Tôi ngồi ở tiệm rượu bên dưới, nhìn chằm chằm vào cốc sữa trên bàn và kìm nén cơn nôn nao đang dâng tràn.
Khi tôi được viên Hạ sĩ trẻ tuổi lực lưỡng dìu xuống cầu thang, Dougal chỉ liếc nhìn mặt tôi một cái rồi hùng hổ sải bước qua tôi để lên gác, tới phòng của Randall. Sàn nhà và các cánh cửa của quán trọ vốn dày dặn và chắc chắn, nhưng tôi vẫn có thể nghe thấy những giọng nói to tiếng ở trên gác.
Tôi cầm cốc sữa lên, nhưng tay run đến nỗi không uống nổi.
Chỗ bị đấm ban nãy đã dần đỡ đau, nhưng tôi vẫn chưa hết sốc. Tôi biết người đàn ông này không phải là chồng tôi, nhưng sự giống nhau rõ rệt giữa họ và những thói quen cố hữu của tôi khiến tôi phần nào có khuynh hướng tin tưởng hắn, và nói chuyện với hắn như thể nói chuyện với Frank, trông đợi ở hắn sự lịch thiệp, dẫu không có sự cảm thông. Cú đòn ác ý của hắn đã đột ngột làm đảo lộn những cảm xúc ấy khiến tôi vô cùng khó chịu.
Khó chịu, và cả sợ hãi nữa. Tôi đã nhìn vào mắt hắn khi hắn khom người cạnh tôi trên sàn. Trong đáy mắt hắn có thứ gì đó thoáng dịch chuyển. Nó đã biến mất sau nháy mắt, nhưng tôi không bao giờ muốn nhìn thấy nó lần nữa.
Tiếng cánh cửa mở ra phía trên đầu kéo tôi ra khỏi dòng suy tưởng. Dougal nhanh chóng xuất hiện sau tiếng bước chân thình thịch, với Đại úy Randall theo sát gót. Thực sự là quá sát, đến nỗi viên Đại úy như đang bám riết vị thủ lĩnh người Scot, và đứng khựng lại lúc Dougal dừng đột ngột ở chân cầu thang khi ông ta nhìn thấy tôi.
Sau khi ngoảnh lại trừng mắt với Đại úy Randall, Dougal nhanh chóng bước tới chỗ tôi đang ngồi, ném một đồng tiền nhỏ lên bàn để thanh toán và lẳng lặng kéo tôi đứng dậy. Ông ta lôi tôi ra khỏi cửa nhanh đến nỗi tôi chẳng kịp thấy gì ngoài ánh mắt tính toán lạ thường trên mặt viên sĩ quan Áo đỏ.
Chúng tôi lên ngựa và rời đi trước khi tôi kịp vén những lớp váy lùng nhùng, và lớp vải phồng lên quanh tôi như một cái dù đang buông chùng. Dougal im lặng, nhưng lũ ngựa có vẻ cảm nhận được sự gấp gáp của ông ta; chúng tôi gần như phi nước đại lúc đến đường chính.
Gần một giao lộ được đánh dấu bởi một cây thập tự của người Pict, Dougal đột ngột ghì cương ngựa. Ông ta nhảy xuống, nắm lấy dây cương của cả hai con ngựa và cột hờ chúng vào một cái cây non. Ông ta giúp tôi leo xuống rồi đột ngột chui vào trong bụi rậm, ra hiệu cho tôi đi theo.
Tôi đi lên sườn đồi đằng sau chiếc váy đung đưa của ông ta, né tránh những nhành cây bật lại sau khi bị ông ta gạt ra khỏi đường đi. Sườn đồi phủ đầy cây sồi và cây thông còi. Tiếng chim sẻ ngô vang lên trong bãi cây phía bên trái, và xa hơn là một đàn giẻ cùi ríu rít gọi nhau cùng ăn. Bãi cỏ mang màu xanh mơn mởn của tiết đầu hè, những búi cỏ cứng cáp nhô lên giữa những hòn đá và tạo thành một lớp thảm lót trên mặt đất bên dưới các gốc sồi. Đương nhiên, dưới chân những cây thông chẳng mọc thứ gì cả; thảm lá kim ở đó dày đến hàng chục phân, che chở cho các sinh vật nhỏ bé khỏi ánh nắng mặt trời và các loài dã thú.
Mùi hương gắt nồng khiến cổ họng tôi đau khé. Tôi đã từng lên những sườn đồi như thế này và ngửi mùi hương mùa xuân. Nhưng bấy giờ hương thông và hương cỏ bị quyện lẫn với mùi xăng bốc lên từ con đường bên dưới và giọng nói của những người đi dạo chơi trong ngày thay thế cho tiếng chim giẻ cùi kia. Lần cuối tôi dạo bộ trên một con đường như thế, mặt đất rải rác giấy gói bánh sandwich và đầu mẩu thuổc lá thay vì những bông hoa cẩm quỳ và violet. Tôi cho rằng giấy gói bánh sandwich có vẻ là một cái giá hợp lý để trả cho những tiện ích mà nền văn minh mang lại như thuốc kháng sinh và điện thoại, nhưng vào lúc này, tôi sẵn sàng chọn những bông violet. Tôi tha thiết cần một cảm giác yên bình nhỏ nhoi, và đã tìm thấy nó ở đây.
Dougal đột nhiên rẽ ngoặt ngay trước khi lên đến đỉnh đồi và biến mất trong một bụi đậu chổi dày. Tôi len lỏi đi theo ông ta, và thấy ông ta đang ngồi trên phiến đá bằng phẳng nằm ở mép của một con suối. Đằng sau ông ta là một tảng đá mòn nghiêng ngả, trên bề mặt nhem nhuốc của nó có khắc hình người lờ mờ. Đây hẳn là một suối nước thánh. Những miếu thờ nhỏ dành cho các vị thánh nằm rải rác khắp vùng cao nguyên, và thường được tìm thấy ở những địa điểm hẻo lánh như thế này. Thậm chí ngay cả trên này vẫn có những mảnh vải tả tơi bay phần phật trên các nhành thanh lương trà nhô ra bên trên mặt nước; có lẽ đó là vật làm tin của các du khách tới cầu xin vị thánh sức khỏe hoặc một chuyến đi bình an.
Dougal gật đầu khi tôi chui ra khỏi bụi cây. Ông ta làm dấu thánh giá, cúi đầu và chụm hai tay lại để vốc nước. Nước có màu sẫm đến kỳ lạ, và mùi của nó còn tệ hơn - giống như một con suối lưu huỳnh. Nhưng trời nóng mà tôi thì đang khát, vì vậy tôi cũng làm theo Dougal. Nước hơi đắng nhưng mát lạnh và không phải là không ngon. Tôi uống một chút rồi vã nước lên mặt. Con đường tôi vừa đi đầy bụi bặm.
Tôi ngẩng lên, mặt rỏ nước tong tỏng, và thấy ông ta đang nhìn tôi với một vẻ rất lạ. Trộn lẫn giữa tò mò và tính toán, tôi nghĩ vậy.
“Ông leo lên đây không phải chỉ để uống nước, đúng không?” Tôi nhẹ nhàng hỏi. Trên mình lũ ngựa có đeo những chai nước. Và tôi không nghĩ Dougal có ý định cầu xin vị thánh bảo hộ của con suối phù hộ chúng tôi trở về quán trọ an toàn. Tôi có ấn tượng rằng ông ta là tín đồ của những phương pháp trần tục hơn.
“Cô biết Đại úy rõ tới mức nào?” Ông ta đột ngột hỏi.
“Không nhiều bằng ông,” tôi cấm cảu. “Trước ngày hôm nay, tôi mới gặp ông ta có một lần, và cũng là tình cờ. Chúng tôi không ưa gì nhau.”
Lạ một điều, khuôn mặt nghiêm nghị của ông ta sáng lên đôi chút.
“Chà,” ông ta thừa nhận, “ta không thể nói là mình ưa hắn.” Ông ta gõ gõ các ngón tay trên phiến đá, suy ngẫm gì đó. “Nhưng vài người lại đánh giá cao hắn,” Dougal nói, nhìn tôi. “Theo những gì ta nghe được, hắn là một người lính dũng cảm và một chiến binh khỏe mạnh.”
Tôi nhướng mày. “Vì tôi không phải là một vị tướng người Anh nên tôi chẳng thấy ấn tượng gì.”
Ông ta cười, phô ra hàm răng trắng đến đáng kinh ngạc. Tiếng cười ấy khiến ba con quạ đang đậu ở ngọn cây trên đầu chúng tôi vỗ cánh bay đi, khàn khàn kêu lên những tiếng phàn nàn.
“Cô là gián điệp cho quân Anh hay quân Pháp?” Ông ta đột ngột thay đổi chủ đề. Ít nhất ông ta cũng đang thẳng thắn.
“Tôi không phải gián điệp,” tôi giận dữ nói. “Tôi chỉ đơn thuần là Claire Beauchamp, thế thôi!” Tôi nhúng khăn tay vào nước và lau cổ. Những dòng nước nhỏ mát lạnh chảy dọc lưng tôi bên dưới lớp vải xẹc màu xám làm tôi tỉnh táo. Tôi lại ấn cái khăn ướt vào ngực và vắt nhẹ, tạo ra kết quả tương tự.
Dougal im lặng trong vài phút, chăm chú quan sát tôi.
“Cô đã thấy lưng của Jamie,” ông ta đột nhiên nói.
“Sao tôi có thể không thấy được chứ,” tôi lạnh lùng nói. Tôi chẳng buồn thắc mắc ông ta định mưu toan gì với những câu hỏi rời rạc thế này. Có lẽ ông ta sẽ nói cho tôi hay khi nào ông ta sẵn sàng.
“Ý ông là tôi có biết Randall đã gây ra vết thương của anh ta không ư? Mà ông có biết việc đó không?”
“Có, ta biết rõ việc đó,” ông ta trả lời, điềm tĩnh đánh giá tôi, “nhưng ta không biết là cô cũng biết.”
Tôi nhún vai, ám chỉ rằng những gì tôi biết và những gì tôi không biết chẳng phải là điều mà ông ta cần bận tâm.
“Ta đã ở đó,” ông ta nói, vẻ hờ hững.
“Ở đâu cơ?”
“Pháo đài William. Lúc ấy ta có chút việc với quân đồn trú. Viên thư ký ở đó biết Jamie là bà con với ta nên đã báo tin cho ta khi họ bắt giữ nó. Vì vậy ta đã tới để xem có thể làm gì cho nó không.”
“Rõ ràng là ông không thành công lắm,” tôi cáu kỉnh nói.
Dougal nhún vai. “Rủi thay. Nếu người phụ trách hôm đó là viên thượng sĩ thường ngày thì ít nhất ta có thể cứu được Jamie khỏi trận đòn thứ hai, nhưng như cô thấy đấy, Randall là chỉ huy mới. Hắn không biết ta và không muốn nghe ta nói. Lúc đó, ta đã nghĩ hắn có ý định lấy Jamie làm gương để cho mọi người thấy hắn sẽ không nhân nhượng chuyện gì hết.” Dougal gõ gõ vào thanh đoản kiếm mà ông ta đeo ở thắt lưng. “Đó là một nguyên tắc đúng đắn khi cô làm chỉ huy. Phải giành được sự tôn trọng của cấp dưới trước tiên. Nếu không thể, hãy làm cho họ e sợ.”
Tôi nhớ lại vẻ mặt của viên Hạ sĩ, và nghĩ rằng tôi biết gã Đại úy đã lựa chọn con đường nào.
Đôi mắt sâu hoắm của Dougal đang chăm chú nhìn vào mặt tôi.
“Cô biết thủ phạm là Randall. Jamie kể cho cô nghe à?”
“Một chút,” tôi thận trọng nói.
“Hẳn là nó nghĩ tốt về cô,” ông ta đăm chiêu nói. “Nó thường không kể việc đó với bất cứ ai.”
“Tại sao lại không chứ,” tôi nói, vẻ khiêu khích. Tôi vẫn nín thở mỗi lần chúng tôi tới một quán rượu hay quán trọ mới, cho đến khi thấy rõ rằng đêm đó đoàn chúng tôi sẽ chỉ uống rượu và tán gẫu bên ánh lửa. Dougal mỉm cười giễu cợt, rõ ràng ông ta biết trong đầu tôi đang nghĩ gì.
“Chà, nó không cần phải kể với ta, đúng không? Vì ta đã biết rồi.” Ông ta khuấy tay xuống làn nước sẫm kỳ lạ, khiến mùi lưu huỳnh bốc lên.
“Tôi không biết ở Oxfordshire thì thế nào,” ông ta nói, với sự nhấn mạnh đầy mỉa mai khiến tôi hơi lúng túng, “nhưng ở đây, phụ nữ thường không được chứng kiến những cảnh tượng như quất roi. Cô đã bao giờ nhìn thấy một vụ quất roi chưa?”
“Chưa, và tôi cũng không muốn lắm,” tôi sắc sảo đáp. “Nhưng tôi có thể tưởng tượng trận đòn ấy phải dữ dội chừng nào mới có thể tạo ra các dấu vết như ở trên lưng Jamie.”
Dougal lắc đầu, té nước vào một con giẻ cùi tò mò dám đánh bạo tiến lại gần.
“Cô nhầm rồi. Mong cô thứ lỗi khi ta nói thế. Tưởng tượng cũng tốt, nhưng không thể sánh nổi với việc tận mắt chứng kiến một người đàn ông bị quất roi đến rách lưng. Điều đó thực sự rất gớm ghiếc - nó có thể làm cho một người đàn ông suy sụp.”
“Nhưng Jamie thì không.” Tôi nói với giọng sắc bén hơn dự định. Jamie là bệnh nhân của tôi, trong chừng mực nào đó, anh ta còn là bạn của tôi nữa. Tôi không muốn bàn luận về chuyện riêng của anh ta với Dougal, dù tôi buộc lòng phải thừa nhận là mình cũng rất tò mò. Tôi chưa từng gặp ai vừa cởi mở vừa bí ẩn hơn anh chàng MacTavish cao lớn ấy.
Dougal cất tiếng cười ngắn và đưa bàn tay ướt lên vuốt lại những lọn tóc đã xổ ra trong lúc cưỡi ngựa.
“Chà, Jamie cứng đầu hệt như những người còn lại trong gia đình nó - bọn họ cứ như những hòn đá vậy, và nó là đứa cứng đầu nhất.” Nhưng trong giọng ông ta có một sắc thái kính trọng nhất định, dù là miễn cưỡng.
“Jamie kể với cô nó bị đánh vì vượt ngục?”
“Vâng.”
“Ừ, nó trèo qua tường trại giam ngay buổi tối cái ngày đám kỵ binh đưa nó vào đó. Đó là một sự kiện xảy ra khá thường xuyên vì các phòng giam không chắc chắn như mong muốn, do đó đêm nào cũng có các nhóm lính đi tuần tra gần các bức tường. Viên thư ký của quân đồn trú kể với ta rằng Jamie đã chống trả rất quyết liệt - nhìn bề ngoài của nó khi bị tống lại vào phòng giam là đủ biết - nhưng đó là một cuộc chiến sáu chọi một, và cả sáu người kia đều mang súng hỏa mai, vì vậy nó không thể cầm cự lâu. Jamie bị xích cả đêm, và bị dẫn đến cột quát roi ngay từ lúc sáng sớm.” Ông ta ngừng lại, chắc là để kiểm tra xem ở tôi có các dấu hiệu muốn ngất xỉu hay buồn nôn không.
“Các vụ quất roi được thực hiện ngay sau tiếng kèn tập hợp để lên tinh thần cho mọi người. Hôm đó có ba người bị đánh, và Jamie là kẻ cuối cùng trong số họ.”
“Ông đã thực sự chứng kiến trận đòn đó?”
“Đúng vậy. Nói cho cô biết nhé, nhìn thấy người ta bị vụt chẳng phải là điều thú vị gì. Dù may mắn chưa từng trải qua nhưng ta nghĩ bị quất roi cũng chẳng mấy dễ chịu. Và nhìn việc đó xảy ra với người khác trong khi chờ đến lượt mình có lẽ là điều khủng khiếp nhất.”
“Tôi không nghi ngờ điều đó,” tôi lẩm bẩm.
Dougal gật đầu. “Jamie trông rất căng thẳng, nhưng nó không tỏ vẻ sợ hãi, ngay cả khi nghe thấy những tiếng thét và những âm thanh khác - cô có biết là cô có thể nghe thấy da thịt rách toạc không?”
“Eo ôi!”
“Ta cũng đã thầm kêu lên như vậy đấy,” ông ta nói, nhăn mặt khi nhớ lại. “Chưa kể máu và các vết bầm tím. Úi chà!” Ông ta nhổ nước bọt, cẩn thận tránh con suối. “Chứng kiến cảnh tượng ấy khiến dạ dày ta nhộn nhạo, mà ta vốn không phải người dễ buồn nôn.”
Dougal tiếp tục câu chuyện đáng ghê tởm ấy.
“Đến lượt Jamie, nó bước tới cái cột - vài người phải bị lôi đi, nhưng nó thì không - và giơ tay ra để viên hạ sĩ có thể tháo cái cùm mà nó đang đeo. Viên hạ sĩ kéo cánh tay nó, ờ, để lôi nó vào vị trí, nhưng Jamie giằng ra và lùi lại một bước. Ta cứ nghĩ nó sẽ bỏ chạy, nhưng hóa ra nó chỉ cởi áo. Cái áo rách lỗ chỗ và bẩn như một miếng giẻ lau, nhưng nó gấp lại cẩn thận như thể đó là cái áo đẹp nhất của nó, và đặt xuống đất. Rồi nó bước tới cái cột, vững vàng như một người lính và giơ tay lên để bị trói.”
Dougal lắc đầu, tỏ vẻ kinh ngạc. Ánh nắng lọt qua những kẽ lá thanh lương trà, lấm chấm trên người ông ta, khiến ông ta trông giống như được nhìn qua một chiếc khăn lót bằng đăng ten. Tôi mỉm cười trước ý nghĩ ấy. Tưởng rằng tôi phản ứng như vậy là vì câu chuyện của ông ta, ông ta gật đầu tán đồng với tôi.
“Ừ, hiếm có ai can đảm như thế. Không phải là nó không biết gì; nó vừa mới nhìn thấy hai người bị quất roi và biết mình sắp phải chịu chung số phận với họ. Chỉ là nó hiểu rằng chẳng thể ngăn được việc đó. Sự gan dạ trong chiến trận không phải là điều xa lạ với một người Scot, cô biết đấy, nhưng đánh bại nỗi sợ hãi bằng vẻ máu lạnh lại là điều vô cùng hiếm hoi. Bấy giờ nó mới mười chín tuổi chứ mấy,” Dougal nói thêm như thể chợt nghĩ ra.
“Chứng kiến cảnh đó hẳn là khủng khiếp lắm,” tôi mỉa mai nói. “Tôi ngạc nhiên khi ông không bị nôn đấy.”
Dougal nhận thấy sự châm biếm nhưng mặc kệ nó. “Ta cũng suýt bị nôn đấy chứ,” ông ta nói, nhướng đôi lông mày sẫm màu. “Máu tóe ra ngay từ cú roi đầu tiên, và trong vòng một phút, tấm lưng thằng bé đã biến thành nửa đỏ nửa tím. Nhưng nó không la hét, van xin hay vặn vẹo người để cố gắng tự cứu mình. Nó chỉ cụng mạnh trán vào cây cột và đứng yên đó. Nó nhăn nhó khi ngọn roi quất trúng, đương nhiên, nhưng không có phản ứng gì khác. Ta nghĩ nếu là ta thì sẽ không thể làm được như thế,” ông ta thừa nhận, “và chắc rằng nhiều người khác cũng vậy. Nó ngất xỉu khi mới bị quất một nửa số roi, và chúng hắt nước vào mặt nó để đánh thức nó dậy, tiếp tục trận đòn.”
“Kinh khủng quá,” tôi thốt lên. “Tại sao ông lại kể với tôi chuyện này?”
“Ta chưa kể xong mà.” Dougal rút con dao găm ra khỏi thắt lưng và bắt đầu dùng mũi của nó để cạy ghét ở các móng tay. Ông ta là một người đàn ông kĩ tính, bất chấp những khó khăn của việc giữ vệ sinh sạch sẽ khi đi lại trên đường.
“Jamie đổ sụp người xuống khi tay vẫn đang bị trói, máu chảy ròng ròng thấm đẫm váy của nó. Ta không nghĩ nó bị ngất, nó chỉ chóng mặt đến mức không thể đứng nổi nữa. Nhưng đúng lúc đó, Đại úy Randall bước xuống sân. Ta không biết tại sao hắn lại không có mặt ngay từ đầu; có lẽ vì có việc gì đó trì hoãn hắn. Dù sao đi nữa, khi thấy hắn xuất hiện, Jamie vẫn còn đủ nhanh trí để nhắm mắt và gục đầu xuống, như thể nó đã bất tỉnh.”
Dougal nhíu mày, tập trung hết sức vào một chỗ xước măng rô cứng đầu cứng cổ.
“Gã Đại úy khá điên tiết khi thấy Jamie đã bị đánh; có vẻ như hắn muốn dành niềm khoái lạc ấy cho chính mình. Tuy nhiên, hắn chẳng thể làm gì được nữa. Nhưng rồi hắn nghĩ đến việc điều tra xem làm thế nào mà Jamie bỏ trốn được.”
Ông ta giơ con dao lên, kiểm tra xem có vết mẻ nào không, rồi bắt đầu mài lưỡi dao vào phiến đá mà ông ta đang ngồi. “Trước khi hắn tra hỏi xong, đã có vài binh lính run như cầy sấy - ta phải công nhận rằng gã đó có miệng lưỡi thật ghê gớm.”
“Đúng thế,” tôi nói với vẻ giễu cợt.
Con dao nhịp nhàng cọ vào phiến đá. Chốc chốc, một tia lửa yếu ớt lại lóe lên từ lưỡi kim loại khi nó cọ vào một chỗ sần sùi.
“Trong quá trình tra hỏi, hắn phát hiện ra khi bị bắt lại, trên người Jamie có một cái cùi bánh mỳ và một mẩu pho mát. Gã Đại úy suy nghĩ một thoáng, rồi mỉm một nụ cười mà ta sẽ không muốn nhìn thấy trên mặt bà của ta. Hắn tuyên bố rằng ăn cắp là một trọng tội, hình phạt nên xứng tầm, và kết án Jamie phải chịu thêm một trăm roi nữa ngay tại chỗ.”
Tôi không kìm được nhăn nhó. “Như thế anh ta sẽ chết mất!”
Dougal gật đầu. “Ừ, viên bác sĩ của đơn vị đồn trú cũng nói vậy. Ông ta nói rằng ông ta không cho phép một việc như thế; nếu có lương tâm, tù nhân phải được nghỉ ngơi một tuần để bình phục trước khi nhận trận đòn roi thứ hai.”
“Chà, ông ấy thật nhân đạo,” tôi nói. “Có lương tâm ư! Xì! Đại úy Randall nghĩ sao?”
“Ban đầu hắn không hài lòng, nhưng cuối cùng đành phải chấp nhận. Sau đó, viên Thượng sĩ, vốn biết rõ thế nào là một kẻ ngất xỉu thực sự, đã cởi trói cho Jamie. Thằng bé lảo đảo một chút, nhưng nó vẫn đứng được, và một vài người có mặt ở đó hoan hô cổ vũ khiến gã Đại úy không vui vẻ lắm. Hắn cũng chẳng hài lòng tí nào khi viên Thượng sĩ nhặt áo của Jamie lên và đưa trả cho nó, dù đó là một hành động rất đỗi bình thường đối với những người đàn ông.”
Dougal lật đi lật lại lưỡi dao, kiểm tra nó một cách tỉ mỉ. Rồi ông ta đặt nó ngang đầu gối và nhìn thẳng vào tôi.
“Cô biết đấy, khá là dễ dàng để tỏ ra dũng cảm khi ngồi bên ly bia trong một quán rượu ấm áp. Nhưng sẽ không dễ dàng lắm khi ngồi bệt trên một cánh đồng lạnh lẽo, với những viên đạn hỏa mai bay vèo vèo trên đầu và những đám thạch nam làm nhột mông cô. Và càng ít dễ dàng hơn nữa lúc cô đứng đối mặt với kẻ thù, khi máu của chính mình chảy ròng ròng xuống chân.”
“Tôi cũng nghĩ vậy,” tôi nói. Cảm thấy hơi ngột ngạt, tôi bèn thọc cả hai tay xuống nước, để cho thứ chất lỏng tối đen ấy làm lạnh cổ tay mình.
“Ta đã quay lại để gặp Randall trong tuần đó,” Dougal dè dặt nói, như thể cảm thấy cần phải bào chữa đôi chút cho hành động ấy. “Ta và hắn nói chuyện một chút, thậm chí ta còn ngỏ ý nộp tiền bồi thường…”
“Ồ, cảm động quá,” tôi lẩm bẩm, nhưng ngừng lại trước cái trừng mắt của ông ta. “Tôi nói thực lòng mà. Ông thật tốt bụng. Nhưng tôi đoán Randall từ chối lời đề nghị của ông?”
“Đúng, hắn đã từ chối. Và ta vẫn không hiểu tại sao, vì ta chưa thấy viên sĩ quan người Anh nào chê tiền như vậy, mà quần áo hắn mặc khá là đắt đỏ đấy chứ.”
“Có lẽ hắn ta… có những nguồn thu nhập khác,” tôi gợi ý.
“Đúng là hắn có,” Dougal xác nhận, nhưng liếc nhìn tôi với ánh mắt sắc sảo, “tuy nhiên…” ông ta ngập ngừng, rồi nói tiếp một cách chậm rãi hơn.
“Sau đó, ta quay lại khi Jamie bị đưa ra trừng phạt lần thứ hai, nhưng lúc đó ta không thể làm được gì cho nó nữa, thằng bé tội nghiệp.”
Lần thứ hai, Jamie là tù nhân duy nhất bị quất roi. Các lính canh đã lột áo của anh ta trước khi dẫn anh ta ra, ngay sau khi mặt trời lên vào một buổi sáng tháng Mười lạnh giá.
“Ta có thể thấy thằng bé sợ chết khiếp,” Dougal nói, “mặc dù nó đang tự đi và không để cho tên lính canh nào chạm vào mình. Ta có thể thấy nó run rẩy, vừa vì lạnh vừa vì căng thẳng, và gai ốc nổi dày trên hai cánh tay và ngực nó, nhưng trên mặt nó lại vã đầy mồ hôi.”
Một vài phút sau, Randall bước ra, cái roi kẹp dưới cánh tay, và những hòn chì ở đầu các ngọn roi va vào nhau leng keng theo nhịp bước chân hắn. Hắn lạnh lùng nhìn Jamie, rồi ra hiệu cho viên Thượng sĩ xoay người phạm nhân lại để giơ tấm lưng ra.
Dougal nhăn mặt. “Một cảnh tượng đáng thương, tấm lưng nó vẫn còn chưa lành với những lằn roi thâm sì và những vết bầm vàng khè. Chỉ cần nghĩ tới một ngọn roi vụt xuống đó đã đủ khiến ta bủn rủn, nói gì đến việc phải chứng kiến.”
Sau đó, Randall quay sang viên Thượng sĩ và nói: “Làm tốt lắm, Thượng sĩ Wilkes. Ta phải xem liệu ta có thể làm được như vậy không.” Rồi hắn cho gọi bác sĩ của đơn vị đồn trú và lệnh cho ông ta chứng nhận rằng Jamie có đủ sức khỏe để bị quất roi.
“Cô đã nhìn thấy một con mèo vờn một con chuột nhắt chưa?” Dougal hỏi. “Tình cảnh lúc ấy cũng giống như thế đó. Randall thong thả bước quanh thằng bé, nói vô số những lời khó nghe. Còn Jamie thì đứng hiên ngang như một cây sồi, không nói năng gì, chỉ dán chặt mắt vào cây cột, chẳng thèm liếc nhìn Randall. Ta có thể nhận ra thằng bé đang ôm chặt hai khuỷu tay để cố gắng ngăn mình khỏi run rẩy, và chắc là Randall cũng nhìn thấy.”
“Hắn nhếch miệng nói: “Chàng trai này chỉ mới một tuần trước thôi còn hét lên rằng mình không sợ chết. Nếu đã không sợ chết thì chắc là cũng không sợ một vài ngọn roi đâu nhỉ?” Rồi hắn thúc cán roi vào bụng Jamie.
“Jamie bèn nhìn thẳng vào mắt Randall và nói: “Tôi không sợ, nhưng tôi e rằng mình sẽ bị đông cứng trước khi ông nói xong.”
Dougal thở dài. “Chà. Câu đối đáp của nó nghe thì hay đấy, nhưng quá sức liều lĩnh. Bị đánh bằng roi chẳng phải là việc dễ chịu gì, nhưng có những cách khiến nó còn trở nên tồi tệ hơn; chẳng hạn như quất ngang ngọn roi để vết rách toác sâu, hoặc xen vào một cú đấm thật mạnh phía trên thận.” Ông ta lắc đầu. “Rất đáng sợ.”
Ông ta cau mày, chậm rãi lựa chọn từ ngữ.
“Khuôn mặt Randall - rất chăm chú, ta cho là cô sẽ nhận xét như vậy - và hơi sáng lên, giống như một người đàn ông nhìn cô gái mà anh ta phải lòng. Như thể hắn đang làm một trò tồi tệ hơn nhiều so với việc lột da sống Jamie. Đến cú quất thứ mười lăm, máu chảy dọc theo hai chân thằng bé, và những giọt nước mắt quyện lẫn mồ hôi tuôn ròng ròng trên mặt nó.”
Tôi hơi chao đảo, và giơ tay bám vào phiến đá.
“Chà,” ông ta đột ngột nói khi bắt gặp biểu cảm của tôi. “Tôi sẽ không nói gì hơn ngoài việc nó vẫn sống sót sau trận đòn đó. Khi viên Hạ sĩ cởi dây trói ở tay nó, nó suýt thì ngã khuỵu xuống, nhưng viên Hạ sĩ và Thượng sĩ mỗi người tóm lấy một cánh tay để đỡ nó. Nó run rẩy hơn bao giờ hết vì sốc và lạnh, nhưng dù đứng cách khoảng sáu mét, tôi vẫn có thể nhìn thấy đầu nó ngẩng cao và mắt nó sáng quắc. Lúc họ dìu nó xuống khỏi bục, để lại những dấu chân máu me, nó cứ gắn chặt mắt vào Randall - như thể nhìn thẳng vào Randall là điều duy nhất giúp nó đứng vững vậy. Mặt Randall tái nhợt gần bằng mặt Jamie, và đôi mắt hắn khóa chặt mắt thằng bé - cứ như cả hai người họ đều sẽ ngã xuống nếu hắn dời mắt đi.” Đôi mắt Dougal bất động như vẫn đang nhìn thấy cảnh tượng kỳ quái ấy.
Vạn vật trong trảng đất nhỏ này đều tĩnh lặng ngoại trừ luồng gió nhẹ lùa qua đám lá thanh lương trà. Tôi nhắm mắt và lắng nghe tiếng rì rào ấy một lúc.
“Tại sao?” Cuối cùng tôi hỏi, mắt vẫn nhắm. “Tại sao ông lại kể với tôi chuyện này?”
Khi tôi mở mắt ra, Dougal đang nhìn tôi chăm chú. Tôi lại vốc tay xuống nước, vã dòng nước mát lạnh lên hai bên thái dương.
“Ta nghĩ câu chuyện này có thể dùng để khắc họa tính cách,” ông ta nói.
“Của Randall ư?” Tôi cười nhạt. “Tôi chẳng cần thêm bằng chứng nào về nhân cách của hắn ta, cảm ơn ông.”
“Của Randall,” ông ta đồng tình, “và cả Jamie nữa.”
Tôi nhìn ông ta, đột nhiên cảm thấy không thoải mái.
“Cô thấy đấy, ta đã nhận được những mệnh lệnh,” ông ta mỉa mai nhấn mạnh từ đó, “của vị Đại úy tài ba.”
“Mệnh lệnh gì vậy?” Tôi hỏi, cảm giác căng thẳng dâng lên.
“Dẫn một thần dân Anh có tên là Claire Beauchamp đến trình diện ở pháo đài William vào thứ Hai, ngày Mười tám tháng Sáu. Để thẩm vấn.”
Hẳn là trông mặt tôi có vẻ kinh hãi lắm, vì ông ta đứng bật dậy và tới chỗ tôi.
“Hãy đặt đầu vào giữa hai đầu gối,” ông ta hướng dẫn, đẩy gáy tôi, “cho đến khi cơn choáng váng qua đi.”
“Tôi biết phải làm gì,” tôi cáu kỉnh nói, nhưng vẫn làm theo lời ông ta. Tôi nhắm mắt, cảm thấy máu lại bắt đầu rần rật chảy hai bên thái dương. Cảm giác lạnh và ẩm ướt quanh mặt và tai bắt đầu biến mất, dù hai bàn tay tôi vẫn còn giá buốt. Tôi tập trung hít thở đúng cách, đếm vào một-hai-ba-bốn, ra một-hai, vào một-hai-ba-bốn…
Sau cùng, tôi ngồi thẳng dậy, cảm thấy mình ít nhiều đã kiểm soát được cơ thể. Dougal đã về lại chỗ ngồi của mình, kiên nhẫn chờ đợi và quan sát để chắc chắn rằng tôi không bị ngã ngửa xuống suối.
“Có một cách để thoát khỏi việc đó,” ông ta đột nhiên nói. “Cách duy nhất mà ta có thể nghĩ ra.”
“Nói cho tôi biết đi,” tôi nói, gắng gượng mỉm cười.
“Được thôi.” Ông ta cúi người về phía tôi để giải thích. “Randall có quyền bắt cô để thẩm vấn bởi vì cô là một thần dân của vương triều Anh. Vậy thì chúng ta phải thay đổi điều đó.”
Tôi nhìn ông ta chằm chằm, không hiểu gì. “Ý ông là sao? Ông cũng là một thần dân của vương triều, không phải ư? Làm thế nào mà ông thay đổi được một điều như thế?”
“Luật lệ của người Scot và người Anh rất giống nhau,” ông ta nói, cau mày, “nhưng không phải là một. Và một sĩ quan người Anh không thể ép buộc một người Scot làm gì, trừ phi hắn có bằng chứng chắc chắn hoặc có lý do chính đáng để nghi ngờ người Scot kia đã phạm tội. Ngay cả khi có sự nghi ngờ, hắn cũng không thể mang một thần dân Scotland ra khỏi lãnh địa của thị tộc nếu không được sự cho phép từ vị lãnh chúa của người đó.”
“Ông đã nói chuyện với Ned Gowan,” tôi nói, lại bắt đầu cảm thấy hơi chóng mặt.
Ông ta gật đầu. “Đúng vậy. Ta đã nghĩ chuyện có thể tới nước này, cô biết đấy. Và những gì ông ta nói với ta cũng là những gì bản thân ta nghĩ, cách duy nhất ta có thể từ chối giao cô cho Randall một cách hợp pháp là biến cô từ một phụ nữ Anh thành một người Scot.”
“Thành một người Scot ư?” Tôi nói, một nỗi nghi ngờ khủng khiếp nhanh chóng thay thế cho cảm giác hoa mày chóng mặt.
Nỗi nghi ngờ ấy được chứng thực bởi những lời tiếp theo của ông ta.
“Phải,” ông ta gật đầu, nói. “Cô phải kết hôn với một người Scot. Thằng nhỏ Jamie.”
“Tôi không thể làm thế!”
“Chà,” ông ta cau mày, cân nhắc. “Thế thì cô có thể lấy Rupert. Cậu ta là người góa vợ và có một trang trại nhỏ cho thuê. Tuy nhiên, cậu ta hơi già và…”
“Tôi cũng không muốn lấy Rupert! Đó là… là chuyện lố bịch nhất…” Chẳng tìm được từ nào để nói, tôi nhảy bật dậy trong nỗi kích động, bước vòng quanh khoảnh đất trống, nghiến nát những quả thanh lương trà rụng.
“Jamie là một chàng trai tốt,” Dougal vẫn ngồi trên phiến đá ở mép suối, nói lý lẽ với tôi. “Đúng là bây giờ nó chẳng có tài sản gì mấy, nhưng nó là người nhân hậu. Nó sẽ không đối xử tệ bạc với cô. Vả lại, nó là một chiến binh khỏe mạnh, và căm hận Randall. Nếu cô kết hôn với nó, nó sẽ chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ cô.”
“Nhưng… nhưng tôi không thể lấy ai cả!” Tôi bật thốt.
Đôi mắt Dougal đột nhiên trở nên sắc bén. “Tại sao lại không? Cô có chồng và chồng cô vẫn còn sống à?”
“Không. Chỉ là… chuyện này thật lố bịch! Tôi chưa từng thấy chuyện nào như thế!”
Dougal tỏ ra nhẹ nhõm khi tôi nói “không”. Ông ta ngước nhìn mặt trời và nhổm dậy để đi.
“Chúng ta nên về thôi. Có nhiều việc phải chuẩn bị lắm. Phải có được phép chuẩn[1] đặc biệt,” ông ta lẩm bẩm, như thể đang tự nói với chính mình. “Nhưng Ned có thể xoay xở việc đó.”
Ông ta nắm lấy cánh tay tôi, vẫn lẩm bẩm. Tôi giật tay ra.
“Tôi sẽ không lấy ai cả,” tôi kiên quyết nói.
Ông ta chẳng hề tỏ ra bối rối mà chỉ nhướng mày.
“Cô muốn ta đưa cô tới chỗ Randall?”
“Không!” Trong đầu tôi chợt nảy ra một ý. “Vậy là ít ra ông tin tôi không phải gián điệp của quân Anh?”
“Bây giờ thì ta tin.” Ông ta nói, hơi nhấn mạnh.
“Tại sao bây giờ ông mới tin?”
Ông ta hất đầu về phía con suối và hình khắc lờ mờ trên tảng đá. Nó hẳn đã hàng trăm năm tuổi, già hơn cả cây thanh lương trà khổng lồ tỏa bóng mát cho con suối và thả những bông hoa trắng muốt xuống mặt nước tối đen.
“Suối Thánh Ninian. Cô đã uống nước trước khi ta hỏi cô.”
Tôi ngơ ngác.
“Điều đó thì liên quan gì?”
Ông ta có vẻ ngạc nhiên, rồi nhếch miệng cười. “Cô không biết sao? Họ gọi nó là suối dành cho kẻ nói dối nữa đấy. Nước suối có mùi hương của địa ngục. Bất cứ ai uống nước mà nói lời không thật thì cổ họng sẽ bị cháy.”
“Ra thế.” Tôi nghiến răng nói. “Chà, cổ họng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Vì vậy ông có thể tin tôi khi tôi nói tôi không phải là một gián điệp, dù là cho quân Anh hay quân Pháp. Và ông có thể tin một điều nữa, Dougal MacKenzie. Tôi sẽ không lấy ai cả!”
Ông ta không nghe. Thực tế, ông ta đã len lỏi qua những bụi cây bao quanh con suối. Chỉ có một nhánh sồi lay động chỉ ra đường đi của ông ta. Giận sôi người, tôi đành đi theo ông ta.
•••
Tôi phản kháng thêm một lúc nữa trên đường quay lại quán trọ. Cuối cùng, Dougal khuyên tôi nên giữ lại hơi sức để còn thổi nguội cháo yến mạch, sau đó chúng tôi cưỡi ngựa trong im lặng.
Tới quán trọ, tôi hất dây cương xuống đất và giậm chân bình bịch lên gác để về phòng mình.
Toàn bộ ý tưởng này không chỉ kỳ quặc mà còn không thể tưởng tượng nổi. Tôi đi đi lại lại quanh căn phòng hẹp, cảm thấy mình càng ngày càng giống một con chuột bị mắc bẫy. Tại sao tôi không có can đảm để lén rời khỏi đám người Scot này sớm hơn chứ, cho dù phải đối mặt với những nguy cơ gì?
Tôi ngồi xuống giường và cố gắng suy nghĩ một cách điềm tĩnh. Nghiêm túc cân nhắc theo quan điểm của Dougal thì rõ ràng ý tưởng này rất tuyệt vời. Nếu ông ta thẳng thừng từ chối giao tôi cho Randall mà không có lý do gì, viên Đại úy có thể dễ dàng dùng vũ lực để bắt tôi đi. Cho dù có tin tôi hay không, Dougal ắt hẳn không muốn bị cuốn vào một cuộc xung đột với cả đám kỵ binh Anh vì tôi.
Nếu xem xét một cách máu lạnh, ý tưởng này còn có lợi cho tôi nữa. Nếu tôi kết hôn với một người Scot, có lẽ tôi sẽ không còn bị canh chừng. Như thế, khi đến thời điểm thích hợp, tôi sẽ dễ dàng bỏ đi hơn. Và nếu người tôi kết hôn là Jamie - chà, anh ta rõ ràng thích tôi. Và anh ta biết rõ về vùng cao nguyên như lòng bàn tay mình. Có lẽ anh ta sẽ đưa tôi tới Craigh na Dun, hoặc ít nhất cũng chỉ đường cho tôi. Có lẽ hôn nhân là cách tốt nhất để tôi đạt được mục đích.
Tuy nhiên, máu tôi không lạnh chút nào. Tôi đang nóng bừng vì thịnh nộ và kích động, không thể đứng yên một chỗ mà cứ đi tới đi lui, đầu óc bốc hỏa, cố gắng tìm kiếm một lối thoát. Bất cứ lối nào. Sau một tiếng đồng hồ như thế, mặt tôi đỏ bừng và đầu tôi giật giật. Tôi đứng dậy, mở cánh cửa chớp, thò đầu ra ngoài tận hưởng làn gió mát lành.
Có tiếng gõ cửa dứt khoát vang lên ở đằng sau. Dougal bước vào khi tôi rụt đầu lại. Ông ta mang theo một thếp giấy cứng ngắc như đang bê một cái mâm bạc, theo sau là Rupert và Ned Gowan chỉnh tề, trông như những quan hầu hoàng gia.
“Xin mời vào,” tôi lịch sự nói.
Lờ tôi đi như thường lệ, Dougal gạt cái bô ra khỏi chỗ của nó trên bàn và trịnh trọng xòe đám giấy tờ ra trên mặt gỗ sồi xù xì.
“Tất cả đã xong,” ông ta nói, với niềm kiêu hãnh của một người đã hoàn thành xong một kế hoạch khó khăn. “Ned đã thảo đống giấy tờ này; bình thường, khi ở bên cạnh cô, trông ông ấy chẳng giống một luật sư chút nào - đúng không hở, Ned?”
Đám đàn ông đều cười rộ lên, rõ ràng họ đang có tâm trạng vui vẻ.
“Cũng không khó khăn gì lắm,” Ned khiêm tốn nói. “Đó chỉ là một hợp đồng đơn giản.” Ông ta dùng ngón trỏ lật giở các trang, rồi ngừng lại, cau mày trước một ý nghĩ bất chợt ập đến.
“Cô không có điền sản gì ở Pháp, đúng không?” Ông ta hỏi, lo lắng nhìn tôi qua cặp kính mà ông ta đeo mỗi khi làm công việc giấy tờ. Tôi lắc đầu, và ông ta tỏ vẻ nhẹ nhõm, xếp lại mớ giấy tờ thành một chồng và vỗ cho các mép bằng với nhau.
“Vậy thì xong rồi. Cô chỉ cần ký tên vào đây, Dougal và Rupert sẽ làm chứng.”
Viên luật sư đặt lọ mực mà ông mang theo xuống, rút một cái bút lông sạch sẽ ra khỏi túi áo, trịnh trọng chìa ra cho tôi.
“Nhưng đây là cái gì?” Tôi hỏi. Câu hỏi này chỉ mang tính chất tu từ, vì trang trên cùng của đống giấy tờ có ghi rõ bằng mực đen chữ HÔN KHẾ cao năm phân và hết sức bay bướm.
Dougal nén lại một tiếng thở dài sốt ruột trước sự cứng đầu của tôi.
“Cô biết rõ nó là gì,” ông ta nói cộc lốc. “Và nếu cô không có một ý kiến sáng suốt nào khác để thoát khỏi tay Randall thì cô hãy ký cho xong đi. Không có nhiều thời gian đâu.”
Lúc này tôi khó mà nghĩ ra được ý kiến sáng suốt nào, cho dù tôi đã dành cả tiếng đồng hồ để cố gắng giải quyết vấn đề. Sau một hồi suy đi tính lại, tôi bắt đầu cảm thấy rằng lựa chọn kỳ quặc này chính là điều tốt nhất mà mình có thể làm.
“Nhưng tôi không muốn kết hôn!” Tôi bướng bỉnh nói. Rồi tôi chợt nghĩ ra có lẽ không chỉ mình tôi có suy nghĩ như vậy. Tôi nhớ tới cô gái tóc vàng hoe đã hôn Jamie ở trong hốc tường của lâu đài.
“Và có lẽ Jamie cũng không muốn lấy tôi!” Tôi nói. “Chuyện đó thì sao?” Dougal gạt câu hỏi này đi như thể đó là việc không quan trọng.
“Jamie là một chiến binh; nó sẽ làm theo những gì được bảo. Cô cũng vậy,” ông ta nhấn mạnh, “đương nhiên là trừ phi cô thích nhà lao của Anh hơn.”
Tôi trừng mắt nhìn ông ta, hơi thở dồn dập. Tôi đã bị kích động từ lúc đột ngột rời khỏi văn phòng của Randall, và sự kích động hiện đã tăng lên đáng kể khi phải đương đầu với sự lựa chọn dứt khoát này.
“Tôi muốn nói chuyện với anh ta,” tôi đột nhiên nói. Đôi mày của Dougal nhướng lên.
“Jamie ư? Tại sao?”
“Tại sao à? Bởi vì ông đang ép tôi kết hôn với anh ta, song theo như tôi thấy, ông thậm chí còn chưa nói gì với anh ta!”
Rõ ràng Dougal cho rằng điều này là không cần thiết, nhưng cuối cùng ông ta cũng nhượng bộ và cùng các thuộc hạ của mình đi gọi Jamie ở tiệm rượu bên dưới.
Chẳng mấy chốc Jamie đã tới, trông hết sức bối rối.
“Anh có biết rằng Dougal muốn chúng ta lấy nhau không?” Tôi hỏi thẳng.
Vẻ mặt anh ta tỉnh táo hơn. “Ồ, có. Tôi có biết.”
“Nhưng chắc chắn,” tôi nói, “một chàng trai trẻ như anh; ý tôi là, anh không, ờ, quan tâm đến ai khác sao?” Anh ta trông có vẻ ngơ ngác trong một thoáng, rồi chợt hiểu ra.
“Ồ, tôi đã hứa hôn chưa hả? Chưa, tôi không phải là đối tượng kết hôn có triển vọng đối với các cô gái.” Anh ta vội nói tiếp, như thể cảm thấy câu nói này mang tính xúc phạm. “Ý tôi là, tôi chẳng có tài sản gì, và chỉ sống dựa vào mức lương của một chiến binh.”
Anh ta xoa xoa cằm, nhìn tôi nghi ngại. “Lại còn bị truy nã nữa. Chẳng có ông bố nào muốn con gái mình cưới một người đàn ông có thể bị bắt và treo cổ bất cứ lúc nào. Cô có nghĩ thế không?”
Tôi phẩy tay, coi vấn đề ngoài vòng pháp luật chỉ là một chuyện nhỏ khi so sánh với toàn bộ ý tưởng gớm ghiếc này. Tôi thử lần cuối cùng.
“Anh có bận lòng không nếu tôi không phải một trinh nữ?”
Anh ta ngập ngừng giây lát trước khi trả lời.
“Ồ, không,” anh ta chậm rãi nói, “miễn là cô không bận lòng vì tôi là trai tân.” Anh ta nhe răng cười trước cái miệng há hốc của tôi, và lùi về phía cửa.
“Tôi cho là trong hai chúng ta nên có một người biết mình phải làm gì,” anh ta nói. Cánh cửa nhẹ nhàng đóng lại sau lưng anh ta; rõ ràng thời gian tìm hiểu đã kết thúc.
•••
Giấy tờ đã ký xong xuôi, tôi cẩn trọng bước xuống cái cầu thang dốc của quán trọ và đi tới quầy bar ở tiệm rượu.
“Whisky,” tôi nói với ông già nhăn nheo đằng sau quầy bar. Ông ta trợn trừng nhìn tôi, nhưng một cái gật đầu từ Dougal khiến ông ta ngoan ngoãn đưa cho tôi một chai rượu và một cái ly. Cái ly dày và có màu xanh nhạt, lốm đốm bẩn, trên vành miệng có một vết sứt, nhưng nó có thể đựng được rượu, và đó là tất cả những gì quan trọng vào lúc này.
Sau khi cảm giác nóng bỏng qua đi, chất lỏng cay nồng đó tạo ra cho tôi một sự điềm tĩnh giả tạo. Tôi cảm thấy mình như bị tách rời khỏi hiện thực khi để ý đến các chi tiết của khung cảnh xung quanh với sự chăm chú đến kỳ lạ: bức tranh bằng kính màu phía trên quầy rượu hắt những cái bóng sặc sỡ lên người gã chủ quán vô lại và đám chai lọ ly tách của y, đường cong của cái cán muôi có đáy bằng đồng treo trên bức tường bên cạnh tôi, một con ruồi bụng xanh đang vùng vẫy ở mép của một vũng nước nhỏ dính nhớp trên bàn. Vì có chút đồng cảm, tôi hẩy nó ra khỏi chốn hiểm nguy bằng cái ly của mình.
Tôi dần dần nghe ra những giọng nói đang to tiếng với nhau đằng sau cánh cửa đóng kín ở phía bên kia căn phòng. Dougal đã chui vào đó sau khi kết thúc công chuyện với tôi, có lẽ là để khẳng định lại các thỏa thuận với bên B. Tôi mừng thầm khi nghe thấy chú rể sắp cưới của mình tranh cãi dữ dội, mặc dù lúc nãy anh ta không hề phản đối. Có lẽ vì anh ta không muốn tôi cảm thấy bị xúc phạm.
“Cứ thế nhé, chàng trai,” tôi lẩm bẩm, và uống một ngụm rượu nữa.
Một lát sau, tôi lờ mờ ý thức được một bàn tay cạy các ngón tay tôi mở ra để lấy cái ly màu xanh đi. Một bàn tay khác thì đặt bên dưới khuỷu tay tôi.
“Chúa ơi, cô ấy say như một mụ già phải gió trong một cái lều vậy,” một giọng nói vang lên bên tai tôi. Giọng nói ấy the thé đến mức khó chịu, như thể chủ nhân của nó đang ăn giấy nhám. Tôi khẽ cười khúc khích trước ý nghĩ ấy.
“Yên nào!” Lại là giọng nói the thé khó chịu. Nó trở nên nhỏ hơn khi chủ nhân của nó quay sang nói chuyện với ai đó. “Uống như một lãnh chúa và rít lên như một con vẹt - anh mong…”
Một giọng nói khác cắt ngang, nhưng tôi không thể nghe ra điều gì; các từ ngữ đều mơ hồ và không thể phân biệt được. Nhưng đó là một âm thanh dễ chịu hơn, trầm ấm và không hiểu sao lại khiến người ta yên lòng. Khi nó đến gần hơn, tôi có thể nghe ra vài từ. Tôi cố gắng tập trung lắng nghe, nhưng sự chú ý của tôi lại bắt đầu lang thang đến những nơi khác.
Con ruồi đã quay lại và đang loạng choạng giữa vũng nước, bị sa lầy trong vô vọng. Ánh sáng từ ô cửa sổ kính màu chiếu lên nó, lấp lánh như những tia lửa trên cái bụng xanh. Tôi nhìn chằm chằm vào đốm nhỏ màu xanh đó, nó có vẻ nở ra rồi co lại khi con ruồi vặn vẹo và vùng vẫy.
“Này anh giai… anh không có cơ hội đâu,” tôi nói, và tia lửa vụt tắt.
[1] Phép chuẩn là phép của giáo quyền chuẩn chước để được thành hôn với nhau.