tới được Beauly. Tôi ngồi bỏ thêm củi vào đống lửa, suy ngẫm về những khả năng.
Jamie sẽ chọn con đường nào từ địa điểm mà anh đã trốn thoát? Chắc chắn không phải là Lallybroch, cũng không phải hướng bắc vì đó là lãnh địa của thị tộc MacKenzie. Liệu anh có tới vùng biên giới phía nam, nơi anh có thể gặp lại Hugh Munro hay người quen cũ nào đó không? Không, nhiều khả năng nhất là hướng đông bắc, về phía Beauly. Nhưng nếu tôi đoán ra được điều này thì Đội Tuần Phòng cũng có thể.
Murtagh đã đi nhặt củi về và đổ một ôm củi xuống đất. Ông ngồi khoanh chân trên một nếp áo choàng len và quấn phần còn lại quanh người để chống chọi với cái lạnh. Ông ngước nhìn trời, vầng trăng sáng ngời đang nấp sau những đám mây vùn vụt băng qua trên đầu.
“Tuyết sẽ chưa rơi đâu,” ông cau mày nói. “Phải một, hai tuần nữa. Chúng ta có thể tới được Beauly trước khi trời đổ tuyết.”
Chà, thật tuyệt khi những suy luận của mình được củng cố.
“Ông nghĩ anh ấy sẽ đến đó à?”
Người tộc viên nhỏ bé nhún vai. “Cũng không nói chắc được. Việc đi lại của cậu ấy sẽ không dễ dàng gì vì phải lẩn trốn vào ban ngày và tránh xa các con đường lớn. Mà cậu ấy còn chẳng có ngựa.” Ông tư lự gãi cái cằm lởm chởm râu. “Nếu chúng ta không thể tìm được cậu ấy; vậy thì hãy để cậu ấy tìm chúng ta.”
“Bằng cách nào? Bắn pháo sáng à?” Tôi mỉa mai gợi ý. Có một điều cần biết về Murtagh; cho dù tôi có nói những điều vô lý thế nào, ông vẫn có thể làm như tôi chưa từng nói gì cả.
“Tôi đã mang theo túi thuốc của cô,” ông nói, hất đầu về phía những cái túi da trên mặt đất. “Cô đã có danh tiếng gần Lallybroch; giờ thì cô phải cho người dân khắp vùng cao nguyên này biết được mình là một thầy thuốc.” Ông gật đầu. “Được đấy!” Thế rồi, không giải thích gì thêm, ông nằm xuống, cuộn tròn trong chiếc áo choàng len và điềm tĩnh đi vào giấc ngủ, chẳng màng đến cơn gió đang lùa qua những rặng cây, cơn mưa nhỏ và tôi.
Tôi nhanh chóng hiểu ra ý định của ông. Chúng tôi đi lại một cách công khai - và chậm rãi - dọc theo các con đường chính, dừng lại ở từng trại nhỏ và làng xóm mà chúng tôi đi qua. Ở đó, ông sẽ hỏi thăm người dân địa phương để tập hợp lại những người bị ốm hay bị thương và dẫn họ đến chỗ tôi để chữa trị. Những khu vực này thường ít thầy thuốc và họ cũng ở khá xa, vì thế lúc nào cũng có người bệnh cần chăm sóc.
Trong lúc tôi bận rộn thuốc thang, ông sẽ tán gẫu vu vơ với bạn bè và người thân của bệnh nhân, cố ý nói cho họ biết đường đi của chúng tôi. Nơi nào không có bệnh nhân, chúng tôi sẽ dừng lại nghỉ đêm ở một ngôi nhà tranh hoặc một quán rượu kiêm quán trọ. Tại đó, Murtagh sẽ hát cho chủ nhà nghe để đổi lấy bữa tối. Ông kiên quyết bắt tôi giữ lại hết số tiền tôi có vì sợ rằng lúc tìm thấy Jamie, chúng tôi sẽ cần đến nó.
Vốn kiệm lời, ông dạy tôi vài bài hát để giết thời gian khi chúng tôi chậm chạp đi từ nơi này qua nơi khác.
“Cô có giọng hát hay.” Một hôm, ông nhận xét sau khi tôi thể hiện khá thành công bài The Dowie Dens of Yarrow[1]. “Chưa nhuần nhuyễn nhưng khỏe và đúng nhạc. Thử lại lần nữa đi, tối nay cô sẽ hát với tôi. Có một quán rượu kiêm quán trọ nhỏ ở Limraigh.”
“Ông thực sự nghĩ việc này có tác dụng sao?” Tôi hỏi. “Ý tôi là, việc chúng ta đang làm ấy?”
Ông đổi tư thế trên yên ngựa trước khi trả lời. Vốn không phải là một kỵ sĩ bẩm sinh, trông ông lúc nào cũng như một con khỉ được huấn luyện để cưỡi ngựa, nhưng ông vẫn tươi tỉnh như một bông hoa cúc lúc xuống ngựa vào cuối ngày, trong khi tôi chỉ kịp buộc chằng chân ngựa rồi lảo đảo chực ngã.
“Ừ,” cuối cùng, ông nói. “Không sớm thì muộn. Mấy ngày nay bệnh nhân của cô đã đông hơn nhiều, không phải sao?”
Tôi phải công nhận là đúng như vậy.
“Chà,” ông nói, chứng minh quan điểm của mình, “như thế có nghĩa là lời đồn về tài năng của cô đang lan truyền. Đó chính là điều chúng ta muốn. Nhưng chúng ta còn có thể làm tốt hơn. Vậy nên tối nay cô sẽ hát cùng tôi. Và có lẽ...” Ông ngập ngừng, như thể ngần ngại không muốn nói ra.
“Có lẽ gì?”
“Cô biết xem bói không?” Ông thận trọng hỏi. Tôi hiểu lý do vì sao ông lại trù trừ như vậy; ông đã chứng kiến cuộc săn phù thủy điên cuồng ở Cranesmuir.
Tôi mỉm cười. “Một chút. Ông muốn tôi thử làm điều đó à?”
“Ừ. Chúng ta càng có nhiều trò thu hút công chúng thì lượng người đến với chúng ta càng đông, sau đó họ sẽ về kể với những người khác. Lời đồn về chúng ta sẽ lan truyền rộng rãi cho tới khi đến tai cậu ấy, và cậu ấy sẽ tìm đến chúng ta. Cô có dám thử không?”
Tôi nhún vai. “Nếu nó có tác dụng, tại sao tôi lại không dám chứ?”
•••
Tối hôm đó, ở Limraigh, tôi đã biến mình thành một ca sĩ kiêm thầy bói và khá thành công. Những gì bà Graham nói với tôi đều đúng - thứ cung cấp manh mối cần thiết chính là khuôn mặt chứ không phải bàn tay.
Danh tiếng của chúng tôi dần lan xa. Vào tuần kế tiếp, khi chúng tôi đi vào một ngôi làng, mọi người chạy ào ra khỏi nhà để chào đón chúng tôi, và ném cho chúng tôi những đồng xu cùng những món quà nhỏ khi chúng tôi rời đi.
“Chúng ta thực sự có thể làm nên chuyện,” tôi nói vào một buổi tối, khi đang cất các chiến lợi phẩm. “Tiếc là gần đây không có rạp hát nào - nếu không, chúng ta có thể diễn một tiết mục ca múa nhạc đích thực: Murtagh Thần Thánh và người trợ lý xinh đẹp, Gladys.”
Phản ứng của Murtagh vẫn là sự lầm lì quen thuộc, nhưng đúng là chúng tôi thực sự khá ăn ý. Có lẽ vì chúng tôi cùng đồng tâm nhất trí trong cuộc tìm kiếm này, bất chấp những khác biệt cơ bản về tính cách.
Thời tiết càng ngày càng xấu khiến tốc độ di chuyển của chúng tôi chậm hơn, nhưng vẫn không có tin tức gì của Jamie. Một đêm, ở bên ngoài Belladrum, dưới cơn mưa tầm tã, chúng tôi gặp một nhóm du mục thực sự.
Tôi chớp chớp mắt kinh ngạc trước một khóm nhà lưu động bằng xe ngựa sơn màu sặc sỡ đậu trên khoảnh đất trống gần đường, trông hệt như chỗ cắm trại của các nhóm du mục tới Hampstead Down hằng năm.
Những người ở đây trông cũng y như vậy: làn da ngăm đen, tính tình vui vẻ, ồn ào và thân thiện. Nghe tiếng leng keng phát ra từ yên cương trên mình lũ ngựa của chúng tôi, một người phụ nữ thò đầu ra ngoài cửa sổ của một căn nhà lưu động. Cô ta săm soi chúng tôi trong chốc lát rồi kêu lên một tiếng, và mặt đất bên dưới những rặng cây đột nhiên lúc nhúc những khuôn mặt màu nâu cười toe toét.
“Đưa cái túi của cô cho tôi giữ,” Murtagh nói, mặt lạnh tanh, chăm chú quan sát người thanh niên đang nghênh ngang, hớn hở tiến về phía chúng tôi, mặc kệ cơn mưa làm ướt đâm cái áo màu mè của mình. “Và đừng có quay lưng vào ai.”
Tôi tỏ ra thận trọng, nhưng họ chào đón chúng tôi hết sức cởi mở và mời chúng tôi ăn bữa tối kiểu du mục với họ. Bữa tối - một món hầm - tỏa mùi thơm phức, vì vậy tôi hăng hái nhận lời, lờ đi những suy đoán hà khắc của Murtagh về thứ nguyên liệu chế biến ra nó.
Họ chỉ nói được một ít tiếng Anh, tiếng Gaelic thì càng ít hơn; do đó chúng tôi chủ yếu trò chuyện với nhau bằng cử chỉ và một thứ tiếng lai căng phần lớn bắt nguồn từ tiếng Pháp. Trong căn nhà lưu động dài rộng nơi chúng tôi ăn tối, không khí ấm áp và thân thiện; tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ con đều ần uống tự nhiên, thoải mái, họ kiếm được chỗ nào là ngồi chỗ đó, nhúng những mẩu bánh mỳ vào bát thịt hầm bổ dưỡng. Đây là món ngon nhất mà tôi được ăn trong mấy tuần lễ qua, vì vậy tôi ăn đến no căng bụng. Hầu như chẳng còn đủ hơi sức để hát nữa nhưng tôi vẫn cố gắng biểu diễn, đến những chỗ khó, tôi để mặc Murtagh hát chính, còn mình chỉ ngâm nga theo.
Màn biểu diễn của chúng tôi được hoan hô nhiệt liệt, rồi những người du mục vui vẻ đáp lễ. Một chàng trai trẻ hát một khúc bi ca theo tiếng nhạc đệm réo rắt của cây vĩ cầm cổ và tiếng xủng xoẻng của chiếc trống lục lạc trong tay một cô bé chừng lên tám.
Ở các ngôi làng và trại nhỏ mà chúng tôi ghé qua, Murtagh luôn thận trọng trong những câu hỏi, nhưng với người du mục, ông hoàn toàn cởi mở. Tôi ngạc nhiên thấy ông thẳng thắn kể cho họ nghe chúng tôi đang đi tìm ai: một người đàn ông to lớn, có mái tóc đỏ rực như lửa và đôi mắt xanh như bầu trời mùa hạ. Đám dân du mục nhìn nhau, rồi đều tiếc nuối lắc đầu. Không, họ không trông thấy anh. Nhưng người lãnh đạo của họ, chính là chàng trai trẻ mặc áo màu tía đã chào đón chúng tôi, ra hiệu rằng họ sẽ phái người đến báo tin cho chúng tôi nếu họ tình cờ gặp người đàn ông mà chúng tôi đang tìm kiếm.
Tôi gật đầu, mỉm cười, và Murtagh ra hiệu rằng chúng tôi sẽ trả tiền cho thông tin mình nhận được. Đám dân du mục cười xòa, nhưng ánh mắt lộ rõ vẻ suy đoán. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi Murtagh tuyên bố rằng chúng tôi không thể ở lại qua đêm, nhưng dù sao cũng cảm ơn họ. Ông giũ ra vài đồng tiền từ cái túi da, cố tình cho họ thấy trong đó chỉ có một nhúm đồng xu. Sau khi chia số tiền này cho mọi người như để hậu tạ cho bữa tối, chúng tôi rời đi giữa những lời tạm biệt, cảm ơn và chúc may mắn - ít nhất là tôi nghĩ như vậy.
Thực ra, có thể họ đang đe dọa sẽ đi theo để cắt cổ chúng tôi, và Murtagh làm như họ sẽ làm thế thật. Ông cho ngựa phi nước đại tới giao lộ cách đó hai dặm, rồi lẩn vào trong những lùm cây để đi vòng một đoạn lớn trước khi trở lại đường cái.
Murtagh nhìn xuôi nhìn ngược con đường trống trải trong buổi hoàng hôn lờ mờ, sụt sùi mưa gió.
“Ông thực sự nghĩ họ đi theo chúng ta ư?” Tôi tò mò hỏi.
“Tôi không biết, nhưng vì họ có mười hai người, trong khi chúng ta chỉ có hai mống, nên tôi nghĩ chúng ta nên đề phòng.” Điều này nghe cũng có lý, và tôi tuân theo những thủ đoạn lẩn tránh của ông mà không hỏi han gì thêm. Cuối cùng, chúng tôi đến Rossmoor và tìm được chỗ trú trong một nhà kho.
Hôm sau, tuyết rơi. Lượng tuyết không nhiều, chỉ đủ để rải lên mặt đất một lớp mỏng màu trắng như bột vương trên sàn xưởng xay, nhưng vẫn làm tôi lo lắng. Tôi không muốn nghĩ đến cảnh Jamie phải cô độc và trơ trọi đương đầu với những cơn bão mùa đông ào ạt thổi qua bãi thạch nam khi trên người chẳng có gì khác ngoài cái áo sơ mi và cái áo choàng len mà anh mặc lúc bị bắt.
Hai ngày sau, người đưa tin đến.
•••
Mặt trời chưa lặn, nhưng trong những thung lũng hẹp giữa các vách núi cao thì đã tối lắm rồi. Bên dưới những thân cây trụi lá, bóng tối dày đặc đến nỗi con đường độc đạo gần như vô hình. Sợ lạc mất người đưa tin, tôi bám sát ông ta đến mức mấy lần giẫm phải đuôi áo choàng của ông ta. Cuối cùng, với một tiếng càu nhàu bực bội, ông ta quay lại và ẩn tôi lên phía trước, bàn tay nặng nề đặt lên vai tôi, đẩy tôi đi trong bóng hoàng hôn tối sẫm.
Tôi có cảm giác chúng tôi đã đi lâu lắm rồi, đến mức tôi chẳng còn nhớ được các ngã rẽ giữa những lùm cây cao sừng sững và những bụi cây chết dày đặc. Tôi hy vọng Murtagh đang ở đâu đó đằng sau, tuy không nhìn thấy nhưng vẫn có thế nghe thấy tiếng tôi. Người đàn ông tới quán rượu tìm tôi là một gã du mục trung niên không biết tiếng Anh. Ông ta chỉ thẳng vào Murtagh rồi sau đó chỉ xuống đất, ám chỉ rằng Murtagh phải ở yên tại chỗ, không một ai ngoài tôi được phép đi theo ông ta.
Vào thời điểm này trong năm, khi trời tối, nhiệt độ hạ xuống rất nhanh, cái áo choàng nặng nề của tôi hầu như không che chở nổi cho tôi trước những luồng gió buốt giá đột ngột phả đến lúc chúng tôi đi qua những khoảng đất trống. Tôi vừa lo lắng khi nghĩ đến việc Jamie phải nằm ở ngoài trời, không nơi trú ngụ, trong màn đêm lạnh lẽo, ước át của mùa thu, vừa phấn khích vì sắp được gặp lại anh. Thân hình tôi khẽ run rẩy nhưng chẳng phải vì lạnh.
Cuối cùng, người dẫn đường cũng kéo tôi dừng lại. Sau khi siết vai tôi một cái, ông ta bước ra khỏi con đường và biến mất. Tôi kiên nhẫn đứng đợi, khoanh tay lại cho ấm. Chắc chắn người dẫn đường của tôi - hoặc ai đó - sẽ quay lại; bởi vì tôi chưa trả tiền cho ông ta. Gió lạnh lùa qua những bụi mâm xôi héo úa như hồn ma một con hươu đang hoảng hốt chạy trốn kẻ đi săn. Hơi ẩm đang ngấm vào đôi giày của tôi; lớp chống thấm nước bằng mỡ rái cá đã sờn mà tôi chưa có thời gian để sửa lại.
Người dẫn đường đột ngột trở lại, hệt như lúc ông ta rời đi, khiến tôi cắn phải lưỡi khi cố nén một tiếng hét vì giật mình. Ông ta hất đầu, ra hiệu cho tôi đi theo, và gạt đám cành lá tống quán sủi héo úa sang một bên cho tôi đi qua.
Cửa hang thật hẹp. Trên một gờ đá có một ngọn đèn rọi bóng lên thân hình cao ráo đang hướng ra cửa để đón tôi.
Tôi lao bổ tới, nhưng trước khi chạm vào người đó, tôi đã nhận ra ông ta không phải là Jamie. Nỗi thất vọng giống như một cú đấm giáng vào bụng tôi, và tôi phải lùi lại, nuốt khan vài lần để nén thứ mật đắng nặng nề dâng lên trong họng.
Tôi siết chặt hai nắm tay, ép chúng vào đùi cho đến khi lấy lại đủ sự điềm tĩnh để lên tiếng.
“Đây không phải lãnh thổ của ông, đúng không?” Tôi nói, ngạc nhiên trước sự lạnh lùng ẩn chứa trong giọng nói của chính mình.
Dougal MacKenzie cũng nhận ra nỗ lực kiềm chế của tôi, khuôn mặt tối sẫm của ông ta bộc lộ chút thông cảm. Ông ta nắm lấy khuỷu tay tôi và dẫn tôi đi sâu vào trong hang. Ở vách hang đối diện chất đống vô số bọc to bọc nhỏ, một con ngựa không thể chở hết được. Vậy là ông ta không chỉ có một mình. Và dù thứ ông ta và đám thuộc hạ mang theo là gì chăng nữa, ông ta không muốn phơi bày chúng trước ánh mắt tò mò của những gã chủ quán trọ và những kẻ coi chuồng ngựa.
“Buôn lậu hả?” Tôi nói, hất đầu về phía chúng. Thế rồi tôi nghĩ lại và tự trả lời câu hỏi của mình. “Không, không phải là buôn lậu, đó là nhu yếu phẩm cho Hoàng tử Charles, đúng không?”
Ông ta không buồn trả lời mà ngồi xuống một phiến đá đối diện với tôi, hai bàn tay đặt lên đầu gối.
“Ta có thông tin,” ông ta đột ngột nói.
Tôi hít sâu một hơi, cố gắng tự trấn tĩnh mình. Nhìn mặt ông ta thì rõ ràng đó không phải tin tốt. Tôi hít một hơi nữa, nuốt khan thật mạnh và gật đầu.
“Nói cho tôi nghe đi!”
“Nó còn sống,” ông ta nói, và tảng băng lớn nhất đè nặng trong bụng tôi lập tức tan chảy. Dougal nghiêng đầu sang một bên, chăm chú quan sát tôi. Để xem liệu tôi có ngất xỉu hay không ư? Tôi mơ hồ tự hỏi. Không quan trọng, tôi đâu có ngất xỉu!
“Nó bị bắt gần Kiltorlity, hai tuần trước,” Dougal nói, vẫn quan sát tôi. “Không phải lỗi của nó; vì nó gặp xui thôi. Nó chạm trán sáu tên kỵ binh ở một khúc ngoặt trên đường và một kẻ đã nhận ra nó.”
“Anh ấy có bị thương không?” Giọng tôi vẫn điềm tĩnh, nhưng hai bàn tay bắt đầu run rẩy. Tôi ép chúng vào sát hai chân cho đỡ run.
Dougal lắc đầu. “Ta nghe nói là không.” Ông ta ngừng lại trong giây lát. “Nó đang ở ngục Wentworth,” ông ta miễn cưỡng nói.
“Wentworth,” tôi lặp lại một cách máy móc. Ngục Wentworth, nguyên là một trong những pháo đài đồ sộ vùng biên, được xây vào cuối thế kỷ mười sáu và được cơi nới thêm nhiều lần trong hơn một trăm năm mươi năm tiếp theo. Hiện khối đá sừng sững đó rộng gần hai mẫu đất, với những bức tường bằng đá hoa cương dày chừng một mét đã bị bào mòn vì mưa gió. Nhưng dù là tường bằng đá hoa cương đi nữa thì nó cũng phải có cổng. Tôi ngước lên định hỏi một câu, và thấy vẻ miễn cưỡng vẫn còn in dấu trên nét mặt Dougal.
“Còn gì nữa?” Tôi hỏi.
Đôi mắt màu hạt dẻ nhìn thẳng vào mắt tôi, không chút nao núng.
“Nó bị xét xử ba ngày trước,” Dougal nói. “Và bị kết án treo cổ.”
Khối băng lại kết tụ trong lòng tôi, lần này còn dày hơn gấp bội. Tôi nhắm mắt lại.
“Bao lâu nữa?” Tôi hỏi, giọng tôi nghe như vọng đến từ một nơi xa xôi, rồi tôi lại mở mắt ra, chớp chớp mắt để nhìn rõ trong ánh đèn chập chờn. Dougal đang lắc đầu.
“Ta không biết. Nhưng không lâu nữa đâu.”
Tôi đã thở dễ dàng hơn một chút và có thể nới lỏng hai nắm tay.
“Vậy thì chúng ta phải nhanh lên,” tôi nói, vẫn điềm tĩnh. “Ông mang theo bao nhiêu người?”
Thay vì trả lời, Dougal đứng lên và đi tới chỗ tôi. Ông ta nắm lấy tay tôi, kéo tôi dậy. Vẻ thông cảm xuất hiện trở lại trên mặt ông ta, và nỗi đau buồn ẩn sâu trong mắt ông ta khiến tôi sợ hãi hơn bất cứ điều gì ông ta từng nói với tôi cho tới thời điểm này. Ông ta chậm rãi lắc đầu.
“Không,” ông ta nhẹ nhàng nói. “Chúng ta chẳng thể làm được gì.”
Tôi hoảng hốt giật tay ra khỏi tay ông ta.
“Có chứ!” Tôi nói. “Phải có chứ! Ông nói anh ấy vẫn còn sống mà!”
“Và ta cũng nói: “Không còn lâu nữa đâu!”” Ông ta sắc sảo đáp trả. “Thằng bé đang ở trong ngục Wentworth chứ không phải trong cái hố giam trộm ở Cranesmuir! Nó có thể bị treo cổ vào hôm nay, ngày mai, hoặc tuần sau, đó là tất cả những gì ta biết, nhung chẳng có cách nào để mười người lọt được vào ngục Wentworth cả!”
“Không có cách nào ư?” Tôi lại run lên, nhưng lần này là vì phẫn nộ. “Làm sao ông biết là không có cách nào chứ? Chẳng qua ông không muốn mạo hiểm tính mạng, hoặc là... cái lợi ích khốn nạn của ông!” Tôi vung tay chỉ vào đống bọc đang chồng chất bên vách hang.
Dougal tóm lấy tay tôi. Tôi điên cuồng đấm thùm thụp vào ngực ông ta trong nỗi giận dữ và đau khổ. Ông ta mặc kệ những cú đấm, choàng tay quanh người tôi, kéo tôi vào lòng và ôm tôi cho đến khi tôi ngừng vùng vẫy.
“Claire!” Đây là lần đầu tiên ông ta gọi tên tôi, và điều này càng làm tôi sợ hãi hơn.
“Claire,” ông ta lặp lại, nới lỏng vòng tay để tôi có thể ngước lên nhìn ông ta, “cô nghĩ ta sẽ không dốc hết sức để giải cứu thằng bé nếu có cơ hội dù là nhỏ nhất ư? Mẹ kiếp, thằng bé là con nuôi của ta đấy! Nhưng làm gì có cơ hội nào chứ - chẳng có cơ hội nào cả?” Ông ta khẽ lắc lắc người tôi để nhấn mạnh lời mình. “Jamie sẽ không đồng ý để ta ném mạng sống các tay chân đắc lực của ta vào một cuộc mạo hiểm vô vọng. Cô cũng biết rõ điều đó như ta vậy.”
Tôi không còn kìm được nước mắt. Chúng lăn xuống hai gò má lạnh băng của tôi khi tôi đẩy ông ta ra. Nhưng ông ta càng ôm tôi chặt hơn, cố ấn đầu tôi vào vai ông ta.
“Claire thân mến,” ông ta nói, giọng dịu dàng hơn. “Trái tim ta đau nhói vì thằng nhỏ - và vì cô nữa. Hãy đi với ta! Ta sẽ bảo vệ cô. Tới nhà ta,” ông ta vội nói thêm, khi thấy tôi cứng người lại. “Chứ không phải Leoch.”
“Tới nhà ông?” Tôi chậm rãi nói. Một nỗi nghi ngờ khủng khiếp đang bắt đầu hình thành trong đầu tôi.
“Ừ,” ông ta nói. “Cô nghĩ ta định đưa cô về Cranesmuir ư?” Ông ta thoáng mỉm cười trước khi nghiêm nghị trở lại. “Không. Ta sẽ đưa cô tới Beannachd. Ở đó cô sẽ được an toàn.”
“An toàn?” Tôi nói. “Hay bất lực?”
Ông ta buông thõng hai cánh tay trước giọng điệu của tôi.
“Ý cô là gì?” Giọng nói dịu dàng chợt trở nên lạnh lùng.
Tôi cũng cảm thấy vô cùng giá lạnh, bèn quấn cái áo choàng chặt hơn quanh người mình khi lùi ra xa khỏi ông ta.
“Ông ngăn Jamie về nhà bằng cách nói với anh ấy rằng chị gái anh ấy có con với Randall,” tôi nói, “do đó ông và ông anh quý hóa của ông mới có cơ hội dụ anh ấy về phe mình. Nhưng bây giờ quân Anh đã bắt được anh ấy, ông chẳng còn cơ hội nào để kiểm soát mảnh đất đó thông qua Jamie.” Tôi lùi lại thêm một bước, nuốt khan. “Ông đã tham gia thảo bản hôn khế của chị gái ông. Chính vì sự khăng khăng của ông - và Colum - mà Broch Tuarach có thể thuộc về một người phụ nữ. Ông nghĩ rằng nếu Jamie chết, Broch Tuarach sẽ về tay tôi - hoặc về tay ông, nếu ông có thể dụ dỗ hoặc ép buộc tôi kết hôn với ông.”
“Cái gì?!” Giọng ông ta đầy vẻ kinh ngạc. “Cô nghĩ... cô nghĩ đây là một âm mưu? Lạy Thánh Agnes! Cô nghĩ ta đang nói dối cô?”
Tôi lắc đầu, vẫn giữ khoảng cách với ông ta. Tôi không tin tưởng ông ta chút nào.
“Không, tôi tin ông. Nếu Jamie không ngồi tù, ông sẽ không bao giờ dám nói với tôi rằng anh ấy đang ở trong ngục, bởi vì quá dễ dàng để kiếm chứng điều đó. Tôi cũng không nghĩ ông đã bán đứng anh ấy cho quân Anh - ông không đời nào làm một việc như vậy đối với máu mủ của mình, bởi vì nếu ông làm thế và chuyện đến tai người của ông, họ sẽ quay lưng lại với ông trong nháy mắt. Họ có thể chịu đựng nhiều điều ở ông, nhưng sẽ không chấp nhận việc ông phản bội người thân.” Đang nói, tôi bỗng nhớ lại một chuyện. “Có phải chính ông đã tấn công Jamie ở gần biên giới giữa Anh và Scotland vấo năm ngoái không?”
Đôi lông mày rậm rạp nhướng lên kinh ngạc.
“Ta ư? Không! Ta phát hiện thằng bé sắp chết và đã cứu nó? Nếu ta có ý định làm hại nó thì còn cứu nó làm gì?”
Bên dưới sự che phủ của chiếc áo choàng, tôi lướt bàn tay dọc theo đùi, lần tìm con dao găm.
“Nếu không phải ông thì là ai?”
“Ta không biết.” Khuôn mặt điển trai trở nên thận trọng nhưng không che giấu điều gì. “Khi đó có ba gã cùng đi săn với Jamie. Chúng là những kẻ du thủ du thực, ngoài vòng pháp luật. Bọn chúng đổ tội cho nhau, và lúc bấy giờ bọn ta không có cách nào tìm ra sự thật.” Ông ta nhún vai, chiếc áo choàng đi đường tuột xuống một bên vai rộng. “Nhưng chuyện đó không còn quan trọng nữa; hai kẻ trong số chúng đã chết, kẻ thứ ba thì đang ngồi tù vì một tội khác, nhưng điều đó cũng chẳng mấy khác biệt, đúng không?”
“Không, tôi không nghĩ vậy?” Trong chừng mực nào đó, quả là nhẹ nhõm khi thấy ông ta không phải kẻ giết người. Ông ta không có lý do gì để nói dối tôi vào lúc này; tôi đang hoàn toàn bất lực. Ông ta có thể ép tôi làm bất cứ điều gì ông ta muốn. Hay chí ít là ông ta nghĩ như vậy. Tôi nắm lấy chuôi con dao găm.
Ánh sáng trong hang rất yếu, nhưng tôi đang nhìn chăm chú nên có thể thấy được sự do dự thoáng ánh lên trên mặt ông ta khi ông ta lựa chọn bước tiếp theo. Ông ta tiến về phía tôi, giơ tay ra, nhưng dừng lại nửa chừng khi thấy tôi lùi lại.
“Claire? Claire thân mến!” Giọng ông ta lại trở nên dịu dàng, và ông ta nhẹ nhàng vuốt ve cánh tay tôi. Vậy là ông ta đã quyết định thử quyến rũ tôi thay vì ép buộc. “Ta biết tại sao cô ăn nói lạnh lùng với ta như vậy, và tại sao cô nghĩ xấu về ta. Cô hẳn biết rằng ta khát khao cô đến cháy bóng, Claire. Đó là sụ thật - ta đã muốn có cô ngay từ đêm tụ hội, khi ta hôn lên đôi môi ngọt ngào của cô.” Hai ngón tay ông ta khẽ đặt lên vai tôi, rồi nhích dần lên cổ tôi. “Nếu ta là một người đàn ông tự do lúc Randall đe dọa cô, ta sẽ cưới cô ngay lập tức, và tống cổ gã đó xuống địa ngục.” Ông ta từ từ tiến lại gần, dồn tôi vào vách hang. Những đầu ngón tay của ông ta di chuyển tới cổ họng tôi, lần theo đường nét của cái móc áo choàng.
Hẳn là ông ta đã nhìn thấy vẻ mặt tôi, vì ông ta bỗng ngừng lại, bàn tay vẫn ở yên chỗ cũ.
“Mặc dù có tình cảm với cô như vậy - và ta sẽ không giấu giếm cảm xúc của mình với cô thêm nữa,” ông ta nói, “nhưng sao cô có thể nghĩ rằng ta sẽ bỏ mặc Jamie nếu có bất cứ hy vọng nào cứu được nó? Jamie Fraser khác nào con trai duy nhất của ta đâu cơ chứ!”
“Không hẳn thế,” tôi nói. “Ông còn có một đứa con trai ruột cơ mà. Hay bây giờ là hai đứa nhỉ?” Chỉ trong một giây, những ngón tay trên cổ tôi ấn xuống mạnh hơn, rồi buông ra.
“Ý cô là gì?” Lần này thì mọi sự vờ vĩnh, mọi trò chơi đều biến mất. Đôi mắt màu hạt dẻ nhìn tôi chăm chú, cặp môi mọng mím lại nghiêm nghị giữa bộ râu màu hung nhạt. Ông ta quá to lớn và ở quá gần tôi, nhưng tôi đã đi quá xa, giờ có thận trọng cũng chẳng ích gì.
“Tôi biết ai là cha đẻ của Hamish,” tôi nói. Ông ta đã đoán ra được phần nào, và kiềm chế biểu cảm trên mặt rất tốt, nhưng cả tháng hành nghề bói toán vừa qua của tôi đã không tốn công vô ích. Tôi đã kịp nhìn thấy tia kinh ngạc làm mắt ông ta thoáng mở to và nỗi hoảng hốt bị chế ngự nhanh chóng làm khóe miệng ông ta siết chặt lại.
Trúng phóc! Cho dù đang phải đối mặt với nguy hiếm, tôi vẫn cảm thấy trong lòng dâng lên một nỗi hoan hỉ. Tôi đã đoán đúng, và thông tin này có thể trở thành thứ vũ khí mà tôi cần.
“Cô biết ư?” Ông ta khẽ nói.
“Phải,” tôi nói, “và tôi cho là Colum cũng biết.”
Câu nói đó khiến ông ta sững lại trong một thoáng. Đôi mắt màu hạt dẻ nheo lại và tôi lập tức tự hỏi liệu ông ta có vũ khí không.
“Tôi nghĩ rằng trong một thời gian dài, ông ta cứ đinh ninh cha đẻ của Hamish là Jamie,” tôi nói, nhìn chằm chằm vào mắt Dougal. “Bởi vì những lời đồn đại mà hẳn là ông đã bịa ra rồi rỉ tai Geillis Duncan. Tại sao? Bởi vì Colum tỏ ra nghi ngờ Jamie và có ý định tra hỏi Letitia, mà bà ta thì không thể chống đỡ lâu trước những lời chất vấn? Hay vì Geilie nghĩ ông là tình nhân của Letitia nên ông mới nói với cô ta người đó là Jamie để dập tắt mối nghi ngờ của cô ta? Cô ta là một người phụ nữ cả ghen, nhưng bây giờ cô ta không có bất cứ lý do gì để bảo vệ ông nữa.”
Dougal cười dữ tợn. Băng giá trong mắt ông ta chưa bao giờ tan biến.
“Không, cô ta không thế,” ông ta đồng ý, giọng nói vẫn dịu dàng. “Mụ phù thủy ấy chết rồi.”
“Chết ư!” Sự bàng hoàng hẳn đã hiện rõ cả trên mặt cũng như trong giọng nói của tôi. Ông ta cười tươi hơn.
“Đúng vậy,” ông ta nói. “Bị thiêu chết. Trước hết là bị chôn chân trong một thùng hắc ín, xung quanh chất đầy than bùn khô, rồi bị trói vào một cái cọc và bị đốt như một ngọn đưốc. Cuối cùng thì bùng lên thành một cột lửa bên dưới những nhánh thanh lương trà.”
Ban đầu, tôi nghĩ sự miêu tả chi tiết đến mức tàn nhẫn này là để làm tôi kinh hãi, nhưng tôi đã lầm. Khi tôi nhích sang một bên, ánh sáng chiếu vào mặt ông ta, giúp tôi nhìn thấy những nếp hằn đau khổ viền quanh cặp mắt ông ta. Ông ta nói những lời đó không phải để dọa dẫm, mà là để đả kích chính mình. Nhưng trong hoàn cảnh này, tôi không hề thấy thương cảm.
“Ra là ông thích cô ta,” tôi lạnh lùng nói. “Nhưng tình cảm của ông chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cho cô ta. Hay cho đứa trẻ. Ông đã làm gì nó?”
Ông ta nhún vai. “Lo liệu đưa nó đến một mái nhà tốt. Nó là một đứa con trai khỏe mạnh, cho dù mẹ nó là một phù thủy và một kẻ ngoại tình.”
“Còn cha nó là một kẻ ngoại tình và một kẻ phản bội,” tôi cấm cảu. “Vợ ông, tình nhân của ông, cháu trai của ông, anh trai của ông - có ai mà ông không phản bội và lừa dối không? Ông... ông...” Tôi nghẹn lời, cảm thấy nôn nao vì phẫn nộ. “Tôi không biết tại sao mình lại ngạc nhiên,” tôi nói, cố gắng tỏ ra điềm tĩnh. “Nếu ông không trung thành với Đức vua của ông, tôi cho là chẳng có lý do gì để nghĩ ông sẽ chân thành với cháu trai hay anh trai mình.”
Ông ta quay ngoắt lại, trừng mắt nhìn tôi. Cặp lông mày sẫm màu rậm rạp - giống hệt như cặp lông mày của Colum, Jamie và Hamish - nhướng lên. Đôi mắt sâu hoắm, gò má rộng, khuôn đầu đẹp. Gien của cụ Jacob MacKenzie thật trội.
Một bàn tay to lớn siết chặt vai tôi.
“Anh trai ta? Cô nghĩ ta sẽ phản bội anh ấy?” Không hiểu sao, ông ta có vẻ tức giận; mặt ông ta sa sầm.
“Ông vừa mới thừa nhận rằng ông phản bội ông ta còn gì!”
Và rồi tôi chợt nhận ra.
“Cả hai người,” tôi chậm rãi nói. “Cả ông và Colum đã mưu mô làm điều đó cùng nhau, giống như trong tất cả những việc khác.” Tôi hất tay ông ta ra khỏi vai tôi.
“Colum không thể là thủ lĩnh, trừ phi ông đi chiến đấu thay ông ta. Ông ta không thể cai quản cả thị tộc, nếu không có ông đi lại thay ông ta để thu tô và giải quyết các yêu sách. Ông ta không thể cưỡi ngựa, ông ta không thể đi xa. Và ông ta không thể sinh được một đứa con trai để truyền lại ngôi thủ lĩnh của mình. Còn ông cũng không có đứa con trai nào với Maura. Ông đã thề sẽ làm tay chân của ông ta.” - Tôi bắt đầu cảm thấy hơi kích động. - “Tại sao ông không thể làm công cụ gây giống của ông ta luôn chứ?”
Dougal đã hết giận dữ. Ông ta trầm ngâm đứng nhìn tôi. Sau khi kết luận rằng tôi sẽ không đi đâu cả, ông ta ngồi xuống một kiện hàng và đợi tôi nói hết.
“Vậy là ông đã làm việc đó với sự đồng tình của Colum. Letitia có tự nguyện không?” Lúc này đã biết được sự trơ trẽn khủng khiếp của họ, tôi sẽ không ngạc nhiên nếu anh em nhà MacKenzie ép buộc bà ta.
Dougal gật đầu. Cơn giận của ông ta đã tan biến.
“Ồ, tự nguyện quá đi chứ! Cô ta không thích ta, nhưng lại muốn có một đứa con - mong muốn đó đủ lớn để cô ta đồng ý đưa ta lên giường trong ba tháng cho đến khi có Hamish. Việc đó tẻ nhạt vô cùng,” Dougal tư lự nói thêm trong lúc cạo một mảng bùn ra khỏi gót giày. “Ta thà làm tình với một bát bánh sữa nướng ấm áp còn hơn.”
“Ông có nói như vậy với Colum không?” Tôi hỏi.
Nghe thấy giọng điệu châm biếm của tôi, ông ta ngước lên. Sau một thoáng nhìn tôi chằm chằm, ông ta mỉm cười.
“Không,” ông ta khẽ nói. “Ta không nói với anh ấy điều đó.” Ông ta nhìn xuống bàn tay mình, ngửa chúng lên như thể đang tìm kiếm một bí mật nào đó ẩn giấu trong những đường chỉ tay. “Ta đã nói với anh ấy rằng,” ông ta khẽ nói, không nhìn vào tôi, “cô ta dịu dàng, ngọt ngào như một quả đào chín, và có đủ những gì mà một người đàn ông mong muốn ở một người phụ nữ.”
Ông ta đột ngột nắm tay lại và ngước nhìn tôi, hình ảnh thoáng qua về người em trai trung thành của Colum lại bị nhấn chìm trong đôi mắt nhạo báng của Dougal MacKenzie.
“Còn cô thì chẳng hề dịu dàng và ngọt ngào,” ông ta nhận xét. “Nhưng lại có tất cả những gì mà một người đàn ông mong muốn...” Đôi mắt màu hạt dẻ sâu hoắm chậm rãi liếc xuống cơ thể tôi, nấn ná trên bộ ngực tròn trĩnh và đường cong ở bờ hông hiển hiện qua cái áo choàng không cài cúc. Bàn tay ông ta vô thức xoa đùi mình.
“Biết đâu đấy?” Ông ta như đang nói với chính mình. “Ta có thể có thêm một đứa con trai nữa - lần này là một đứa con hợp pháp. Mặc dù” - ông ta nghiêng đầu nhìn vào bụng tôi - “Jamie vẫn chưa được làm cha. Có thể cô không sinh được con. Nhưng ta sẽ chấp nhận rủi ro ấy. Dù sao đi nữa, mảnh đất đó cũng đáng giá.”
Ông ta đột nhiên đúng dậy và tiến một bước về phía tôi.
“Biết đâu đấy?” Ông ta lại nói, rất dịu dàng. “Nếu ta cày luống cày xinh xắn ấy và gieo hạt giống cho nó mỗi ngày...” Những cái bóng trên vách hang đột nhiên dịch chuyển khi ông ta bước thêm một bước về phía tôi.
“Chà, ông lâu la quá đấy!” Tôi giận dữ nói.
Vẻ kinh ngạc hiện lên trên mặt Dougal trước khi ông ta nhận ra tôi đang nhìn về phía cửa hang chứ không phải nhìn vào ông ta.
“Xen vào giữa chùng thì không được lịch sự cho lắm,” Murtagh nói, tiến vào trong hang, hai tay lăm lăm một cặp súng đã nạp đạn. Ông chĩa một khẩu vào Dougal, khẩu kia dùng để ra hiệu.
“Nếu cô không muốn chấp nhận lời đề nghị vừa rồi thì hãy ra khỏi đây ngay. Còn nếu cô muốn chấp nhận, tôi sẽ đi.”
“Chẳng ai đi đâu hết,” tôi cộc lốc nói. “Ngồi xuống đi!” Tôi nói với Dougal. Ông ta vẫn đứng nhìn Murtagh chằm chằm như thể đang nhìn một hồn ma.
“Rupert đâu?” Ông ta hỏi, khi đã cất được tiếng.
“Ồ, Rupert à?” Murtagh dùng họng súng gãi gãi cằm, vẻ suy ngẫm. “Giờ này chắc anh ta đã tới Belladrum rồi. Anh ta sẽ quay lại trước rạng đông,” ông nói thêm, “với thùng rượu rum mà anh ta nghĩ là ông sai anh ta đi lấy. Những người còn lại vẫn đang ngủ ở Quinbrough.”
Dougal cười, hơi gượng gạo. Sau đó, ông ta ngồi xuống, đặt tay lên đầu gối, hết nhìn tôi rồi lại nhìn Murtagh. Tất cả đều im lặng trong một thoáng.
“Nào?” Dougal hỏi. “Các người định làm gì đây?”
Tôi nhận ra đó là một câu hỏi hay. Sau khi trải qua một loạt cảm xúc như kinh ngạc khi thấy Dougal thay vì Jamie, bàng hoàng bởi lời tiết lộ của ông ta và phẫn nộ trước những lời đề nghị sau đó, tôi đã không có thời gian để suy nghĩ mình nên làm gì. May thay, Murtagh có sự chuẩn bị tốt hơn. Chà, dù gì ông ấy cũng không phải bận tâm tới việc chống trả những lời tán tỉnh phóng đãng.
“Chúng tôi cần tiền,” Murtagh lập tức nói. “Và nhân lực.” Ông ném ánh mắt ước lượng về phía những gói bọc chất đống bên vách đá. “Không,” ông trầm ngâm nói. “Đó là của Vua James. Chúng tôi sẽ lấy những gì ông có trên người.” Đôi mắt đen bé tí đảo về phía Dougal và một họng súng nhẹ nhàng chĩa vào cái túi da trên người ông ta.
Cần phải nói một điều về cuộc sống trên cao nguyên, đó là người ta thường tin vào định mệnh. Dougal thở dài, thò tay vào trong cái túi da rồi ném một cái hầu bao nhỏ tới chân tôi.
“Hai mươi đồng vàng và hơn ba mươi si-linh,” ông ta nói, nhướng một bên lông mày. “Cứ việc lấy đi!”
Nhìn thấy vẻ hoài nghi của tôi, ông ta lắc đầu.
“Ta nói thật đấy. Cô nghĩ về ta thế nào cũng được. Jamie là con trai của chị gái ta, nếu cô có thể cứu thoát nó, vậy thì cầu Chúa phù hộ cho cô. Nhưng cô không thể làm được việc đó đâu.” Giọng điệu ông ta thật dứt khoát.
Rồi ông ta nhìn Murtagh vẫn đang cầm chắc hai khẩu súng.
“Còn về nhân lực thì không. Nếu anh và cô ta muốn tự sát, ta không thể ngăn cản. Ta thậm chí còn sẵn lòng chôn mỗi người ở một bên Jamie. Nhưng các người không được mang theo tay chân của ta xuống địa ngục cùng các người, dù các người có súng chăng nữa.” Ông ta khoanh tay và ngả người dựa vào vách hang, điềm tĩnh nhìn chúng tôi.
Hai khẩu súng của Murtagh không rời khỏi mục tiêu, nhưng mắt ông hướng về phía tôi. Tôi có muốn ông bắn không?
“Tôi muốn thương lượng với ông,” tôi nói.
Dougal nhướng một bên lông mày.
“Hiện giờ cô có lợi thế hơn ta trong việc thương lượng,” ông ta nói. “Đề nghị của cô là gì?”
“Hãy để tôi nói chuyện với người của ông,” tôi nói. “Nếu họ tự nguyện đi với tôi, ông hãy để họ đi. Ngược lại, nếu họ không muốn, chúng tôi sẽ đi một mình, đồng thời sẽ trả lại ông số tiền này.”
Khóe miệng ông ta nhếch lên. Ông ta nhìn tôi chăm chú, như thể đang đánh giá sức thuyết phục và kỹ năng diễn thuyết của tôi. Rồi ông ta ngả người ra sau, tay vẫn đặt trên đầu gối, gật đầu một cái.
“Đồng ý,” ông ta nói.
•••
Cuối cùng, chúng tôi rời khỏi cái hang hẹp với số tiền của Dougal và năm người đàn ông, không kể Murtagh và tôi: đó là Rupert, John Whitlow, Willie MacMurtry, cùng hai anh em song sinh Rufus và Geordie Coulter. Chính quyết định của Rupert đã gây ảnh hưởng đến những người còn lại; tôi vẫn nhớ - với cảm giác thỏa mãn - vẻ mặt của Dougal khi người phó tướng béo lùn có bộ râu đen của ông ta trầm tư nhìn tôi, rồi vỗ vỗ vào con dao găm giắt ở thắt lưng và nói: “Ầy, tại sao lại không chứ?”
Ngục Wentworth cách đó ba mươi lăm dặm. Mất nửa tiếng để đến nơi nếu đường đẹp và đi bằng xe hơi tốc độ cao. Nhưng phải mất hai ngày nếu cưỡi ngựa qua những vũng bùn gần như đông cứng. Không còn lâu nữa đâu. Lời của Dougal cứ văng vẳng bên tai tôi, giúp tôi ngồi vững trên yên ngựa dù tôi đã kiệt sức đến mức có thể ngã gục.
Cơ thể tôi căng ra hết mức để bám chặt vào yên ngựa qua những dặm đường dài mệt mỏi, nhưng trí óc tôi đã được giải thoát khỏi nỗi lo lắng. Để ngăn mình không nghĩ về Jamie, tôi nhớ lại cuộc nói chuyện với Dougal trong hang.
Đặc biệt là điều cuối cùng ông ta nói với tôi.
Đứng bên ngoài cái hang nhỏ để đợi Rupert và các bạn đồng hành mang ngựa đến từ chỗ giấu trên thung lũng, Dougal đột ngột quay sang tôi.
“Ta có một lời nhắn dành cho cô,” ông ta nói. “Từ ả phù thủy.”
“Từ Geilie?” Tôi còn hơn cả kinh ngạc.
Tuy không thể nhìn rõ mặt ông ta trong bóng tối, nhưng tôi thấy ông ta gật đầu xác nhận.
“Ta đã gặp cô ta một lần,” ông ta khẽ nói, “lúc ta đến đón đứa trẻ.” Trong những hoàn cảnh khác, có thể tôi đã thấy thương cảm cho ông ta: phải chia tay lần cuối với người tình bị kết án thiêu sống, ôm trong lòng đứa con chung của họ, đứa con trai mà ông ta có thể không bao giờ thừa nhận. Mặc dù vậy, giọng tôi vẫn lạnh lùng.
“Cô ta nói gì?”
Ông ta ngập ngùng; không rõ là vì không muốn tiết lộ thông tin hay chỉ đang cố nhớ lại chính xác những lời đó. Có vẻ như suy đoán thứ hai của tôi là đúng, vì ông ta nói một cách cẩn thận.
“Cô ta bảo nếu có bao giờ ta gặp lại cô, ta phải nói với cô hai điều, chính xác từng câu từng chữ như cô ta nói với ta. Thứ nhất: “Tôi nghĩ là có thể, nhưng tôi không biết.” Và thứ hai - chỉ là những con số. Cô ta bắt ta nói đi nói lại, để chắc chắn là ta nhớ đúng, vì ta phải nói lại với cô theo thứ tự chính xác. Các con số là một, chín, sáu và bảy.”
Thân hình cao ráo quay về phía tôi trong bóng tối, hỏi: “Chúng có ý nghĩa gì với cô không?”
“Không,” tôi nói và quay về phía con ngựa của mình. Đương nhiên là chúng có ý nghĩa với tôi rồi.
“Tôi nghĩ là có thể.” Câu nói này chỉ có một ý nghĩa duy nhất. Cô ta nghĩ tôi có thể trở về thời đại của mình qua vòng tròn đá, dù cô ta không biết chắc. Rõ ràng cô ta chưa từng thử làm vậy vì đã lựa chọn ở lại đây và phải trả giá bằng cả tính mạng. Có lẽ cô ta có lý do riêng. Chắc là vì Dougal?
Còn về các con số, tôi cũng nghĩ tôi biết chúng có ý nghĩa gì. Cô ta nói từng con số riêng biệt với Dougal vì sự thận trọng đã ngấm sâu vào xương tủy cô ta, nhưng thực ra chúng chỉ là thành phần của một con số. Một, chín, sáu, bảy. Một nghìn chín trăm sáu mươi bảy. Năm cô ta biến mất vào quá khứ[2].
Tôi cảm thấy tò mò và tiếc nuối sâu sắc. Tại sao tôi lại không nhìn thấy dấu tiêm chủng trên cánh tay cô ta trước khi quá muộn chứ! Tuy vậy, nếu tôi nhìn thấy nó sớm hơn, liệu tôi có quay lại vòng tròn đá, có thể là nhờ sự trợ giúp của cô ta, và rời xa Jamie không?
Jamie. Ý nghĩ về anh nặng như chì trong đầu tôi, giống như một con lắc chầm chậm đu đưa ở cuối một sợi dây. Không còn lâu nữa đâu. Con đường trước mắt chúng tôi ảm đạm và có vẻ trải dài bất tận, thi thoảng mất hút trong những đầm lầy đóng băng hoặc những mặt nước mênh mông đã từng là các cánh đồng và trảng cỏ. Dưới màn mưa phùn lạnh giá sắp sửa biến thành tuyết, chúng tôi tới được đích vào lúc chập tối ngày thứ hai.
Tòa nhà đen sì, sừng sững vươn lên bầu trời u ám. Nó có hình lập phương, mỗi mặt dài khoảng một trăm hai mươi mét, mỗi góc có một tòa tháp. Nó có thể chứa ba trăm tù nhân, bốn mươi binh lính cùng viên chỉ huy của quân đồn trú, giám thị trại giam, các nhân viên của ông ta, gần năm chục đầu bếp, cần vụ, người giữ ngựa và những người giúp việc lặt vặt khác. Đó chính là ngục Wentworth.
Tôi ngước nhìn những bức tường đáng sợ bằng đá hoa cương Argyll màu xanh, dày ít nhất nửa mét. Đây đó trên tường có những ô cửa sổ nhỏ xíu. Vài ô bắt đầu nhấp nháy ánh đèn. Những ô khác, tôi đoán là cửa sổ xà lim của các tù nhân, thì vẫn tối om om. Tôi nuốt khan. Nhìn tòa kiến trúc đồ sộ với những bức tường kiên cố, cánh cổng khổng lồ và những gã lính canh áo đỏ, tôi bắt đầu nghi ngại.
“Lỡ như” - miệng tôi khô khốc và tôi phải ngừng lại, liếm môi - “lỡ như chúng ta không làm được thì sao?”
Vẻ mặt Murtagh vẫn nghiêm nghị như mọi khi: miệng mím chặt, cái cằm hẹp bị vùi lấp trong chiếc cổ áo sơ mi cáu ghét. Vẻ mặt ấy không hề thay đổi khi ông quay sang tôi.
“Vậy thì Dougal sẽ chôn chúng ta cạnh cậu ấy, mỗi người một bên ông trả lời. “Đi nào, bắt tay vào việc thôi!”
[1] Những thung lũng ảm đạm ở Yarrow.
[2] Từ phần sau của bộ truyện này tác giả đã đổi năm Geillis quay về quá khứ là năm 1968.