Sự thân mật khó khăn lắm mới có được của đêm qua dường như đã bốc hơi cùng với sương mai. Vào buổi sáng, chúng tôi thấy khá là ngại ngùng. Sau khi lẳng lặng ăn bữa sáng ở trong phòng, chúng tôi leo lên ngọn đồi nhỏ đằng sau quán trọ, thi thoảng nói với nhau vài lời lẽ lịch sự đầy gượng gạo.
Lên tới đỉnh đồi, tôi ngồi xuống một khúc gỗ để nghỉ ngơi, trong khi Jamie ngồi bệt trên mặt đất cách chỗ tôi vài mét, tựa lưng vào một cây thông non. Một loài chim nào đó đang loạt soạt trong bụi cây đằng sau tôi, chắc là chim sẻ vàng hoặc chim hét. Tôi lắng nghe tiếng nó, ngắm nhìn những đám mây nhỏ bé mịn màng bồng bềnh trôi qua, và suy ngẫm về phép xã giao trong tình cảnh này.
Đúng lúc sự im lặng trở nên nặng nề đến mức không thể chịu nổi nữa, Jamie đột nhiên nói: “Anh hy vọng…” rồi ngừng lại, đỏ bừng mặt. Mặc dù tôi cảm thấy chính tôi mới là người nên đỏ mặt, nhưng tôi vẫn mừng thầm vì ít nhất giữa hai chúng tôi cũng có một người như thế.
“Cái gì cơ?” Tôi khuyến khích anh.
Anh lắc đầu, vẫn đỏ mặt. “Không có gì.”
“Nói đi!” Tôi dè dặt giơ chân huých nhẹ chân anh. “Thành thực, còn nhớ chứ?” Thế là không công bằng, nhưng tôi thực sự không thể chịu đựng hơn nữa những cú hắng giọng và liếc mắt căng thẳng.
Hai bàn tay anh càng siết chặt hơn quanh đầu gối, và anh ngả người ra sau một chút, nhưng ánh mắt vẫn gắn chặt vào tôi.
“Anh đang định nói,” anh khẽ nói, “rằng anh hy vọng người đàn ông đầu tiên có vinh hạnh ăn nằm với em cũng rộng lượng như em đối với anh.” Anh mỉm cười, hơi bẽn lẽn. “Nhưng nghĩ lại thì, nói vậy nghe có vẻ không ổn lắm. Ý anh là… chà, anh chỉ muốn nói là cảm ơn em.”
“Sự rộng lượng chẳng liên quan gì với chuyện đó cả!” Tôi cấm cảu, cụp mắt xuống và quệt lấy quệt để một vết bẩn không tồn tại trên váy. Một chiếc giày lớn huých vào mắt cá chân tôi.
“Chúng ta phải thành thật, đúng không?” Anh nhắc lại, và tôi ngước lên, bắt gặp cái nhướng mày chế giễu bên trên nụ cười tươi rói.
“Chà,” tôi chống chế, “không tính lần đầu tiên.”
Anh cười, và tôi kinh hoàng phát hiện ra rốt cuộc tôi cũng không thể ngăn mình đỏ mặt.
Một cái bóng mát mẻ đổ xuống khuôn mặt nóng bừng của tôi và một đôi tay lớn nắm chắc hai bàn tay tôi, kéo tôi đứng dậy. Jamie chiếm lấy vị trí của tôi trên khúc gỗ và vỗ vỗ vào đầu gối vẻ mời mọc.
“Ngồi đi,” anh nói.
Tôi miễn cưỡng tuân theo, ngoảnh mặt đi. Anh áp tôi vào ngực mình và quấn hai tay quanh eo tôi. Lưng tôi có thể cảm nhận rõ trái tim anh đập nhịp nhàng.
“Nào,” anh nói. “Nếu chúng ta không thể nói chuyện dễ dàng khi không đụng chạm, vậy thì chúng ta sẽ đụng chạm một chút nhé! Hãy nói anh nghe khi nào em lại cảm thấy quen thuộc với anh.” Anh ngửa ra sau để chúng tôi náu trọn mình dưới bóng của một cây sồi, cứ thế ôm chặt tôi mà không nói gì, chỉ thở chậm chạp, khiến tôi cảm nhận được sự nhô lên hạ xuống phập phồng nơi lồng ngực anh và hơi thở anh khuấy động tóc tôi.
“Được,” tôi nói sau một thoáng.
“Tốt.” Anh nới lỏng vòng tay và xoay người tôi đối mặt với anh. Ở khoảng cách gần gũi như thế này, tôi có thể nhìn thấy những sợi râu lún phún màu nâu vàng trên má và cằm anh. Tôi xoa tay lên đó; cảm giác như đang sờ vào lớp vải nhung lông trên một chiếc sofa kiểu cổ, vừa cứng ngắc vừa mềm mại.
“Anh xin lỗi,” anh nói, “sáng nay anh không cạo râu được. Dougal có đưa cho anh một con dao cạo trước đám cưới, nhưng ông ấy đã lấy lại - chắc là để đề phòng anh tự cắt cổ mình sau đêm tân hôn.” Anh nhe răng cười và tôi mỉm cười đáp lại.
Nhắc đến Dougal làm tôi nhớ tới cuộc trò chuyện của chúng tôi đêm qua.
“Em có một điều thắc mắc…” Tôi nói. “Đêm qua, anh nói Dougal và người của ông ấy đón anh ở bờ biển lúc anh từ Pháp về. Tại sao anh lại trở về với ông ấy, thay vì đi về nhà mình hoặc tới lãnh địa của thị tộc Fraser? Ý em là, cái cách Dougal đối xử với anh…” Tôi nói nhỏ dần, ngập ngừng.
“Ồ,” anh nói, đổi tư thế của hai chân. Tôi gần như có thể nghe thấy anh đang suy nghĩ. Anh quyết định khá nhanh chóng.
“Chà, anh cho là em nên biết điều này.” Anh cau mày. “Anh đã kể với em tại sao anh lại trở thành kẻ ngoài vòng pháp luật. Ờ, trong một thời gian sau khi… sau khi rời khỏi pháo đài, anh không quan tâm nhiều lắm… đến bất cứ thứ gì. Cha anh mất trong khoảng thời gian đó, còn chị anh…” Anh lại ngừng lại, và tôi cảm nhận được sự giằng xé trong nội tâm anh. Tôi xoay người lại để nhìn anh. Khuôn mặt thường ngày vui vẻ nay sa sầm lại vì một thứ xúc cảm mạnh mẽ.
“Dougal nói với anh,” anh chậm rãi kể, “Dougal nói với anh rằng… rằng chị anh đã có con. Với Randall.”
“Ôi trời ơi!”
Anh liếc nhìn tôi, rồi lại nhìn đi chỗ khác. Đôi mắt anh long lanh như sa phia và anh vội chớp chớp mắt.
“Anh… anh không thể trở về,” anh nói nhỏ. “Để gặp lại chị ấy, sau những gì đã xảy ra. Còn nữa,” - anh thở dài, rồi mím chặt môi - "Dougal kể với anh rằng chị ấy… sau khi đứa trẻ chào đời, chị ấy… chà, đương nhiên rồi, chị ấy không thể không làm thế; chị ấy chỉ có một mình - mẹ kiếp, anh đã bỏ mặc chị ấy một mình! Dougal nói chị ấy đã qua lại với một tên lính Anh khác thuộc đơn vị đồn trú, nhưng ông ấy không biết kẻ đó là ai.”
Anh nuốt khan rồi tiếp tục với vẻ kiên quyết hơn. “Đương nhiên là anh vẫn gửi về nhà số tiền anh kiếm được, nhưng anh không thể… chà, anh không thể viết thư cho chị ấy. Anh biết nói gì đây?” Anh nhún vai vẻ vô vọng.
“Thế rồi, sau một thời gian, anh bắt đầu mệt mỏi với việc đi lính ở Pháp. Anh nghe bác Alex nói đến một kẻ đào ngũ người Anh tên là Horrocks. Gã đó đã rời khỏi quân đội và phục vụ cho Francis MacLean ở Dunweary. Một hôm, hắn say bét nhè và tiết lộ rằng hắn đã đóng quân ở pháo đài William lúc anh bỏ trốn. Và hắn đã nhìn thấy kẻ bắn viên thượng sĩ vào ngày hôm đó.”
“Vậy là hắn có thể chứng minh thủ phạm không phải là anh!” Có vẻ đây là tin tốt, tôi nói với anh như vậy. Jamie gật đầu.
“Ừ. Mặc dù lời nói của một kẻ đào ngũ có thể không có giá trị lắm. Tuy nhiên, đó là một sự khởi đầu. ít nhất anh sẽ biết thủ phạm là ai. Và mặc dù anh… chà, anh vẫn thấy mình chưa thể trở lại Lallybroch; tuy nhiên, sẽ tốt hơn nếu anh có thể đi lại trên mảnh đất Scotland mà không có nguy cơ bị treo cổ.”
“Vâng, ý nghĩ đó nghe thật tuyệt vời,” tôi hóm hỉnh nói. “Nhưng thị tộc MacKenzie xen vào chuyện này từ lúc nào vậy?”
Câu hỏi đó dẫn đến một sự phân tích phức tạp về các mối quan hệ gia đình và mối liên minh giữa các thị tộc, nhưng khi làn khói mù mờ tan đi, tôi nắm được rằng Francis MacLean có chút dây mơ rễ má gì đó với nhà MacKenzie, và đã chuyển lời của Horrocks tới Colum, vì vậy Colum liền phái Dougal đi bắt liên lạc với Jamie.
“Đó là lý do ông ấy có mặt ở gần chỗ anh bị thương,” Jamie kết thúc câu chuyện. Anh ngừng lại, nheo mắt nhìn mặt trời. “Sau đó, anh đã tự hỏi, liệu có phải chính ông ấy là người làm việc đó không.”
“Dùng rìu đánh anh? Cậu của anh? Tại sao chứ?”
Anh cau mày như thể đang cân nhắc nên nói với tôi chừng nào, rồi nhún vai.
“Anh không rõ em biết bao nhiêu về thị tộc MacKenzie,” anh nói, “mặc dù anh cho rằng em không thể không nghe kể gì về nó khi cưỡi ngựa bên cạnh già Ned Gowan suốt mấy ngày trời. Ông ấy không thể tránh chủ đề đó lâu được.”
Anh gật đầu trước nụ cười đáp lại của tôi. “Chà, em đã chính mắt nhìn thấy Colum rồi đấy. Bất cứ ai cũng có thể thấy rằng ông ấy sẽ không thọ. Và nhóc Hamish mới chưa đầy tám tuổi; thằng bé sẽ không thể lãnh đạo thị tộc trong vòng mười năm tới. Vì vậy, chuyện gì sẽ xảy ra nếu Colum mất trước khi Hamish sẵn sàng?” Anh nhìn tôi, gợi ý.
“Ờ, em nghĩ Dougal sẽ là lãnh chúa,” tôi chậm rãi nói, “chí ít cho đến khi Hamish trưởng thành.”
“Đúng vậy.” Jamie gật đầu. “Nhưng Dougal không giống Colum, và trong thị tộc sẽ có những người không sẵn lòng đi theo ông ấy - nếu có sự lựa chọn thay thế.”
“Em hiểu,” tôi chậm rãi nói, “và anh chính là sự lựa chọn thay thế ấy.”
Tôi nhìn anh thật kĩ và buộc phải thừa nhận rằng khả năng đó khá lớn. Anh là cháu ngoại của cụ Jacob; là người có dòng máu MacKenzie, dù chỉ về đằng mẹ. Một anh chàng cao lớn, điển trai, cân đối, thông minh và có tài chỉ huy. Anh đã chiến đấu ở Pháp và chứng tỏ được khả năng lãnh đạo trong chiến trận; một điều quan trọng đáng cân nhắc. Ngay cả cái án truy nã anh đang mang cũng không phải là chướng ngại không thể vượt qua được - nếu anh là lãnh chúa.
Người Anh đã có đủ rắc rối ở vùng cao nguyên khi liên tục nổ ra các cuộc nổi loạn nhỏ, các vụ đột kích ở vùng biên giới và mâu thuẫn giữa các thị tộc, vì vậy họ sẽ không mạo hiểm buộc tội thủ lĩnh của một thị tộc lớn là kẻ giết người - mà đối với các thành viên trong thị tộc thì việc đó hoàn toàn không được coi là giết người - để rồi gây ra một cuộc nổi dậy nghiêm trọng.
Treo cổ một tộc viên Fraser vô danh tiểu tốt là một chuyện; xông vào lâu đài Leoch và lôi lãnh chúa của thị tộc MacKenzie tới đối mặt với tòa án của Anh lại là một chuyện khác.
“Anh có ý định làm lãnh chúa không nếu Colum qua đời?” Suy cho cùng, đó là một cách thức để thoát khỏi những khó khăn của anh, dù tôi nghi ngờ rằng nó có vô số chướng ngại bao quanh.
Anh thoáng mỉm cười trước ý nghĩ ấy. “Không. Ngay cả khi anh cảm thấy mình có quyền - mà thực chất thì anh không có - việc đó sẽ gây chia rẽ thị tộc, người của Dougal sẽ chống lại những ai có thể theo anh. Anh không thích thứ quyền lực được đánh đổi bằng máu của những người khác. Nhưng Dougal và Colum không thể chắc chắn về điều đó, đúng không? Vì vậy họ có thể nghĩ rằng nếu giết anh thì sẽ an toàn hơn là lãnh lấy mối nguy đó.”
Tôi nhíu mày suy nghĩ. “Nhưng anh có thể nói với Dougal và Colum rằng anh không có ý định… Ồ.” Tôi ngước lên nhìn anh với vẽ kính nể. “Anh đã làm thế. Ở buổi lễ tuyên thệ.”
Lúc ấy tôi đã nghĩ anh xử lý quá tốt một tình huống nguy hiểm; giờ tôi mới thấy nó nguy hiểm đến mức nào. Các thành viên trong thị tộc chắc chắn muốn anh tuyên thệ; còn Colum thì không. Nếu tuyên thệ thì chẳng khác nào tuyên bố anh là một thành viên của thị tộc MacKenzie, và trở thành ứng viên tiềm năng cho vị trí thủ lĩnh. Anh đã phải đối mặt với khả năng bị tra tấn công khai hoặc thậm chí là chết nếu từ chối; còn nếu tuân lệnh, anh cũng có nguy cơ tương tự -nhưng riêng tư hơn.
Nhìn thấy mối nguy ấy, anh đã thận trọng chọn cách tránh xa nghi lễ. Và khi tôi, vì nỗ lực trốn thoát vụng về của mình, dẫn anh trở lại bờ vực thẳm, anh đã vững vàng đặt chân lên một sợi dây vô cùng mỏng manh và bước sang bờ bên kia. Quả là Je suis prest.
Anh gật đầu khi nhìn thấy những ý nghĩ ấy lướt qua trên nét mặt tôi.
“Ừ. Nếu anh tuyên thệ vào tối hôm đó, có khả năng anh sẽ không còn nhìn thấy bình minh nữa.”
Tôi thoáng run rẩy trước ý nghĩ ấy và tự trách mình đã quá ngu ngốc khi đẩy anh vào một tình thế nguy hiểm như vậy. Con dao anh để trên đầu giường bỗng có vẻ là một sự cảnh giác khôn ngoan. Tôi tự hỏi, lúc ở Leoch, đã bao đêm anh phải đi ngủ khi vẫn lăm lăm nắm vũ khí trong tay, đón chờ cái chết ghé thăm?
“Anh luôn mang vũ khí khi ngủ, Sassenach ạ,” anh nói, dù tôi không hề cất tiếng. “Trừ quãng thời gian ở tu viện, đêm qua là lần đầu tiên trong nhiều tháng anh không cầm dao trong lúc ngủ.” Anh nhe răng cười, rõ ràng đang nhớ lại thứ gì đã thay thế cho con dao đó.
“Làm thế nào mà anh biết được em đang nghĩ gì vậy?” Tôi hỏi, lờ đi nụ cười của anh. Anh lắc đầu vẻ hiền hòa.
“Em sẽ là một gián điệp rất tồi, Sassenach. Mọi điều em nghĩ đều hiển hiện trên mặt, rõ như ban ngày. Em đã nhìn vào con dao găm của anh rồi đỏ mặt.” Anh chăm chú nhìn tôi, đầu nghiêng sang một bên. “Đêm qua anh đã đòi hỏi ở em lòng trung thực, nhưng điều đó thực sự không cần thiết; em không thể nói dối.”
“Em vốn nói dối rất dở mà,” tôi cấm cảu. “Vậy em có thể cho rằng chí ít anh không nghĩ em là gián điệp không?”
Anh không trả lời mà nhìn qua vai tôi về phía quán trọ, cơ thể đột nhiên căng cứng như dây cung. Tôi thoáng kinh ngạc, rồi bắt đầu nghe thấy những âm thanh đã thu hút sự chú ý của anh. Tiếng móng guốc thình thịch và tiếng yên cương lanh canh; một nhóm kỵ sĩ khá đông đang đi dọc theo con đường dẫn tới quán trọ.
Jamie khom người, thận trọng tiến tới một chỗ có thể nhìn bao quát con đường đằng sau những bụi cây. Tôi vén váy lên và rón rén theo sau anh hết sức lặng lẽ.
Con đường đột ngột bẻ cong qua một gò đất lổn nhổn đá, rồi nhẹ nhàng uốn lượn tới thung lũng lòng chảo nơi quán trọ tọa lạc. Làn gió ban mai đưa những âm thanh của nhóm người ấy về phía chúng tôi, nhưng mất một, hai phút, con ngựa đầu tiên mới thò mũi vào tầm nhìn.
Đó là một nhóm khoảng hai, ba chục gã đàn ông, chủ yếu mặc quần bó sát bằng da và áo choàng len bằng vải kẻ ô, nhưng có màu sắc và hoa văn đa dạng. Tất cả đều trang bị vũ khí kĩ càng. Mỗi con ngựa đều có ít nhất một khẩu súng hỏa mai được buộc ở yên và một loạt những loại vũ khí khác như súng lục, dao găm và kiếm, chưa kể những món được cất giấu trong những cái túi yên ngựa to tướng trên người bốn con ngựa thồ. Ngoài ra, có sáu người còn dẫn theo những con ngựa không chở gì và không đóng yên.
Mặc dù mang quân trang như đang trong thời chiến nhưng nhóm người này lại có vẻ rất thư thái; họ tán gẫu và cười đùa theo từng nhóm nhỏ, thi thoảng mới có một cái đầu ngẩng lên, cảnh giác nhìn xung quanh. Tôi kìm lại thôi thúc cúi mình xuống khi ánh mắt của một gã lướt qua chỗ chúng tôi ẩn nấp, ánh mắt tìm kiếm sắc sảo ấy có vẻ sẽ phát hiện ra bất cứ cử động nào hoặc ánh mặt trời lấp lánh trên tóc Jamie.
Nghĩ vậy, tôi liền ngước lên nhìn, và phát hiện ra rằng Jamie cũng có ý nghĩ đó; anh đã kéo chiếc áo choàng len trùm qua đầu và vai, do đó mẫu hoa văn xỉn màu của chiếc áo đi săn khiến anh trông như một phần của lùm cây. Khi người cuối cùng rẽ vào sân quán trọ, Jamie thả chiếc áo choàng len xuống và ra hiệu cho tôi quay trở lại con đường dẫn lên đồi.
“Anh có biết họ là ai không?” Tôi hổn hển hỏi khi theo anh lên bãi thạch nam.
“Ồ, có.” Jamie đi trên con đường dốc như một chú dê núi, không hề hụt hơi hay chậm một nhịp bước. Liếc nhìn lại, thấy tôi leo đồi khá vất vả, anh bèn dừng chân, chìa tay giúp tôi.
“Đó là đội tuần phòng,” anh nói, hất đầu về phía quán trọ; “Chúng ta đủ an toàn, nhưng anh nghĩ chúng ta nên tránh xa một chút”.
Tôi đã nghe nói về Đội Tuần Phòng Hắc Ám nổi tiếng, lực lượng cảnh sát không chính thức chuyên giữ gìn trật tự ở vùng cao nguyên, và cũng nghe nói còn có những đội tuần phòng khác chuyên đi tuần tra lãnh địa của mình, thu thập “tiền quyên góp” từ các khách hàng để bảo vệ tài sản và gia súc cho họ. Các khách hàng nào khất nợ thì nên coi chừng, vì có thể vào một buổi sáng nào đó, khi thức dậy, họ sẽ thấy đàn vật nuôi của mình đã biến mất hết chỉ sau một đêm, không còn chút tăm tích. Tôi bỗng thấy hoảng hốt.
“Không phải là họ đang đi tìm anh đấy chứ?”
Anh giật mình nhìn lại như thể tưởng rằng những người đàn ông đó đang bò lên đồi để đuổi bắt mình, nhưng chẳng có ai cả, rồi anh quay sang nhìn tôi, nở nụ cười nhẹ nhõm và quàng tay quanh eo tôi để giúp tôi đi tiếp.
“Không, anh không nghĩ vậy. Mười đồng bảng Anh không đủ để lôi cuốn cả đống người như thế săn lùng anh. Và nếu họ biết anh ở quán trọ, họ sẽ không trống dong cờ mở kéo cả đoàn đến thẳng cửa chính.” Anh lắc đầu dứt khoát. “Không, nếu họ đang tìm kiếm ai, họ sẽ cắt cử người đến canh gác ở đằng sau nhà và các cửa sổ trước khi tới cửa chính. Có lẽ họ chỉ ghé vào đó để nghỉ ngơi thôi.”
Chúng tôi tiếp tục leo lên đồi, băng qua chỗ con đường mòn biến mất trong những lùm kim tước và thạch nam. Chúng tôi đang ở giữa rặng đồi thấp dưới chân núi, và các tảng đá hoa cương vươn cao quá đầu Jamie, nhắc tôi nhớ đến những cột đá ở Craigh na Dun.
Thế rồi chúng tôi cũng lên đến đỉnh đồi, những ngọn đồi xung quanh đều dốc đến nghẹt thở và phủ đầy cây xanh. Hầu hết mọi nơi trên vùng cao nguyên đều tạo cho tôi cảm giác được vây quanh bởi những rặng cây, tảng đá hoặc đồi núi, nhưng ở đây chúng tôi được phơi mình trước những luồng gió tươi mát và những tia nắng của vầng mặt trời đã ló dạng như thể chúc mừng cuộc hôn nhân dị giáo của chúng tôi.
Tôi được trải nghiệm một cảm giác tự do đầy phấn khích khi thoát khỏi sự chi phối của Dougal và sự bầu bạn tù túng của quá nhiều người đàn ông. Tôi muốn dụ dỗ Jamie bỏ trốn và dẫn tôi theo, nhưng lý trí đã chiến thắng. Chúng tôi không có tiền hay thức ăn ngoài bữa trưa mà anh mang theo trong cái túi da. Chắc chắn chúng tôi sẽ bị truy đuổi nếu không quay lại quán trọ vào lúc mặt trời lặn. Và mặc dù Jamie có thể leo qua những tảng đá cả ngày mà không đổ một giọt mồ hôi hay bị hụt hơi, nhưng tôi thì không được dẻo dai như thế. Nhận thấy mặt tôi đỏ bừng, anh dẫn tôi tới một tảng đá và ngồi xuống cạnh tôi, thư thái nhìn về phía những ngọn đồi xung quanh trong lúc đợi tôi lấy lại hơi sức. Ở đây, chúng tôi chắc chắn được an toàn.
Nghĩ về đội tuần phòng, tôi lập tức chạm vào cánh tay Jamie.
“Em rất mừng vì anh không đáng giá lắm,” tôi nói.
Anh nhìn tôi trong một thoáng, xoa xoa cái mũi khiến nó bắt đầu đỏ ửng.
“Chà, anh có thể hiểu câu nói của em theo vài cách khác nhau, Sassenach, nhưng trong hoàn cảnh này,” anh nói, “cảm ơn em.”
“Em nên cảm ơn anh mới đúng,” tôi nói, “vì đã lấy em. Em phải nói rằng em thà ở đây còn hơn là ở pháo đài William.”
“Cảm ơn quý cô vì lời khen đó, thưa quý cô,” anh nói, khẽ cúi đầu. “Anh cũng vậy. Và nhân lúc chúng ta đang tíu tít cảm ơn nhau,” anh nói thêm, “anh cũng nên cảm ơn em vì đã lấy anh.”
“Ờ, chà…” Tôi lại đỏ mặt.
“Không chỉ vì chuyện đó, Sassenach,” anh nói, nụ cười nở rộng hơn. “Dù chắc chắn nó cũng là một lý do. Anh cho là em đã cứu mạng anh, ít nhất là trong chừng mực có liên quan đến thị tộc MacKenzie.”
“Ý anh là gì?”
“Mang nửa dòng máu MacKenzie là một chuyện,” anh giải thích. “Mang nửa dòng máu MacKenzie và có một cô vợ người Anh lại là một chuyện khác. Một cô gái Sassenach sẽ không có nhiều cơ hội để trở thành phu nhân của Leoch, cho dù các thành viên trong thị tộc có thể nghĩ đến việc đưa anh lên làm lãnh chúa khi anh còn độc thân. Đó là lý do Dougal chọn anh là người kết hôn với em.”
Anh nhướng một bên lông mày màu hung trong ánh nắng mai. “Anh hy vọng em không thích Rupert hơn?”
“Không, em không thích ông ta,” tôi nhấn mạnh.
Anh phì cười và đứng dậy, phủi những gai lá thông ra khỏi váy.
“Chà, mẹ anh nói với anh rằng vào một ngày đẹp trời, anh sẽ được một cô gái lựa chọn.” Anh giơ tay giúp tôi đứng dậy.
“Anh đã nói với bà,” anh tiếp tục, “rằng anh nghĩ việc lựa chọn là của đàn ông.”
“Vậy mẹ anh nói gì?” Tôi hỏi.
“Bà đảo mắt và nói: “Rồi con sẽ biết, thằng trống choai của mẹ, rồi con sẽ biết.”“ Anh cười. “Và giờ thì anh đã thấy rồi.”
Anh ngước nhìn ánh mặt trời lọt qua những tán lá thông nhọn, trông giống như những sợi chỉ màu vàng chanh.
“Và hôm nay là một ngày tươi đẹp. Đi nào, Sassenach. Anh sẽ đưa em đi câu cá.”
Chúng tôi đi sâu hơn vào trong rặng đồi. Lần này, Jamie chuyển hướng sang phía bắc, đi qua một bãi đá lộn xộn và chui qua một khe hở, bước vào trong một thung lũng hẹp nhỏ xíu, hai bên là những vách đá và cây cối rậm rạp, với tiếng nước ùng ục phát ra từ dòng suối được tạo thành bởi một tá ngọn thác nhỏ ầm ầm đổ xuống hẻm núi.
Chúng tôi ngồi khua chân trong làn nước, di chuyển từ bóng râm ra ngoài nắng rồi lại trở lại bóng râm khi người bắt đầu nóng, tán gẫu đủ thứ chuyện trên trời dưới bể, để ý đến từng động tác nhỏ nhất của nhau, vui vẻ chờ đợi khoảnh khắc một ánh mắt nán lại và một cái đụng chạm báo hiệu cho điều gì đó hơn thế.
Jamie chỉ cho tôi cách nhử cá hồi phía trên một khúc suối lốm đốm nắng. Để tránh những nhành cây sà thấp trên đầu, anh bước lom khom dọc theo một gờ đá nhô ra ngoài, hai cánh tay dang ra để giữ thăng bằng. Đi được nửa chừng, anh cẩn thận xoay người trên tảng đá và vẫy tôi đi theo.
Tôi đã xắn váy lên từ lúc đi trên con đường gồ ghề dẫn tới đây nên lúc này có thể đi lại dễ dàng. Chúng tôi nằm duỗi dài người trên tảng đá lạnh, đầu chụm vào nhau, nhòm xuống mặt nước, những nhành liễu gai cọ vào lưng chúng tôi.
“Tất cả những gì cần làm,” anh nói, “là lựa chọn một địa điểm tốt rồi chờ đợi.” Anh thọc bàn tay xuống suối nhưng không làm nước bắn tóe lên, và cứ để nó ở yên dưới đáy cát, ngay bên ngoài cái bóng tối sẫm của gờ đá in trên mặt nước. Những ngón tay dài hơi co lại, bị nước làm cho méo mó, trông như đang nhẹ nhàng đung đưa qua lại tựa những chiếc lá của một loài thực vật thủy sinh, dù nhìn vào những thớ cơ trên cẳng tay anh, có thể thấy rõ bàn tay anh không hề cử động. Cánh tay anh đột ngột gâp khúc ở chỗ tiếp xúc với mặt nước, giống như bị chệch khớp lúc tôi gặp anh lần đầu tiên, hơn một tháng trước - Chúa ơi, chỉ mới một tháng thôi ư?
Gặp gỡ được một tháng, kết hôn được một ngày. Bị trói buộc bởi những lời thề và máu huyết. Và cả tình bạn nữa. Khi đến thời điểm phải ra đi, tôi hy vọng mình sẽ không làm anh quá đau lòng. Tôi thấy mừng vì lúc này tôi không cần nghĩ về chuyện đó; chúng tôi đang ở xa Craigh na Dun, và chưa có cơ hội để trốn thoát khỏi Dougal.
“Hắn đây rồi.” Giọng nói của Jamie nghe không hơn gì một hơi thở; anh đã nói với tôi rằng cá hồi có đôi tai rất thính.
Từ góc nhìn của tôi, con cá hồi chỉ giống như sự khuấy động của mặt cát lốm đốm. Sâu trong bóng tối của tảng đá, những chiếc vảy của nó không hề óng ánh. Chỉ thấy những vết lấm chấm di chuyển trên những vết lấm chấm nhờ những cái vây trong suốt quạt qua quạt lại. Những con cá tuế nãy giờ tụ lại, tò mò rỉa lớp lông trên cổ tay Jamie đã lao bắn ra vùng nước sáng.
Một ngón tay từ từ gập lại, chậm đến nỗi khó mà nhìn ra cử động của nó. Tôi chỉ nhận thấy nó di chuyển nhờ sự thay đổi vị trí của nó so với các ngón tay khác. Rồi một ngón nữa chầm chậm gập lại. Sau một lúc lâu, lại thêm một ngón nữa.
Tôi hầu như không dám thở, trái tim đang áp trên tảng đá lạnh đập còn nhanh hơn cả nhịp hô hấp của con cá. Các ngón tay lại chầm chậm xòe ra, từng ngón một, và làn sóng thôi miên lại bắt đầu, một ngón tay, một ngón tay, rồi lại thêm một ngón tay nữa, sự cử động uyển chuyển hệt như một cái vây cá.
Như thể bị thu hút bởi chuyển động chậm chạp ấy, mũi của con cá hồi hếch lên, miệng và mang khẽ cử động theo nhịp hô hấp, lớp mang màu hồng hiện ra, biến mất rồi lại hiện ra và biến mất khi nắp mang nhịp nhàng mở ra rồi đóng lại.
Cái miệng của nó há ra đớp đớp nước. Hầu hết cơ thể của nó đã ra khỏi tảng đá, lơ lửng trong nước, nhưng vẫn còn ở trong bóng tối. Con mắt đờ đẫn đưa qua đưa lại.
Thêm hai, ba phân nữa là những cái nắp mang phập phồng ấy tới chỗ những ngón tay vẫy xảo trá. Tôi nhận ra mình đang bám chặt tảng đá bằng cả hai tay, áp mạnh má vào mặt đá hoa cương, như thể làm thế tôi có thể khiến mình ẩn nấp kín đáo hơn.
Chuyện xảy ra đột ngột như một vụ nổ, nhanh đến nỗi tôi không kịp nhìn rõ điều gì. Chỉ thấy nước bắn tung tóe lên tảng đá cách mặt tôi vài phân, bóng cái áo choàng len của Jamie nhoáng qua khi anh lăn người trên tảng đá phía trên tôi, và tiếng cơ thể con cá đập cái bịch vào bờ suối phủ đầy lá.
Jamie nhảy từ trên gờ đá xuống khúc suối cạn, bì bõm lội tới lấy chiến lợi phẩm trước khi con cá đang bất tỉnh có thể nhảy trở lại “thánh đường nước” của nó. Anh tóm lấy đuôi con cá, thành thạo quật nó vào một tảng đá, giết chết nó ngay lập tức rồi lội về để khoe thành quả với tôi.
“Một con cá to,” anh tự hào nói, giơ ra con cá rắn chắc dài khoảng ba mươi lăm centimet. “Đủ cho bữa sáng.” Anh nhoẻn miệng cười, người ướt tới đùi, tóc lòa xòa trên mặt, áo sơ mi loang lổ nước và dính những chiếc lá úa. “Anh đã nói sẽ không để em bị đói mà.”
Anh quấn con cá hồi trong nhiều lớp lá ngưu bàng và bùn lạnh. Rồi anh rửa tay trong làn nước lạnh giá của con suối và trèo lên tảng đá, đưa cho tôi cái gói được quấn gọn gàng.
“Có thể đây là một món quà cưới kỳ cục,” anh hất đầu về phía con cá hồi, “nhưng không phải là không có tiền lệ, theo cách nói của Ned Gowan.”
“Có tiền lệ tặng cá cho người vợ mới cưới ư?” Tôi thích thú hỏi.
Anh cởi tất ra và phơi chúng trên tảng đá để hong khô dưới ánh mặt trời. Những ngón chân dài của anh vui vẻ ngọ nguậy dưới nắng ấm.
“Đó là một bài tình ca cổ từ vùng Isles. Em có muốn nghe không?”
“Đương nhiên là có. Ờ, bằng tiếng Anh, nếu có thể,” tôi nói thêm.
“Ồ, được thôi. Anh không biết hát, nhưng anh sẽ đọc lời cho em nghe.” Và anh vén tóc ra khỏi mắt, ngâm nga:
“Nàng, con gái vị vua của những tòa nhà sáng rực,
Vào đêm trước hôm đám cưới của chúng ta,
Nếu tôi là người đàn ông sống ở Duntulm,
Tôi sẽ đến dâng tặng nàng những món quà.
Nàng sẽ nhận được một trăm con lửng, cư dân ở các bờ bãi,
Một trăm con rái cá màu nâu, cư dân của những dòng suối,
Một trăm con cá hồi bạc, nhảy lên từ những vực nước…”
Tiếp đó là một danh sách dài dằng dặc các loài động thực vật của vùng Isles. Nhìn anh ngâm nga, tôi ngẫm nghĩ về sự kỳ quặc của việc ngồi trên một tảng đá bên một con suôi nhỏ ở Scotland, lắng nghe những bản tình ca Gaelic, với một con cá chết to tướng trong lòng. Kỳ quặc hơn là tôi thực sự đang rất thích thú.
Khi anh đọc xong, tôi vỗ tay, kẹp con cá hồi giữa hai đầu gối.
“Ồ, em thích bài đó! Đặc biệt là câu “Tôi sẽ đến dâng tặng nàng những món quà.” Anh ta có vẻ là một người tình rất nồng nhiệt.”
Jamie cười tươi rói, hai mắt nhắm lại trước ánh mặt trời. “Anh cho là anh có thể thêm vào một dòng của chính mình: “Anh sẽ nhảy xuống những khe suối vì em.”“
Chúng tôi cùng cười rồi im lặng trong một lúc, phơi mình dưới ánh nắng ấm áp đầu hè. Nơi đây rất bình yên, không có lấy một âm thanh nào khác ngoài tiếng nước chảy róc rách. Hơi thở của Jamie đã đều trở lại. Tôi nhận thấy rõ sự phập phồng ở ngực anh và mạch đập chậm rãi nơi cổ anh. Anh có một vết sẹo nhỏ hình tam giác, ngay ở hõm cổ.
Lại bắt đầu thấy e dè và căng thẳng, tôi giơ tay nắm chặt tay anh, hy vọng sự tiếp xúc này sẽ đem lại cảm giác thoải mái giữa hai chúng tôi. Anh choàng cánh tay quanh vai tôi, nhưng chỉ khiến tôi cảm nhận được những đường nét rắn chắc của cơ thể anh bên dưới lần áo mỏng, tôi rụt lại, giả vờ nhổ một khóm thiên trúc quỳ có hoa màu hồng mọc lên từ một kẻ nứt trên tảng đá.
“Nó trị chứng đau đầu rất hiệu quả,” tôi giải thích, nhét chúng vào thắt lưng.
“Em khó chịu vì điều đó,” anh nói, nghiêng đầu nhìn tôi chăm chú. “Anh không nói đến chứng đau đầu. Mà là Frank. Em đang nghĩ đến anh ta, vì thế em thấy khó chịu khi anh chạm vào em bởi vì em không thể nghĩ đến cả hai bọn anh cùng một lúc. Đúng không?”
“Anh thật nhạy cảm,” tôi kinh ngạc nói. Anh mỉm cười, nhưng không chạm vào tôi nữa.
“Không khó khăn gì để suy ra được điều đó. Khi chúng ta cưới nhau, anh biết rằng thi thoảng em sẽ không kìm được mà nghĩ về anh ta, cho dù em có muốn hay không.”
Vào lúc này thì tôi không nghĩ đến Frank, nhưng anh nói đúng; tôi không thể kìm lòng được.
“Anh có giống anh ta không?” Anh đột nhiên hỏi.
“Không.”
Kỳ thực, khó mà tưởng tượng ra một sự tương phản nào lớn hơn. Frank mảnh khảnh, mềm dẻo và có mái tóc sẫm màu, trong khi Jamie to lớn, mạnh mẽ và có mái tóc rực rỡ như một tia nắng màu hung đỏ. Mặc dù cả hai người đều có vóc dáng săn chắc như của một vận động viên, nhưng Frank giống một vận động viên tennis, còn Jamie thì có cơ thể của một chiến binh, được hình thành - và trui rèn - bởi sự mài giũa của nghịch cảnh. Frank cao hơn tôi suýt soát chục phân. Còn khi đứng đối diện với Jamie, mũi tôi vừa vặn khít với cái hõm nhỏ ở giữa ngực anh, và cằm anh có thể dễ dàng đặt lên đỉnh đầu tôi.
Hai người đàn ông ấy không chỉ khác nhau về hình thể, họ còn cách biệt gần mười lăm năm tuổi tác. Đó có thể là lý do cho chút khác biệt giữa sự dè dặt, lịch sự của Frank và sự cởi mở, bộc trực của Jamie. Là một người tình, Frank tinh tế, tỉ mỉ, chu đáo và khéo léo. Còn Jamie, do thiếu kinh nghiệm hoặc giả vờ như vậy, anh chỉ đơn giản cho tôi tất cả con người anh, không chút đắn đo. Và phản ứng của tôi với điều đó làm tôi hoàn toàn bối rối.
Jamie đang quan sát sự giằng xé của tôi với vẻ cảm thông.
“Chà, thế thì, có vẻ như anh có hai sự lựa chọn trong vấn đề này,” anh nói. “Anh có thể để em suy nghĩ ủ ê về nó, hoặc…”
Anh cúi xuống, nhẹ nhàng đặt môi lên môi tôi. Tôi đã hôn nhiều người đàn ông, đặc biệt là trong những năm chiến tranh, khi sự tán tỉnh và những mối tình chớp nhoáng là người bạn đồng hành của cái chết và tình cảnh bấp bênh. Nhưng Jamie thật khác biệt. Sự dịu dàng tột độ của anh không hề mang vẻ thăm dò; nó giống như sự hứa hẹn về một thứ sức mạnh được ý thức và kiểm soát chặt chẽ; một sự thách thức và khiêu khích không có tính đòi hỏi. Anh là của em, nụ hôn ấy như muốn nói. Nếu em đón nhận anh, vậy thì…
Miệng tôi mở ra, hoàn toàn đón nhận cả sự hứa hẹn và thách thức ấy mà không cần đắn đo suy nghĩ. Sau một lúc lâu, anh ngẩng lên và mỉm cười với tôi.
“Hoặc, anh có thể cố gắng làm em phân tâm,” anh kết thúc.
Anh áp đầu tôi vào ngực anh, vuốt ve tóc tôi và vén lại những sợi tóc xoăn lòa xòa quanh tai tôi.
“Anh không biết liệu nói thế này có giúp gì được cho em không,” anh khẽ nói, “quả là một điều kỳ diệu với anh khi biết rằng anh có thể làm em thỏa mãn - rằng cơ thể em có thể bị kích thích trước cơ thể anh. Trước kia, anh chưa từng nghĩ tới một điều như thế.”
Tôi hít sâu một hơi trước khi đáp lời. “Vâng,” tôi nói. “Em nghĩ câu nói ấy đã giúp được em.”
Chúng tôi lại im lặng trong một lúc lâu. Cuối cùng, Jamie rụt lại và nhìn tôi, mỉm cười.
“Anh đã nói với em là anh không có tiền, cũng chẳng có tài sản gì rồi chứ, Sassenach?”
Tôi gật đầu, lòng băn khoăn tự hỏi không biết anh có ý gì.
“Đáng lẽ anh phải cảnh báo em rằng chúng ta có thể phải ngủ trên những đống cỏ khô, chẳng có gì để nhét vào bụng ngoài bia thạch nam và drammach.”
“Em không bận tâm đâu,” tôi nói.
Anh hất đầu về phía một khe hở trong rặng cây, mắt vẫn không rời khỏi tôi.
“Quanh anh không có đống cỏ khô nào, nhưng ở ngoài kia có một vạt dương xỉ diều hâu tươi non. Nếu em muốn, hãy tới đó…?”
•••
Một lát sau, tôi vuốt ve lưng anh, tấm lưng ẩm ướt vì gắng sức và dính phải nhựa của những cây dương xỉ bị nghiền nát.
“Nếu anh nói cảm ơn một lần nữa, em sẽ tát anh đấy,” tôi nói.
Nhưng đáp lại tôi chỉ là một tiếng ngáy nhẹ nhàng. Một cây dương xỉ quệt qua má anh và một con kiến tò mò bò ngang qua bàn tay anh, khiến những ngón tay dài co lại trong giấc ngủ.
Tôi búng nó đi và nằm chống một bên khuỷu tay, ngắm nhìn anh. Anh đang nhắm mắt nên có thể thấy lông mi anh khá dài và dày, nhưng có màu thật kỳ cục; ở ngọn là màu nâu vàng sẫm, nhưng ở chân lại rất nhạt, gần như vàng hoe.
Miệng anh trong lúc ngủ không còn nét cứng rắn. Mặc dù khóe môi vẫn hơi nhích lên hóm hỉnh nhưng môi dưới lại trễ xuống, trông vừa gợi cảm vừa ngây thơ.
“Chết tiệt,” tôi khẽ lẩm bẩm.
Tôi đã chống cự lại điều này trong một thời gian. Trước cuộc hôn nhân kỳ quặc của chúng tôi, tôi đã ý thức rõ sự hấp dẫn của anh. Đây cũng không phải chuyện gì mới mẻ, nó hẳn đã xảy ra với hầu hết mọi người. Ta đột nhiên trở nên nhạy cảm trước sự hiện diện, sự xuất hiện của một người đàn ông hay một người phụ nữ đặc biệt. Ta có thôi thúc dõi mắt theo anh ta, sắp xếp những cuộc gặp “tình cờ” nho nhỏ, nhìn trộm khi anh ta làm việc, để ý đến từng chi tiết nhỏ trên cơ thể anh ta - chẳng hạn như xương bả vai bên dưới lớp vải áo, những khớp xương gồ lên ở cổ tay, làn da mềm mại bên dưới quai hàm lún phún chân râu.
Sự “say nắng”. Đó là chuyện phổ biến giữa y tá và bác sĩ, y tá và bệnh nhân, giữa bất cứ nhóm người nào bị đẩy vào nhau trong một khoảng thời gian dài.
Vài người hành động theo bản năng, dẫn đến những mối tình chóng vánh, mãnh liệt. Nếu họ may mắn, mối tình ấy bùng cháy trong vài tháng rồi tắt lụi và chẳng để lại hậu quả gì. Nếu không may… Ối chà. Mang thai, ly dị, thi thoảng còn có trường hợp mắc bệnh hoa liễu. Sự “say nắng” ấy thật nguy hiểm.
Tôi cũng từng vài lần có cảm giác ấy nhưng đủ lý trí để không đi xa hơn. Và như thường lệ, sau một thời gian, sự hấp dẫn đã giảm bớt, người đàn ông kia mất đi vầng hào quang rực rỡ và quay trở lại vị trí bình thường trong cuộc đời tôi, không gây hại gì cho anh ta, tôi hay Frank.
Còn bây giờ. Tôi bị buộc phải thuận theo sự say nắng đó. Và chỉ có Chúa mới biết hành động này có thể gây ra hậu quả gì. Nhưng tôi đã không còn đường quay lại.
Anh nằm sấp, chân tay dang rộng thoải mái. Ánh mặt trời lấp lánh trên mái tóc đỏ của anh và chiếu sáng những sợi lông to mềm mại gợn lên nhấp nhô dọc theo sống lưng anh, trải dài xuống tận mông và đùi.
Tôi ngồi dậy, chăm chú nhìn cặp chân dài với những bắp cơ săn chắc. Lòng bàn chân anh phẳng và có màu hồng, hơi chai vì đi chân trần.
Những ngón tay tôi bứt rứt muốn lần theo đường nét cái tai nhỏ gọn và quai hàm góc cạnh của anh. Chà, dù sao thì sự cũng đã rồi, có muốn kìm lại cũng chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Bây giờ tôi có làm gì thì cũng chẳng thể khiến mọi chuyện tồi tệ hơn đối với cả hai chúng tôi. Nghĩ vậy, tôi vươn tay ra và nhẹ nhàng chạm vào anh.
Anh ngủ không sâu. Với một cú lật người đột ngột khiến tôi giật nẩy mình, anh chống hai khuỷu tay như thể định bật dậy. Nhìn thấy tôi, anh dịu đi, mỉm cười.
“Quý cô à, cô đã đẩy tôi vào thế bất lợi.”
Anh cúi đầu lịch thiệp dù vẫn đang nằm xoài trên một trảng dương xỉ, chẳng có gì trên người ngoài một vài đốm nắng lấm chấm, khiến tôi cười phá lên. Nụ cười trên mặt anh thay đổi khi anh nhìn tôi khỏa thân giữa đám dương xỉ. Giọng anh đột nhiên khàn khàn.
“Thực tế thì, thưa quý cô, tôi phó mặc thân mình cho quý cô định đoạt”
“Thật không?” Tôi khẽ nói.
Anh không cử động khi tôi vươn tay ra lần nữa và chầm chậm lướt bàn tay dọc theo má và cổ anh, rồi lần theo độ dốc của bờ vai anh xuống dưới. Anh nhắm mắt lại.
“Chúa ơi,” Anh thốt lên, hít vào một hơi thật mạnh.
“Đừng lo,” tôi nói. “Em sẽ không thô bạo đâu.”
“Ơn Chúa!”
“Yên nào!”
Các ngón tay anh cắm sâu vào lớp đất dễ vỡ vụn, nhưng anh vẫn ngoan ngoãn tuân theo lời tôi.
“Làm ơn,” sau một lúc, anh nói. Tôi liếc nhìn lên, thấy hai mắt anh đang mở.
“Không,” tôi thích thú nói. Anh lại nhắm mắt lại.
“Em sẽ phải trả giá vì chuyện này,” lát sau, anh nói. Một giọt mồ hôi ánh lên trên sống mũi thẳng băng của anh.
“Thật sao?” Tôi nói. “Anh định làm gì?”
Hai cánh tay anh nổi gân xanh khi anh áp chặt lòng bàn tay vào đất, và anh gắng sức nói, như thể hai hàm răng đang nghiến chặt.
“Anh không biết, nhưng… vì Chúa và Thánh Agnes… anh sẽ… ng-nghĩ ra t-thứ gì đó! Chúa ơi! Làm ơn!”
“Được rồi,” tôi nói, buông anh ra.
Anh lập tức lăn lên người tôi, ấn tôi xuống đám dương xỉ, khiến tôi thốt ra một tiếng thét nhỏ.
“Đến lượt em,” anh nói, với sự hả hê thỏa mãn.
•••
Chúng tôi lên đường trở về quán trọ vào lúc hoàng hôn, và ngừng lại một lát ở đỉnh đồi để kiểm tra xem lũ ngựa của đội tuần phòng có còn được buộc ở bên ngoài không.
Quán trọ trông đầy vẻ chào đón, ánh đèn đã tỏa ra qua các ô cửa sổ bé nhỏ và những khe hở trên các vách tường. Tia nắng cuối cùng dịu dàng chiếu rọi từ đằng sau chúng tôi, khiến mọi thứ trên sườn đồi hắt xuống một cái bóng dài gấp đôi. Cơn gió nhẹ nổi lên mang theo hơi lạnh, và đám lá cây rung rinh tạo ra vô số cái bóng nhảy múa trên mặt cỏ. Tôi dễ dàng tưởng tượng ra trên đồi có những nàng tiên đang khiêu vũ với những cái bóng đó, rồi luồn lách qua những thân cây mảnh mai để hòa mình vào sự thẳm sâu của khu rừng.
“Dougal cũng chưa về,” tôi nhận xét khi chúng tôi đi xuống đồi. Con ngựa thiến màu đen to lớn mà ông ta quen cưỡi không có ở trong bãi giữ ngựa nhỏ của quán trọ. Vài con khác cũng không thấy đâu, chẳng hạn như con ngựa của Ned Gowan.
“Chưa. Ít nhất phải một, hai ngày nữa ông ấy mới quay lại.” Jamie chậm rãi dìu tôi xuống đồi, cẩn thận bước qua vô số hòn đá nhô lên trên lớp cỏ ngắn.
“Ông ấy đi đâu vậy?” Bị cuốn theo luồng sự kiện dồn dập xảy đến gần đây, tôi đã không nghĩ tới chuyện hỏi thăm về sự vắng mặt của ông ta - thậm chí còn chẳng để ý đến.
Jamie dẫn tôi đi qua bục trèo[1] ở đằng sau quán trọ.
“Đi làm công chuyện của ông ấy với các nông dân ở gần đây. Chỉ còn một, hai ngày nữa là ông ấy phải dẫn em tới pháo đài để trình diện rồi.” Anh siết chặt cánh tay tôi vẻ trấn an. “Đại úy Randall sẽ không vui vẻ gì khi Dougal nói với hắn rằng hắn không có quyền bắt giữ em, và Dougal sẽ không muốn nấn ná ở vùng đất này thêm một giây phút nào nữa.”
“Ông ấy quả là khôn ngoan,” tôi nhận xét. “Và cũng rất tử tế khi để chúng ta ở lại đây để, ờ… làm quen với nhau.”
Jamie hừ mũi. “Chẳng tử tế gì đâu. Đó là một trong những điều kiện mà anh đặt ra với ông ấy khi đồng ý cưới em. Anh đã nói anh sẽ kết hôn với em nếu anh buộc phải làm vậy, nhưng anh sẽ không đời nào trải qua đêm tân hôn trong một bụi cây, với hai mươi tộc viên nhìn ngó chòng chọc và nhao nhao chỉ bảo điều này điều nọ.”
Tôi dừng lại, nhìn anh chằm chằm. Vậy ra lúc đó anh đã to tiếng vì chuyện này.
“Một trong những điều kiện của anh?” Tôi chậm rãi nói. “Thế những điều kiện còn lại là gì?”
Trời đã quá tối nên không thể nhìn rõ mặt anh, nhưng tôi nghĩ anh có vẻ bối rối.
“Chỉ có hai điều kiện nữa thôi,” cuối cùng anh nói.
“Là gì?”
“Chà,” anh nói, rụt rè đá một hòn sỏi ra khỏi đường đi, “anh đã nói em phải kết hôn với anh theo đúng phép tắc, trong nhà thờ, trước một linh mục. Không chỉ trên giấy tờ. Còn điều kiện còn lại… ông ấy phải tìm cho em một bộ váy thích hợp để mặc trong đám cưới.” Anh nhìn đi chỗ khác, tránh ánh mắt tôi, và giọng anh khẽ đến nỗi tôi gần như không nghe thấy gì.
“A-anh biết em không muốn kết hôn. Anh muốn làm cho đám cưới này trở nên… dễ chịu hết mức có thể đối với em. Anh nghĩ em có thể cảm thấy hơi… chà, anh muốn em có một chiếc váy tử tế, thế thôi.”
Tôi mở miệng định nói gì đó, nhưng anh đã quay đi, hướng về phía quán trọ.
“Đi thôi, Sassenach,” anh cộc cằn nói. “Anh đói rồi.”
•••
Cái giá của việc có được thức ăn là bị mất đi sự riêng tư, điều đó đã rõ ràng ngay từ khoảnh khắc chúng tôi xuất hiện ở cửa phòng chính của quán trọ. Chúng tôi được chào đón bằng những tiếng reo hò khàn khàn và nhanh chóng bị ấn vào chỗ ngồi tại cái bàn đã bày sẵn một bữa tối thịnh soạn.
Lần này đã chuẩn bị tâm lý trước nên tôi không ngại những lời đùa bỡn thô lỗ và những lời chế nhạo thô tục. Tôi sẵn lòng thu mình lại trong góc và để mặc Jamie đối phó với những trò trêu chọc cũng như những suy đoán tục tĩu về việc chúng tôi đã làm gì suốt cả ngày.
“Ngủ,” Jamie nói, để đáp lại một câu hỏi dạng này. “Tối qua tôi chẳng chợp mắt được tí nào.” Những tràng cười rộ lên trước câu trả lời này lập tức được tiếp nối bởi những tràng cười còn lớn hơn khi anh nói thêm với giọng điệu bí mật: “Cô ấy ngáy.”
Tôi trợ giúp bằng cách bạt tai anh, và anh kéo tôi về phía mình, hôn tôi thật kêu trước tiếng vỗ tay rần rần.
Sau bữa tối là màn nhảy nhót được đệm nhạc bằng tiếng đàn violin của chủ quán. Tôi vốn nhảy không giỏi, thường bị vấp trong những lúc căng thẳng. Tôi chẳng mấy hy vọng mình sẽ làm tốt hơn khi phải mặc những lớp váy dài và đi đôi giày khiến người ta trở nên vụng về thế này. Nhưng khi vứt bỏ đôi guốc, tôi ngạc nhiên thấy rằng mình nhảy nhót hết sức suôn sẻ, lại còn vô cùng vui vẻ thích thú.
Phụ nữ ở đây thật hiếm hoi, vợ chủ quán và tôi cùng vén váy lên, nhảy điệu Jig, điệu vũ quay và điệu Xtratxpê không ngừng nghỉ, cho đến khi tôi phải dừng lại và dựa vào cái ghế tủ, mặt đỏ phừng phừng, thở hổn hển.
Cánh đàn ông hoàn toàn chẳng biết mỏi mệt, họ xoay tròn như những con quay mặc áo choàng len, một mình hoặc với người khác. Cuối cùng, họ đứng dựa vào tường, theo dõi, reo hò và vỗ tay khi Jamie cầm cả hai tay và dẫn dắt tôi trong điệu nhạc nhanh và điên cuồng có tên “The Cock o’ the North[2].”
Chủ tâm kết thúc điệu nhảy ở gần cầu thang, chúng tôi xoay tròn lần cuối với cánh tay anh ôm quanh eo tôi, rồi ngừng lại để anh phát biểu một lời ngắn gọn xen lẫn tiếng Anh với tiếng Gaelic. Mọi người lại vỗ tay rào rào, đặc biệt là khi anh thò tay vào cái túi đeo trước váy và ném một chiếc túi da sơn dương nhỏ cho chủ quán, nói rằng chừng đó đủ để đãi mọi người whisky cho đến khi trong quán chẳng còn chai nào nữa mới thôi. Tôi nhận ra đó là phần tiền cược anh nhận được trong vụ đánh nhau ở Tunnaig. Có vẻ như đó là toàn bộ số tiền anh có trên thế gian này; tôi nghĩ anh không thể chi tiêu nó bằng cách nào khác tốt hơn.
Chúng tôi đã lên tới ban công, theo sau là một chuỗi dồn dập những lời chúc tốt lành khiếm nhã, thì một giọng nói to hơn cả gọi tên Jamie.
Quay đầu nhìn lại, tôi thấy khuôn mặt to lớn đỏ bừng của Rupert đang ngẩng lên cười.
“Không ích gì đâu, Rupert,” Jamie nói. “Cô ấy là của cháu.”
“Uổng quá,” Rupert nói, lấy tay áo lau mặt. “Cô ấy sẽ đá cậu xuống sàn nhà trong một tiếng nữa thôi. Mấy cậu choai choai này chẳng dẻo dai lắm đâu,” ông ta nói với tôi. “Này cô gái, nếu cô muốn một người đàn ông không lãng phí thời gian vào việc ngủ, hãy nói cho tôi biết. Trong thời gian chờ đợi…” Ông ta ném thứ gì đó lên.
Một cái túi nhỏ căng phồng kêu loảng xoảng trên sàn dưới chân tôi.
“Quà cưới đây,” ông ta nói. “Nhờ ơn đội tuần phòng Shimi Bogil.”
“Ồ?” Jamie cúi xuống nhặt cái túi lên.
“Vài người trong chúng tôi không nằm lười quanh những bờ bãi rậm rạp suốt cả ngày,” ông ta nói với vẻ khiển trách, đảo ánh mắt dâm đãng về phía tôi. “Số tiền đó phải khó nhọc lắm mới kiếm được đấy.”
“Ồ, vâng,” Jamie nói, nhe răng cười. “Súc sắc hay đánh bài vậy?”
“Cả hai.” Một nụ cười phóng đãng nở ra làm tách đôi bộ râu đen. “Lột họ đến tận xương. Đến tận xương!”
Jamie mở miệng, nhưng Rupert đã giơ lòng bàn tay to lớn chai sần lên.
“Không, chàng trai, không cần cảm ơn đâu. Chỉ cần cho cô ấy một đêm tuyệt vời, được chứ?”
Tôi chụm những ngón tay lên môi và thổi một nụ hôn gió tới ông ta. Ông ta vỗ tay vào mặt như thể bị đánh, lảo đảo lùi lại với một tiếng cảm thán và loạng choạng lui về phía quầy rượu, lắc lư như bị say dù ông ta rõ ràng vẫn còn rất tỉnh táo.
Sau toàn bộ sự náo động vui vẻ ở dưới nhà, căn phòng của chúng tôi giống như một nơi trú ẩn bình yên và tĩnh lặng. Jamie nằm xoài ra giường, tủm tỉm cười và thở hổn hển.
Tôi nới lỏng cái áo chẽn chật đến mức khó chịu, và ngồi xuống để chải mớ tóc rối bù vì trò nhảy nhót ban nãy.
“Em có mái tóc đẹp nhất mà anh từng thấy,” Jamie nhìn tôi, nói.
“Cái gì cơ? Cái này á?” Tôi e dè giơ tay lên những lọn tóc rối như tổ quạ của mình.
Anh cười. “Ừ, anh nói thật đấy.”
“Nhưng nó quá… xoăn,” tôi nói, hơi đỏ mặt.
“Đương nhiên rồi.” Anh tỏ vẻ ngạc nhiên. “Anh đã nghe mấy cô con gái của Dougal nói với bạn mình rằng phải mất ba tiếng đồng hồ loay hoay với thanh kẹp nóng mới có thể khiến cho tóc của cô ấy xoăn được như thế. Cô ấy nói cô ấy muốn móc mắt em vì em chẳng phải động tay làm gì mà vẫn có được mái tóc như vậy.” Anh ngồi dậy và nhẹ nhàng kéo một lọn tóc của tôi, duỗi thẳng nó ra khiến nó gần chạm đến ngực tôi. “Tóc của chị Jenny cũng xoăn, nhưng không xoăn bằng tóc em.”
“Tóc của chị anh có đỏ giống tóc anh không?” Tôi hỏi, cố gắng mường tượng xem Jenny bí ẩn trông như thế nào. Jamie có vẻ hay nghĩ đến chị ấy.
Anh lắc đầu, vẫn xoắn ra xoắn vào những lọn tóc giữa các ngón tay. “Không. Tóc Jenny màu đen. Đen như màn đêm vậy. Anh có tóc đỏ giống mẹ, còn Jenny giống bố. Người ta gọi ông là Brian Dhu, có nghĩa là “Brian Đen”, vì mái tóc và bộ râu của ông.”
“Em nghe nói Đại úy Randall được gọi là Jack Hắc Ám,” tôi đánh bạo nói. Jamie cười nhưng không vui vẻ gì.
“Ừ. Nhưng cái tên đó liên quan đến màu sắc của tâm hồn hắn chứ không phải mái tóc.” Ánh mắt anh sắc hơn khi anh nhìn tôi.
“Không phải là em đang lo lắng về hắn đấy chứ? Đừng như vậy!” Hai bàn tay anh rời khỏi tóc tôi và siết chặt vai tôi với vẻ sở hữu.
“Những gì anh nói với em đều là thực,” anh khẽ nói. “Anh sẽ bảo vệ em. Khỏi hắn, hoặc bất cứ ai khác. Cho đến giọt máu cuối cùng, mo duinne.”
“Mo duinne?” Tôi hỏi, hơi bối rối bởi xúc cảm mãnh liệt trong câu nói của anh. Tôi không muốn làm cho anh phải đổ bất cứ một giọt máu nào, dù là giọt cuối cùng hay giọt đầu tiên.
“Nó có nghĩa là “cô gái tóc nâu của anh”.” Anh nâng một lọn tóc lên môi và mỉm cười, nhìn tôi với ánh mắt khiến những giọt máu trong huyết quản tôi chảy nhanh hơn. “Mo duinne,” anh khẽ khàng lặp lại. “Anh đã khao khát được nói thế với em từ lâu.”
“Em vẫn nghĩ màu nâu là thứ màu khá xỉn và ảm đạm,” tôi nói với vẻ thực tế cố gắng trì hoãn mọi chuyện một chút. Tôi luôn có cảm giác mình bị cuốn đi nhanh hơn dự định.
Jamie lắc đầu, vẫn mỉm cười.
“Không, anh không nghĩ vậy, Sassenach. Không xỉn và ảm đạm tí nào.” Anh nhấc cả mớ tóc của tôi lên bằng cả hai tay và xòe ra. “Nó giống như nước suối chảy qua một tảng đá. Những chỗ xoăn thì có màu sẫm, còn trên bề mặt, nơi được ánh mặt trời chiếu vào lại lấp lánh ánh bạc.”
Cảm thấy căng thẳng và hơi khó thở, tôi rụt người lại để cúi nhặt cái lược mà tôi đã đánh rơi xuống sàn. Khi ngẩng lên, tôi thấy Jamie đang điềm tĩnh nhìn tôi.
“Anh đã nói anh sẽ không hỏi bất cứ điều gì mà em không muốn nói với anh,” anh nói, “và anh sẽ không hỏi, nhưng anh đã tự rút ra kết luận. Colum nghĩ có lẽ em là một gián điệp của quân Anh, dù ông ấy không thể nghĩ ra lý do tại sao em không biết tiếng Gaelic. Còn Dougal nghĩ em có thể là một điệp viên của Pháp, đang tìm kiếm sự ủng hộ đối với Vua James. Nhưng trong trường hợp đó, ông ấy không thể hình dung nổi tại sao em chỉ có một mình.”
“Còn anh thì sao?” Tôi hỏi, giật mạnh cái lược ở một chỗ tóc rối bướng bỉnh. “Anh nghĩ em là ai?”
Anh nghiêng đầu, chăm chú nhìn tôi vẻ đánh giá.
“Nhìn bề ngoài, em có thể là người Pháp. Em có gương mặt xương xương thanh tú giống như một vài quý cô Angevin[3]. Nhưng phụ nữ Pháp thường vàng vọt, trong khi em lại có làn da như một viên ngọc mắt mèo.” Anh chậm rãi lần ngón tay theo đường cong ở xương đòn của tôi, và tôi cảm thấy làn da mình ánh lên.
Ngón tay anh di chuyển tới mặt tôi, rê từ thái dương đến má, vén tóc tôi ra sau tai. Tôi vẫn bất động, cố gắng không nhúc nhích khi bàn tay anh băng qua sau gáy, ngón cái nhẹ nhàng ve vuốt thùy tai tôi.
“Đôi mắt màu vàng kim; anh từng nhìn thấy một đôi mắt như thế - ở một con báo.” Anh lắc đầu. “Không. Em không phải là người Pháp.”
“Làm sao anh biết?”
“Anh đã nói chuyện với em rất nhiều; chưa kể còn nghe em nói. với những người khác. Dougal nghĩ em là người Pháp bởi vì em nói tiếng Pháp rất tốt.”
“Cảm ơn anh,” tôi nói với giọng nhạo báng. “Việc em nói tiếng Pháp tốt chứng tỏ em không phải là người Pháp ư?”
Anh mỉm cười và siết chặt gáy tôi. “Vous parlez très bien[4] - nhưng không tốt bằng anh,” anh nói thêm bằng tiếng Anh. Rồi anh đột nhiên buông tôi ra. “Anh đã ở Pháp một năm sau khi rời lâu đài, sau đó còn ở trong quân đội thêm hai năm nữa. Chỉ cần nghe giọng nói là anh biết người nào là người Pháp bản xứ. Tiếng Pháp không phải là tiếng mẹ đẻ của em.” Anh chầm chậm lắc đầu.
“Người Tây Ban Nha ư? Có lẽ, nhưng tại sao? Tây Ban Nha không có hứng thú với vùng cao nguyên này. Người Đức chăng? Chắc chắn là không.” Anh nhún vai. “Quân Anh muốn tìm ra em là ai cho bằng được. Chúng không cho phép những người lạ không rõ tung tích xuất hiện ở đây, khi mà các thị tộc không chịu an phận và Hoàng tử Charlie đang chờ thời cơ dong buồm về từ Pháp. Và các phương pháp tìm hiểu của chúng không nhẹ nhàng cho lắm. Anh biết rõ điều đó.”
“Làm thế nào anh biết em không phải gián điệp của Anh? Anh đã nói Dougal nghĩ như vậy mà.”
“Cũng có thể có khả năng đó, dù tiếng Anh của em khá kỳ cục. Nhưng nếu em là gián điệp của Anh, tại sao em lại chọn kết hôn với anh thay vì quay trở lại với đồng bào của mình? Đây cũng là một lý do để Dougal bắt em kết hôn với anh - ông ấy muốn xem liệu em có bỏ trốn vào đêm qua không.”
“Và em đã không bỏ trốn. Vậy điều đó chứng minh được gì?”
Anh cười và nằm xuống giường, vắt một cánh tay lên che mắt.
“Biết chết liền, Sassenach. Biết chết liền. Anh chẳng thể nghĩ ra lý do nào hợp lý cả. Em có thể là người của tiên tộc” - anh liếc nhìn tôi - "không, anh không nghĩ vậy. Em quá cao lớn.”
“Anh không sợ rằng nếu không biết rõ em là ai, một đêm nào đó em có thể giết anh trong lúc anh đang ngủ à?”
Anh không trả lời, nhưng bỏ tay ra khỏi mắt và cười toe toét. Đôi mắt anh hẳn được thừa hưởng từ đằng nội. Chúng không sâu hoắm như nhà MacKenzie và nằm ở một góc độ kỳ quặc, do đó đôi gò má cao khiến chúng trông gần như xếch.
Không buồn ngẩng đầu lên, anh cởi phăng áo sơ mi và vứt qua một bên, phơi bày bộ ngực trần. Rồi anh rút con dao găm ra khỏi vỏ và ném về phía tôi. Nó kêu đánh thịch trên những tấm ván lát sàn dưới chân tôi.
Anh lại che tay lên mắt và ngửa cổ, ưỡn ngực, để lộ cái hàm lún phún chân râu tối sẫm.
“Đâm thẳng vào đi, ngay bên dưới xương ức ấy,” anh khuyên. “Nhanh và gọn, dù phải mất chút sức lực. Cắt cổ thì dễ hơn nhưng bẩn lắm.”
Tôi cúi xuống nhặt con dao lên.
“Nếu em làm vậy thì cũng đáng đời anh lắm,” tôi thốt lên. “Gã vênh váo đáng ghét.”
Nụ cười bên dưới đường cong của cánh tay anh càng nở rộng hơn nữa.
“Sassenach?”
Tôi dừng lại, con dao vẫn nằm trong tay.
“Gì?”
“Anh sẽ chết trong hạnh phúc.”
[1] Một cái bục giống như bục thang để trèo qua hàng rào hoặc tường.
[2] Nghĩa đen là: Chú gà trống phương Bắc.
[3] Người thuộc tỉnh Anjou, nước Pháp.
[4] Tiếng Pháp, nghĩa là: Em nói rất tốt.