Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4
Đi tới lâu dài

❊ ❊ ❊

Đoạn còn lại của cuộc hành trình khá yên ổn, nếu việc cưỡi ngựa chung với một người đàn ông bị thương suốt mười lăm dặm đường gồ ghề vào ban đêm và đi kèm là cả đám đàn ông mặc váy kẻ ô trang bị vũ khí đến tận răng được coi là yên ổn. Ít nhất thì chúng tôi không bị lũ cướp đường tấn công, không chạm trán dã thú và không gặp mưa. Dựa theo cái tiêu chuẩn mà tôi đang trở nên quen thuộc, nó khá là nhàm chán.

Những vệt sáng dần lan tỏa trên bãi hoang mù sương báo hiệu bình minh đang lên. Đích đến của chúng tôi lờ mờ hiện ra ở đằng trước, đó là một khối đá sẫm màu đồ sộ được viền quanh bởi thứ ánh sáng xam xám.

Khung cảnh xung quanh không còn yên tĩnh và hoang vắng. Có một dòng người ăn mặc thô sơ tiến về phía lâu đài. Họ dẹp vào bên lề con đường hẹp để nhường đường cho lũ ngựa chạy nước kiệu qua, trố mắt nhìn bộ đồ của tôi. Rõ ràng họ nghĩ nó rất kỳ dị.

Trời đang dày đặc sương mù nhưng vẫn có thể nhìn thấy một cây cầu đá uốn cong trên dòng suối nhỏ chảy qua trước mặt tòa lâu đài và đổ vào một cái hồ sáng lờ mờ cách đó một phần tư dặm.

Tòa lâu đài bằng phẳng và vững chãi, chẳng hề có những chiếc tháp canh kỳ quái hay những bức tường có gờ hình răng. Với tường đá dày cùng những ô cửa sổ cao và hẹp, trông nó giống một tòa nhà lớn được gia cố hơn. Khói tỏa ra từ các ống khói trên mái ngói trơn bóng càng góp phần làm cho khung cảnh nơi đây thêm xám xịt.

Cổng lâu đài vừa đủ rộng cho hai cỗ xe đi song song. Tôi đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy khi chúng tôi băng qua cây cầu. Một cỗ xe bò chất đầy thùng rượu, cỗ kia thì đầy cỏ khô. Đoàn người nhỏ bé chúng tôi túm tụm với nhau trên cầu, sốt ruột chờ hai cỗ xe lặc lè đi qua cổng.

Tôi đánh bạo hỏi một câu khi lũ ngựa rón rén bước trên nhừng viên đá trơn trượt của cái sân ướt nhẹp. Kể từ lúc vội vã băng bó lại cho cái vai của người bạn đồng hành ở bên đường, tôi vẫn chưa hề nói gì với anh ta. Anh ta cũng im lặng, chỉ thi thoảng làu bàu khó chịu khi con ngựa sẩy chân làm anh ta bị xóc nẩy.

“Chúng ta đang ở đâu vậy?” Giọng tôi khàn khàn vì lạnh và vì đã lâu không lên tiếng.

“Pháo đài của Leoch,” anh ta trả lời cộc lốc.

Lâu đài Leoch. Chà, ít nhất thì bây giờ tôi đã biết mình đang ở đâu. Tôi nhớ lâu đài Leoch là một phế tích đẹp như tranh vẽ, nằm cách Bargrennan khoảng ba mươi dặm về phía bắc. Lúc này, với những con lợn đang dũi đất dưới chân tường và mùi nước thải lan tỏa khắp nơi, trông nó sinh động hơn rất nhiều. Tôi bắt đầu chấp nhận cái ý niệm phi lý là tôi có thể đang ở thế kỷ mười tám.

Cho dù có thể lỗ chỗ những hố bom nhưng chắc chắn không một nơi nào trên khắp vùng Scotland vào năm 1945 mang vẻ nhếch nhác và lộn xộn như thế này. Mà nghe giọng nói của những người trong sân thì rõ ràng chúng tôi đang ở Scotland.

“Ầy, Dougal?” Một người coi chuồng ngựa ăn mặc tả tơi reo lên, chạy tới tóm lấy dây cương của con ngựa dẫn đầu. “Ngài về sớm thế; chúng tôi không nghĩ là sẽ gặp ngài trước lễ tụ hội!”

Người chỉ huy của nhóm chúng tôi nhảy xuống ngựa, trao dây cương cho chàng trai trẻ lôi thôi lếch thếch.

“Ừ, chúng ta vừa gặp vận may vừa gặp vận rủi. Ta đi gặp anh trai ta đây. Cậu đi gọi bà Fitz chuẩn bị đồ ăn thức uống cho những người này nhé? Họ sẽ cần ăn sáng và nghỉ ngơi.”

Ông ta vẫy tay ra hiệu cho Murtagh và Rupert đi theo mình, rồi họ cùng nhau biến mất dưới một cái cửa vòm nhọn.

Những người còn lại trong chúng tôi xuống ngựa và đứng ở cái sân ẩm ướt mất mười phút, miệng thở ra khói, mà bà Fitz nào đó vẫn chưa xuất hiện. Một bầy trẻ con tò mò tụ lại, suy đoán về lai lịch và vai trò của tôi. Những đứa bạo dạn hơn bắt đầu cả gan kéo váy tôi thì một bà to béo mặc bộ đồ bằng vải sợi thô và vải lanh màu nâu sẫm hối hả chạy ra xua chúng đi.

“Willy yêu quý!” Bà ta reo lên. “Gặp lại anh mừng quá! Cả Neddie nữa!” Bà ta dành cho gã hói nhỏ thó một cái hôn chào đón thật nồng nhiệt khiến ông ta suýt ngã nhào. “Hẳn là mấy người đói rồi. Trong bếp ê hề thức ăn; cứ tự nhiên tới đó thưởng thức nhé!” Quay sang tôi và Jamie, bà ta bật lùi lại như bị rắn cắn, miệng há hốc nhìn tôi, rồi quay sang Jamie để đợi một lời giải thích.

“Claire,” anh ta nói, hất đầu về phía tôi. “Và bác FitzGibbons,” anh ta nói thêm, hất đầu về phía người kia. “Murtagh bắt được cô ấy vào hôm qua, và cậu Dougal nói chúng cháu phải mang cô ấy theo,” anh ta nói thêm, giải thích rõ rằng anh ta không chịu trách nhiệm với chuyện này.

Bà FitzGibbons khép miệng và nhìn tôi từ đầu đến chân với con mắt đánh giá sắc sảo. Rõ ràng bà ta quyết định rằng dù có vẻ ngoài kỳ quặc và chướng mắt nhưng tôi là người vô hại, vì bà ta mỉm cười - một nụ cười dễ thương, dẫu thiếu mất vài cái răng - và nắm lấy cánh tay tôi.

“Ái chà, Claire. Hoan nghênh cô. Đi với tôi nào, chúng tôi sẽ tìm cho cô một thứ gì đó hơi… hừm.” Bà ta nhìn cái váy ngắn và đôi giày không phù hợp của tôi, lắc lắc đầu.

Bà ta đang phăm phăm dẫn tôi đi thì tôi chợt nhớ ra bệnh nhân của mình.

“Ồ, xin bà chờ một chút! Tôi quên mất Jamie rồi!”

Bà FitzGibbons ngạc nhiên. “Sao vậy, Jamie có thể tự chăm sóc mình. Cậu ấy biết phải lấy thức ăn ở đâu và ai đó sẽ sắp xếp cho cậu ấy một cái giường.”

“Nhưng anh ta đang bị thương. Hôm qua anh ta bị bắn rồi đến đêm lại bị đâm. Tôi đã băng bó tạm vết thương để anh ta có thể cưỡi ngựa, nhưng chưa có thời gian để rửa hay băng bó đúng quy cách. Bây giờ tôi phải làm việc đó ngay trước khi vết thương bị nhiễm trùng.”

“Nhiễm trùng?”

“Vâng, ý tôi là bị viêm nhiễm ấy, vết thương sẽ mưng mủ, sung tấy và gây sốt.”

“Ồ, vâng, tôi hiểu ý cô là gì. Cô nói là cô biết cách xử lý nó? Ra cô là thầy pháp à? Một người Beaton?”

“Đại loại thế.” Tôi chẳng biết Beaton là cái gì, cũng không muốn nói sâu hơn về trình độ y khoa của tôi, khi phải đứng trong màn mưa phùn lạnh lẽo vừa mới bắt đầu rơi. Có vẻ bà FitzGibbons cũng nghĩ vậy nên quay lại gọi Jamie đúng lúc anh ta đang định đi về hướng ngược lại. Bà ta tóm lấy cánh tay anh ta, kéo cả hai chúng tôi vào trong lâu đài.

Sau một hồi đi qua những hành lang hẹp lạnh lẽo được chiếu sáng lờ mờ bởi những ô cửa sổ hẹp, chúng tôi bước vào một căn phòng khá lớn, trong đó có một cái giường, hai cái ghế đẩu, và quan trọng nhất, một lò sưởi.

Tôi tạm thời bỏ bẵng bệnh nhân của mình để tới sưởi ấm hai bàn tay. Bà FitzGibbons, có lẽ đã miễn nhiễm trước cái lạnh, ấn Jamie ngồi xuống một cái ghế đẩu bên lò sưởi và nhẹ nhàng cởi nốt phần còn lại của cái áo sơ mi tơi tả trên người anh ta, rồi choàng cho anh ta một cái chăn ấm áp mà bà lấy từ trên giường xuống. Bà chậc lưỡi trước bờ vai thâm tím và sưng tấy của Jamie, rồi chọc chọc vào lớp vải băng bó sơ sài.

Tôi quay lại từ chỗ lò sưởi. “Tôi nghĩ trước hết cần phải rửa sạch vết thương, sau đó bôi một loại dung dịch nào đó để… để ngăn ngừa các cơn sốt.”

Bà FitzGibbons sẽ là một y tá tuyệt vời. “Cô cần những gì?” Bà chỉ đơn giản hỏi.

Tôi vắt óc suy nghĩ. Chúa ơi, trước khi phát minh ra thuôc kháng sinh thì người ta dùng cái gì để ngăn ngừa nhiễm trùng nhỉ? Thứ đó còn phải có sẵn trong một tòa lâu đài Scotland cổ xưa vào lúc sáng sớm nữa chứ!

“Tỏi!” Tôi đắc ý nói. “Tỏi, và cả cây phỉ nữa, nếu bà có sẵn. Ngoài ra, tôi còn cần vài chiếc khăn sạch và một cái ấm để đun nước.”

“Vâng, tôi nghĩ chúng tôi có thể kiếm được những thứ đó; có lẽ cả một ít liên mộc nữa. Còn trà mần tưới hay cúc La Mã thì sao? Có vẻ như cậu chàng này đã trải qua một đêm dài mệt mỏi.”

Chàng trai trẻ đang lảo đảo vì kiệt sức nên chẳng cất nổi một lời phản đối khi chúng tôi bàn luận về anh ta như thể anh ta là một vật vô tri vô giác.

Bà FitzGibbons mau chóng quay lại với một cái tạp dề đầy những củ tỏi, những túi sa mỏng đựng thảo dược khô và những mảnh vải lanh cũ. Một cái ấm sắt nhỏ màu đen treo trên cánh tay núng nính, và bà cầm cái bình nước cổ hẹp nhẹ nhàng như cầm một sợi lông ngỗng.

“Giờ thì cô muốn tôi làm gì hả cưng?” Bà vui vẻ hỏi. Tôi nhờ bà đun nước và bóc tỏi trong lúc tôi kiểm tra mấy túi thảo dược. Trong số đó có cây phỉ mà tôi đã yêu cầu, cây mần tưới và liên mộc để pha trà, và thứ gì đó mà tôi đoán phỏng là vỏ cây anh đào.

“Thuốc giảm đau,” tôi hân hoan lẩm bẩm, nhớ lại những lời giải thích của ông Crook về tác dụng của những loại vỏ cây và thảo mộc mà chúng tôi tìm thấy. Tốt lắm, chúng tôi sẽ cần thứ đó.

Tôi ném vài nhánh tỏi đã bóc vỏ cùng với vài nhánh phỉ vào nước sôi, rồi bỏ những mảnh vải vào hỗn họp đó. Mần tưới, liên mộc và vỏ cây anh đào thì được trút vào một nồi nước nóng nhỏ đặt bên lò sưởi. Sự chuẩn bị này làm tôi vững tâm đôi chút. Nếu tôi không biết chắc mình đang ở đâu, hay tại sao tôi lại ở đây, thì ít nhất tôi cũng biết mình phải làm gì trong mười lăm phút tới.

“Cảm ơn… ờ, bà FitzGibbons,” tôi kính cẩn nói. “Giờ tôi có thể tự xoay xở được rồi, nếu bà có việc gì khác phải làm.” Bà lão to béo cười lớn, bộ ngực đồ sộ rung lên.

“À! Đúng là tôi còn nhiều việc phải làm! Tôi sẽ bảo người mang cho cô một ít xúp loãng. Nếu cần thêm thứ gì thì cứ gọi tôi nhé!” Bà lạch bạch đi về phía cửa với tốc độ đáng kinh ngạc và biến mất ngoài hành lang.

•••

Tôi tháo những dải băng hết sức cẩn thận. Tuy vậy, miếng vải bằng tơ nhân tạo bị dính chặt vào thịt nên khẽ kêu lách tách khi được gỡ ra. Máu tươi rỉ ra quanh mép vết thương, và tôi xin lỗi vì đã làm anh ta bị đau, dù anh ta không hề động đậy hay kêu rên tiếng nào.

Anh ta khẽ cười, vẻ nịnh đầm. “Đừng lo. Tôi từng bị đau đớn hơn thế này nhiều, mà những kẻ gây thương tích cho tôi còn chẳng được xinh đẹp như cô.” Anh ta chúi về đằng trước để tôi rừa vết thương cho anh ta bằng nước sắc tỏi đun sôi, khiến cái chăn tuột khỏi vai.

Tôi lập tức nhận thấy, cho dù câu nói vừa rồi của anh ta có phải là một lời khen hay không thì nó cũng nêu lên một sự thật: anh ta từng bị thương nặng hơn thế này nhiều. Phần lưng trên của anh ta chằng chịt những vệt trắng mờ, chứng tỏ anh ta từng bị quất roi một cách tàn bạo. Mà không chỉ một lần. Ngoài những lằn sẹo nhỏ bàng bạc ở một vài chỗ, còn có những mảng sẹo lớn tạo thành do những vết roi mới quất chồng lên những vết roi cũ.

Vì từng là y tá trong chiến tranh nên dĩ nhiên tôi đã trông thấy vô số vết thương, nhưng những vết sẹo này thật khủng khiếp. Hẳn là tôi đã hít mạnh vào khi nhìn thấy cảnh tượng ấy, vì anh ta quay đầu và bắt gặp tôi đang nhìn chằm chằm. Anh ta nhún bên vai lành.

“Bọn lưng tôm gây ra đấy! Chúng tra tấn tôi hai lần trong vòng một tuần. Nếu không sợ sẽ làm tôi chết thì có lẽ chúng đã làm thế trong vòng một ngày rồi. Tra tấn một kẻ đã chết thì đâu còn gì thú vị nữa.”

Tôi cố giữ giọng điềm tĩnh khi lau rửa vết thương. “Tôi không nghĩ có người lại coi việc tra tấn là một trò vui.”

“Vậy à? Vậy thì cô nên gặp hắn.”

“Ai cơ?”

“Gã Đại úy Áo đỏ đã lột da lưng tôi. Nếu hắn không vui sướng thì ít nhất cũng rất thỏa mãn. Hơn tôi,” anh ta mỉa mai nói thêm. “Tên hắn là Randall.”

“Randall!” Tôi không giấu nổi nỗi sửng sốt trong giọng nói. Đôi mắt xanh lạnh lùng gắn chặt vào mắt tôi.

“Cô quen gã đó à?” Giọng nói đột nhiên trở nên nghi ngờ.

“Không, không! Tôi từng biết một gia đình có tên như vậy, lâu rồi, ờ, lâu lắm rồi.” Trong cơn căng thẳng, tôi đánh rơi miếng vải lau rửa vết thương.

“Chết tiệt, phải luộc lại nó rồi.” Tôi nhặt nó lên và vội vàng tới lò sưởi, cố gắng che giấu nỗi bối rối bằng sự bận rộn. Gã Đại úy Randall này chính là cụ cố của Frank, người lính có thành tích tốt, dũng cảm trên chiến trường, nhận được nhiều lời khen ngợi của các công tước ư? Làm thế nào mà một người có máu mủ với Frank lịch thiệp, ngọt ngào của tôi lại có thể gây ra những dấu vết kinh hoàng trên lưng chàng trai này chứ?

Tôi cắm cúi bên lò sưởi, thả thêm vài nắm phỉ và tỏi vào ấm, chuẩn bị thêm khăn để luộc. Khi tôi nghĩ mình đã điều chỉnh lại được giọng nói và nét mặt, tôi quay lại bên Jamie, tay cầm mảnh vải đã được luộc lại.

“Tại sao anh bị đánh vậy?” Tôi đột ngột hỏi.

Câu hỏi chẳng tế nhị chút nào, nhưng tôi đang rất muốn biết, mà lúc này tôi đã quá mệt mỏi nên không thể diễn đạt cho lịch thiệp hơn.

Anh ta thở dài, bờ vai bứt rứt dưới sự chăm sóc của tôi. Anh ta cũng mệt mỏi, và hẳn là tôi đang làm anh ta đau, dù tôi đã cố gắng gượng nhẹ.

“Lần đầu là do bỏ trốn, còn lần thứ hai là ăn trộm - hay đúng hơn là họ ghi tội danh của tôi như vậy.”

“Anh bỏ trốn khỏi cái gì vậy?”

“Người Anh,” anh ta nói, nhướng mày mỉa mai. “Nếu ý cô là từ đâu thì là pháo đài William.”

“Tôi đã đoán được là do người Anh,” tôi nói, bắt chước vẻ mỉa mai trong giọng anh ta. “Anh đã làm gì ở pháo đài William?”

Anh ta dùng bàn tay lành lặn xoa xoa trán. “Ôi, việc đó ấy à? Tôi nghĩ là phá rối.”

“Phá rối, bỏ trốn và ăn trộm. Anh có vẻ là một nhân vật nguy hiểm đấy.” Tôi bông đùa, hy vọng khiến anh ta sao nhãng khỏi việc tôi đang làm.

Chí ít nó cũng có chút tác dụng; một bên khóe miệng rộng của anh ta cong lên và con mắt màu xanh sẫm liếc nhìn tôi qua vai.

“Ồ, tôi nguy hiểm thật mà,” anh ta nói. “Chẳng hiểu sao cô lại nghĩ mình an toàn khi ở chung phòng với tôi, mà cô còn là một cô nàng người Anh chứ.”

“Chà, vào lúc này trông anh hoàn toàn vô hại.” Không đúng. Cởi trần, người đầy sẹo và bê bết máu, hai bên má lởm chởm râu và mí mắt sưng đỏ vì cưỡi ngựa cả đêm, trông anh ta chẳng vô hại chút nào. Dù có mệt mỏi hay không, anh ta hoàn toàn có thể làm hại người khác, nếu nhu cầu đó trỗi dậy.

Anh ta bật cười, tiếng cười dễ lây lan và trầm ấm lạ lùng.

“Vô hại như một con bồ câu cảnh,” anh ta đồng ý. “Tôi đói đến nỗi chỉ có thể trở thành mối đe dọa với bữa sáng thôi. Cứ thử để một khay bánh mỳ bắp nướng vỉ gần tầm với của tôi xem, tôi sẽ không chịu trách nhiệm cho những hậu quả đâu. Ối!”

“Xin lỗi,” tôi lẩm bẩm. “Vết đâm sâu quá, lại còn bẩn nữa.”

“Không sao.” Nhưng mặt anh ta đã tái nhợt đi bên dưới bộ râu màu đồng lởm chởm. Tôi cố gắng dẫn dắt anh ta quay lại cuộc trò chuyện.

“Tội phá rối là thế nào vậy?” Tôi bình thản hỏi. “Nó có vẻ không phải tội gì nghiêm trọng.”

Anh ta hít sâu một hơi, quyết tâm gắn chặt mắt vào cái cọc giường được chạm trổ trong lúc tôi lau vết thương sâu hơn.

“À. Tôi cho là người Anh nói thế nào thì nó là thế ấy. Còn với tôi, nó có nghĩa là bảo vệ gia đình và điền sản của tôi, việc đó khiến tôi suýt nữa thì bị giết.” Anh ta mím môi, có vẻ sẽ không nói thêm gì nữa, nhưng một thoáng sau, anh ta lại tiếp tục, như thể đang tìm cách dồn sự chú ý vào bất cứ thứ gì ngoài cái vai của mình.

“Chuyện xảy ra gần bốn năm trước. Các trang viên gần pháo đài William phải gánh một loại thuế - thức ăn cho quân đồn trú, ngựa để đi lại và những thứ tương tự. Chẳng mấy ai thích điều đó, nhưng hầu hết mọi người đều miễn cưỡng nộp thứ mà họ phải nộp. Những toán lính nhỏ sẽ đi xung quanh vùng với một viên sĩ quan chỉ huy và một, hai cỗ xe kéo, thu thập thức ăn và mọi thứ. Một ngày tháng Mười, gã Đại úy Randall đó tới L…” Anh ta bỗng im bặt, liếc mắt về phía tôi, “tới nhà chúng tôi.”

Tôi gật đầu khích lệ, mắt vẫn chăm chú vào công việc.

“Chúng tôi cứ nghĩ chúng sẽ không đi xa đến vậy; nhà tôi cách pháo đài một chặng đường khá dài, và không dễ dàng để mò đến. Nhưng chúng đã tới.”

Anh ta vội nhắm mắt. “Lúc ấy, cha tôi đi viếng đám tang ở trang trại kế bên nên không có nhà. Còn tôi thì ra đồng với hầu hết cánh đàn ông, bấy giờ sắp đến mùa gặt nên có nhiều việc phải làm. Vì vậy chỉ có chị gái tôi ở nhà với hai, ba người hầu nữ, và tất cả bọn họ đều chạy trối chết lên gác để vùi đầu dưới những tấm ga trải giường khi nhìn thấy lũ Áo đỏ. Họ nghĩ đám lính đó do quỷ dữ phái đến - và họ nghĩ vậy cũng không phải là sai.”

Tôi đặt chiếc khăn xuống. Phần khó khăn nhất đã xong; bây giờ tất cả những gì chúng tôi cần là một loại thuốc đắp nào đó - vì thiếu iốt hay penicillin nên đó là điều tốt nhất tôi có thể làm để sát trùng - và băng bó lại thật chặt. Chàng trai trẻ vẫn nhắm mắt, có vẻ không để ý.

“Tôi về nhà qua cổng sau, định tới chuồng gia súc để lấy một bộ yên cương thì nghe thấy tiếng quát tháo và tiếng chị tôi hét lên ở trong nhà.”

“Ồ?” Tôi cố gắng nói thật khẽ để không ảnh hưởng đến mạch kể chuyện của anh ta. Tôi rất muốn biết về gã Đại úy Randall; và câu chuyện này chẳng giúp xóa được ấn tượng ban đầu của tôi về hắn.

“Tôi đi vào bếp và thấy hai tên lính đang vơ vét chạn thức ăn, nhét vào bao tải nào bột, nào thịt xông khói. Tôi đấm vào đầu một tên và ném tên còn lại qua cửa sổ cùng những cái bao tải. Rồi tôi lao xộc vào phòng khách, thấy hai tên Áo đỏ đang ở đó với chị gái tôi, Jenny. Váy của chị ấy đã bị rách một ít, còn một trong hai gã kia thì bị cào xước mặt.”

Anh ta mở mắt và mỉm cười, trông hơi dữ tợn. “Tôi không hỏi han gì mà xông vào chúng luôn. Dù chúng có hai tên nhưng tôi vẫn không bị lép vế. Chúng tôi đang vờn nhau thì Randall bước vào.”

Chi bằng một thủ đoạn đơn giàn là chĩa súng vào đầu Jenny, Randall đã dừng được cuộc chiến. Jamie buộc phải đầu hàng và lập tức bị hai tên lính kia trói lại. Randall mỉm cười duyên dáng, nói: “Chà chà. Hai con mèo ghẻ này hung dữ nhỉ? Ta nghĩ một chút mùi vị khổ sai sẽ trị được thái độ nóng nảy của cậu, nếu không, chà, cậu cần gặp một con mèo khác, có tên là mèo chín đuôi[1]. Nhưng lũ mèo còn lại thì có những cách trừng trị khác, đúng không, con mèo con ngọt ngào của ta?”

Jamie thoáng dừng lại, nghiến răng. “Hắn đang giữ cánh tay bị bẻ quặt ra sau của Jenny, nhưng khi nói đến đó, hắn liền thả chị ấy ra để vòng tay tới đằng trước, thọc vào ngực chị ấy.” Nhớ lại cảnh tượng đó, anh ta bất giác mỉm cười. “Vậy là,” anh ta tiếp tục, “Jenny giẫm lên chân hắn và huých cùi trỏ vào bụng hắn. Khi hắn cúi xuống vì nghẹt thở, chị ấy xoay người lại và thúc mạnh đầu gối vào hạ bộ của hắn.” Anh ta phì cười.

“Hắn đánh rơi khẩu súng, chị ấy vội cúi xuống nhặt, nhưng một trong hai tên lính đang giữ tôi đã nhanh tay hơn.”

Tôi đã băng bó xong và đứng lặng lẽ đằng sau Jamie, đặt tay lên bờ vai lành lặn của anh ta. Có vẻ như anh ta cần kể hết câu chuyện cho tôi nghe, nhưng tôi e rằng anh ta sẽ dừng lại nếu nhớ đến sự hiện diện của tôi.

“Khi đã lấy lại đủ hơi sức để cất tiếng, Randall ra lệnh cho người của mình lôi cả hai chúng tôi ra ngoài. Chúng lột áo tôi, trói tôi vào càng xe kéo, và Randall đánh vào lưng tôi bằng mặt thanh kiếm lưỡi cong. Hắn đang điên tiết nhưng cũng hơi rệu rã. Trận đòn khá đau nhưng không kéo dài lâu.”

Sự thích thú thoáng bộc phát giờ đã biến mất, và bờ vai bên dưới bàn tay tôi căng cứng. “Khi dừng tay, hắn quay sang Jenny, - đang bị một gã kỵ binh giữ lấy - và hỏi chị ấy muốn tiếp tục chứng kiến cảnh tượng vừa rồi hay sẽ đi vào nhà với hắn và dâng cho hắn trò tiêu khiển hay ho hơn?” Bờ vai anh ta co giật, bứt rứt.

“Tôi không cử động được nhiều, nhưng đã hét lên với chị ấy rằng tôi không đau - đúng là tôi không đau lắm - và chị ấy đừng đi với hắn, cho dù chúng có cắt cổ tôi ngay trước mắt chị ấy.

Chị ấy đang ở đằng sau tôi, vì vậy tôi không thể nhìn thấy nhưng nghe thấy chị ấy nhổ vào mặt hắn. Hẳn là chị ấy đã làm vậy, vì ngay sau đó hắn liền tóm lấy tóc tôi, giật ngửa và kề dao vào cổ tôi.”

“Tao sẽ lấy mạng mày như mày muốn,” Randall nghiến răng rít lên và ấn mũi dao nhọn vào cổ Jamie khiến anh ta bị chảy máu.

“Tôi có thể nhìn thấy con dao lù lù ngay sát mặt tôi,” Jamie nói, “và những giọt máu nhỏ xuống lớp bụi đất bên dưới cổ xe.” Giọng anh ta gần như mơ màng, và tôi nhận ra anh ta đã rơi vào trạng thái giống như bị thôi miên vì quá mệt mỏi và đau đớn. Anh ta thậm chí có thể không nhớ ra tôi đang có mặt ở đó.

“Tôi định hét lên rằng tôi thà chết còn hơn để chị ấy bị một kẻ cặn bã làm nhục. Nhưng Randall đã nhấc con dao ra khỏi cổ tôi và nhét lưỡi dao vào giữa hai hàm răng tôi, vì vậy tôi không thể nói gì được.” Anh ta quệt miệng, như thể vị thép đắng ngắt vẫn còn đọng trên đầu lưỡi, nhìn chằm chằm về phía trước.

“Nhưng chuyện gì xảy ra tiếp theo?” Đáng lẽ tôi không nên hỏi, nhưng tôi cần biết.

Anh ta lắc lắc đầu như vừa mới tỉnh ngủ, mệt mỏi đưa bàn tay to lớn lên xoa gáy.

“Chị ấy đã đi với hắn,” anh ta đột ngột nói. “Chị ấy nghĩ hắn sẽ giết tôi. Có lẽ chị ấy nghĩ cũng đúng. Sau đó, tôi không biết gì nữa. Một gã kỵ binh đã đập báng súng vào đầu tôi. Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang bị trói gô vào cỗ xe cùng với lũ gà, lóc xóc đi tới pháo đài William.”

“Tôi hiểu,” tôi khẽ nói. “Tôi rất lấy làm tiếc. Chuyện đó hẳn rất khủng khiếp.”

Anh ta đột nhiên mỉm cười, vẻ mệt mỏi đã tan biến. “Ồ, vâng. Gà là bạn đồng hành rất tệ, đặc biệt là trên một hành trình dài.” Nhận ra mình đã được băng bó xong, anh ta thử khom vai và lập tức nhăn nhó.

“Đừng làm thế!” Tôi cảnh báo. “Anh không được cử động nó. Thật ra,” tôi liếc nhìn cái bàn, để chắc chắn là ở đó vẫn còn vài mảnh vải khô ráo. “Tôi sẽ buộc cánh tay đó lại. Ngồi yên nhé!”

Anh ta không nói gì thêm, nhưng cơ thể thả lỏng hơn một chút khi nhận ra việc đó không hề đau. Tôi có cảm giác thân thuộc đến kỳ quặc với anh chàng người Scot trẻ tuổi xa lạ này, một phần là do câu chuyện đau lòng anh ta vừa kể, một phần là do cả hai đã gà gật nép sát bên nhau cả đêm trên lưng ngựa. Không phải là tôi từng ngủ với nhiều người ngoài chồng tôi, nhưng từ lâu tôi đã nhận ra rằng việc ngủ cùng ai đó theo đúng nghĩa đen quả thực tạo ra cảm giác thân mật, như thể những giấc mơ của ta đã chảy tràn sang và hòa quyện với những giấc mơ của người kia, bao phủ cả hai trong tấm màn thấu hiểu vô thức. Tôi nghĩ điều này cũng gần giống như một sự hồi cổ vậy. Vào những thời kỳ xa xưa hơn (giống như thời kỳ này ư? Một phần khác trong tâm trí tôi hỏi), ngủ chung là một hành động thể hiện sự tin tưởng. Nếu cả hai tin tưởng lẫn nhau, việc ngủ cùng nhau còn mang lại cảm giác gần gũi hơn cả sự chung đụng thể xác.

Sau khi buộc xong cánh tay, tôi giúp anh ta luồn chiếc áo sơ mi qua cái vai bị thương. Anh ta đứng dậy, nhét gấu áo vào trong váy bằng một tay và mỉm cười với tôi.

“Cảm ơn cô, Claire. Cô thật mát tay.” Anh ta giơ tay ra như định chạm vào mặt tôi, nhưng rồi lại nghĩ lại; bàn tay ngập ngừng buông thõng xuống bên sườn. Rõ ràng anh ta cũng cảm thấy sự trào dâng kỳ quặc của cảm giác thân mật đó. Tôi vội nhìn đi chỗ khác, phẩy tay như muốn nói: “Không có gì!”

Tôi liếc nhìn quanh phòng, thấy một cái lò sưởi ám khói đen, những ô cửa sổ hẹp không có kính và đám đồ đạc bằng gỗ sồi rắn chắc. Không có đồ điện. Không có thảm. Không có những cái núm bằng đồng sáng bóng trên khung giường.

Nó quả thực giống một tòa lâu đài vào thế kỷ mười tám. Nhưng còn Frank thì sao? Người đàn ông tôi gặp trong rừng trông giống hệt anh, nhưng hình ảnh của Đại úy Randall qua lời kể của Jamie hoàn toàn khác xa những gì tôi biết về người chồng lịch thiệp, yêu chuộng hòa bình của tôi. Nhưng nếu đó là sự thật - và tôi đang bắt đầu tin như vậy - thì cũng là chuyện bình thường. Ông ta có thể là bất cứ hạng người nào. Một người đàn ông mà tôi chỉ biết tên qua bảng phả hệ không nhất định phải có tư cách đạo đức giống với con cháu của mình.

Người khiến tôi lo lắng lúc này là Frank. Nếu tôi thực sự đang ở thế kỷ mười tám, vậy thì anh ở đâu? Anh sẽ làm gì khi không thấy tôi trở về căn nhà nghỉ của bà Baird? Liệu tôi có còn được gặp lại anh không? Nghĩ đến Frank chính là giọt nước tràn ly. Từ khoảnh khắc bước qua khe nứt của tảng đá và mất đi cuộc sống bình thường, tôi đã bị tấn công, đe dọa, bắt cóc và xô đẩy. Tôi chưa được ăn uống hay ngủ nghỉ hẳn hoi suốt hơn hai mươi tư giờ qua. Tôi cố gắng kiềm chế, nhưng môi run run và mắt thì mọng nước.

Tôi quay về phía lò sưởi để giấu mặt mình, nhưng đã quá muộn. Jamie cầm lấy tay tôi, nhẹ nhàng hỏi han. Ánh lửa lấp lánh trên chiếc nhẫn cưới bằng vàng của tôi, và tôi bắt đầu sụt sịt.

“Ồ, tôi sẽ… tôi sẽ ổn thôi, sẽ ổn thôi, thật đấy, chỉ là… chồng… chồng tôi… tôi không…”

“À, cô là góa phụ à?” Giọng anh ta đầy cảm thông khiến tôi không còn kiềm chế được nữa.

“Không… vâng… ý tôi là, tôi không… vâng, tôi cho là vậy!” Quá xúc động và mệt mỏi, tôi gục vào người anh ta, khóc nức nở.

Anh chàng này thật tinh tế. Thay vì gọi người giúp đỡ hay lùi lại vì bối rối, anh ta ngồi xuống, cánh tay lành ôm chặt tôi trên đùi, nhẹ nhàng đu đưa, khẽ thì thầm vào tai tôi bằng tiếng Gaelic và vuốt tóc tôi. Tôi khóc thổn thức, thoáng đầu hàng trước nỗi sợ hãi và hoang mang, nhưng rồi dần dịu đi khi Jamie xoa cổ và lưng tôi, áp tôi vào bộ ngực rộng ấm áp. Những tiếng nức nở của tôi nhỏ dần và tôi bắt đầu trấn tĩnh lại, mệt mỏi tựa vào hõm vai anh ta. Thảo nào anh ta điều khiển ngựa giỏi như vậy, tôi uể oải nghĩ, cảm nhận những ngón tay anh ta nhẹ nhàng vân vê đằng sau tai tôi và lắng nghe những lời an ủi bằng thứ tiếng mà tôi không tài nào hiểu nổi. Nếu tôi là một con ngựa, tôi sẽ để cho anh ta cưỡi đi bất cứ nơi đâu.

Ý nghĩ kỳ quặc ấy chẳng may lại xuất hiện cùng lúc với phát hiện mới của tôi rằng chàng trai trẻ này không hoàn toàn kiệt sức sau tất cả những gì đã xảy ra. Điều đó đang trở nên rõ ràng đến mức khiến cả hai chúng tôi đều bối rối. Tôi đằng hắng, vừa lấy tay áo lau nước mắt vừa tuột xuống khỏi đùi anh ta.

“Tôi vô cùng xin lỗi… nghĩa là, ý tôi là, cảm ơn anh vì… nhưng tôi…” Tôi lắp bắp, lùi ra xa khỏi anh ta, mặt đỏ bừng. Anh ta cũng hơi đỏ mặt, nhung không hề tỏ ra lúng túng. Anh ta kéo tay tôi lại. Tránh không chạm vào những chỗ khác trên người tôi, anh ta nâng cằm tôi lên và ép tôi nhìn thẳng vào mặt anh ta.

“Cô không cần phải sợ tôi,” anh ta nhẹ nhàng nói. “Hay sợ bất kỳ ai khác ở đây, chừng nào tôi còn ở bên cô.” Anh ta buông tôi ra và quay mặt về phía lò sưởi.

“Cô cần ít xúp nóng, cô gái,” anh ta điềm đạm nói, “và một chút gì đó để ăn. Sự no bụng sẽ có ích hơn bất cứ thứ gì.” Tôi cười rung cả người trước sự loay hoay của anh ta khi rót xúp loãng bằng một tay, và đi tới để giúp. Anh ta nói đúng; thức ăn quả thực có ích. Chúng tôi im lặng húp xúp loãng và ăn bánh mỳ, cùng nhau chia sẻ cảm giác thoải mái do sự ấm áp và no nê mang lại.

Cuối cùng, anh ta đứng dậy, nhặt cái chăn bị rơi trên sàn nhà lên, thả xuống giường và ra hiệu cho tôi. “Cô ngủ một lát đi, Claire. Cô mệt lắm rồi, và chẳng mấy chốc sẽ có người muốn nói chuyện với cô đấy.”

Đây là lời nhắc nhở đáng lo ngại về tình cảnh nguy hiểm của tôi, nhưng tôi mệt đến nỗi chẳng buồn quan tâm. Tôi chỉ từ chối lấy lệ một câu trước lời mời ngủ trên cái giường này; chưa bao giờ tôi thấy thứ gì hấp dẫn đến thế. Jamie quả quyết với tôi rằng anh ta có thể tìm thấy một cái giường ở bất cứ đâu. Tôi ngã chúi vào đống chăn và ngủ thiếp đi trước cả khi anh ta ra tới cửa.

[1] Chỉ cây roi.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.