“Đại úy Randall đã nói gì?” Tôi hỏi. Tôi đang ở giữa Dougal và Jamie, con đường hẹp đến nỗi hầu như không đủ chỗ cho ba con ngựa đi song song. Thi thoảng, một hoặc cả hai người bạn đồng hành của tôi sẽ phải tụt lại hoặc phi lên trước để tránh vướng vào bụi cây um tùm bên đường.
Dougal liếc nhìn tôi rồi lại nhìn con đường, điều khiển con ngựa của mình đi vòng qua một tảng đá to, chậm rãi nở nụ cười tinh quái.
“Hắn chẳng vui vẻ lắm,” ông ta thận trọng nói. “Ta không nghĩ mình nên nhắc lại với cô những lời hắn đã nói; ngay cả cô cũng có thể không chịu đựng nổi thứ ngôn ngữ tệ hại ấy, phu nhân Fraser.”
Tôi lờ đi cách gọi đầy nhạo báng cũng như ẩn ý xúc phạm trong câu nói của ông ta, dù tôi thấy Jamie cứng người lại trên yên ngựa.
“Liệu hắn, ờ, có định hành động gì không?” Tôi hỏi. Bất chấp những lời trấn an của Jamie, tôi đã lo lắng mường tượng tới cảnh những gã kỵ binh Áo đỏ xộc ra từ các bụi cây, chém giết những người Scot và lôi tôi tới hang ổ của Randall để tra hỏi. Ắt hẳn Randall sẽ có những ý tưởng tra khảo “đầy tính sáng tạo”.
“Ta không nghĩ vậy,” Dougal hờ hững trả lời. “Hắn còn có nhiều chuyện phải lo nghĩ hơn là chuyện một cô nàng Sassenach đi lạc, dù cô ta có xinh đẹp cỡ nào.” Ông ta nhướng một bên lông mày và hơi cúi đầu về phía tôi, như thể lời khen ấy có ý xin lỗi. “Hắn cũng không dại gì chọc tức Colum bằng cách bắt cóc cháu dâu của anh ấy,” ông ta nói với vẻ thản nhiên hơn.
Cháu dâu. Dù tiết trời ấm áp, tôi vẫn cảm thấy một cơn rùng mình chạy dọc sống lưng. Cháu dâu của thủ lĩnh thị tộc MacKenzie. Chưa kể viên thủ lĩnh quân sự của thị tộc MacKenzie đang hờ hững cưỡi ngựa bên cạnh tôi đây. Mặt khác, bây giờ có lẽ tôi còn có mối liên hệ với Lãnh chúa Lovat, thủ lĩnh của thị tộc Fraser, với Tu viện trưởng của một tu viện đầy quyền lực ở Pháp, và ai biết còn bao nhiêu người Fraser khác nữa. Không, có lẽ John Randall sẽ nghĩ tôi không đáng để truy đuổi. Xét cho cùng, đó chính là mục đích của cuộc hôn nhân kỳ quặc này.
Tôi liếc trộm sang Jamie, anh đang cưỡi ngựa ở đằng trước. Lưng anh thẳng như một cây tống quán sủi non và tóc anh lấp lánh dưới ánh mặt trời như một cái mũ bảo hiểm bằng kim loại bóng loáng.
Dougal nhìn theo ánh mắt tôi.
“Tình hình có thể đã tệ hơn, đúng không?” Ông ta nói, nhướng mày chế giễu.
•••
Hai đêm sau, chúng tôi cắm trại trên một bãi hoang gần một trong những gò đá hoa cương trồi lên lạ lùng, lỗ chỗ lưu dấu vết tích của sông băng. Chúng tôi đã di chuyển cả ngày dài mà chỉ được ăn một bữa qua loa trên lưng ngựa, vì thế tất cả mọi người đều muốn dừng lại để ăn một bữa tối đàng hoàng. Tôi cố phụ giúp việc nấu nướng, nhưng đám tộc viên lầm lì phụ trách công việc này đã lịch sự từ chối thiện ý của tôi.
Sáng hôm ấy, một tộc viên trong đoàn giết được một con hươu, vì thế anh ta đã chế biến một bữa tối ngon lành từ thịt tươi, củ cải, hành tây và bất cứ thứ gì mà mình có thể kiếm được. Sau khi no nê và thỏa mãn, chúng tôi nằm ngồi ngả ngốn quanh đống lửa, nghe kể chuyện và ca hát. Tôi ngạc nhiên khi thấy người hiếm khi mở miệng như ông Murtagh nhỏ bé lại có một giọng nam cao trong trẻo tuyệt đẹp. Mặc dù khó khăn lắm mọi người mới thuyết phục được ông ta cất tiếng hát nhưng kết quả thật xứng đáng.
Tôi nép sát Jamie hơn, cố tìm một chỗ ngồi thoải mái trên lớp đá hoa cương rắn chắc. Chúng tôi đang cắm trại ở rìa của một gò đá, thềm đá đỏ rộng lớn tạo cho chúng tôi một cái nền lò sưởi tự nhiên, và những mỏm đá lộn xộn nhô lên cao vút ở đằng sau trở thành chỗ để giấu lũ ngựa. Khi tôi hỏi tại sao chúng tôi không ngủ trên bãi hoang cho thoải mái hơn, Ned Gowan đã giải thích rằng chúng tôi đang ở gần biên giới phía nam của lãnh địa MacKenzie, do đó rất gần với lãnh địa của thị tộc Grant và thị tộc Chisholm.
“Lính do thám của Dougal báo rằng không có dấu hiệu của bất kỳ người nào ở gần đây,” ông đã nói khi đứng trên một tảng đá mòn lớn để ngắm hoàng hôn, “nhưng chúng ta không bao giờ có thể chắc chắn được điều gì. Cẩn tắc vô áy náy, cô biết đấy.”
Khi Murtagh hát xong, Rupert bắt đầu kể chuyện. Mặc dù thiếu sự duyên dáng của Gwyllyn, nhưng ông ta có cả một kho vô tận những câu chuyện về các nàng tiên, ma mãnh, tannasg hay linh hồn quỷ dữ, và những cư dân khác của vùng cao nguyên, chẳng hạn như thủy mã. Tôi được nghe giải thích rằng sinh vật này sống ở hầu hết những nơi có nước, đặc biệt phổ biến ở các khúc suối cạn và ngã ba sông, dù cũng có nhiều con sông ở dưới đáy hồ.
“Có một chỗ ở đầu phía đông của hồ Garve” ông ta nói, đảo mắt quanh nhóm người đang tụ tập để chắc chắn là tất cả đều đang lắng nghe, “không bao giờ đóng băng. Nước ở đó lúc nào cũng đen ngòm, ngay cả khi phần còn lại của hồ đã đông cứng lại, vì đó chính là ống khói của thủy mã.”
Thủy mã của hồ Garve, giống nhiều con cùng loài, đã bắt cóc một cô gái trẻ khi cô ta tới hồ múc nước và mang cô ta xuống đáy hồ để làm vợ nó. Tai họa này xảy đến với bất cứ trinh nữ hay người đàn ông nào gặp một con ngựa đẹp bên cạnh mặt nước và nghĩ tới việc cưỡi nó, vì một khi đã leo lên lưng nó thì không thể xuống được nữa, và con ngựa sẽ bước xuống nước, biến thành một con cá, bơi về nhà nó với người cưỡi bất hạnh vẫn bám chặt trên lưng.
“Thủy mã chỉ có hàm răng của một con cá,” Rupert nói, uốn lượn bàn tay như một con cá đang nháp nhô, “nó ăn ốc sên, rong lá liễu và những thứ lạnh lẽo, ẩm ướt khác. Máu nó lạnh như nước, và nó không cần lửa, nhưng máu của một người phụ nữ thì ấm hơn.” Kể đến đây, ông ta nháy mắt với tôi, ánh mắt vô cùng dâm đãng khiến những người nghe thích thú.
“Vì thế cô vợ của con thủy mã vừa buồn vừa lạnh vừa đói trong ngôi nhà mới dưới đáy hồ, chẳng thèm đụng đến ốc sên và rong lá liễu. Thủy mã là một loài tốt bụng, do đó nó đã lên bờ hồ, gần ngôi nhà của một thợ xây có tiếng. Khi ông ta ra hồ, nhìn thấy con ngựa màu vàng kim xinh đẹp với dây cương bằng bạc tỏa sáng lấp lánh dưới ánh mặt trời, ông ta đã không kìm lòng được, chộp lấy sợi dây cương và leo lên lưng ngựa.
Y như rằng, con thủy mã lập tức mang ông ta xuống nước, xuyên qua tầng nước sâu tới ngôi nhà tanh tưởi, lạnh lẽo của nó. Ở đó, nó nói với người thợ xây nếu ông ta muốn được tự do thì phải xây một cái lò sưởi có ống khói để vợ nó có thể sưởi ấm hai bàn tay và rán cá.”
Tôi đang tựa đầu trên vai Jamie, mơ mơ màng màng và nghĩ đến cái giường, cho dù chỉ là một cái chăn trải trên nền đá hoa cương, thì đột nhiên cảm thấy cơ thể anh căng cứng. Anh đặt bàn tay lên cổ tôi, cảnh báo tôi ngồi im. Tôi nhìn quanh, chẳng thấy có gì không ổn, nhưng cảm nhận được không khí căng thẳng lan truyền từ người này sang người khác như sóng vô tuyến điện.
Nhìn về phía Rupert, tôi thấy ông ta khẽ gật đầu khi bắt gặp ánh mắt Dougal, dù ông ta vẫn điềm tĩnh tiếp tục câu chuyện.
“Vì chẳng có mấy lựa chọn, người thợ xây đành làm theo những gì được bảo. Thế là con thủy mã giữ lời hứa, đưa ông ta trở về bờ hồ gần nhà ông ta. Từ đó, vợ của con thủy mã được ấm áp và vui vẻ, bữa tối của cô ta đầy những con cá rán. Và nước ở đằng đông của hồ Garve không bao giờ đóng băng bởi vì nhiệt độ từ ống khói của con thủy mã làm băng tan chảy.”
Rupert ngồi trên một tảng đá, sườn bên phải quay về phía tôi. Trong lúc nói, ông ta cúi xuống như thể gãi chân, nhưng thực chất là để tóm lấy con dao nằm trên mặt đất gần bàn chân ông ta và nhanh gọn chuyển nó lên đùi, giấu dưới những nếp váy.
Tôi nhích lại gần hơn, kéo đầu Jamie xuống như thể đang âu yếm. “Có chuyện gì thế?” Tôi thì thầm vào tai anh.
Anh cắn nhẹ thùy tai tôi và thì thầm đáp lại: “Lũ ngựa đang kích động. Có người rình rập ở gần đây.”
Một người đàn ông đứng dậy, lững thững đi tới rìa gò đá để giải quyết nỗi buồn. Khi quay lại, anh ta ngồi xuống chỗ mới cạnh một người lùa gia súc. Một người khác đứng dậy, nhòm vào cái nồi, lấy một miếng thịt hươu. Trong lúc Rupert tiếp tục kể chuyện, mọi người xung quanh đống lửa lần lượt di chuyển và đổi chỗ một cách kín đáo.
Trong vòng tay Jamie, tôi chăm chú quan sát, cuối cùng cũng nhận ra rằng cánh đàn ông đang di chuyển tới gần chỗ họ đặt vũ khí hơn. Tất cả bọn họ đều đeo dao găm khi ngủ, nhưng thường bỏ lại kiếm, súng và những cái khiên tròn bằng da gọi là mộc thành từng đống nhỏ gọn gàng gần mép của địa điểm cắm trại. Cặp súng cùng với thanh kiếm của Jamie đang nằm trên mặt đất, cách chúng tôi vài bước chân.
Ánh lửa nhảy nhót trên lưỡi kiếm nạm bạc. Trong khi những khẩu súng của anh chỉ là loại súng cổ có báng bằng sừng mà hầu hết cánh đàn ông đều có thì mấy thanh kiếm của anh lại là thứ đặc biệt. Trong một lần dừng chân, anh đã trìu mến lật những lưỡi kiếm sáng bóng trong tay, tự hào khoe chúng với tôi.
Thanh kiếm to bản được quấn trong cuộn chăn của anh; tôi có thể nhìn thấy cái cán hình chữ T khổng lồ được đánh bóng bằng cát cẩn thận. Tôi đã từng thử nhấc nó lên và suýt đánh rơi vì theo lời Jamie, nó nặng tới gần bảy cân.
Nếu thanh kiếm to bản trông có vẻ ảm đạm và đầy sát khí thì thanh kiếm thường lại vô cùng xinh đẹp. Chỉ nặng bằng hai phần ba thanh kiếm lớn kia, nó có những họa tiết hình mảng kiểu Hồi giáo trải dài từ lưỡi thép màu xanh dương tới cái đốc kiếm có vòm che dạng xoắn ốc, tráng men màu đỏ và xanh. Tôi đã thấy Jamie dùng nó trong lúc tập luyện, đầu tiên là bằng tay phải khi đấu với một trong những chiến binh, sau đó là bằng tay trái khi đấu với Dougal. Lúc ấy, trông anh thật oai phong, nhanh nhẹn và chắc chắn. Sự duyên dáng trong từng động tác càng được tôn lên nhờ vóc dáng to lớn của anh. Nhưng nghĩ đến việc phải chứng kiến anh sử dụng kĩ năng đó trong một trận chiến thực sự, miệng tôi chợt trở nên khô khốc.
Anh cúi xuống, dịu dàng đặt một nụ hôn lên quai hàm tôi, nhân cơ hội khẽ xoay tôi lại, để tôi đối mặt với một đống đá lộn xộn.
“Anh nghĩ sắp đến lúc rồi,” anh thì thầm, vờ như mải miết hôn tôi. “Em có thấy khe hở nhỏ trong tảng đá kia không?” Tôi có thấy; đó là một khoảng trống cao chưa tới một mét, được tạo thành bởi hai phiến đá lớn đổ vào nhau.
Anh ôm chặt mặt tôi và âu yếm hít hà. “Khi anh nói “đi” hãy chui vào và ở yên đó. Em có dao găm chưa?”
Trong quán trọ đêm nọ, anh cứ kiên quyết bắt tôi giữ con dao găm mà anh đã ném cho tôi, bất chấp việc tôi khăng khăng nói rằng mình không biết cách cũng không muốn dùng nó. Và trong những vấn đề như thế này, Dougal nói đúng, Jamie thật cứng đầu.
Kết quả là, con dao găm đang nằm trong một cái túi sâu lòng ở váy tôi. Sau một ngày có cảm giác không thoải mái vì thân nó cứ cọ vào đùi, tôi đã gần như quên bẵng nó. Anh lướt bàn tay dọc theo chân tôi, kiểm tra xem nó có ở đó không.
Sau đó, anh ngẩng đầu lên, như một con mèo hít ngửi làn gió. Tôi ngước lên, thấy anh liếc nhìn Murtagh rồi lại nhìn tôi. Người đàn ông nhỏ bé không tỏ dấu hiệu gì, chỉ đứng lên và vươn vai. Khi ngồi xuống trở lại, ông ta đã ở gần tôi thêm vài bước chân.
Một con ngựa bồn chồn hí lên đằng sau chúng tôi. Như thể đó là một ám hiệu, những kẻ lạ mặt vừa la hét vừa tràn qua những tảng đá. Chúng không phải quân Anh như tôi đã lo sợ, cũng không phải kẻ cướp. Chúng là dân cao nguyên, tiếng la hét của chúng nghe như tiếng kêu của những nữ thần báo tử. Tôi cho rằng đó là thị tộc Grant. Hoặc Campbell.
Tôi lồm cồm bò tới đống đá lộn xộn, tuy đầu bị va đập và đầu gối xước xát nhưng vẫn xoay xở lách được vào khe hở nhỏ hẹp. Tôi mò mẫm tìm con dao trong túi, tim đập thình thịch, suýt thì tự đâm phải chính mình. Không biết làm gì với con dao kỳ quặc, dài ngoằng này, nhưng tôi cảm thấy yên tâm hơn một chút khi có nó. Trên cán dao khảm một viên đá mặt trăng và tôi thầm nhẹ nhõm khi cảm nhận được nó gồ lên trong tay; ít nhất tôi biết mình đã cầm đúng đầu dao.
Cuộc chiến hỗn loạn đến nỗi ban đầu tôi không biết chuyện gì đang xảy ra. Trên khoảng đất trống nhỏ hẹp, vô số thân hình la hét, nhảy qua nhảy lại, lăn lộn trên mặt đất, chạy ngược chạy xuôi. May mắn là nơi trú ẩn của tôi nằm chếch về một bên của cuộc chiến, vì thế tôi tạm thời không gặp nguy hiểm. Liếc nhìn quanh, tôi thấy một thân hình nhỏ bé đang lom khom ở gần bên, áp người vào tảng đá của tôi. Tôi nắm chặt con dao, nhưng lập tức nhận ra đó là Murtagh.
Hóa ra mục đích cái liếc mắt của Jamie là như vậy. Tôi đã được gửi gắm cho Murtagh bảo vệ. Không thấy Jamie đâu. Cuộc chiến chủ yếu diễn ra trên các tảng đá và những chỗ tối gần mấy cỗ xe thồ.
Đương nhiên rồi, cuộc đột kích này hẳn nhắm đến mấy cỗ xe thồ và lũ ngựa. Từ những gì ít ỏi tôi có thể nhìn thấy qua ánh sáng của ngọn lửa sắp tàn, toán người tấn công có vẻ là một nhóm có tổ chức, được trang bị vũ khí cẩn thận và được ăn uống tử tế. Nếu chúng là người của thị tộc Grant, vậy thì có lẽ chúng đang tìm kiếm chiến lợi phẩm hoặc muốn trả đũa cho việc Rupert và các bạn của ông ta ăn trộm đàn gia súc của chúng vài ngày trước. Dougal đã khá bực tức khi thấy thành quả của cuộc đột kích tùy hứng ấy, không phải vì ông ta phản đối việc trộm cắp mà vì ông ta lo lắng lũ gia súc sẽ làm chậm hành trình của chúng tôi. Ông ta đã cố gắng tống khứ chúng gần như ngay lập tức ở một cái chợ làng nhỏ trên đường đi.
Mọi chuyện nhanh chóng trở nên rõ ràng, những kẻ tấn công không chú tâm lắm vào việc gây thương tích cho đoàn chúng tôi mà chỉ nhắm vào lũ ngựa và những cỗ xe thồ. Một, hai kẻ thành công. Tôi khom thấp người khi một con ngựa lưng trần nhảy vọt qua đống lửa và biến mất trong bóng tối nơi bãi hoang, có một gã đàn ông kêu như mèo gào bám chặt vào bờm của nó.
Thêm hai, ba kẻ khác ôm những túi ngũ cốc của Colum chạy đi, theo sau là những người MacKenzie giận dữ chửi rủa bằng tiếng Gaelic. Nghe như cuộc chiến đang dần kết thúc. Thế rồi một nhóm khá đông lảo đảo di chuyển vào trong ánh lửa và cuộc chiến lại bùng lên.
Đây có vẻ là một trận đánh ác liệt, bóng kiếm ánh lên loang loáng và tiếng rên rỉ vang lên không ngớt, nhưng không có tiếng la hét. Cuối cùng, tôi cũng đã nhìn rõ. Jamie và Dougal đang tựa lưng vào nhau ở giữa vòng vây, tay trái cầm kiếm, tay phải cầm dao găm, cả hai người họ đều sử dụng vũ khí của mình khá hiệu quả.
Vây quanh họ là bốn, năm gã đàn ông - vì trời tối nên tôi không đếm được chính xác - trong tay chúng là những thanh kiếm ngắn, dù một gã có một thanh kiếm dài đeo trên thắt lưng và ít nhất hai khẩu súng chưa được rút ra.
Hẳn là chúng muốn bắt sống Dougal hoặc Jamie hoặc cả hai để đòi tiền chuộc, do đó mới cố tình sử dụng kiếm ngắn, thứ vũ khí chỉ có thể gây thương tích, thay vì kiếm dài hoặc súng, thứ vũ khí có thể gây chết người.
Dougal và Jamie không phải đắn đo như vậy và đang dốc sức chiến đấu rất hiệu quả. Vì áp lưng vào nhau nên họ tạo thành một vòng tròn đe dọa hoàn hảo, người này che chở cho điểm yếu của người kia. Khi Dougal mạnh mẽ đâm ngược con dao găm lên, tôi thầm nghĩ mình dùng từ “điểm yếu” quả là không chuẩn xác.
Cả một khối hỗn loạn huyên náo ấy đang tiến dần về phía tôi. Tôi ép sát người vào sâu trong lòng khe hở nhất có thể, nhưng nó chỉ sâu hơn nửa mét. Từ khóe mắt, tôi cảm nhận được một sự di chuyển. Murtagh đã quyết định chủ động hơn trong nhiệm vụ của mình.
Tôi hầu như không thể dời ánh mắt sợ hãi khỏi Jamie, nhưng vẫn nhìn thấy người tộc viên nhỏ bé thong thả rút ra khẩu súng tới giờ vẫn chưa bắn được phát nào. Ông ta cẩn thận kiểm tra nó, lau vào tay áo rồi chống nó lên cẳng tay, chờ đợi.
Và cứ chờ đợi như vậy. Tôi lo sợ cho Jamie đến phát run lên, anh đã mất đi sự khéo léo và đang đâm chém loạn xạ, chống trả hai gã đàn ông đang trơ trơ đối mặt với mình. Vì lý do chết tiệt gì mà ông ta còn chưa nổ súng cơ chứ? Tôi phẫn nộ nghĩ. Và rồi tôi chợt nhận ra nguyên nhân. Cả Jamie và Dougal đều đang ở trong đường đạn. Tôi lờ mờ nhớ rằng loại súng này đôi khi rất thiếu chính xác.
Giả thiết ấy được chứng thực ngay phút tiếp theo, khi một đường kiếm của đối thủ bất thình lình chém vào cổ tay Dougal, làm cánh tay ông ta rách toạc, khiến ông ta khuỵu một bên gối. Cảm nhận được cậu mình ngã khuỵu xuống, Jamie thu lưỡi kiếm về và nhanh chóng lùi lại hai bước, hướng lưng tới gần một vách đá. Dougal khom người về một bên, trong tầm bảo vệ của Jamie. Điều này khiến cho những kẻ tấn công dạt về chỗ tôi trốn và lọt vào tầm bắn của Murtagh.
Tiếng súng nổ ngay gần bên làm tôi giật mình. Những kẻ tấn công cũng kinh ngạc chẳng kém, đặc biệt là kẻ bị trúng đạn. Hắn đứng im một lúc, lắc đầu vẻ hoang mang, rồi từ từ ngồi xuống, yếu ớt ngã ngửa ra sau, lăn xuống một con dốc nhỏ vào đống lửa đang tắt lụi.
Tận dụng lúc đối thủ bị bất ngờ, Jamie đánh bay thanh kiếm khỏi tay một kẻ tấn công khác. Dougal đã đứng dậy, và Jamie bước sang một bên để tạo khoảng trống cho ông ta vung kiếm. Một kẻ tấn công bỏ cuộc và chạy xuống dốc để lôi người bạn bị thương ra khỏi đống tro nóng. Tuy nhiên, vẫn còn lại ba tên, và Dougal đang bị thương. Tôi có thể nhìn thấy những giọt máu tối thẫm bắn tóe lên mặt đá khi ông ta đánh kiếm.
Bây giờ họ ở gần đến nỗi tôi có thể thấy rõ vẻ mặt điềm tĩnh và chăm chú của Jamie. Chợt Dougal hét lên gì đó với anh. Jamie dời mắt khỏi đối thủ trong một giây chớp nhoáng và liếc xuống. Anh liếc trở lại đối thủ đúng lúc hắn vung kiếm đâm thẳng vào người anh, vì vậy anh kịp thời né sang một bên và phóng thanh kiếm của mình đi.
Đối thủ của anh bàng hoàng nhìn chằm chằm vào thanh kiếm đang cắm ở chân mình. Hắn hoang mang chạm vào lưỡi kiếm rồi chộp lấy và nhổ nó ra. Vì thanh kiếm được nhổ ra dễ dàng nên tôi đoán vết thương không sâu lắm. Gã đàn ông vẫn có vẻ hơi hoang mang, và liếc nhìn lên như muốn hỏi mục đích của hành vi dị giáo này.
Hắn hét lên một tiếng, vứt thanh kiếm xuống và khập khiễng bỏ chạy. Giật mình bởi tiếng thét ấy, hai gã đồng bọn của hắn nhìn qua, rồi cũng xoay người chạy như bay. Jamie đuổi theo chúng như một con thác đổ. Anh đã giật được thanh kiếm khổng lồ ra khỏi súc chăn cuộn và đang dùng cả hai tay quét một vòng cung trí mạng. Hỗ trợ anh là Murtagh, ông ta hét lên những lời lẽ vô cùng khiếm nhã bằng tiếng Gaelic và khua cả thanh kiếm lẫn khẩu súng đã được nạp đạn lại.
Trận chiến kết thúc khá nhanh sau đó, và chỉ khoảng mười lăm phút sau, đoàn người MacKenzie đã tập hợp lại và đánh giá thiệt hại.
Thiệt hại không lớn lắm; có hai con ngựa và ba túi ngũ cốc bị đánh cắp. Những người lùa gia súc, vốn ngủ cạnh đám súc vật thồ và mấy cỗ xe la kéo, đã ngăn chặn việc cướp bóc các cô xe, trong lúc đám kỵ binh xua đuổi thành công lũ cướp ngựa. Tổn thất lớn nhất có vẻ là một người đàn ông.
Tôi nghĩ hẳn là anh ta đã bị thương hoặc bị giết trong cuộc loạn đả, nhưng sau một hồi tìm kiếm kĩ lưỡng quanh khu vực đó, vẫn không thể tìm ra anh ta.
“Bị bắt cóc rồi,” Dougal cáu kỉnh nói. “Thật tức chết, ta sẽ phải tốn khoản lợi tức của cả một tháng để chuộc hắn về.”
“Tình hình có thể đã tệ hơn, cậu Dougal,” Jamie nói, lấy tay áo lau mặt. “Cậu thử nghĩ xem cậu Colum sẽ nói gì nếu chúng bắt được cậu!”
“Nếu chúng bắt được cháu, thằng nhóc, ta sẽ để chúng giữ cháu lại, và cháu có thể đổi sang họ Grant,” Dougal trả miếng, nhưng tâm trạng của đoàn người đã khá lên đáng kể.
Tôi lấy ra cái hộp y tế nhỏ mà tôi mang theo, sắp xếp những người bị thương theo mức độ nghiêm trọng. May mắn là không có vết thương nào tệ lắm. vết thương trên cánh tay Dougal có vẻ là nặng nhất.
Ned Gowan dường như quá say sưa với trận đánh đến nỗi không nhận ra răng của mình đã gãy vì bị một cái cán dao đập trúng. Tuy nhiên, ông đã sớm tỉnh táo lại và cẩn thận giữ nó ở dưới lưỡi.
“Biết đâu vẫn còn có chút cơ hội mong manh,” ông giải thích, nhổ nó ra lòng bàn tay. Chân răng không bị vỡ, và cái lỗ ở lợi vẫn còn hơi chảy máu, vì vậy tôi nhân cơ hội ấn chặt cái răng vào vị trí cũ. Người đàn ông nhỏ bé tái mét mặt, nhưng không thốt ra một tiếng kêu nào. Ông khoan khoái súc miệng bằng whisky để sát trùng và từ từ nuốt xuống.
Tôi đã băng bó vết thương của Dougal ngay lúc ông ta mới bị thương. Lúc này, khi cởi lớp băng quấn ra, tôi vui mừng thấy rằng máu đã gần như ngừng chảy, vết thương khá sâu nhưng ơn Chúa là mạch máu chính không bị cứa phải, tuy nhiên vẫn cần phải khâu lại.
Cái kim duy nhất có thể sử dụng được là loại kim mà những người lùa gia súc dùng để khâu vá yên ngựa, trông cứ như một cái dùi mảnh. Tôi nghi ngại nhìn nó, nhưng Dougal chỉ giơ tay ra và nhìn đi chỗ khác.
“Ta không sợ nhìn thấy máu của người khác,” ông ta giải thích, “nhưng ta có chút khó chịu khi nhìn thấy máu của chính mình.” Ông ta ngồi trên một tảng đá, răng cắn chặt đến nỗi các cơ hàm run run. Đêm lạnh dần, nhưng mồ hôi vẫn vã ra thành giọt trên trán ông ta. Có lúc, ông ta lịch sự đề nghị tôi tạm thời dừng lại để đi vòng ra đằng sau một tảng đá và nôn ọe, rồi quay trở lại, chống cánh tay lên đầu gối.
May mắn là một ông chủ quán rượu đã trả tiền tô của quý này bằng một thùng whisky nhỏ, và nó khá hữu ích. Tôi dùng nó để sát trùng vài vết thương hở, rồi để các bệnh nhân tự chữa trị theo ý họ. Tôi thậm chí còn nhận một cốc vào cuối buổi chữa trị, khoan khoái uống cạn rồi nằm ngả người trên tấm chăn được trải làm nệm. vầng trăng đang lặn, và tôi khẽ run rẩy, phần vì tác dụng của rượu, phần vì lạnh. Cảm giác thật tuyệt khi có Jamie nằm cạnh và kéo tôi vào cơ thể to lớn, ấm áp của anh.
“Theo anh thì chúng có quay lại không?” Tôi hỏi, nhưng anh lắc đầu.
“Không, đó là Malcolm Grant và hai đứa con trai của ông ta -chính là người già nhất mà anh đã phóng kiếm đâm vào chân ấy. Lúc này, họ đã nằm trên chiếc giường ở nhà họ rồi,” anh đáp, rồi vuốt tóc tôi và nói tiếp, giọng dịu dàng hơn. “Đêm nay em đã làm việc rất tốt. Anh tự hào về em.”
Tôi lăn người lại và choàng hai tay quanh cổ anh.
“Sao bằng em tự hào về anh chứ! Anh thật tuyệt, Jamie. Em chưa bao giờ nhìn thấy cảnh tượng nào như thế.”
Anh “xì” một tiếng vẻ phản đối, nhưng tôi nghĩ anh đang vui.
“Chỉ là một cuộc đột kích thôi mà, Sassenach. Anh đã trải qua việc này từ hồi mười bốn tuổi. Chỉ để giải trí thôi, em thấy đấy; nó rất khác với khi em chống lại ai đó thực sự có ý định giết em.”
“Giải trí,” tôi nói, giọng hơi yếu ớt. “Vâng, trông cũng có vẻ như vậy.”
Đôi tay anh siết chặt quanh người tôi, một bàn tay lần xuống thấp dần, đẩy váy tôi lên. Rõ ràng niềm hứng khởi sau trận đánh đang chuyển hóa thành một loại phấn khích khác.
“Jamie! Không phải ở đây!” Tôi nói, giãy ra và đẩy váy xuống.
“Em mệt à, Sassenach?” Anh hỏi với vẻ quan tâm. “Đừng lo, anh sẽ không làm lâu đâu.” Giờ thì cả hai bàn tay anh đều hất lớp vải nặng nề lên.
“Không!” Tôi đáp, ý thức rõ có hai mươi người đàn ông đang nằm cách chúng tôi có vài mét. “Em không mệt, chỉ là…” Tôi thở hổn hển khi bàn tay mò mẫm của anh tìm đường tới giữa hai chân tôi.
“Chúa ơi,” anh khẽ nói. “Nó trơn như rong lá liễu vậy.”
“Jamie! Có hai mươi người đàn ông đang ngủ bên cạnh chúng ta đấy!” Tôi khẽ rít lên.
“Nếu em cứ nói chuyện thì họ sẽ tỉnh giấc mất!” Anh lăn lên người tôi, ấn tôi xuống nền đá. Đầu gối anh chèn giữa hai đùi tôi và bắt đầu nhẹ nhàng trượt qua trượt lại. Hai chân tôi bắt đầu thả lỏng. Sự đứng đắn được gìn giữ trong hai mươi bảy năm không phải là đối thủ của cái bản năng đã có từ ngàn xưa. Mặc dù trí óc tôi phản đối việc làm tình trên một gò đá trơ trụi bên cạnh vài chiến binh đang say giấc, nhưng cơ thể tôi rõ ràng tự coi mình là một món chiến lợi phẩm trong chiến tranh và hăng hái hoàn tất thủ tục đầu hàng. Anh hôn tôi thật sâu, lưỡi anh dịu dàng khám phá trong miệng tôi.
“Jamie,” tôi hổn hển. Anh hất cái váy của mình lên và đặt tay tôi vào chỗ đó của anh.
“Chúa ơi,” tôi nói, cảm thấy ấn tượng. Ý thức về sự đứng đắn tuột thêm một nấc nữa.
“Việc chiến đấu khiến người ta bị kích thích ghê gớm. Em có muốn anh không?” Anh nói, lùi lại một chút để nhìn tôi.
Có phủ nhận cũng vô ích.
“Ơ… có… nhưng…”
Anh nắm chặt vai tôi bằng cả hai tay.
“Yên nào, Sassenach,” anh nói với giọng đầy uy quyền. “Sẽ không mất nhiều thời gian đâu.”
Đúng là không mất nhiều thời gian. Tôi bắt đầu lên đỉnh ngay từ cú thúc mạnh mẽ đầu tiên. Tôi bấm sâu vào lưng anh, cắn áo anh để không thốt ra tiếng kêu nào. Chưa đến mười hai cú thúc, tôi đã cảm thấy dòng lũ ấm áp từ trong anh ào ạt tuôn trào. Anh chầm chậm hạ thân mình xuống, lăn sang một bên và nằm run rẩy.
Tai tôi giần giật theo nhịp co thắt giữa hai chân tôi. Bàn tay Jamie mềm nhũn và nặng nề đặt trên ngực tôi. Quay đầu lại, tôi có thể thấy hình dáng lờ mờ của người canh gác đang dựa vào một tảng đá ở phía bên kia của ngọn lửa. Anh ta đã khéo léo xoay lưng đi. Tôi khá sốc khi nhận ra mình thậm chí còn không xấu hổ. Tôi tự hỏi liệu sáng mai mình có thấy ngượng ngùng không, rồi không còn băn khoăn gì nữa.
•••
Sáng hôm sau, mọi người đều cư xử như bình thường, chỉ đi lại hơi cứng nhắc vì ảnh hưởng của việc đánh nhau và ngủ trên những tảng đá. Ai cũng có tâm trạng hài hước vui vẻ, ngay cả những người bị thương nhẹ.
Không khí vui vẻ còn dâng cao hơn khi Dougal tuyên bố rằng cả đoàn sẽ chỉ đi tới khóm rừng mà chúng tôi nhìn thấy từ mép của thềm đá đang đứng. Ở đó, chúng tôi có thể cho ngựa gặm cỏ và uống nước, rồi nghỉ ngơi một chút. Tôi tự hỏi liệu sự thay đổi kế hoạch này có ảnh hưởng đến cuộc hẹn của Jamie với Horrocks bí ẩn không, nhưng anh có vẻ không lấy làm phiền lòng.
Ngày hôm nay u ám nhưng ấm áp và không có mưa phùn. Sau khi hạ trại, chăm sóc lũ ngựa và kiểm tra các vết thương, mọi người được tự do làm gì tùy ý: ngủ trên cỏ, đi săn, bắt cá hoặc chỉ đơn giản duỗi tay duỗi chân sau vài ngày ngồi trên yên ngựa.
Tôi đang ngồi nói chuyện với Jamie và Ned Gowan dưới một gốc cây thì một chiến binh tiến tới, ném thứ gì đó vào lòng Jamie. Đó là con dao găm với cái chuôi có gắn viên đá mặt trăng.
“Của cậu phải không?” Anh ta hỏi. “Sáng nay tôi tìm thấy nó trên gò đá.”
“Chắc là em đã đánh rơi nó trong lúc kích động,” tôi nói. “Cũng tốt thôi; em không biết phải làm gì với nó. Nếu cố sử dụng nó, có khi em còn tự đâm vào mình ấy chứ.”
Ned nghiêm khắc nhìn Jamie qua cặp kính không gọng.
“Cậu đưa dao cho cô ấy mà không dạy cô ấy cách dùng sao?”
“Trong hoàn cảnh đó thì làm gì có thời gian chứ,” Jamie tự bào chữa. “Nhưng Ned nói đúng, Sassenach. Em nên học cách dùng vũ khí. Chẳng ai nói trước được chuyện gì có thể xảy ra trên đường, như em đã thấy đêm qua đấy.”
Vậy là tôi bị đẩy ra giữa khoảng đất trống, bắt đầu học. Nhìn thấy cảnh ấy, vài người MacKenzie tò mò tới xem và nán lại để chỉ bảo. Chẳng mấy chốc, tôi đã có nửa tá người hướng dẫn, mỗi người một ý dẫn đến việc tranh cãi nhau về kỹ thuật sử dụng dao. Sau một hồi tranh luận hòa nhã, họ nhất trí rằng Rupert là người dùng dao găm giỏi nhất trong số họ, vì thế ông ta tiếp nhận nhiệm vụ giảng dạy.
Ông ta tìm được một địa điểm khá bằng phẳng, không có đá và quả thông, để biểu diễn nghệ thuật dùng dao găm.
“Cô nhìn đây,” ông ta nói, ngón giữa đặt cách chỗ nối giữa lưỡi và chuôi dao khoảng hai, ba phân, nâng con dao lên. “Đây là điểm cân bằng, cô sẽ cầm con dao ở vị trí này để nó vừa khít trong tay cô.” Tôi thử cầm con dao của mình như vậy. Khi tôi đã cầm chắc nó, ông ta chỉ cho tôi sự khác biệt giữa một cú đâm từ trên xuống và một cú đâm từ dưới lên.
“Nhìn chung, cô nên đâm từ dưới lên; kiểu đâm từ trên xuống chỉ có lợi khi lực đâm đủ mạnh.” Ông ta nhìn tôi chăm chú rồi lắc đầu.
“Không, tuy cô cao hơn so với chiều cao trung bình của một phụ nữ, nhưng cho dù có thể với đến cổ đối thủ của mình, cô sẽ không có đủ lực để đâm, trừ phi hắn đang ngồi. Tốt nhất là chỉ nên đâm từ dưới lên.” Ông ta cởi áo ra, để lộ cái bụng phệ rậm rạp, bóng loáng mồ hôi.
“Nào, đây,” ông ta nói, chỉ vào ngay bên dưới xương ức, “là điểm cần nhắm tới, nếu cô định giết hắn khi mặt đối mặt. Dùng hết sức đâm mạnh lên. Lưỡi dao sẽ cắm vào tim và giết chết đối thủ trong vòng một, hai phút. Vấn đề duy nhất là phải tránh xương ức; nó dài hơn cô nghĩ và nếu con dao của cô bị mắc kẹt vào phần sụn mềm ở tận cùng của nó, cô không những không thể hạ sát đối thủ của mình mà còn mất luôn con dao và bị đối thủ tóm được. Murtagh! Anh có một tấm lưng gầy; hãy lại đây và chúng ta sẽ chỉ cho cô ấy cách đâm từ đằng sau.” Murtagh miễn cưỡng để cho Rupert xoay người mình lại, giật phăng cái áo sơ mi bẩn thỉu, để lộ sống lưng gồ ghề và những chiếc xương sườn nhô lên. Rupert chọc ngón tay trỏ vào phía dưới chiếc xương sườn dưới cùng bên phải, khiến cho Murtagh rú lên vì bất ngờ.
“Đây là điểm cần nhắm tới - bên nào cũng được. Cô thấy đấy, vì vướng đám xương sườn nên sẽ rất khó để gây ra vết thương trí mạng khi đâm vào lưng. Nếu cô có thể luồn lưỡi dao giữa các rẻ xương sườn thì lại khác, nhưng điều đó khó hơn cô nghĩ nhiều. Tuy nhiên, nếu cô nhắm vào đây, bên dưới cái xương sườn cuối cùng, và đâm ngược lên thì sẽ trúng vào thận của đối thủ. Hắn sẽ ngã xuống ngay lập tức.”
Sau đó, Rupert để tôi thử đâm vào các vị trí khác nhau với những tư thế khác nhau. Khi ông ta đã thấm mệt, toàn bộ cánh đàn ông luân phiên nhau đóng vai nạn nhân. Rõ ràng họ thấy thích thú trước những nỗ lực của tôi. Họ nằm trên cỏ hoặc quay lưng lại để tôi có thể ám toán họ, hoặc nhảy về phía tôi từ đằng sau, hay giả vờ bóp cổ tôi để tôi có thể cố đâm vào bụng họ.
Các khán giả reo hò cổ vũ tôi, và Rupert kiên quyết dặn tôi không được chùn tay vào giây phút cuối cùng.
“Cứ đâm thật đi,” ông ta nói. “Cô không thể chùn tay khi lâm trận thực sự. Kẻ nào chậm chạp đến nỗi không né tránh kịp thì có bị thương cũng đáng đời.”
Ban đầu tôi còn rụt rè và vô cùng lóng ngóng, nhưng Rupert là một giáo viên giỏi, ông ta rất kiên nhẫn và chịu khó diễn đi diễn lại các động tác. Ông ta vờ đảo mắt dâm đãng khi đi vòng ra sau và choàng tay quanh eo tôi, nhưng rất nghiêm túc khi cầm cổ tay tôi để chỉ cho tôi cách đâm vào mắt của đối thủ.
Dougal ngồi dưới một gốc cây, chăm sóc cái tay bị thương và cất lên những lời bình luận nhạo báng trong suốt cuộc huấn luyện. Nhưng chính ông ta là người gợi ý nên có một hình nộm.
“Hãy cho cô ấy thứ gì đó để đâm dao vào,” ông ta nói khi tôi bắt đầu thuần thục kỹ năng đâm thọc. “Lần đầu có thể gây sốc.”
“Đúng vậy,” Jamie đồng ý. “Nghỉ ngơi chút đi, Sassenach, trong lúc anh kiếm thứ gì đó cho em.”
Anh cùng với hai chiến binh khác đi tới chỗ mấy cỗ xe, đứng chụm đầu vào nhau, khoa tay múa chân rồi lấy ra các thứ từ lòng cỗ xe. Mệt đến đứt hơi, tôi ngồi sụp xuống dưới gốc cây bên cạnh Dougal.
Ông ta gật đầu, nở nụ cười nhẹ. Giống như hầu hết cánh đàn ông, ông ta không buồn cạo râu trong suốt cuộc hành trình, vì thế chòm râu màu nâu thẫm xồm xoàm bao quanh miệng ông ta, làm nổi bật bờ môi dưới đầy đặn.
“Thế nào rồi?” Ông ta hỏi, không phải ám chỉ đến kỹ năng sử dụng món vũ khí nhỏ bé kia của tôi.
“Khá tốt,” tôi thận trọng trả lời, cũng không nói đến những con dao. Ánh mắt Dougal liếc về phía Jamie đang bận rộn làm gì đó bên những cỗ xe.
“Hôn nhân có vẻ phù hợp với thằng nhỏ,” ông ta nhận xét.
“Khá có lợi cho anh ấy - trong hoàn cảnh này,” tôi đồng ý. Đôi môi ông ta nhếch lên trước giọng điệu lạnh lùng của tôi.
“Có lợi cho cả cô nữa. Đây có vẻ là sự sắp đặt tốt đẹp cho tất cả mọi người.”
“Đặc biệt là ông và anh trai ông. Ông nghĩ Colum sẽ nói gì khi nghe được chuyện này?”
Nụ cười của ông ta nở rộng hơn. “Colum? À! Tôi nghĩ anh ấy sẽ vui vẻ chào đón một cô cháu dâu đến với gia đình.”
Hình nộm đã được chuẩn bị xong, tôi quay trở lại tập luyện. Hóa ra nó là một túi len lớn, có kích cỡ bằng ngực của một người đàn ông, được quấn quanh bằng một miếng da bò màu đồng thiếc và buộc chặt bằng dây thừng. Tôi sẽ tập đâm vào thứ này. Trước hết, nó được cột vào một cái cây cao bằng thân người, sau đó thì được ném hoặc lăn về phía tôi.
Có điều, Jamie không hề nhắc gì đến việc họ đã nhét vài mẩu gỗ phẳng giữa túi len và miếng da; để giả làm xương, như anh giải thích sau đó.
Mấy cú đâm đầu tiên không có vấn đề gì, dù phải mất vài lần thử tôi mới đâm xuyên qua được lớp da bò. Nó dai hơn vẻ ngoài của nó. Cánh đàn ông nói rằng da bụng của người cũng vậy. Vào lần thử tiếp theo, tôi cố gắng đâm thẳng một cú từ trên xuống, và trúng phải một mẩu gỗ.
Trong một thoáng, tôi tưởng như cánh tay mình đã rụng ra. Cơn tê rần lan đến tận vai tôi, và con dao rơi khỏi những ngón tay đã không còn cảm giác. Nhưng một sự râm ran khó chịu báo cho tôi biết rằng tình trạng này sẽ không kéo dài lâu.
“Jesus H. Roosevelt Christ,” tôi thốt lên, ôm chặt khuỷu tay trong tiếng cười rộ của mọi người. Cuối cùng, Jamie nắm lấy vai tôi và xoa bóp để cánh tay có cảm giác trở lại, rồi ấn vào phần gân ở khuỷu tay và chỗ hõm ở cổ tay tôi.
“Ổn rồi,” tôi nói qua hàm răng nghiến chặt, cẩn thận ve vẩy bàn tay phải đang râm ran. “Anh sẽ làm gì khi đâm phải xương và đánh rơi con dao? Có quy chuẩn nào cho trường hợp đó không?”
“Ồ, có chứ,” Rupert nói, cười toe. “Rút súng bằng tay trái và bắn chết gã con hoang khốn kiếp đó.” Câu trả lời này khiến những tràng cười lại rộ lên, nhưng tôi lờ đi.
“Được rồi,” tôi nói, ít nhiều đã điềm tĩnh lại, chỉ vào khẩu súng mà Jamie đeo bên hông trái. “Vậy anh dạy em cách nạp đạn và bắn súng nhé?”
“Không.” Anh kiên quyết.
Tôi hơi sửng cồ trước câu trả lời này. “Tại sao lại không?”
“Bởi vì em là phụ nữ, Sassenach ạ!”
Tôi cảm thấy mặt mình đỏ bừng lên. “Ồ?” Tôi mỉa mai nói. “Anh nghĩ phụ nữ không đủ sáng dạ để hiểu cơ chế hoạt động của một khẩu súng?”
Anh nhìn tôi chằm chằm, miệng hơi mím lại khi nghĩ cách trả lời.
“Anh rất muốn cho em bắn thử,” cuối cùng anh nói. “Để cho em biết tay.”
Rupert bực tức chậc lưỡi với cả hai chúng tôi. “Đừng có gàn dở thế, Jamie. Còn cô, cô gái,” ông ta quay sang tôi, “lý do không phải vì phụ nữ ngu ngốc, dù chắc chắn có vài người ngu ngốc thật, mà là họ nhỏ bé.”
“Ồ?” Tôi há hốc miệng vẻ ngớ ngẩn trước mặt ông ta trong một thoáng. Jamie hừ một tiếng và rút súng ra. Nhìn gần mới thấy nó thật to; từ báng đến họng súng dài chừng bốn mươi lăm centimet.
“Nhìn đây,” anh nói, giơ nó lên trước mặt tôi. “Em cầm nó như thế này, tì nó vào cẳng tay, và ngắm bắn ở chỗ này. Khi em kéo cò, nó sẽ bật vào người em như một con la đá hậu. Anh cao hơn em gần ba mươi centimet, nặng hơn hai mươi lăm cân, và biết rõ cách sử dụng nó, vậy mà anh còn bị nó làm cho thâm tím; nếu không bật trúng vào mặt em thì nó cũng có thể khiến em ngã ngửa ra sau đấy.” Anh xoay khẩu súng và đút nó trở lại cái móc.
“Anh rất muốn để em tự trải nghiệm,” anh nói, nhướng một bên lông mày, “nhưng anh thích em có đủ răng hơn. Em có một nụ cười duyên, Sassenach, cho dù em hay nổi cáu.”
Hơi xấu hổ bởi sự việc vừa rồi, tôi im lặng chấp nhận lời đánh giá của cánh đàn ông rằng ngay cả thanh kiếm ngắn cũng là quá nặng với tôi. Thanh sgian dhu nhỏ bé, một loại dao găm ngắn, có vẻ phù hợp nhất, và tôi được cấp một con dao loại đó. Nó là một vật rất sắc được làm bằng sắt màu đen, trông khá kỳ quái, dài khoảng tám phân, với cái chuôi ngắn ngủn. Tôi tập đi tập lại cách rút nó ra khỏi chỗ cất giấu trước ánh mắt quan sát chăm chú của cánh đàn ông, cho đến khi có thể thuần thục luồn lật váy, tóm lấy con dao, rút ra và giơ lên dưới tầm vai, sẵn sàng chém ngang cổ họng của địch thủ.
Cuối cùng, tài dùng dao của tôi cũng được thông qua, và tôi được phép ngồi xuống ăn tối giữa những tiếng chúc tụng của tất cả cánh đàn ông - chỉ trừ một người. Murtagh lắc đầu vẻ nghi ngại.
“Tôi vẫn nói thứ vũ khí duy nhất thích hợp với một người phụ nữ là thuốc độc.”
“Có lẽ vậy,” Dougal đáp lời, “nhưng nó có nhược điểm khi đánh giáp lá cà.”