
Sự xôn xao do chuyến trở về bất ngờ và lời thông báo về cuộc hôn nhân của chúng tôi bị át đi gần như ngay lập tức bởi một sự kiện quan trọng hơn.
Ngày hôm sau, chúng tôi ngồi ăn tối ở đại sảnh và nhận những lời chúc tụng.
“Buidheachas, mo caraid”[1]. Jamie cúi đầu duyên dáng với người chúc tụng cuối cùng rồi ngồi xuống giữa tiếng vỗ tay đang dần thưa thớt. Băng ghế gỗ lung lay dưới sức nặng của anh và anh thoáng nhắm mắt.
“Anh uống hơi quá chén rồi phải không?” Tôi thì thầm. Trong khi anh phải gánh trọng trách đáp lễ những lời chúc tụng, uống cạn từng cốc rượu, thì tôi chỉ phải nhấp môi lấy lệ và nở nụ cười rạng rỡ trước những lời chúc bằng tiếng Gaelic mà tôi không tài nào hiểu nổi.
Anh mở mắt nhìn tôi, mỉm cười.
“Ý em là anh có say không hả? Không, anh có thể uống thứ này suốt đêm.”
“Anh gần như đã uống suốt đêm rồi,” tôi nói, nhìn những chai rượu và bia rỗng xếp thành hàng trên tấm ván trước mặt. “Khuya lắm rồi.” Những ngọn nến trên bàn của Colum chỉ còn ngắn ngủn, lớp sáp lỏng ánh lên màu vàng kim, ánh nến hắt lên người anh em nhà MacKenzie những cái bóng kỳ lạ và khiến da thịt họ lấp lánh khi họ ghé lại gần nhau, thì thầm trò chuyện. Trông họ giống như những cái đầu tượng được chạm khắc quanh viền chiếc lò sưởi khổng lồ, và tôi tự hỏi bao nhiêu trong số những cái đầu tượng biếm họa đó được lấy hình mẫu từ những đường nét đầy vẻ trịch thượng của những vị lãnh chúa MacKenzie trước đây - có lẽ người thợ chạm khắc phải có khiếu hài hước lắm... hoặc phải là một người vô cùng thân thiết với gia đinh họ.
Jamie khẽ vươn vai, nhăn mặt, tỏ vẻ không thoải mái.
“Tuy nhiên,” anh nói, “bàng quang của anh sắp nổ tung rồi. Anh sẽ quay lại ngay.” Anh chống hai tay lên mặt ghế, lanh lẹ nhảy qua nó và biến mất qua cái cửa tò vò ở đầu thấp hơn của đại sảnh.
Tôi chuyển sự chú ý sang Geillis Duncan đang ngồi từ tốn nhấm nháp một cốc bia ở bên còn lại của tôi. Chồng cô ta, Arthur, ngồi ở bàn kế bên bàn Colum, phù hợp với địa vị biện lý của vùng, nhưng Geilie khăng khăng ngồi cạnh tôi với cái cớ là cô ta không muốn mệt mỏi vì phải nghe những câu chuyện của đàn ông suốt bữa tối.
Arthur đang lim dim, đôi mắt thâm quầng trũng sâu vì rượu và sự mệt mỏi. Ông ta nặng nề chống tay lên cằm, khuôn mặt uể oải, chẳng buồn đoái hoài đến cuộc trò chuyện của anh em nhà MacKenzie ở bên cạnh mình. Trong khi ánh nến làm cho những đường nét sắc sảo của lãnh chúa và em trai trở nên thanh thoát hơn thì nó chỉ khiến cho Arthur Duncan trông càng béo ị và ốm yếu.
“Chồng chị trông không được khỏe lắm,” tôi nhận xét. “Chứng bệnh về dạ dày của ông ấy đã tệ hơn à?” Những triệu chứng của ông ta khá khó hiểu; không giống như bị loét, cũng không phải ung thư - khi mà ông ta vẫn còn núng nính thế kia - có lẽ chỉ là viêm dạ dày kinh niên, như Geilie khẳng định.
Geilie liếc qua chồng mình trước khi quay lại nhìn tôi và nhún vai.
“Ồ, ông ấy vẫn khỏe,” cô ta nói. “Ít nhất cũng không tệ hơn. Còn chồng cô thì sao?”
“Ơ, chuyện gì về anh ấy cơ?” Tôi thận trọng đáp.
Cô ta hích mạnh cùi chỏ vào mạng sườn tôi với vẻ thân thiết, và tôi nhận ra ở đầu bàn của cô ta có khá nhiều cái chai rỗng.
“Chà, cô nghĩ thế nào? Khi không mặc quần áo, trông anh ta có tuyệt như lúc có mặc quần áo không?”
“Ừm...” Tôi tìm câu trả lời khi cô ta nghển cổ về phía cửa.
“Vậy mà cô dám tuyên bố mình chẳng quan tâm tới anh ta chút nào! Thông minh lắm! Một nửa số con gái trong lâu đài sẽ muốn giật trụi tóc cô đấy - nếu tôi là cô, tôi sẽ cẩn thận với những gì mình ăn.”
“Những gì tôi ăn ư?” Tôi hoang mang nhìn xuống cái đĩa lớn bằng gỗ hiện trống trơn ngoài một vệt mỡ và một miếng hành luộc trơ trọi.
“Thuốc độc,” cô ta rít lên vẻ kịch tính bên tai tôi, phả ra mùi brandy.
“Vớ vẩn,” tôi lạnh lùng nói, rụt người lại. “Sẽ chẳng có ai muốn đầu độc tôi chỉ đơn giản vì tôi... ờ, vì...” Tôi hơi lúng túng, và chợt nghĩ ra rằng có thể tôi đã uống nhiều hơn tôi tưởng.
“Chà, thực sự thì, Geilie, cuộc hôn nhân này... tôi đã không lường trước. Tôi không hề muốn nó!” Tôi không nói dối. “Đó chỉ là một... sự... thu xếp cần thiết,” tôi nói, hy vọng ánh nến che giấu được khuôn mặt đỏ lựng của mình.
“Ha,” cô ta nói, vẻ chế nhạo. “Chỉ cần nhìn là tôi nhận ra ngay cô gái nào có đời sống chăn gối mãn nguyện.” Cô ta liếc về phía cửa tò vò nơi Jamie đã đi qua. “Và tôi không ngốc đến nỗi nghĩ rằng những dấu vết trên cổ chồng cô là vết muỗi đốt.” Cô ta nhướng một bên lông mày màu bạc. “Nếu đây chỉ là một cuộc hôn nhân sắp đặt thì cô đã vớ được một món bở rồi đây.”
Cô ta lại ghé sát tôi.
“Chuyện đó có đúng không?” Cô ta thì thầm. “Chuyện về hai ngón tay cái ấy?”
“Hai ngón tay cái? Geilie, nhân danh Chúa, chị đang nói linh tinh gì vậy?”
Cô ta nhìn tôi, nhíu mày vẻ tập trung. Đôi mắt xám xinh đẹp hơi lờ đờ, và tôi hy vọng cô ta sẽ không ngã nhào.
“Cô hẳn phải biết chứ? Ai cũng biết mà! Hai ngón tay cái của một người đàn ông sẽ cho cô biết kích cỡ “cái đó” của anh ta. Đương nhiên là cả những ngón chân cái nữa,” cô ta thận trọng nói thêm, “nhưng thường thì chúng khó đánh giá hơn vì đã bị giày che mất. Con cáo con đằng kia,” cô ta hất đầu về phía cửa tò vò, nơi Jamie vừa xuất hiện trở lại, “hai bàn tay anh ta có thể ôm trọn một quả bí xanh cỡ to. Hoặc một cái mông to, nhỉ?” Cô ta nói thêm, lại hích tôi cái nữa.
“Geillis Duncan, chị... im... miệng... được không?” Tôi rít lên, mặt đỏ bừng. “Ai đó sẽ nghe thấy lời chị nói đấy!”
“Ồ, không ai là...” Cô ta ngừng lại nửa chừng, nhìn chằm chằm. Jamie đã đi thẳng qua bàn chúng tôi như thể không trông thấy chúng tôi. Khuôn mặt anh tái nhợt, môi mím chặt, vẻ như đang quyết tâm làm nhiệm vụ gì khó chịu lắm.
“Có chuyện gì thế nhỉ?” Geilie hỏi. “Trông anh ta giống như Arthur sau khi ăn củ cải sống vậy.”
“Tôi không biết.” Tôi đây ghế lại, ngập ngừng. Jamie đang tiến về phía bàn của Colum. Tôi có nên đi theo anh không? Rõ ràng đã xảy ra chuyện gì đó.
Geilie nhìn xuôi theo căn phòng, đột nhiên kéo tay áo tôi, chỉ về chỗ Jamie xuất hiện lúc nãy.
Một người đàn ông đứng ngay ở cửa tò vò, cũng ngập ngừng như tôi. Quần áo anh ta lấm lem bùn đất và bụi đường; có lẽ anh ta vừa từ xa tới. Một người đưa tin. Dù tin tức đó là gì thì anh ta cũng đã truyền nó cho Jamie, và giờ đến lượt Jamie cúi người thì thầm vào tai Colum.
Không, không phải là Colum. Là Dougal. Mái đầu đỏ cúi thấp giữa hai mái đầu tối sẫm, những đường nét đẹp đẽ của cả ba khuôn mặt trông giống nhau đến ngỡ ngàng trong ánh nến dần tàn lụi. Tôi nhận ra rằng trông họ giống nhau đến vậy là do cả ba người đang cùng mang vẻ mặt đau đớn, bàng hoàng.
Bàn tay Geilie bấu chặt cánh tay tôi.
“Tin xấu,” cô ta nói một câu thừa thãi.
•••
“Hai mươi tư năm,” tôi khẽ nói. “Có vẻ là một cuộc hôn nhân lâu dài.”
“Ừ, đúng vậy,” Jamie đồng ý. Một làn gió ấm áp khuấy động những nhành cây trên đầu chúng tôi, thổi mái tóc tôi tung bay, khiến những sợi tóc lòa xòa cọ vào mặt tôi nhột nhạt. “Còn dài hơn cả tuổi đời của anh nữa.”
Anh đang dựa vào hàng rào của bãi giữ ngựa, cao ráo và chắc khỏe. Tôi thường quên mất anh còn rất trẻ; anh luôn có vẻ quá tự tin và giỏi giang.
“Tuy nhiên,” anh nói, búng một cọng rơm vào đống bùn nhão ở bãi giữ ngựa, “anh nghĩ Dougal ở với mợ ấy không quá ba năm. Ông ấy thường ở Leoch hoặc đi đây đi đó quanh lãnh địa, làm việc cho Colum.”
Vợ của Dougal, Maura, đã mất ở điền trang Beannachd của họ vì một cơn sốt bất ngờ. Dougal đã rời khỏi lâu đài từ lúc bình minh cùng với Ned Gowan và người đưa tin đêm qua để lo liệu tang ma và giải quyết vấn đề tài sản của vợ ông ta.
“Vậy ra đó không phải là một cuộc hôn nhân khăng khít?” Tôi tò mò hỏi.
Jamie nhún vai.
“Anh nghĩ nó cũng khăng khít như hầu hết các cuộc hôn nhân khác. Mợ ấy còn bận rộn với con cái và việc trông nom nhà cửa; có lẽ mợ ấy cũng không nhớ Dougal nhiều lắm, dù mợ ấy có vẻ vui mừng mỗi khi Dougal về nhà.”
“Phải rồi, anh đã sống với họ một thời gian, đúng không?” Tôi im lặng suy nghĩ. Liệu đây có phải là quan niệm của Jamie về hôn nhân không? Bình thường thì sống riêng, chỉ thi thoảng mới ở với nhau để sinh con. Tuy nhiên, từ những câu chuyện vụn vặt anh đã kể, cha mẹ anh rất gần gũi và yêu thương nhau.
Như thể có một mánh lới thần bí nào đó để đọc được những ý nghĩ của tôi, anh nói: “Với gia đình anh thì khác. Cuộc hôn nhân của Dougal là một cuộc hôn nhân sắp đặt, giống như cuộc hôn nhân của Colum vậy, họ kết hôn vì đất đai và những lợi ích khác chứ không phải vì ham muốn nhau. Nhưng cha mẹ anh - ờ, họ lấy nhau vì tình yêu, trái với ý muốn của cả hai bên gia đình, vì vậy nhà anh... không hẳn là bị cắt đứt quan hệ; nhưng hầu như không giao thiệp với ai khi ở Lallybroch. Cha mẹ anh không hay đi thăm người thân hoặc đi làm việc ở bên ngoài, vì thế anh nghĩ họ gắn bó với nhau nhiều hơn những cặp vợ chồng thông thường.”
Anh đặt tay lên eo lưng tôi, kéo tôi lại gần, rồi cúi đầu, lướt môi qua vành tai tôi.
“Cuộc hôn nhân của chúng ta là một sự sắp đặt,” anh khẽ nói. “Tuy nhiên, anh mong... có lẽ một ngày nào đó...” Anh vụng về ngừng lời, nở nụ cười nửa miệng và xua tay như muốn gạt đi câu nói ấy.
Không muốn khuyến khích anh tiếp tục, tôi mỉm cười đáp lại với vẻ bình thản nhất có thể và quay mặt về phía bãi giữ ngựa. Không cần chạm vào nhau, tôi vẫn có thể cảm nhận được anh đang ở bên cạnh tôi, bàn tay to lớn của anh nắm lấy thanh chắn trên cùng của hàng rào. Tôi cũng nắm lấy thanh chắn để ngăn mình không cầm lấy tay anh. Tôi rất muốn quay sang để an ủi, trấn an anh bằng cả cơ thể và lời nói rằng cuộc hôn nhân của chúng tôi không chỉ dừng lại ở mức độ của một cuộc hôn nhân sắp đặt. Nhưng chính sự thật ấy đã ngăn tôi lại.
Cảm xúc giữa hai chúng ta, anh đã nói, khi anh chạm vào em, khi em nằm bên anh. Không, nó không bình thường chút nào. Nó cũng không phải là một sự say nắng đơn thuần, như tôi đã nghĩ ban đầu.
Tuy nhiên, tôi đã bị trói buộc với một người đàn ông khác bởi những lời thề, lòng chung thủy và luật pháp. Và cả tình yêu nữa.
Tôi không thể, không thể nói với Jamie tình cảm tôi dành cho anh. Nói ra rồi sau đó lại bỏ đi, như thế sẽ là sự độc ác tột cùng. Tôi cũng không thể nói dối anh.
“Claire.” Tôi cảm nhận được anh đã quay sang nhìn tôi. Tôi không nói gì, chỉ ngẩng mặt lên khi anh cúi xuống hôn tôi. Tôi cũng không thể hành động dối với lòng mình. Suy cho cùng, tôi lờ mờ nghĩ, tôi đã hứa sẽ thành thật với anh.
Một tiếng “E hèm!” to tướng từ đằng sau hàng rào bãi giữ ngựa bỗng vang lên, ngắt ngang nụ hôn của chúng tôi. Jamie giật mình quay về phía âm thanh ấy, theo bản năng đẩy tôi ra sau lưng anh. Rồi anh ngừng lại và nhoẻn miệng cười khi thấy già Alec MacMahon đứng đó trong chiếc quần bó sát bẩn thỉu, con mắt xanh duy nhất của ông nhìn chúng tôi với vẻ giễu cợt.
Ông lão đang cầm một cây kéo thiến ngựa trông đến là gớm ghiếc và giơ nó lên trong cử chỉ chào hỏi đầy mỉa mai.
“Ta định dùng thứ này với lũ ngựa,” ông nói. “Nhưng có lẽ dùng nó ở đây thì tốt hơn nhỉ?” Ông lách cách hai lưỡi kéo dày vẻ mời mọc. “Có như vậy thì đầu óc bây mới tập trung vào công việc, khỏi bị phân tán vào “cái đó” của bây.”
“Chuyện này không đùa được đâu, già ơi,” Jamie nói, cười toe. “Già muốn cháu giúp gì, đúng không?”
Alec nhướng một bên lông mày sâu róm.
“Không, sao bây lại nghĩ thế? Ta sẽ cố gắng tự mình thiến một con ngựa thuần chủng hai tuổi, để cho vui.” Ông cười khùng khục trước sự dí dỏm của mình rồi vẩy cái kéo về phía lâu đài.
“Về đi, cô gái! Cô có thể có lại cậu ta vào bữa tối - để làm cái chuyện thú vị mà cậu ta sẽ làm với cô lúc đó.”
Rõ ràng không tin vào câu nói cuối cùng này, Jamie vươn cánh tay dài giật phăng cây kéo.
“Cháu sẽ cảm thấy an toàn hơn nếu cháu có thứ này trong tay,” anh nói, nhướng một bên lông mày với già Alec. “Đi đi, Sassenach! Khi nào xong việc mà già Alec giao cho, anh sẽ về tìm em.”
Anh cúi xuống hôn lên má tôi và thì thầm vào tai tôi: “Chuồng ngựa. Khi vầng dương lên đến giữa bầu trời.”
•••
Chuồng ngựa của lâu đài Leoch được xây dựng chắc chắn hơn hẳn nhiều túp nhà tranh mà tôi nhìn thấy trong chuyến hành trình với Dougal. Sàn nhà và tường đều được làm bằng đá, cửa ra vào nằm ở một đầu, những ô cửa sổ hẹp nằm ở đầu bên kia, và dưới mái nhà tranh dày dặn có những cái khe hẹp nhằm tạo sự thuận tiện cho những con cú săn chuột trong đám cỏ khô. Những ô cửa này mang lại nhiều không khí và lượng ánh sáng đủ khiến cho chuồng ngựa không phải chìm trong cảnh âm u.
Trên vựa cỏ khô chỗ gác xép ngay bên dưới mái nhà còn có nhiều ánh sáng hơn. Tia sáng hắt lên mấy chồng cỏ khô những sọc vàng và soi rọi vô vàn hạt bụi bay lơ lửng như một cơn mưa vàng cát. Từng làn gió ấm áp ùa vào qua những khe hở, phảng phất mùi hoàng anh, cẩm chướng râu và tỏi từ những khu vườn ở bên ngoài, cùng với mùi của lũ ngựa bốc lên từ bên dưới.
Jamie đột nhiên trở mình bên dưới bàn tay tôi và ngồi dậy.
“Có chuyện gì vậy?” Tôi ngái ngủ hỏi, quay đầu về phía anh đang nhìn.
“Nhóc Hamish,” anh khẽ nói, nhòm qua mép gác xép xuống chuồng ngựa bên dưới. “Anh đoán là thằng bé muốn lấy con ngựa con của mình.”
Tôi vụng về lăn người nằm sấp bên cạnh anh, phủ chiếc váy lót lên mình để che giấu sự lõa lồ; quả là một ý nghĩ ngớ ngẩn, vì chẳng ai ở bên dưới có thể nhìn thấy gì ngoài đỉnh đầu tôi.
Hamish, con trai của Colum, đang chậm rãi bước dọc theo lối đi giữa các ngăn chuồng ngựa. Cậu bé có vẻ ngập ngừng lúc đến gần một vài ngăn chuồng, dù cậu lờ đi những cái đầu màu hạt dẻ và màu nâu tò mò thò ra để ngó cậu. Rõ ràng cậu đang tìm kiếm thứ gì đó chứ không phải là con ngựa con màu nâu mập mạp của cậu, vì con vật vẫn đang yên lặng nhai rơm trong ngăn chuồng của nó gần cửa ra vào.
“Chúa ơi, thằng bé đang tìm Donas!” Jamie tóm lấy cái váy và vội vàng quấn nó quanh hông trước khi nhảy xuống. Chẳng thèm dùng thang, anh chỉ bám tay vào mép gác xép rồi thả mình xuống sàn. Anh nhẹ nhàng tiếp đất trên nền đá trải đầy rơm, nhưng vẫn gây ra một tiếng “thịch” khiến Hamish quay ngoắt lại vì giật mình.
Khuôn mặt nhỏ bé lấm tấm tàn nhang hơi dịu đi khi cậu nhận ra người vừa nhảy xuống là ai, nhưng đôi mắt xanh vẫn giữ vẻ thận trọng.
“Cần giúp đỡ không, cậu em họ?” Jamie thân mật hỏi. Anh tiến về phía các ngăn chuồng và dựa vào một cây cột trụ, cố gắng đứng chắn giữa Hamish và ngăn chuồng mà cậu bé đang hướng đến.
Hamish ngập ngừng, rồi đứng thẳng người, hếch cái cằm nhỏ lên.
“Em định cưỡi Donas,” cậu nói, cố gắng tỏ rõ sự quyết tâm, nhưng không thành công lắm.
Donas có nghĩa là “Quỷ dữ”, và cái tên đó không hề ngoa chút nào. Nó được nhốt trong một ngăn riêng ở cuối chuồng, cách những con ngựa gần nhất một cái ngăn trống. Đó là một con ngựa đực màu nâu đỏ cao lớn, rất khó tính, chẳng chịu cho ai cưỡi bao giờ, và chỉ có già Alec với Jamie là dám lại gần nó. Từ ngăn chuồng của nó bỗng phát ra một tiếng hí cáu kỉnh, rồi một cái đầu đồ sộ màu đồng thiếc đột nhiên ló ra, hàm răng vàng khè to tướng va vào nhau lách cách khi con ngựa cố gắng táp bờ vai trần đang được phô bày quá quyến rũ trước mặt nó.
Jamie vẫn đứng yên vì biết rằng con ngựa không thể với tới anh, còn Hamish thì kêu ré lên và nhảy lùi lại, sợ đến nỗi không nói thành lời bởi sự xuất hiện bất ngờ của cái đầu gớm ghiếc với đôi mắt vằn tia máu đang đảo loạn và hai lỗ mũi nở rộng.
“Anh không nghĩ vậy,” Jamie nhẹ nhàng nói, nắm lấy vai cậu em họ bé nhỏ, đẩy cậu ra xa khỏi con ngựa đang hậm hực đá vào ngăn chuồng. Hamish run rẩy như những tấm ván ngăn khi những cái móng guốc có thể giết người ấy đập rầm rầm vào mặt gỗ.
Jamie xoay người cậu bé lại để đối diện với anh và đứng nhìn cậu, hai tay chống nạnh.
“Nào,” anh nghiêm khắc nói. “Toàn bộ chuyện này là thế nào vậy? Tại sao em lại muốn cưỡi Donas?”
Hamish bướng bỉnh cắn chặt răng, nhưng khuôn mặt của Jamie vừa cương quyết vừa tỏ vẻ khuyến khích. Anh đấm nhẹ lên vai cậu bé, và cậu khẽ mỉm cười đáp lại.
“Nào, duine[2],” Jamie nhẹ nhàng nói. “Em biết là anh sẽ không nói với ai mà. Em đã làm trò gì ngớ ngẩn phải không?”
Khuôn mặt trắng trẻo của cậu bé hơi ửng đỏ.
“Không. Ít nhất thì... không. Chà, có lẽ cũng hơi ngớ ngẩn.”
Sau một chút khuyến khích nữa, câu chuyện được tiết lộ, ban đầu còn dè dặt, sau đó thì tuôn ra ào ào.
Vào ngày hôm qua, cậu bé đã cưỡi con ngựa con của mình ra ngoài với vài cậu bé khác. Mấy cậu nhóc lớn hơn bắt đầu thi xem ngựa của ai có thể nhảy cao hơn. Ngưỡng mộ họ đến mức ghen tỵ, sự liều lĩnh cuối cùng cũng đánh bại sự khôn ngoan của Hamish, cậu đã cố ép con ngựa con mập mạp nhảy qua một hàng rào đá. Vừa không đủ khả năng vừa chẳng thích thú gì, con ngựa con đã dừng khựng lại ngay trước hàng rào, hất văng cậu nhóc Hamish qua đầu nó, khiến cậu bay qua hàng rào và rơi xuống đám tầm ma phía bên kia một cách nhục nhã. Đau đớn vì bị khóm tầm ma đâm vào người và xấu hổ vì những tiếng huýt sáo chế giễu của đám bạn, ngày hôm nay Hamish quyết tâm cưỡi “một con ngựa đích thực”, theo cách nói của cậu.
“Chúng sẽ không cười nữa nếu em xuất hiện trên lưng Donas,” cậu nói, mường tượng ra hình ảnh ấy với vẻ thích thú.
“Ừ, chúng sẽ không cười đâu,” Jamie đồng ý. “Chúng còn mải bận rộn nhặt nhạnh từng mảnh cơ thể em mà.”
Anh nhìn cậu em họ, chầm chậm lắc đầu. “Nghe anh nói này, nhóc. Để trở thành một người cưỡi ngựa giỏi thì cần có lòng can đảm và sự khôn ngoan. Em có lòng can đảm, nhưng vẫn còn thiếu một chút khôn ngoan.” Anh choàng tay qua vai Hamish vẻ an ủi, kéo cậu về phía cuối chuồng ngựa.
“Đi nào, chàng trai! Giúp anh cào cỏ khô nào, và anh sẽ cho chú mày làm quen với Cobhar. Chú mày nói đúng; chú mày nên có một con ngựa tốt hơn nếu chú mày đã sẵn sàng, nhưng không cần phải tự giết mình để chứng minh điều đó.”
Anh liếc nhìn lên gác xép, nhướng mày và nhún vai vẻ bất lực. Tôi mỉm cười, vẫy tay, ra hiệu với anh rằng không sao cả, anh cứ tiếp tục. Jamie lấy một quả táo ở cái giỏ đựng quả rụng để gần cửa ra vào. Sau đó, anh lấy một cái chĩa từ trong góc rồi dẫn Hamish quay lại một trong những ngăn chuồng ở giữa.
“Đây, cậu em họ.” Anh nói, dừng bước và khẽ huýt sáo. Một con ngựa màu nâu đỏ có cái trán rộng thò đầu ra, thở phì phì. Nó có đôi mắt to sẫm màu đầy thân thiện, đôi tai hơi vểnh lên vẻ cảnh giác.
“Nào, Cobhar, ciamar a tha thu[3]?” Jamie vỗ vỗ cái cổ bóng mượt của nó và gãi gãi hai cái tai vểnh.
“Lại đây nào,” anh nói, ra hiệu cho cậu em họ. “Thế, đứng cạnh anh đây. Đủ gần để nó có thể ngửi mùi của em. Lũ ngựa thích ngửi mùi mà.”
“Em biết.” Giọng Hamish cao vút, đầy vẻ khinh khỉnh. Cậu còn chưa cao tới mũi con ngựa, nhưng vẫn rướn lên vỗ vỗ nó. Cậu đứng im khi cái đầu to lớn cúi xuống, chăm chú ngửi ngửi quanh tai cậu và thở phì phì vào tóc cậu.
“Đưa em quả táo,” cậu nói với Jamie, và anh liền đưa nó cho cậu. Đôi môi mềm như nhung của con ngựa khéo léo chộp lấy quả táo từ lòng bàn tay Hamish, thảy nó vào giữa hai hàm răng to lớn rồi nhai rau ráu. Jamie quan sát với vẻ tán thưởng.
“Ầy. Em sẽ xoay xở tốt thôi. Tiếp tục làm thân với nhau đi nhé, trong lúc anh cho những con ngựa khác ăn, sau đó em có thể dẫn nó ra ngoài để cưỡi.”
“Một mình em ạ?” Hamish háo hức hỏi. Tên của Cobhar có nghĩa là “Bọt biển”, tuy thuần tính nhưng nó là con ngựa thiến cao một mét tư rắn chắc và đầy khí thế khác hẳn con ngựa con màu nâu của Hamish.
“Anh sẽ theo dõi em cưỡi hai vòng quanh bãi giữ ngựa, nếu em không ngã hay giật mạnh miệng nó, em có thể cưỡi nó một mình. Nhưng không được cho nó nhảy qua chướng ngại vật cho đến khi anh cho phép.” Cái lưng dài của Jamie ánh lên trong cảnh tranh tối tranh sáng khi anh cúi xuống xúc một chĩa cỏ khô từ đống cỏ trong góc và mang nó tới một trong các ngăn chuồng.
Anh đứng thẳng người lên và mỉm cười với cậu em họ. “Lấy cho anh một quả táo được không?” Anh dựng cái chĩa vào một ngăn chuồng và cắn quả táo được Hamish đưa cho. Hai người cùng dựa vào vách chuồng ngựa, vui vẻ đứng ăn bên nhau. Ăn xong, Jamie đưa cái lõi cho một con ngựa hung đỏ đang gí mũi hít hà và lại cầm lấy cái chĩa. Hamish đi theo anh dọc lối đi, chậm rãi nhai táo.
“Em nghe nói cha em từng cưỡi ngựa rất giỏi,” Hamish ngập ngừng nói sau một thoáng im lặng. “Trước khi... trước khi ông không thể làm thế được nữa.”
Jamie liếc nhanh cậu em họ, nhưng mãi đến khi xúc xong cỏ khô vào ngăn chuồng của con ngựa hung đỏ, anh mới cất tiếng. Anh trả lời những ý nghĩ trong đầu thay vì những lời nói của cậu bé.
“Anh chưa từng trông thấy ông ấy cưỡi ngựa, nhưng nghe này, nhóc, anh không bao giờ dám mong mình có thể dũng cảm bằng Colum.”
Ánh mắt Hamish tò mò đặt lên tấm lưng đầy sẹo của Jamie, nhưng cậu chẳng nói gì. Sau khi ăn xong quả táo thứ hai, có vẻ như những ý nghĩ của cậu đã chuyển sang một đề tài khác.
“Chú Rupert nói anh đã buộc phải lấy vợ,” cậu nhồm nhoàm nói.
“Anh muốn lấy vợ đấy chứ,” Jamie khẳng định, dựng cái chĩa vào tường.
“Ồ. Chà... tốt thôi,” Hamish ngập ngừng nói, như thể ý niệm mới mẻ này khiến cậu bối rối. “Em chỉ thắc mắc... anh có thấy phiền không?”
“Phiền cái gì?” Thấy rằng cuộc trò chuyện này có thể mất chút thời gian, Jamie bèn ngồi xuống một kiện cỏ khô.
Hai bàn chân Hamish còn chưa chạm tới sàn, nếu không hẳn là cậu đã di chân trên sàn rồi. Thay vào đó, cậu nhẹ nhàng gõ gót chân vào kiện cỏ khô được lèn chắc chắn.
“Anh có phiền khi có vợ không,” cậu nói, nhìn chằm chằm ông anh họ. “Ý em là, anh có phiền khi phải ngủ chung với một người phụ nữ mỗi đêm không?”
“Không,” Jamie nói. “Thực ra, việc đó rất thú vị.”
Hamish tỏ vẻ nghi ngờ.
“Em nghĩ em không thích việc đó lắm. Bởi vì tất cả các cô gái mà em biết đều gầy như que củi và có mùi nước lúa mạch. Còn chị Claire - ý em là vợ anh,” cậu vội nói thêm, như thể muốn tránh bị hiểu lầm, “chị ấy, ờ, chị ấy... ngủ cạnh chị ấy có vẻ dễ chịu hơn. Ý em là, chị ấy trông có vẻ mềm mại.”
Jamie gật đầu. “Ừ, đúng vậy. Mùi của cô ấy cũng thơm nữa,” anh nói. Ngay cả trong ánh sáng lờ mờ, tôi cũng có thể nhìn thấy khóe miệng anh khẽ nhếch lên, và biết rằng anh không dám nhìn lên gác xép.
Im lặng một lúc lâu.
“Làm sao anh biết?” Hamish hỏi.
“Biết gì?”
“Cô gái nào phù hợp để cưới,” cậu bé nói, vẻ mất kiên nhẫn.
“Ồ.” Jamie ngả người ra sau và dựa vào bức tường đá, hai bàn tay đan vào nhau kê sau đầu.
“Anh từng hỏi cha anh câu này,” anh nói. “Ông đáp rằng ta tự nhiên biết thôi. Nếu ta không biết, vậy thì cô gái đó không phải là người phù hợp.”
“Ừmmmm.” Biểu cảm trên khuôn mặt nhỏ bé lấm tấm tàn nhang cho thấy lời giải thích ấy chẳng thỏa đáng chút nào. Hamish cũng ngả người ra sau, cố tình bắt chước tư thế cua Jamie, hai bàn chân đi tất thò ra qua mép kiện cỏ khô. Tuy còn nhỏ nhưng thân hình rắn chắc của cậu hứa hẹn sẽ sánh kịp ông anh họ vào một ngày nào đó. Bờ vai vuông vức và khuôn mặt rắn rỏi, duyên dáng khi nhìn nghiêng của họ gần như giống hệt nhau.
“Giày của em đâu rồi?” Jamie hỏi, vẻ trách cứ. “Không phải là em lại để chúng ở ngoài đồng cỏ đấy chứ? Mẹ em sẽ bạt tai em nếu em làm mất chúng đấy.”
Hamish nhún vai như thể chỉ coi đó là một lời đe dọa suông. Rõ ràng lúc này trong đầu cậu nhóc còn có điều gì quan trọng hơn.
“John...” cậu cất tiếng, nhướng đôi lông mày màu cát vẻ suy ngẫm. “John nói...”
“John giữ ngựa, John phụ bếp hay John Cameron?” Jamie hỏi.
“John giữ ngựa.” Hamish phẩy tay, gạt đi câu hỏi khiến cậu sao lãng ấy. “Anh ấy nói, ờ, về việc lấy vợ...”
“Ừm?” Jamie khuyến khích, khéo léo ngoảnh mặt đi. Ánh mắt anh đảo lên trên, bắt gặp ánh mắt tôi khi tôi nhìn qua mép gác xép. Tôi toét miệng cười với anh, khiến anh phải mím môi để nén cười.
Hamish hít sâu một hơi rồi vội vàng thở hắt ra, tuôn ra một tràng như loạt đạn chì bắn chim. “Anh-ấy-nói-anh-ấy-phải-phục-vụ-một-cô-gái-như-một-con-ngựa-đực-với-một-con-ngựa-cái-và-em-không-tin-anh-ấy-nhưng-đó-có-phải-là-sự-thật-không?”
Tôi cắn mạnh ngón tay để khỏi bật cười. Không được may mắn như thế, Jamie bấu chặt vào chân mình, mặt đỏ dừ hệt như mặt của Hamish. Trông họ như hai quả cà chua đặt cạnh nhau trên một kiện cỏ khô để người ta đánh giá trong một hội chợ rau quả ở vùng thôn quê.
“Ờ, ừ... chà, trong chừng mực nào đó...” anh nói, giọng có vẻ nghèn nghẹt. Rồi anh bình tĩnh lại.
“Đúng,” anh khẳng định, “phải làm như thế đấy!”
Hamish liếc ánh mắt có phần sợ hãi vào bộ phận sinh sản dài chừng ba mươi phân của con ngựa màu nâu đỏ đang nghỉ ngơi trong ngăn chuồng kế bên. Rồi cậu ta nhìn xuống lòng mình với vẻ nghi ngại, khiến tôi phải nhét cả một đống vải vào miệng để nén cười.
“Có chút khác biệt,” Jamie tiếp tục. Màu đỏ trên mặt anh bắt đầu dịu bớt, dù khóe miệng vẫn khẽ run run. “Trước hết, con người sẽ làm... nhẹ nhàng hơn.”
“Vậy là anh không cắn vào cổ họ?” Hamish mang vẻ mặt nghiêm trọng và chăm chú như thể sẽ nuốt lấy từng lời. “Để giữ họ yên?”
“Ờ... không. Thường thì không.” Sau khi đã rèn luyện cái ý chí không phải là không vững vàng của mình, Jamie bèn kiên quyết đương đầu với cái trách nhiệm khai sáng cho cậu bé.
“Còn có một sự khác biệt nữa,” anh nói, cẩn thận không nhìn lên trên. “Em có thể làm thế mặt đối mặt, thay vì từ đằng sau. Vì phụ nữ thích thế hơn.”
“Phụ nữ thích thế ư?” Hamish có vẻ nghi ngờ. “Nếu là em thì em thích làm từ đằng sau hơn. Em không thích ai đó nhìn vào mặt mình lúc làm một việc như thế. Có khó...” cậu hỏi, “có khó nén cười không?”
•••
Tối hôm đó, khi leo lên giường, tôi vẫn nghĩ về Jamie và Hamish. Tôi lật những tấm chăn dày, cười một mình. Một luồng gió lành lạnh lùa vào từ cửa sổ, và tôi trông chờ đến lúc được chui vào trong chăn, nép mình bên thân thể ấm áp của Jamie. Trong người anh như có một cái lò sưởi nhỏ, anh luôn trơ ra trước cái lạnh và da anh lúc nào cũng ấm áp, đôi khi gần như nóng bỏng, như thể anh tỏa nhiệt dữ dội hơn để đáp lại sự đụng chạm lạnh lẽo của tôi.
Tôi vẫn là một người lạ và một kẻ ngoại tộc, nhưng không còn là khách của lâu đài nữa. Trong khi những người phụ nữ đã có chồng tỏ vẻ thân thiện hơn vì bây giờ tôi đã cùng hội cùng thuyền với họ thì các cô gái trẻ lại hết sức căm ghét cái sự thật là tôi đã cướp mất một chàng trai trẻ độc thân xứng đáng để họ lấy làm chồng. Nhận thấy vô số ánh mắt lạnh lùng và những bàn tay che miệng thì thầm hướng vào mình, tôi tự hỏi có bao nhiêu cô gái chưa chồng trong lâu đài đã chui vào một hốc tường kín đáo với Jamie MacTavish trong thời gian cư trú ngắn ngủi của anh ở đây.
Dĩ nhiên, anh không còn là MacTavish nữa. Hầu hết cư dân trong lâu đài đã luôn biết anh là ai, và dù tôi có là gián điệp của quân Anh hay không thì giờ đây tôi cũng đã biết được. Vì vậy, anh đã trở về họ Fraser một cách công khai, và tôi cũng vậy. Chính vì là phu nhân Fraser nên tôi được hoan nghênh bước chân vào căn phòng phía trên khu nhà bếp, nơi những người phụ nữ đã có gia đình khâu vá, ru con, trao đổi nhưng thông tin mà các bà mẹ cần biết và nhìn vòng eo của tôi với sự ngưỡng mộ.
Vốn khó thụ thai nên tôi đã không nghĩ gì đến khả năng mang thai lúc tôi đồng ý kết hôn với Jamie, và tôi đã phải hồi hộp chờ đợi cho đến khi kỳ kinh tiếp theo đến đúng thời điểm. Lần này, cảm giác của tôi là hoàn toàn nhẹ nhõm chứ không hề phiền muộn như trước kia. Chưa cần có thêm một đứa con thì cuộc đời tôi bây giờ cũng đủ phức tạp rồi. Có lẽ Jamie có chút tiếc nuối, dù anh tuyên bố là mình cũng cảm thấy nhẹ nhõm. Thiên chức làm cha là một sự xa xỉ mà một người đàn ông ở vị trí của anh không đủ điều kiện để đảm nhận.
Cửa mở ra và anh bước vào, vẫn đang lau đầu bằng một cái khăn vải lanh, những giọt nước nhỏ xuống từ mái tóc ướt làm cái áo sơ mi sẫm lại.
“Anh đã ở đâu vậy?” Tôi kinh ngạc hỏi. Dù Leoch là một nơi sang trọng so với nhà cửa ở các ngôi làng và trang trại, nhưng nó không có bất cứ tiện nghi nào cho việc tắm rửa ngoài một cái chậu tắm bằng đồng mà Colum dùng để ngâm đôi chân đau và một cái to hơn được sử dụng bởi những người phụ nữ sẵn sàng bỏ công bỏ sức đổ đầy nó để đổi lấy sự riêng tư. Còn lại thì họ dùng chậu rửa hoặc bình nước để rửa ráy từng phần cơ thể hoặc tắm ở hồ hay trong một cái hốc nhỏ lát đá ở ngoài vườn, nơi những người phụ nữ trẻ đã quen với việc đứng lõa thể để bạn họ giội những xô nước lên người họ.
“Ngoài hồ,” anh trả lời, vắt cái khăn ẩm ướt lên ngưỡng cửa sổ. “Ai đó,” anh nghiêm khắc nói, “đã không đóng cửa cả ngăn chuồng lẫn chuồng ngựa, vì vậy Cobhar đã được bơi một chút trong ánh hoàng hôn.”
“Ồ, vậy ra đó là lý do anh không tới ăn tối. Nhưng ngựa không thích bơi mà, đúng không?” Tôi hỏi.
Anh lắc đầu, lùa những ngón tay vào tóc để vẩy khô nó.
“Ừ, chúng không thích bơi. Nhưng chúng giống như con người vậy, em biết đấy; có con thế này có con thế khác. Cobhar thích những loài thực vật tươi non dưới nước. Nó đang nhấm nháp bên mép nước thì một đàn chó từ trong làng chạy tới, đuổi nó xuống hồ. Anh đã phải xua lũ chó đi rồi đuổi theo Cobhar. Khi nào tóm được thằng nhóc Hamish,” anh nghiến răng nói. “Anh sẽ dạy cho nó một bài học vì cái tội không đóng cửa.”
“Anh có mách Colum chuyện này không?” Tôi hỏi, cảm thấy thương cảm cho kẻ phạm tội.
Jamie lắc đầu, mò mẫm trong cái túi da rồi rút ra một ổ bánh mỳ nhỏ và một tảng pho mát, rõ ràng là chôm chỉa được từ nhà bếp trên đường tới buồng ngủ.
“Không,” anh nói. “Colum khá nghiêm khắc với thằng nhóc. Nếu ông ấy nghe nói nó đã bất cẩn như thế, ông ấy sẽ không cho phép nó cưỡi ngựa trong vòng một tháng - dù chưa chắc nó có thể cưỡi ngựa được sau trận đòn mà nó sẽ phải nhận. Chúa ơi, anh đói chết mất.” Anh ngoạm ổ bánh, làm các mảnh vụn rơi vãi tứ tung.
“Đừng mang bánh lên giường,” tôi nói, chui xuống dưới những tấm chăn. “Vậy anh tính làm gì với Hamish?”
Anh nuốt trọn mẩu bánh còn lại và mỉm cười với tôi. “Đừng lo! Anh sẽ lôi nó ra hồ và ném nó xuống đó ngay trước bữa tối ngày mai. Lúc nó lên được bờ và hong khô người xong, bữa tối đã kết thúc rồi.” Anh xử lý tảng pho mát trong ba miếng ngoạm và liếm láp các ngón tay không chút xấu hổ. “Hãy để cho nó lên giường trong tình trạng ướt nhẹp và đói ngấu xem nó có thích không,” anh cáu kỉnh kết luận.
Rồi anh háo hức nhòm vào trong ngăn kéo bàn giấy, nơi tôi thi thoảng cất táo hoặc những món đồ ăn nho nhỏ khác. Nhưng tối nay trong đó chẳng có gì cả, anh liền thở dài, đóng ngăn kéo lại.
“Anh cho là mình vẫn sẽ sống sót cho đến bữa sáng mai,” anh nói đầy vẻ triết lý, nhanh chóng cởi đồ và run rẩy trườn vào bên cạnh tôi. Dù tay chân anh lạnh cóng sau khi bơi trong cái hồ băng giá, nhưng thật may là cơ thể anh vẫn ấm áp.
“Ừm, âu yếm em thích quá,” anh lẩm bẩm, làm cái việc mà tôi cho là đang âu yếm. “Em có mùi khác thế; hôm nay em đào cây à?”
“Không,” tôi ngạc nhiên nói. “Em tưởng là mùi của anh.” Đó là mùi thảo mộc nồng nàn, không phải là không dễ chịu, nhưng rất lạ lẫm.
“Anh toàn mùi cá thôi,” anh nhận xét khi ngửi mu bàn tay. “Và mùi lông ngựa bị ướt. Không,” anh ghé lại gần hơn, hít ngửi. “Cũng không phải mùi của em. Nhưng nó ở gần đây.”
Anh trườn xuống giường và lật những tấm chăn, tìm kiếm. Chúng tôi tìm thấy nó bên dưới cái gối của tôi.
“Cái quái gì...” Tôi nhặt nó lên và lập tức thả xuống. “Ối! Nó có gai!”
Đó là một bó thảo mộc nhỏ bị nhổ cả rễ và buộc lại bằng chỉ đen. Chúng đã héo nhưng những chiếc lá ủ rũ vẫn tỏa mùi nồng nàn. Trong bó có một bông anh thảo bị xéo nát, gai của nó đã đâm vào ngón tay cái của tôi.
Tôi mút ngón lay bị thương, tay kia lật bó hoa lại một cách cẩn trọng hơn. Jamie đứng yên, nhìn chằm chằm vào nó trong một thoáng rồi đột nhiên nhặt nó lên, mang nó tới ô cửa sổ để mở và ném ra ngoài. Quay lại giường, anh gạt chỗ bụi đất rơi ra từ rễ cây vào lòng bàn tay và cũng hất chúng qua cửa sổ. Rồi anh đóng sầm cửa, quay lại, phủi phủi hai lòng bàn tay.
“Nó đã bị vứt đi rồi,” anh nói một cách thừa thãi rồi leo trở lại giường. “Lên giường đi, Sassenach.”
“Nó là cái gì thế?” Tôi hỏi, leo lên nằm cạnh anh.
“Anh đoán là một trò đùa,” anh nói. “Một trò đùa ác ý, nhưng chỉ là một trò đùa mà thôi.” Anh nhổm dậy thôi tắt nến. “Lại đây, mo duinne,” anh nói. “Anh lạnh quá!”
•••
Bất chấp món bùa yểm đáng ngại, tôi ngủ khá ngon giấc vì được bảo vệ an toàn bởi cánh cửa có cài then và vòng tay Jamie. Gần đến bình minh, tôi mơ đến những đồng cỏ đầy bươm bướm. Nào vàng, nào nâu, nào trắng, nào cam, chúng vờn quanh tôi như những chiếc lá mùa thu, rực rỡ trên đầu và vai tôi, trườn xuống cơ thể tôi như một cơn mưa, những đôi chân nhỏ xíu làm da tôi nhột nhạt và những đôi cánh nhung vỗ vỗ như họa lại nhịp đập của trái tim tôi.
Tôi dần dần tỉnh lại, và nhận thấy chân của những con bướm trên bụng tôi chính là những sợi tóc xoăn đỏ rực mềm mại của Jamie.
“Cho phép tôi tiếp tục bầu bạn với phu nhân vào đêm nay được không, thưa phu nhân?”
“Em đồng ý,” tôi nói, đan hai tay sau đầu, ánh mắt hơi nheo lại thách thức. “Nếu ý anh là anh đã quá già yếu, một ngày không thể làm được quá một lần.”
Anh nheo mắt nhìn tôi rồi bất ngờ chồm lên, ấn chặt tôi xuống cái nệm nhồi lông chim.
“Ầy,” anh nói vào mái tóc rối của tôi, “đừng nói là anh không cảnh báo trước đấy nhé!”
Hai phút rưỡi sau, anh rên rỉ, mở mắt, vò đầu và mặt một cách dữ dội bằng cả hai tay, khiến những sợi tóc dựng đứng lên như lông ngỗng. Sau đó, với một tiếng chửi thề nghèn nghẹt bằng tiếng Gaelic, anh miễn cưỡng trườn ra khỏi chăn và bắt đầu mặc đồ, run rẩy trong không khí sớm mai lạnh lẽo.
“Anh không thể,” tôi hỏi với vẻ hy vọng, “nói với Alec là anh bị ốm và quay về giường sao?”
Anh cười và cúi xuống hôn tôi trước khi mò mẫm tìm đôi tất ở dưới gầm giường. “Giá mà anh có thể làm vậy, Sassenach. Nhưng anh cho rằng ngoài bệnh đậu mùa, dịch hạch hay bị thương tích trầm trọng, chẳng có cái cớ nào được chấp nhận cả. Nếu anh không bị chảy máu, già Alec sẽ tới đây trong nháy mắt, lôi anh ra khỏi cái giường dành cho người chết để bắt anh tẩy giun cho ngựa.”
Tôi nhìn hai bắp đùi dài duyên dáng của anh khi anh khéo léo kéo một cái tất lên và bẻ phần cạp lại. “Thương tích trầm trọng à? Em có thể làm gì đó dọc theo bắp chân kia,” tôi nói vẻ ám muội.
Anh càu nhàu khi vươn tay với lấy cái tất còn lại. “Chà, nếu em định bắn những mũi tên bằng đá lửa vào chân anh thì nhớ cẩn thận nhé, Sassenach.” Anh cố gắng nháy mắt vẻ phóng đãng, nhưng nó lại biến thành một cái nheo mắt. “Nếu em nhắm quá cao, anh sẽ chẳng còn ích lợi gì với em đâu.”
Tôi nhướng một bên lông mày và rúc lại vào trong chăn. “Đừng lo. Sẽ không lên đến quá đầu gối đâu, em hứa đấy.”
Anh vỗ vỗ vào một chỗ căng phồng tròn trịa của tôi và ra ngoài, vừa đi vừa hát to khúc hát Trên bãi thạch nam. Đoạn điệp khúc vọng lại từ cầu thang:
“Đang ngồi với một cô gái bé nhỏ bám vào đầu gối tôi...
Thì một con ong đốt tôi, ngay phía trên đầu gối...
Trên bãi thạch nam, ở đầu Bendikee!”
Anh nói đúng; anh không hề có khiếu âm nhạc.
Tôi tạm thời khoan khoái chìm vào mơ màng, nhưng chẳng mấy chốc cũng đốc thúc mình dậy để đi ăn sáng. Hầu hết các cư dân trong lâu đài đã ăn xong và đi làm việc cả rồi, những người còn lại trong đại sảnh chào hỏi tôi khá vui vẻ. Không có cái liếc xéo nào, cũng không có biểu cảm thù địch được che giấu khéo léo cho thấy ai đó đang tự hỏi liệu trò xấu xa của họ có hiệu quả không. Tuy nhiên, tôi vẫn quan sát những khuôn mặt xung quanh.
Sáng hôm ấy, tôi một mình lang thang trong vườn và trên những cánh đồng, mang theo cái giỏ và cái que đào. Tôi đang hết một số loài thảo mộc phổ biến. Thường thì dân làng hay tới nhà của Geillis Duncan để nhờ giúp đỡ, nhưng gần đây đã có vài bệnh nhân trong làng đến phòng khám của tôi, và nhu cầu đối với các loại thuốc trở nên lớn hơn bao giờ hết. Có lẽ bệnh tình của chồng Geilie khiến cô ta quá bận rộn, không còn thời gian để chăm sóc các bệnh nhân quen thuộc.
Cuối giờ chiều, tôi ở trong phòng khám. Bệnh nhân cũng không nhiều; chỉ có một ca eczema mãn tính, một ca trật khớp ngón tay cái, và một cậu bé phụ bếp làm đổ nồi xúp nóng vào chân. Sau khi phát loại thuốc mỡ làm từ cây lá bạc và diên vỹ Bắc Mỹ, bẻ lại khớp và băng bó ngón tay cái, tôi bắt tay vào việc giã mấy cây rễ đá trong một cái cối nhỏ của ông Beaton quá cố.
Đó là một công việc tẻ ngắt nhưng rất thích hợp với buổi chiều dài lê thê này. Thời tiết khá đẹp. Lúc tôi đứng lên bàn để nhìn ra ngoài, tôi có thể thấy những cái bóng màu xanh sẫm bên dưới những cây du đang trải dài về phía tây.
Bên trong, những chai thủy tinh lấp lánh được sắp xếp ngăn nắp, những chồng băng gạc được xếp gọn gàng trong cái tủ kế bên chúng. Phòng khám đã được lau dọn và khử trùng kĩ lưỡng, bây giờ nó đã trở thành kho chứa đủ loại lá khô, rễ cây và nấm được đựng trong những cái túi bằng sa mỏng. Tôi hít sâu thứ mùi găn gắt, nồng nàn của chốn thiêng liêng này và thở ra một hơi dài mãn nguyện.
Tôi ngừng giã và đặt cái chày xuống, bàng hoàng nhận ra mình đang mãn nguyện. Bất chấp sự bấp bênh của cuộc sống nơi đây, bất chấp nỗi khó chịu vì bị yểm bùa, bất chấp nỗi đau đớn nho nhỏ, dai dẳng vì nhớ Frank, tôi thực sự không phải là không hạnh phúc. Ngược lại là khác.
Tôi lập tức xấu hổ và cảm thấy mình giống như một kẻ phản bội. Làm sao tôi có thể có cảm giác hạnh phúc khi Frank hẳn đang lo lắng đến điên cuồng? Nếu thời gian vẫn đang trôi đi - tôi chẳng thấy có lý do gì khiến nó phải ngừng lại cả - tôi đã mất tích hơn bốn tháng. Chắc là anh đã tìm kiếm tôi khắp vùng đồng quê Scotland, báo cảnh sát, chờ đợi một dấu vết hay tin tức nào đó về tôi. Đến bây giờ, hẳn là anh đã gần như từ bỏ hy vọng và đang đợi thông báo rằng thi thể của tôi đã được tìm thấy.
Tôi đặt cái cối xuống, đi đi lại lại theo chiều dài của căn phòng hẹp, xoa xoa hai bàn tay vào tạp dề trong nỗi đau khổ vì cảm giác tội lỗi và hối hận. Đáng lẽ tôi nên bỏ đi sớm hơn. Đáng lẽ tôi phải nỗ lực tìm mọi cách để trở về. Nhưng tôi đã làm thế đấy thôi. Tôi đã cố gắng không biết bao nhiêu lần. Và hãy xem chuyện gì đã xảy ra!
Phải, hãy xem đó! Tôi đã kết hôn với một anh chàng người Scot sống ngoài vòng pháp luật, cả hai chúng tôi đều đang bị một gã đại úy kỵ binh tàn bạo săn đuổi, và phải sống chung với một đám người man rợ sẽ giết Jamie ngay lập tức nếu họ nghĩ anh là mối đe dọa cho quyền kế vị quý giá của họ trong thị tộc. Và điều tệ hơn cả là tôi đang hạnh phúc.
Tôi ngồi xuống, nhìn chằm chằm vào dãy chai lọ với vẻ bất lực. Sau khi trở về Leoch, tôi đã cố gắng kìm nén những ký ức về cuộc sống trước đây. Sâu thẳm trong lòng, tôi biết mình phải sớm đưa ra quyết định, nhưng tôi đã trì hoãn sự cần thiết ấy giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác, chôn giấu những nỗi băn khoăn do dự trong niềm hạnh phúc được ở bên Jamie - trong vòng tay của anh.
Đột nhiên có tiếng va đụng và tiếng chửi thề ngoài hành lang, tôi vội vàng đứng dậy, đi ra cửa, đúng lúc nhìn thấy Jamie khập khiễng bước vào, dìu đỡ một bên là thân hình còng queo của già Alec McMahon, bên còn lại là một cậu bé phụ việc ở chuồng ngựa. Anh ngồi xuống cái ghế đẩu của tôi, duỗi chân trái ra và nhăn nhó mặt mày. Sự nhăn nhó ấy là vì bực tức hơn là đau đớn, vì thế tôi quỳ xuống kiểm tra chỗ bị thương mà không mấy lo lắng.
“Bị căng cơ nhẹ,” tôi nói, sau khi kiểm tra sơ bộ. “Anh đã làm gì vậy?”
“Bị ngã,” Jamie nói ngắn gọn.
“Ngã hàng rào à?” Tôi trêu chọc.
Anh trừng mắt.
“Không. Ngã từ trên lưng Donas.”
“Anh đã cưỡi con vật đó ư?” Tôi kinh ngạc hỏi. “Vậy thì anh đã quá may mắn khi chỉ bị căng cơ ở cổ chân.” Tôi đi lấy một dải băng và bắt đầu quấn quanh chỗ đau.
“Chà, cũng không tồi lắm,” Già Alec thận trọng nói. “Kỳ thực, bây đã điều khiển nó khá tốt.”
“Cháu biết,” Jamie gắt gỏng, nghiến răng khi tôi thắt chặt dải băng quấn. “Nó bị ong đốt.”
Cặp lông mày rậm rạp nhướng lên. “Ồ, thế à? Con vật phản ứng như thể bị trúng một mũi tên bằng đá lửa vậy,” ông ta kể với tôi. “Nó nhảy chồm lên chồm xuống rồi trở nên hoàn toàn điên loạn - chạy lồng lên khắp bãi giữ ngựa như một con ong nghệ bị nhốt trong lọ. Cậu chàng này cũng bám chặt vào nó đấy chứ,” ông nói, hất hàm về phía Jamie, và anh đáp lại bằng vẻ mặt khó chịu, “cho đến khi con quỷ sứ to lớn màu vàng ấy nhảy qua hàng rào.”
“Nhảy qua hàng rào? Thế bây giờ nó đang ở đâu?” Tôi hỏi, đứng dậy và phủi hai bàn tay.
“Chắc là xuống địa ngục được nửa đường rồi,” Jamie nói, đặt bàn chân xuống và rón rén thử dồn trọng lượng cơ thể vào nó. “Mong là nó ở lại đó luôn.” Anh nhăn nhó ngồi xuống trở lại.
“Ta nghĩ quỷ sứ chẳng cần một con ngựa đực chưa được thuần hóa,” Alec nhận xét. “Bởi vì hắn có thế biến mình thành ngựa khi cần.”
“Có lẽ Donas chính là quỷ sứ hóa thành đấy,” tôi gợi ý, cảm thấy buồn cười.
“Anh sẽ không nghi ngờ điều đó,” Jamie nói. Anh vẫn còn đau nhưng óc hài hước đã bắt đầu quay trở lại. “Nhưng quỷ sứ thường hóa thành một con ngựa ô, đúng không?”
“Ồ, đúng rồi,” Alec nói. “Một con ngựa ô to lớn, phi nhanh như ý nghĩ giữa một người đàn ông và một cô gái vậy.”
Ông ta cười phớ lớ với Jamie và nhổm dậy để đi.
“Nói đến chuyện đó,” ông ta nói, nháy mắt với tôi, “ngày mai bây không phải đến chuồng ngựa đâu. Cứ ở yên trên giường và, ờ... nghỉ ngơi.”
“Tại sao,” tôi hỏi, nhìn theo người nài ngựa già cộc cằn, “tất cả mọi người đều cho rằng trong đầu chúng ta chẳng nghĩ đến điều gì khác ngoài việc lên giường cùng nhau?”
Jamie lại thử dồn trọng lượng cơ thể vào bàn chân, tay chống lên mặt bàn.
“Thứ nhất, chúng ta mới cưới chưa đầy một tháng,” anh đáp. “Thứ hai...” Anh ngước lên và cười toe, lắc đầu. “Anh đã nói với em rồi, Sassenach. Tất cả mọi điều em nghĩ đều hiển hiện rõ trên mặt em.”
“Chết tiệt,” tôi nói.
•••
Hôm sau, tôi chỉ đảo qua phòng khám một lúc để kiểm tra những trường hợp khẩn cấp, cả buổi sáng còn lại tôi dành để đáp ứng những nhu cầu có tính đòi hỏi cao của bệnh nhân cô đơn của mình.
“Anh phải nghỉ ngơi,” đến một lúc, tôi quở trách.
“Thì anh đang nghỉ ngơi đây. Ít nhất cổ chân anh cũng đang nghỉ ngơi. Thấy không?”
Anh giơ cao ống chân dài không đi tất, vẫy vẫy bàn chân gầy mảnh. Nó đột nhiên khựng lại khi đang vẫy nửa chừng với một tiếng “ối” nghèn nghẹn từ chủ nhân của nó. Anh hạ chân xuống và nhẹ nhàng xoa cái mắt cá chân vẫn còn sưng vù.
“Đáng đời anh lắm,” tôi nói, hất chăn ra. “Đi nào! Anh đã mốc meo ở trên giường quá lâu rồi. Anh cần không khí tươi mát.”
Anh ngồi dậy, tóc xòa xuống mặt.
“Em đã nói anh cần nghỉ ngơi mà.”
“Anh có thể nghỉ ngơi trong không khí tươi mát. Dậy đi! Để em dọn giường.”
Anh vừa mặc đồ vừa càu nhàu về sự vô cảm và thiếu chu đáo của tôi đối với một người đàn ông bị thương nặng, rồi ngồi yên để tôi băng bó cái cổ chân yếu ớt trước khi bản tính sôi nổi của anh trỗi dậy.
“Ngoài trời hơi ẩm ướt,” anh nói, liếc mắt qua cửa sổ, thấy rằng cơn mưa phùn đã bắt đầu nặng hạt hơn. “Lên mái nhà đi!”
“Mái nhà ư? Ồ, chắc chắn rồi. Leo sáu tầng cầu thang là phương thuốc điều trị hữu hiệu nhất đối với một cái cổ chân bị căng cơ mà.”
“Năm tầng thôi. Hơn nữa, anh có một cây gậy.” Anh lấy ra cây gậy bằng gỗ táo gai trông rất cũ kỹ từ đằng sau cánh cửa rồi vung vây nó vẻ hả hê.
“Anh kiếm được thứ đó ở đâu vậy?” Tôi hỏi, kiểm tra nó. Khi nhìn gần, trông nó càng sứt sẹo hơn. Nó dài chừng một mét, được thời gian tôi luyện trở nên rắn chắc như kim cương.
“Alec cho anh mượn. Ông ấy dùng nó với những con la; chẳng hạn như gõ nhẹ vào giữa hai mắt chúng để khiến chúng chú ý.”
“Có vẻ rất hiệu quả,” tôi nói, nhìn thanh gỗ trầy xước. “Lúc nào đó em phải thử với anh mới được.”
Cuối cùng, chúng tôi cũng lên đến một chỗ kín gió ngay bên dưới phần mái ngói nhô ra. Một hàng lan can thấp rào quanh mép, che chắn chốn vọng cảnh này.
“Ồ, đẹp quá!” Bất chấp mưa gió, quang cảnh nhìn từ mái nhà thật ấn tượng; chúng tôi có thể trông thấy đường cong màu bạc của cái hồ rộng lớn và xa hơn nữa là những khối đá cao vút nhô lên trên bầu trời xám xịt, đặc quánh mây mù, giống như những quả đấm màu đen nhấp nhô.
Jamie dựa người vào lan can, giảm bớt gánh nặng cho bàn chân bị thương.
“Ừ, đẹp mà. Hồi trước, thi thoảng anh lại lên đây.”
Anh chỉ tay về phía bên kia hồ nước đang gợn sóng lăn tăn dưới nhịp điệu của cơn mưa.
“Em có thấy hẻm núi đằng kia không, giữa hai ngọn núi đá kia kìa?”
“Chỗ dãy núi kia hả? Có.”
“Đó là đường tới Lallybroch. Thi thoảng, khi thấy cô đơn vì nhớ nhà, anh lại lên đây và nhìn về phía ấy. Anh sẽ tưởng tượng mình đang bay như một con quạ qua con đèo đó, ngắm nhìn những ngọn đồi, những cánh đồng, và hạ cánh xuống trang viên nằm ở cuối thung lũng phía bên kia ngọn núi.”
Tôi chạm nhẹ vào cánh tay anh.
“Anh có muốn về nhà không, Jamie?”
Anh ngoảnh đầu và mỉm cười với tôi.
“Chà, anh đang nghĩ tới điều đó. Anh không biết chính xác liệu mình có muốn hay không, nhưng anh nghĩ chúng ta phải trở về. Anh không chắc chúng ta sẽ thấy gì ở đó, Sassenach. Nhưng... ầy, bây giờ anh đã kết hôn rồi. Em là bà chủ của Broch Tuarach. Dù có là kẻ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, anh vẫn phải trở về, kể cả khi chỉ nán lại trong một thời gian ngắn để giải quyết mọi vướng mắc.”
Tôi run lên, vừa nhẹ nhõm vừa e sợ trước ý nghĩ rời khỏi Leoch và đủ loại mưu đồ nơi đây.
“Khi nào chúng ta sẽ đi?”
Anh chau mày, ngón tay gõ nhịp trên lan can. Mặt đá tối sẫm và trơn trượt vì nước mưa.
“Anh nghĩ chúng ta phải đợi Công tước đến đã. Ông ta có thể đồng ý giúp Colum giải quyết vụ việc của anh. Nếu không thể chứng minh được anh vô tội, ông ta có thể thu xếp để anh được tha bổng. Khi đó, trở về Lallybroch sẽ ít nguy hiểm hơn nhiều.”
“Vâng, nhưng...”
Anh liếc tôi sắc lẹm khi tôi ngập ngừng.
“Chuyện gì vậy, Sassenach?”
Tôi hít sâu một hơi. “Jamie... nếu em nói với anh một chuyện, anh hứa là sẽ không hỏi tại sao em lại biết chứ?”
Anh nắm cả hai cánh tay tôi, nhìn thẳng vào mặt tôi. Cơn mưa hắt lên tóc anh một màn bụi nước lạnh giá, những giọt nước nhỏ xíu chảy xuống dọc theo hai bên má anh. Anh mỉm cười với tôi.
“Anh đã nói với em là anh sẽ không hỏi bất cứ điều gì mà em không muốn nói với anh. Ừ, anh hứa.”
“Hãy ngồi xuống đã. Anh không nên đứng lâu như thế.”
Chúng tôi di chuyển tới một chỗ khô ráo và ngồi tựa vào tường trong tư thế thoải mái.
“Nào, Sassenach. Chuyện gì vậy?” Jamie hỏi.
“Công tước Sandringham,” tôi nói, cắn môi. “Jamie, đừng tin tưởng ông ta. Em không biết hết mọi thứ về ông ta, nhưng em biết... ở ông ta có vấn đề gì đó... Vấn đề gì đó không ổn.”
“Em biết ư?” Anh có vẻ ngạc nhiên.
Giờ thì đến lượt tôi nhìn anh chằm chằm.
“Ý anh là anh biết chuyện về ông ta? Anh đã gặp ông ta ư?” Tôi nhẹ nhõm. Có lẽ những mối liên hệ bí ẩn giữa Sandringham và phái Jacobite được nhiều người biết đến hơn so với Frank và mục sư đã nghĩ.
“Ồ, đúng vậy. Ông ta đã tới đây hồi anh mười sáu tuổi. Đó cũng là lúc anh... rời đi.”
“Tại sao anh lại rời đi?” Tôi tò mò, đột nhiên nhớ ra những điều Geillis Duncan đã nói khi tôi lần đầu gặp cô ta trong rừng: lời đồn kỳ quặc rằng Jamie là cha đẻ của Hamish, con trai của Colum. Tôi biết rằng không phải như thế, không thế nào - nhưng tôi là người duy nhất trong lâu đài biết điều đó. Một nỗi nghi ngờ như vậy có thể dễ dàng khiến Dougal muốn đoạt mạng Jamie - nếu ông ta thực sự là thủ phạm trong vụ tấn công ở Carryarick.
“Không phải là vì... phu nhân Letitia đấy chứ?” Tôi e dè hỏi.
“Letitia?” Anh tỏ rõ sự kinh ngạc, và thứ gì đó trong lòng tôi không biết đã siết chặt tự lúc nào bỗng chốc nới lỏng. Tôi không nghĩ giả thuyết của Geilie có thể là sự thật, thế nhưng...
“Sao em lại nhắc đến Letitia?” Jamie tò mò hỏi. “Anh đã sống trong lâu đài một năm, và nhớ là mới nói chuyện với mợ ấy có một lần, khi mợ ấy gọi anh tới buồng mình và mắng anh một trận vì đã đầu têu chơi trò bóng gậy cong trong vườn hoa hồng của mợ ấy.”
Tôi kể với anh về điều Geilie đã nói, và anh cười phá lên, phả ra một làn khói trong không khí ẩm ướt, lạnh giá.
“Chúa ơi,” anh nói, “cứ làm như gan anh to lắm vậy!”
“Anh không nghĩ Colum nghi ngờ một việc như thế chứ?” Tôi hỏi.
Anh quả quyết lắc đầu.
“Không, anh không nghĩ vậy, Sassenach. Nếu ông ấy nghi ngờ, anh sẽ không sống nổi đến tuổi mười bảy, nói gì đến cái tuổi hai mươi ba chín muồi như thế này.”
Câu nói của anh ít nhiều chứng thực cho ấn tượng của tôi về Colum, tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy nhẹ nhõm, vẻ mặt Jamie trở nên đăm chiêu, đôi mắt xanh bất chợt nhìn xa xăm.
“Nhưng nghĩ tới điều đó, khi ấy anh không biết rằng Colum thừa hiểu lý do tại sao anh lại đột ngột rời khỏi lâu đài. Và nếu Geillis Duncan đi gieo những tin đồn như thế khắp nơi - người phụ nữ đó là một kẻ chuyên gây rối, Sassenach ạ; cô ta thích ngồi lê đôi mách và bẳn tính, chưa nói đến việc người ta còn đồn cô ta là phù thủy nữa - chà, đáng lẽ anh phải biết rằng ông ấy đã phát hiện ra.”
Anh ngước nhìn màn nước đang chảy xuống từ mái ngói.
“Có lẽ chúng ta nên xuống thôi, Sassenach. Ngớt mưa rồi.”
Chúng tôi đi xuống bằng cái cầu thang lộ thiên dẫn đến khu vườn rau - vì tôi muốn nhổ một ít cây lưu ly nếu mưa tạnh hẳn - và đứng trú dưới một gờ cửa sổ của lâu đài.
“Em hái cây lưu ly để làm gì vậy, Sassenach?” Jamie hỏi với vẻ hứng thú, nhìn ra những khóm cây bị cơn mưa làm cho ngã rạp xuống đất.
“Khi nó còn xanh thì em chẳng làm gì cả. Trước tiên, em phải phơi khô nó, và rồi...”
Bỗng có tiếng chó sủa và tiếng la hét vọng đến từ phía ngoài bức tường của khu vườn, ngắt ngang lời tôi. Tôi chạy qua màn mưa về phía ấy, Jamie khập khiễng lê bước theo sau.
Cha Bain - vị linh mục của làng - đang chạy trối chết trên đường, những vũng nước mưa dưới chân ông ta bắn tung tóe, đằng sau ông ta là một đàn chó sủa inh ỏi, đuổi theo sát gót. Bị vướng chiếc áo ngoài lụng thụng, linh mục vấp ngã, nước và bùn bắn lên khắp người ông ta. Loáng một cái, lũ chó đã nhảy bổ đến, gầm gừ, cắn đớp.
Jamie nhảy phắt qua tường, xen vào giữa đám hỗn loạn, vừa khua gậy vừa quát tháo ầm ĩ bằng tiếng Gaelic, góp giọng vào sự náo động. Nếu những lời quát tháo và chửi rủa chẳng có mấy tác dụng thì cây gậy lại vô cùng hiệu quả. Những tiếng ăng ẳng to tướng vang lên khi cây gậy quất trúng những cơ thể lông lá, và đàn chó dần dần lùi lại, cuối cùng quay đi và phóng như bay về phía ngôi làng.
Jamie gạt tóc ra khỏi mắt, thở hổn hển.
“Dữ như sói vậy,” anh nói. “Anh đã kể với Colum về đàn chó đó rồi; hai ngày trước, chính chúng đã đuổi Cobhar xuống hồ. Tốt nhất là ông ấy nên cho người bắn chết chúng trước khi chúng giết ai đó.” Anh nhìn tôi khi tôi quỳ gối bên cạnh vị linh mục đang ngã sõng soài để kiểm tra. Nước mưa từ trên tóc tôi nhỏ xuống tong tỏng, và tôi cảm thấy cái khăn choàng của mình ướt sũng.
“Chúng chưa giết chết ông ấy đâu,” tôi nói. “Ngoài vài dấu răng ông ấy cơ bản ổn cả.”
Chiếc áo chùng của Cha Bain bị toạc một bên, lộ ra khoảng đùi nhẵn nhụi trắng bóc với một vết rách dài xấu xí và vài dấu răng lỗ chỗ đang bắt đầu rỉ máu. Mặt trắng bệch vì sốc, vị linh mục cố gắng đứng dậy; rõ ràng ông ta không bị thương quá nặng.
“Nếu Cha tới phòng khám với con, thưa Cha, con sẽ rửa sạch những vết thương đó giúp Cha,” tôi đề nghị, nén cười trước cảnh tượng mà vị linh mục béo lùn đang phơi bày: chiếc áo chùng của ông ta bay phấp phới, để lộ đôi tất ngắn có hoa văn hình quả trám.
Bình thường, khuôn mặt của Cha Bain giống như một nắm đấm siết chặt. Lúc này, sự tương đồng ấy càng rõ nét hơn bởi lằn đỏ ở quai hàm ông ta làm nổi bật những nếp nhăn giữa hai má và miệng. Ông ta trừng mắt nhìn tôi như thể tôi vừa đề nghị ông ta làm chuyện gì thiếu đứng đắn ở nơi công cộng.
Có vẻ thế thật, vì ông ta lập tức lên tiếng: “Cái gì, một linh mục mà lại phơi bày những bộ phận riêng tư để cho một người phụ nữ sờ mó ư? Này cô, tôi không biết trong giới của cô có những hành vi đồi bại nào, nhưng tôi xin nói cho cô biết rõ rằng những điều đó không được chấp nhận ở đây - chừng nào tôi còn có bổn phận cứu rỗi các linh hồn trong giáo xứ này!” Dứt lời, ông ta quay ngoắt đi và bước cà nhắc, cố gắng giữ lấy mép rách của chiếc áo chùng nhưng cũng chẳng che chắn được mấy.
“Tùy Cha thôi,” tôi gọi với theo ông ta. “Nếu Cha không để con sát trùng nó, nó sẽ mưng mủ lên đấy!”
Linh mục không trả lời, khom đôi vai tròn và tập tễnh leo từng bậc thang như một con chim cánh cụt nhảy lên một tảng băng nổi.
“Ông ta không thích phụ nữ lắm, đúng không?” Tôi hỏi Jamie.
“Xét về nghề nghiệp của ông ấy, anh cũng cho là vậy,” anh đáp. “Đi ăn thôi!”
•••
Sau bữa trưa, tôi đuổi bệnh nhân của mình trở về giường nghỉ ngơi - lần này thì chỉ một mình anh, bất chấp những lời phản đối - và đi xuống phòng khám. Cơn mưa nặng hạt có vẻ khiến tôi nhàn rỗi hơn; người ta có xu hướng ở yên trong nhà thay vì chèn lưỡi cày lên chân hoặc ngã từ trên mái nhà xuống.
Tôi ngồi ghi chép vào cuốn sổ của Davie Beaton để giết thời gian. Tuy nhiên, ngay khi tôi làm xong, một vị khách xuất hiện làm cửa phòng tôi tối sầm lại.
Ô cửa tối sầm lại theo đúng nghĩa đen, vì vóc dáng to bè của vị khách đã choán hết nó. Nheo mắt trong cảnh tranh tối tranh sáng, tôi lờ mờ nhìn ra Alec MacMahon. Ông ta mặc một bộ y phục kỳ quặc gồm áo khoác, khăn san và những mảnh chăn cọc cạch vốn dùng để đắp cho ngựa.
Ông ta lò dò tiến tới, gợi nhắc tôi nhớ đến lần đầu tiên Colum đi cùng tôi tới phòng khám, khiến tôi lập tức phát hiện ra bệnh tình của ông ta.
“Bệnh thấp khớp, đúng không?” Tôi hỏi với vẻ cảm thông khi Alec cứng nhắc ngồi xuống cái ghế bành với một tiếng rên rỉ kìm nén.
“Ừ. Không khí ẩm thấp làm xương tôi đau nhức,” ông ta nói. “Phải làm gì với nó đây?”
Ông ta đặt hai bàn tay to lớn, xương xẩu lên bàn, để cho những ngón tay thư giãn. Hai bàn tay chầm chậm xòe ra giống như một đóa hoa nở về đêm, để lộ lòng bàn tay chai sần. Tôi cầm bàn tay xương xẩu ấy lên, nhẹ nhàng lật nó qua lại, co duỗi các ngón tay và mát xa lòng bàn tay chai cứng. Khuôn mặt già nua hơi nhăn nhó nhưng rồi dịu đi khi những cơn đau nhức đầu tiên đã qua.
“Giống như gỗ vậy,” tôi nói. “Phương pháp điều trị tốt nhất mà tôi có thể gợi ý là hãy uống một ngụm lớn whisky và xoa bóp kĩ càng. Trà cúc ngải cũng chỉ có tác dụng đến thế mà thôi.”
Ông ta cười, những chiếc khăn san trượt khỏi vai.
“Whisky hở? Trước đây tôi còn nghi ngờ, cô gái ạ, nhưng tôi thấy cô có tố chất của một thầy thuốc giỏi đấy.”
Tôi thò tay vào phía trong cùng của tủ thuốc, lấy ra cái chai màu nâu không ghi nhãn đựng loại rượu của lâu đài Leoch. Tôi đặt phịch nó lên bàn trước mặt ông ta, kèm theo một cái cốc bằng sừng.
“Ông uống đi,” tôi nói, “rồi cởi bỏ những lớp quần áo trên người cho đến chừng nào ông cảm thấy mình còn đủ đứng đắn, sau đó thì nằm lên bàn. Tôi sẽ nhóm lửa để căn phòng đủ ấm.”
Con mắt màu xanh săm soi cái chai với vẻ tán thưởng, bàn tay co quắp chầm chậm vươn tới cổ chai.
“Cô cũng nên uống một ngụm, cô gái,” ông ta khuyên. “Đây là một việc vất vả mà.”
Ông ta rên rỉ, vừa vì đau vừa vì sảng khoái, khi tôi ấn mạnh vào vai trái của ông ta để làm nó dãn ra, rồi nhấc và xoay cánh tay ông ta.
“Trước đây, vợ tôi thường day lưng cho tôi,” ông ta nói, “vì tôi mắc chứng đau lưng. Nhưng làm thế này còn dễ chịu hơn nhiều. Cô có một đôi tay khỏe, cô gái. Cô sẽ là một người chăm sóc ngựa giỏi đây!”
“Tôi sẽ coi đó là một lời khen,” tôi đùa giỡn, đổ thêm hỗn hợp dầu và mỡ động vật đun nóng vào lòng bàn tay rồi xoa khắp mảng lưng rộng lớn trắng bóc của ông ta. Có một đường ranh giới rõ rệt giữa làn da nâu lốm đốm, dãi dầu sương gió ở hai cánh tay, nơi tay áo sơ mi được xắn lên, và làn da màu trắng sữa ở vai và lưng.
“Chà, ông từng là một chàng trai trắng trẻo, mịn màng,” tôi nhận xét. “Da lưng ông cũng trắng bằng tôi đây.”
Một tiếng cười khùng khục trầm ấm cất lên làm rung phần bắp thịt dưới bàn tay tôi.
“Giờ thì không thể biết được điều đó, đúng không? Ầy, Ellen MacKenzie từng nhìn thấy tôi cởi trần khi tôi đỡ đẻ cho một con ngựa, và nói rằng có vẻ như Chúa nhân từ đã đặt nhầm đầu vào cơ thể tôi - đáng lẽ trên vai tôi nên có một túi bánh sữa nướng thay vì một khuôn mặt trong bức trang trí sau bàn thờ.”
Tôi đoán ông ta đang nhắc đến bức ngăn tòa giảng trong nhà nguyện, trên đó khắc họa một số con quỷ trông cực kỳ gớm ghiếc đang tra tấn những kẻ tội đồ.
“Ellen MacKenzie có vẻ phóng khoáng nhỉ,” tôi nhận xét. Tôi khá tò mò về mẹ của Jamie. Từ những điều vụn vặt thi thoảng anh nói đến, tôi đã hình dung được một chút về cha anh, Brian, nhưng anh chưa bao giờ nhắc đến mẹ, vì vậy tôi chẳng biết gì về bà ngoài việc bà đã mất trong lúc sinh nở từ khi còn rất trẻ.
“Ồ, bà ấy có miệng lưỡi sắc sảo và rất cá tính.” Sau khi cởi cái nịt bít tất ra khỏi chiếc quần bó sát của ông ta, tôi xắn ống quần ông ta lên và bắt đầu thao tác trên hai bắp đùi rắn chắc. “Nhưng vẫn đủ ngọt ngào để không làm ai quá phiền lòng, ngoài các em trai của bà ấy. Và bà ấy chẳng mấy đếm xỉa đến Colum hay Dougal.”
“Ừm. Tôi đã được nghe điều đó. Bà ấy đã trốn đi để kết hôn với người mình yêu, đúng không?” Tôi bấm hai ngón tay cái vào dây chằng ở khoeo chân ông ta, khiến ông ta khẽ rên lên một tiếng. Nếu là người khác thì có lẽ đã kêu lên the thé rồi.
“Ồ, đúng vậy. Ellen là con cả trong sáu người con nhà MacKenzie - bà ấy hơn Colum chừng một, hai tuổi và là con cưng của già Jacob. Đó là lý do mãi mà bà ấy vẫn chưa lấy chồng; bà ấy không muốn dính dáng gì đến John Cameron, Malcolm Grant hay bất cứ người nào khác môn đăng hộ đối, và cha bà ấy sẽ không ép bà ấy làm điều mà bà ấy không muốn.”
Nhưng khi ông lão Jacob mất, Colum không kiên nhẫn nổi với những khuyết điểm của chị gái. Nỗ lực hết sức để củng cố sự nắm giữ vốn còn chưa chắc chắn của mình với thị tộc, ông ta đã tìm cách liên minh với thị tộc Munro ở phía bắc hoặc thị tộc Grant ở phía nam. Cả hai thị tộc đều có những thủ lĩnh trẻ tuổi, và họ sẽ trở thành những người anh em rể hữu ích. Jocasta, lúc ấy mới mười lăm tuổi, đã ngoan ngoãn nhận lời cầu hôn của John Cameron và đi lên phía bắc. Còn Ellen, đang có nguy cơ trở thành một bà cô ở tuổi hai mươi hai, thì khó bảo hơn nhiều.
“Dựa vào thái độ của Malcolm Grant hai tuần trước, tôi đoán lời cầu hôn của ông ta đã bị từ chối khá thẳng thừng,” tôi nhận xét.
Già Alec cười, tiếng cười biến thành một tiếng rên rỉ sảng khoái khi tôi bấm sâu hơn.
“Ừ. Tôi không biết chính xác bà ấy đã nói gì với ông ta, nhưng tôi cho là nó phải khiến ông ta tổn thương ghê gớm lắm. Họ gặp nhau ở lễ tụ hội. Vào buổi tối, họ đã cùng nhau tới vườn hoa hồng, và tất cả mọi người đều đợi xem bà ấy có đồng ý lấy ông ta hay không. Trời tối dần, và mọi người cứ đợi mãi. Đến khi trời tối đen, đèn đóm đã được thắp lên, và buổi ca hát bắt đầu, vẫn không thấy tăm hơi của Ellen hay Malcolm Grant đâu.”
“Chúa ơi. Hẳn là họ có nhiều chuyện để nói với nhau lắm.” Tôi đổ thêm một ít dầu xoa vào giữa hai xương bả vai của Alec, và ông ta tỏ vẻ khoan khoái vì sự ấm áp của nó.
“Có vẻ như vậy, nhưng thời gian cứ tiếp tục trôi đi mà họ vẫn không quay lại. Colum bắt đầu sợ rằng Grant đã dùng vũ lực để bắt cóc bà ấy. Có thể như vậy lắm, vì vườn hoa hồng trống không. Khi Colum sai người tới chuồng ngựa gọi tôi - tôi đã nói với ông ấy rằng người của Grant đã đến lấy ngựa, và cả đoàn đã bỏ đi không một lời từ giã.”
Vì quá phẫn nộ, Dougal khi ấy mới mười tám tuổi đã lập tức nhảy lên con ngựa của mình và đuổi theo Malcolm Grant, không đợi ai đi cùng hay hội ý với Colum.
“Nghe nói Dougal đã đuổi theo Grant, Colum liền sai tôi và vài người khác gấp rút đuổi theo Dougal. Colum hiểu quá rõ tính khí của Dougal và không muốn ông anh rể mới của mình bị giết chết giữa đường trước khi đám cưới diễn ra. Colum cho rằng vì không thể thuyết phục Ellen đồng ý kết hôn với mình nên Malcolm Grant đã mang bà ấy đi để chiếm đoạt bà ấy và ép bà ấy kết hôn theo cách đó.”
Alec ngừng lại, trầm ngâm. “Đương nhiên là Dougal cảm thấy bị xúc phạm. Nhưng thành thật mà nói, tôi không nghĩ Colum tức giận về chuyện đó, dù ông ấy có cảm thấy bị xúc phạm hay không. Chuyện này sẽ giải quyết được vấn đề của ông ấy - và Grant có khả năng sẽ phải lấy Ellen mà không có của hồi môn, đã thế còn phải trả tiền bồi thường cho Colum nữa.”
Alec hừ mũi đầy mỉa mai. “Colum không phải là người dễ dàng bỏ lỡ một cơ hội nào. Bản chất của ông ấy là tinh nhạy và tàn nhẫn.” Con mắt xanh duy nhất đảo lại nhìn tôi qua vai. “Cô nên ghi nhớ điều đó.”
“Tôi sẽ không quên đâu,” tôi trấn an ông ta với chút căng thẳng. Nhớ lại chuyện Jamie bị Colum phạt, tôi tự hỏi trong hình phạt đó có bao nhiêu phần là để trả thù sự nổi loạn của mẹ anh.
Colum đã tuột mất cơ hội gả chị gái cho lãnh chúa của thị tộc Grant. Gần sáng hôm sau, Dougal đã tìm thấy Malcolm Grant đang nghỉ đêm dọc theo con đường chính cùng với những người tùy tùng. Ông ta đang quấn mình trong cái áo choàng len và ngủ dưới một bụi kim tước.
Một lát sau, khi Alec và những người khác tới nơi, họ đã đứng khựng lại trước cảnh tượng mà mình nhìn thấy. Dougal MacKenzie và Malcolm Grant - cả hai đều lột trần đến eo và đầy sứt sẹo vì những dấu vết của cuộc chiến - đang lảo đảo, loạng choạng vờn nhau qua lại trên đường, vung những cú đấm hú họa vào đối phương mỗi khi bước vào tầm với của nhau. Đám tùy tùng của Grant ngồi dọc bên lề đường như một bầy cú, đầu hết xoay bên này lại xoay sang bên kia, theo dõi trận chiến đã sắp tàn trong buổi bình minh ướt đẫm.
“Cả hai người họ đều thở hồng hộc như những con ngựa kiệt sức, những làn hơi tỏa ra từ cơ thể họ trong sự lạnh lẽo. Mũi của Grant sưng to gấp đôi, còn Dougal khó có thể nhìn được gì qua cả hai mắt, máu chảy xuống và khô lại trên ngực họ.”
Khi thấy người của Colum xuất hiện, đám tùy tùng của Grant đều đứng bật dậy, đặt tay vào kiếm, và cuộc chạm trán hẳn sẽ biến thành một trận gió tanh mưa máu nếu không có một chàng trai tinh tường trong thị tộc MacKenzie nhận ra một chi tiết quan trọng: Ellen MacKenzie không có mặt ở đây.
“Sau khi họ giội nước lên người Malcolm Grant, làm cho ông ta tỉnh táo lại, ông ta bèn cố gắng kể với họ điều mà Dougal đã không chịu dừng lại để nghe - đó là Ellen chỉ ở trong vườn hoa hồng với ông ta có mười lăm phút. Ông ta không nói chuyện gì đã xảy ra giữa họ, nhưng dù là gì thì chuyện đó cũng khiến ông ta tức giận đến mức muốn rời đi ngay lập tức, không trở lại đại sảnh nữa. Ông ta đã bỏ bà ấy ở lại đó và không gặp lại bà ấy lần nào, cũng không muốn nghe thấy tên của Ellen MacKenzie được nhắc đến trước mặt mình. Kể xong, ông ta loạng choạng leo lên lưng ngựa và phóng đi. Từ đó, ông ta không còn là bạn bè với bất cứ ai trong thị tộc MacKenzie.”
Tôi say sưa lắng nghe. “Vậy suốt lúc đó, Ellen ở đâu?”
Già Alec cười, nghe như tiếng cọt kẹt ở bản lề cửa chuồng ngựa.
“Bà ấy đã cao bay xa chạy. Nhưng họ không biết là bà ấy đã đi đâu. Chúng tôi lại hối hả về nhà, thấy rằng Ellen vẫn mất tích và Colum đang đứng dựa vào Angus Mhor ở sân, mặt trắng bệch.”
Chuyện càng lúc càng rối, vì khách đông đến mức tất cả các căn phòng của lâu đài đều kín người, kể cả gác xép, nhà kho, bếp và buồng để đồ. Chẳng thể nào phát hiện ra liệu có ai trong số những người đang ở trong lâu đài cũng biến mất không, nhưng Colum đã cho gọi tất cả những người hầu tới, kiên trì dò tra danh sách khách mời, hỏi xem họ có nhìn thấy ai vào tối hôm trước không, ở đâu và khi nào. Cuối cùng, có một cô hầu bếp nhớ rằng mình đã nhìn thấy một người đàn ông ở lối đi đằng sau, ngay trước bữa tối.
Cô ta nói cô ta để ý đến người đó chỉ vì ông ta quá đẹp trai, cao ráo và cường tráng, với mái tóc giống như bộ lông của một con chó biển đen và đôi mắt của một con mèo. Cô ta đã dõi theo ông ta suốt lối đi, ngưỡng mộ ông ta, và thấy ông ta gặp ai đó ở cửa ngoài - một người phụ nữ mặc đồ đen từ đầu đến chân và khoác chiếc áo choàng không tay có mũ trùm đầu.
“Chó biển là gì?” Tôi hỏi.
Alec liếc nhìn tôi, khóe mắt nheo lại.
“Trong tiếng Anh thì cô gọi chúng là hải cẩu. Một thời gian sau, ngay cả khi đã biết sự thật, dân làng vẫn truyền tai nhau rằng Ellen MacKenzie đã bị mang ra biển, sống giữa bầy hải cẩu. Cô có biết rằng khi lên bờ thì lũ chó biển lột bỏ bộ da của chúng và đi lại như con người không? Nếu cô tìm thấy và giấu được bộ da ấy, hắn - hoặc ả...” ông ta nói thêm, “không thể trở về biển được nữa, mà phải ở lại trên đất liền với cô. Người ta nghĩ lấy được một cô vợ hải cẩu như thế là điều tuyệt vời, vì họ là những đầu bếp giỏi và là những bà mẹ tận tụy nhất.
“Tuy nhiên,” ông ta thận trọng nói, “Colum tuyên bố rằng ông ấy không tin chị gái mình lại bỏ đi với một con hải cẩu. Vì vậy, ông ấy đã gọi từng vị khách đến, hỏi xem có ai biết một người đàn ông có tướng mạo như thế không. Cuối cùng, họ tìm ra tên của người đó là Brian, nhưng không ai biết thị tộc hay họ của ông ta; ông ta đã tham dự các trò chơi, nhưng ở đó họ chỉ gọi ông ta là Brian Dhu thôi.”
Vậy là vấn đề mắc lại ở đó một thời gian, vì những người tìm kiếm không biết phải tìm theo hướng nào. Tuy nhiên, ngay cả những thợ săn giỏi nhất thi thoảng cũng phải dừng lại ở một ngôi nhà tranh để hỏi xin một nắm muối hoặc một chén sữa. Cuối cùng, tin tức về cặp đôi cũng lan tới Leoch, vì Ellen MacKenzie là một cô gái có ngoại hình không bình thường.
“Bà ấy có mái tóc đỏ rực như lửa,” Alec mơ màng nói, tận hưởng sự ấm áp của dầu xoa trên lưng mình. “Và đôi mắt giống mắt của Colum - tròng mắt xám, hàng mi đen dài - rất đẹp, nhưng sắc như dao. Bà ấy rất cao; thậm chí còn cao hơn cả cô. Và trắng đến lóa mắt.”
“Sau này, tôi nghe nói họ đã gặp nhau ở lễ tụ hội, và chỉ cần nhìn nhau một cái là đã quyết định rằng sẽ chẳng thể có ai khác phù hợp với họ hơn. Vì vậy, họ đã lập kế hoạch bỏ trốn ngay trước mũi Colum MacKenzie và ba trăm vị khách.”
Alec đột nhiên cười phá lên khi hồi tưởng lại. “Cuối cùng, Dougal cũng tìm thấy họ trong một ngôi nhà tranh ở rìa lãnh địa của thị tộc Fraser. Họ đã quyết định rằng cách xoay xở duy nhất là trốn đi cho đến khi Ellen mang thai đủ to để chẳng ai còn nghi ngờ tác giả của cái bào thai ấy là ai. Thế rồi Colum sẽ phải chúc phúc cho cuộc hôn nhân này, dù có thích hay không - và đương nhiên là ông ấy không thích rồi.”
Alec cười toe. “Trong lúc đi đường, cô có tình cờ nhìn thấy một vết sẹo chạy dọc trên ngực Dougal không?”
Tôi có nhìn thấy; đó là một vết sẹo mỏng màu trắng kéo dài từ vai xuống mạng sườn, băng qua vị trí của trái tim ông ta.
“Brian đã gây ra nó à?” Tôi hỏi.
“Không, là Ellen,” Alec đáp, cười toét miệng khi nhìn thấy vẻ mặt tôi. “Để ngăn Dougal cắt cổ Brian. Nếu tôi là cô, tôi sẽ không nhắc đến chuyện này với Dougal đâu.”
“Tôi không nghĩ mình sẽ làm vậy.”
May mắn thay, kế hoạch đã thành công, và Ellen đang mang thai năm tháng lúc Dougal tìm thấy họ.
“Chuyện đó đã gây chấn động, và hàng loạt những lá thư giận dữ được trao qua đổi lại giữa Leoch và Beauly, nhưng cuối cùng họ cũng giải quyết xong, Ellen và Brian dọn đến Lallybroch trước khi đứa bé chào đời một tuần. Họ kết hôn ở ngoài sân,” Alec nói thêm, như chợt nghĩ ra, “để lần đầu tiên bước qua ngưỡng cửa, Brian có thể bế Ellen với tư cách là vợ chồng. Sau đó, ông ấy nói mình gần như gãy lưng vì bế bà ấy.”
“Ông nói cứ như ông biết rõ họ vậy,” tôi nói. Xong việc, tôi lấy khăn lau lớp dầu trơn trên tay.
“Ồ, một chút,” Alec nói, mơ màng vì sự ấm áp. Mí mắt ông ta sụp xuống, và những đường nét trên khuôn mặt già nua dịu đi, không còn vẻ khó chịu thường khiến ông ta trông có vẻ quá dữ dằn nữa.
“Dĩ nhiên là tôi biết rõ Ellen. Còn Brian thì vài năm sau đó tôi mới gặp, khi ông ấy mang thằng nhỏ tới lâu đài - quan hệ giữa chúng tôi khá tốt. Ông ấy là một kỵ sĩ giỏi.” Giọng Alec nhỏ dần, và mí mắt khép lại.
Tôi đắp một cái chăn lên thân hình nằm sấp của ông già, rồi nhón chân bước đi, để mặc ông mơ màng bên lò sưởi.
•••
Tôi trở về phòng mình, thấy rằng Jamie cũng đang ngủ. Có quá ít trò giải trí khi ở trong nhà vào một ngày mưa âm u, nếu tôi không muốn đánh thức Jamie hoặc ngủ vùi giống anh, có vẻ như chỉ còn việc đọc sách và khâu vá. Vì khả năng sử dụng kim chỉ vô cùng tệ nên cuối cùng tôi quyết định đi mượn một cuốn sách ở thư viện của Colum.
Tuân theo những nguyên tắc kiến trúc kỳ quặc chi phối việc xây dựng Leoch - có vẻ căm ghét những đường thẳng - cầu thang dẫn tới phòng Colum có hai chỗ uốn vuông góc, ở mỗi chỗ uốn là một chiếu nghỉ nhỏ. Trên chiếu nghỉ thứ hai thường có một người hầu chực sẵn để chạy việc vặt hoặc trợ giúp lãnh chúa, nhưng hôm nay ông ta không có mặt ở vị trí của mình. Tôi có thể nghe thấy những giọng nói oang oang vọng xuống từ bên trên; có lẽ người hầu đang ở cùng Colum. Tôi ngừng lại ở ngoài cửa, do dự không biết có nên xen ngang không.
“Anh luôn biết em là một thằng ngốc, Dougal, nhưng anh không nghĩ em lại ngu xuẩn đến thế.” Vốn được các gia sư kèm cặp từ khi còn nhỏ, lại không hay ra ngoài với các chiến binh và dân thường như em trai, vì vậy vào những lúc bình thường, giọng nói của Colum không nặng thổ âm địa phương như giọng nói của Dougal. Nhưng bây giờ, lối phát âm có học thức ấy đã biến mất, và hai giọng nói gần như không thể phân biệt được, cả hai đều khàn đi vì giận dữ. “Nếu em còn trong độ tuổi hai mươi thì anh có thể hiểu được hành vi đó của em, nhưng Chúa ơi, em trai, em đã bốn mươi lăm rồi!”
“Anh thì hiểu gì về vấn đề này chứ, đúng không?” Giọng Dougal đầy mỉa mai.
“Đúng.” Colum trả lời với giọng sắc bén. “Và dù anh hiếm khi tìm ra lý do gì để cảm ơn Chúa, có lẽ người đã đối xử với anh tốt hơn anh nghĩ. Anh đã nghe nói quá nhiều lần rằng bộ não của một người đàn ông ngừng hoạt động khi công cụ gây giống của anh ta giương lên, và bây giờ anh nghĩ có lẽ anh tin điều đó.” Một tiếng két lớn vang lên khi chân ghế miết trên sàn đá. “Nếu hai anh em nhà MacKenzie chỉ có một công cụ gây giống và một bộ não, vậy thì anh rất mừng vì bộ não chính là thứ mà anh có được!”
Tôi quyết định rằng người thứ ba trong cuộc đối thoại đặc biệt này nhất định sẽ không được hoan nghênh, vì thế tôi nhẹ nhàng bước lui khỏi cửa, quay người đi xuống cầu thang.
Tiếng váy sột soạt từ chiếu nghỉ đầu tiên khiến tôi dừng bước. Không muốn bị phát hiện đang nghe lén bên ngoài thư phòng của lãnh chúa, tôi bèn quay trở lại cửa. Chiếu nghỉ ở đây rộng rãi và có một tấm thảm thêu gần như che kín cả bức tường. Hai bàn chân tôi sẽ lộ ra, nhưng cũng chẳng còn cách nào.
Ẩn nấp như một con chuột đằng sau tấm thảm sặc sỡ, tôi nghe tiếng bước chân từ bên dưới chầm chậm tiến lại gần cửa, và dừng ở phía bên kia của chiếu nghỉ khi vị khách mà tôi không thấy mặt nhận ra tính chất riêng tư của cuộc đối thoại trong phòng, giống như tôi lúc nãy.
“Không,” Colum nói, đã điềm tĩnh hơn. “Không, dĩ nhiên là không. Người phụ nữ đó là một phù thủy, hoặc gần như vậy.”
“Vâng, nhưng...” Câu trả lời của Dougal bị ngắt ngang bởi giọng nói mất kiên nhẫn của anh trai.
“Anh đã nói là anh sẽ lo liệu việc đó. Đừng lo, em trai; anh sẽ xử lý cô ta.” Một sự trìu mến miễn cưỡng len vào giọng nói của Colum. “Nghe này, em trai. Anh đã viết thư cho Công tước, nói rằng ông ấy có thể đi săn ở vùng đất phía trên Erlick - ông ấy thích bắn hươu ở đó. Anh định sai Jamie đi cùng ông ấy; có thể ông ấy vẫn còn cảm tình với thằng nhỏ...”
Dougal ngắt lời bằng tiếng Gaelic, rõ ràng là một câu nói khiếm nhã, vì Colum cười nói: “Không, anh cho là Jamie đủ sức tự lo cho bản thân. Nhưng nếu nhờ Công tước đứng ra cầu xin Đức vua hộ nó, đây là cơ hội tốt nhất. Nếu em muốn, anh sẽ nói với Công tước là em cũng đi cùng. Như thế em có thể trợ giúp Jamie và có một cái cớ để lánh mặt khi anh giải quyết các vấn đề ở đây.”
Một tiếng “bịch” vang lên từ phía bên kia của chiếu nghỉ, tôi đánh bạo nhòm ra ngoài. Đó là Laoghaire, mặt trắng bệch như bức tường vữa đằng sau cô ta. Cô ta đang bê cái khay đựng một chiếc bình thon cổ, cái cốc bằng thiếc đã rơi từ trên khay xuống sàn nhà lót thảm, tạo ra tiếng động mà tôi vừa nghe thấy.
“Cái gì thế?” Giọng Colum trong thư phòng chợt trở nên sắc bén. Laoghaire đặt cái khay lên chiếc bàn cạnh cửa, luống cuống đến nỗi suýt làm đổ cái bình thon cổ, và hấp tấp quay đầu bỏ chạy.
Nghe tiếng bước chân Dougal tiến đến cánh cửa, tôi biết rằng mình sẽ không thể xuống được cầu thang mà không bị phát hiện. Tôi chỉ kịp lách mình ra khỏi chỗ nấp và nhặt cái cốc bị rơi thì cánh cửa mở ra.
“Ồ, là cô.” Dougal có vẻ khá ngạc nhiên. “Đó có phải là thứ bà Fitz gửi đến cho cái cổ họng khô rát của Colum?”
“Vâng,” tôi nói liến thoắng. “Bà ấy hy vọng ông ấy sẽ khá hơn.”
“Ta sẽ khá hơn.” Vì di chuyển chậm chạp nên lúc này Colum mới xuất hiện ở ô cửa mở. Ông ta cười với tôi. “Cảm ơn bà Fitz hộ ta nhé! Và ta cũng cảm ơn cô vì đã mang nó đến. Cô có muốn ngồi lại một lát trong lúc ta uống nó không?”
Cuộc hội thoại mà tôi nghe lỏm được đã khiến tôi quên béng mục đích ban đầu của mình, nhưng bây giờ tôi đã nhớ ra mình muốn mượn một cuốn sách. Dougal cáo lui, và tôi chậm rãi theo Colum vào thư viện của ông ta. Ông ta mời tôi thoải mái xem một lượt các giá sách.
Mặt Colum vẫn đỏ gay, cuộc tranh cãi với em trai còn chưa phai trong đầu ông ta, nhưng ông ta trả lời những câu hỏi của tôi về các cuốn sách với tư thế đĩnh đạc quen thuộc. Chỉ có ánh sáng trong mắt ông ta và chút căng thẳng ở dáng điệu là tiết lộ những ý nghĩ của ông ta.
Tôi tìm thấy một, hai cuốn sách nghiên cứu về thảo mộc trông có vẻ thú vị và đặt chúng sang một bên trong lúc tìm kiếm một cuốn tiểu thuyết.
Colum bước tới lồng chim, rõ ràng ông ta định tự trấn tĩnh mình bằng thói quen ngắm những sinh vật nhỏ bé xinh đẹp chỉ biết quan tâm đến bản thân nhảy loi choi giữa các nhành lá, mỗi con là một thế giới của riêng nó.
Từ bên ngoài bỗng vọng đến những tiếng la hét khiến tôi chú ý. Từ tầm cao này, có thể nhìn rõ những cánh đồng đằng sau lâu đài trải dài tới tận hồ nước. Có một nhóm người cưỡi ngựa đang phi như bay ở phía cuối hồ dưới cơn mưa tầm tã, hò hét đầy kích động.
Khi chúng lại gần, tôi thấy rằng chúng chỉ là những cậu bé, chủ yếu ở độ tuổi thiếu niên, nhưng lác đác có vài cậu nhóc nhỏ hơn cưỡi trên một con ngựa con, cố gắng đuổi kịp những cậu bé lớn hơn. Tôi tự hỏi liệu Hamish có ở trong số đó không, và nhanh chóng phát hiện ra mái tóc sáng màu của cậu nổi bật giữa đám trẻ. Cậu đang ngồi trên lưng Cobhar.
Cả bọn lao về phía lâu đài, hướng tới một trong vô số bức tường đá ngăn cách cánh đồng này với cánh đồng khác. Một, hai, ba, bốn, những cậu bé lớn hơn dễ dàng phi ngựa qua tường với sự thuần thục có được nhờ kinh nghiệm.
Hẳn là tôi đã tưởng tượng ra con ngựa màu nâu đỏ thoáng chùn lại, vì Cobhar lao theo những con ngựa khác với sự háo hức rõ rệt. Nó hướng về phía hàng rào, thu mình lấy đà và nhảy.
Nó có vẻ làm đúng như những gì lũ ngựa khác đã làm, tuy nhiên chuyện gì đó đã xảy ra. Có lẽ là vì sự do dự của người cưỡi, sự ghì cương quá mạnh, hoặc ngồi không vững lắm. Hai vó đằng trước của con ngựa va vào bức tường, khiến nó cùng người cưỡi lộn nhào qua tường theo một đường parabol ngoạn mục nhất mà tôi từng thấy.
“Ôi!”
Nghe tiếng kêu của tôi, Colum quay đầu về phía cửa sổ đúng lúc nhìn thấy Cobhar tiếp đất bằng mạng sườn, thân hình nhỏ bé của Hamish bị đè bên dưới. Dù tập tễnh nhưng Colum di chuyển rất nhanh. Ông ta tới đứng bên cạnh tôi, nhòm ra ngoài cửa sổ, trước cả khi con ngựa bắt đầu cố gắng đứng dậy.
Gió mưa hắt vào làm ướt chiếc áo khoác nhung của Colum. Lo lắng nhìn qua vai ông ta, tôi thấy một nhóm thiếu niên chen nhau hăng hái giúp đỡ. Mãi một lúc lâu sau, đám đông mới tách ra, và chúng tôi nhìn thấy thân hình bé nhỏ, cứng cáp của Hamish lồm cồm bò ra khỏi thân con ngựa, hai tay ôm bụng. Cậu lắc lắc đầu với những lời đề nghị giúp đỡ, lảo đảo nhắm đến bức tường, vắt mình qua và nôn thốc nôn tháo. Rồi cậu tuột xuống, ngồi trên lớp cỏ ướt, chân dang ra, mặt ngước lên hứng mưa. Khi thấy cậu thè lưỡi đón những giọt nước đang rơi xuống, tôi đặt tay lên vai Colum.
“Cậu bé ổn cả,” tôi nói, “chỉ khó thở thôi.”
Colum nhắm mắt và thở phào một hơi, cơ thể đột nhiên chùng xuống khi sự căng thẳng được giải tỏa. Tôi nhìn ông ta với vẻ thông cảm.
“Ông lo lắng cho cậu bé như thể nó là con đẻ của ông, đúng không?” Tôi hỏi.
Đôi mắt xám bỗng lóe lên, nhìn vào mắt tôi với vẻ đặc biệt cảnh giác. Trong khoảnh khắc, thư phòng không có âm thanh nào ngoài tiếng tích tắc của chiếc đồng hồ thủy tinh trên giá. Một giọt nước lăn dọc theo sống mũi Colum, đọng lại lấp lánh ở chóp mũi. Tôi vô thức dùng khăn tay chấm vào nó, và sự căng thẳng trên mặt ông ta tan đi.
“Đúng,” ông ta chỉ đơn giản nói.
•••
Cuối cùng, tôi chỉ nói với Jamie về kế hoạch sai anh đi săn với Công tước của Colum. Đến bây giờ, tôi đã tin rằng tình cảm của anh đối với Laoghaire chỉ là một thứ tình bạn lịch thiệp, nhưng tôi không rõ anh sẽ làm gì nếu biết cậu của mình đã quyến rũ cô gái và khiến cô ta mang thai. Rõ ràng Colum không định nhờ vả Geilie Duncan giải quyết vấn đề này; liệu Laoghaire sẽ được gả cho Dougal, hay Colum sẽ tìm cho cô ta một người chồng khác trước khi bụng bầu bắt đầu lộ ra? Dù sao đi nữa, nếu Jamie và Dougal cùng bị cầm chân trong một túp lều thợ săn suốt nhiều ngày liền, tôi nghĩ tốt hơn hết là không nên để cho bóng dáng của Laoghaire lảng vảng trước mặt họ.
“Hừm,” anh trầm ngâm nói. “Cũng đáng để thử đấy! Mọi người sẽ trở nên thân thiết với nhau sau khi săn bắn cả ngày và trở về để uống whisky bên lò sưởi.” Anh cài xong cái móc cuối cùng đằng sau váy tôi và cúi xuống hôn nhanh lên vai tôi.
“Tiếc là anh phải bỏ em ở lại đây, Sassenach, nhưng đó là điều tốt nhất.”
“Đừng lo cho em,” tôi nói. Trước đó, tôi đã không nhận ra rằng khi anh đi, tôi sẽ bị bỏ lại ở lâu đài một mình, và ý nghĩ ấy khiến tôi vô cùng lo lắng. Tuy nhiên, tôi quyết tâm phải cố gắng xoay xở, nếu điều đó có thể giúp anh.
“Anh đã sẵn sàng đi ăn tối chưa?” Tôi hỏi. Bàn tay anh nấn ná trên eo tôi, và tôi quay về phía anh.
“Ừm,” lát sau, anh nói. “Anh sẵn sàng nhịn đói.”
“Nhưng em thì không,” tôi nói. “Anh sẽ phải đợi.”
•••
Tôi liếc nhìn dọc theo bàn ăn tối và ngang qua căn phòng. Đến giờ tôi đã biết hầu hết các gương mặt, thậm chí một vài gương mặt còn biết một cách tường tận nữa. Và họ là một nhóm hỗn tạp. Frank sẽ bị thu hút bởi cuộc tụ họp này - bởi vì có quá nhiều kiểu khuôn mặt khác nhau.
Nghĩ về Frank cũng giống như chạm vào một cái răng đau; vậy nên tôi thường tránh né. Nhưng sắp đến lúc không thể trì hoãn thêm nữa, tôi ép buộc tâm trí mình cẩn thận vẽ lên hình ảnh của anh. Ý nghĩ của tôi lần theo những đường cong của cặp lông mày dài gọn ghẽ giống như tôi đã từng lần theo chúng bằng những ngón tay. Có điều, những ngón tay tôi đột nhiên nhoi nhói khi nghĩ đến một cặp lông mày xù xì hơn, rậm rạp hơn và đôi mắt màu xanh sẫm bên dưới chúng.
Tôi vội vã quay sang khuôn mặt gần nhất để gạt đi những ý nghĩ phiền phức như thế. Đó tình cờ là khuôn mặt của Murtagh. Chà, ít nhất ông ta cũng không giống ai trong số hai người đàn ông ám ảnh tâm trí tôi.
Ông ta có vóc dáng thấp bé nhưng gân guốc như một con vượn, hai cánh tay dài càng làm nổi bật nét tương đồng ấy. Cái trán thấp và quai hàm hẹp của ông ta khiến tôi nghĩ tới những người sống trong hang động và các bức tranh về người tiền sử trong một vài cuốn sách của Frank. Không phải người Neanderthal mà là người Pict. Chính thế. Ở người tộc viên nhỏ bé này có một vẻ dãi dầu gợi tôi nghĩ đến những hòn đá cổ được trang trí hoa văn, bị bào mòn vì sương gió, nghiêm nghị đứng gác ở các ngã tư và nghĩa địa.
Tức cười trước ý nghĩ đó, tôi nhìn sang các thực khách khác nhằm phán đoán chủng tộc của họ. Người đàn ông ở gần lò sưởi kia chẳng hạn, tên ông ta là John Cameron, ông ta hẳn là người Norman - dù tôi chưa từng nhìn thấy một người Norman nào - bởi ông ta có gò má cao, trán cao, hẹp, môi trên dài và làn da sẫm của người xứ Gaul.
Đây đó là một người Saxon da trắng... A, Laoghaire, hình mẫu hoàn hảo. Da tái, mắt xanh và hơi đầy đặn... Tôi kìm nén ánh mắt quan sát khắt khe. Cô ta cẩn thận tránh nhìn vào tôi hoặc Jamie và tán gẫu sôi nổi với bạn bè ở một trong những cái bàn thấp hơn.
Tôi nhìn vào Dougal MacKenzie ở phía đối diện. Lần đầu tiên ông ta ngồi tách khỏi Colum. Đó là một người Viking khát máu. Với chiều cao ấn tượng cùng gò má dẹt và rộng, Dougal khiến tôi dễ dàng hình dung ra cảnh tượng ông ta đang chỉ huy một con thuyền rồng, đôi mắt sâu hoắm ánh lên vẻ tham lam và thèm khát khi nhìn một ngôi làng ven biển lởm chởm đá qua màn sương mù.
Một bàn tay to lớn với cổ tay được bao phủ trong lớp lông màu đồng vươn qua tôi để lấy ổ bánh mỳ lúa mạch nhỏ trên khay. Một người Bắc Âu khác: Jamie. Anh gợi tôi nghĩ đến những câu chuyện thần thoại của bà Baird về giống người khổng lồ từng đi khắp Scotland và vùi thây ở vùng đất phía bắc.
Từng nhóm nhỏ vừa nhai nhồm nhoàm vừa rì rầm trò chuyện như thường lệ. Tai tôi đột nhiên bắt được một cái tên quen thuộc được nói ra ở cái bàn gần bên. Sandringham. Tôi nghĩ đó là giọng của Murtagh và quay đầu lại nhìn. Ông ta đang ngồi cạnh Ned Gowan, mải miết nhai trệu trạo.
“Sandringham? À, già Willie mê trai,” Ned trầm ngâm nói.
“Cái gì?!” Một chiến binh trẻ tuổi cất tiếng hỏi sau khi bị sặc một ngụm bia.
“Vị Công tước đáng tôn kính của chúng ta ưa thích các chàng trai, theo tôi hiểu là như vậy,” Ned giải thích.
“Ừm,” Rupert đồng ý, miệng đầy thức ăn. Nuốt xong, ông ta nói thêm: “Nếu tôi nhớ không lầm, trong lần gần đây nhất viếng thăm vùng này, ông ta khá thích Jamie. Đó là năm nào nhỉ, Dougal? Ba mươi tám? Ba mươi chín?”
“Ba mươi bảy,” Dougal trả lời từ bàn bên cạnh. Ông ta nheo mắt với cháu mình. “Hồi mười sáu tuổi, cháu là một thằng bé khá xinh trai, Jamie.”
Jamie vừa gật đầu vừa nhai. “Vâng, lại còn lanh lợi nữa.”
Khi tiếng cười đã lắng xuống, Dougal bắt đầu trêu chọc Jamie.
“Ta không biết cháu lại được ưa thích như vậy, Jamie. Có tin đồn rằng Công tước sẽ đền bù cho một cái mông bị đau bằng đất đai và chức tước.”
“Chắc cậu cũng thấy là cả hai thứ đó cháu đều không có,” Jamie trả lời, cười toe toét trước những tràng cười rú lên.
“Cái gì? Thậm chí chưa bao giờ đến gần?” Rupert nói, nhai nhồm nhoàm.
“Thực ra là hơi gần hơn mức cháu thích.”
“À, nhưng này, cậu thích gần đến mức nào vậy?” Câu hỏi ấy đến từ một người đàn ông cao ráo có bộ râu màu nâu ngồi ở phía xa mà tôi không nhận ra là ai, gây ra nhiều tiếng cười hơn cùng những lời nhận xét khôi hài. Jamie mỉm cười lặng lẽ và với tay lấy một ổ bánh khác, thản nhiên trước mọi sự trêu chọc.
“Đó là lý do cậu đột ngột rời khỏi lâu đài và trở về với cha cậu?” Rupert hỏi.
“Vâng.”
“Chà, đáng lẽ cháu nên nói với ta rằng cháu gặp phải vấn đề như vậy, Jamie,” Dougal nói, giả bộ quan tâm. Jamie phát ra một “âm thanh kiểu Scot” trầm thấp trong cổ họng.
“Nếu cháu nói với cậu về chuyện đó, ông cậu già xỏ lá, một buổi tối nào đó cậu sẽ lén nhỏ vài giọt nước anh túc vào bia của cháu và đặt cháu trên giường của Công tước như một món quà nhỏ.”
Cả bàn cười ầm lên, và Jamie né tránh khi Dougal ném một củ hành vào anh.
Rupert nheo mắt với Jamie. “Hình như tôi đã nhìn thấy cậu đi vào phòng của Công tước lúc gần sẩm tối, ngay trước khi cậu bỏ đi. Cậu chắc là cậu không giấu giếm chúng tôi điều gì chứ?” Jamie nhón một củ hành khác và ném vào ông ta. Nó không trúng mục tiêu và lăn xuống lớp thảm cói.
“Không,” Jamie cười nói. “Khi ấy cháu vẫn là trai tân - ít nhất là về phương diện đó. Nhưng nếu cậu nhất định muốn biết toàn bộ câu chuyện rồi mới ngủ được, Rupert, cháu sẵn sàng kể với cậu.”
Giữa những tiếng hô: “Kể đi! Kể đi”, anh cố tình đủng đỉnh rót một cốc bia và ngồi ngả ra sau trong tư thế của người kể chuyện. Colum đang ngồi ở cái bàn danh dự cũng nghển cổ lên nghe, chăm chú như những người coi chuồng ngựa và các chiến binh ở bàn chúng tôi.
“Chà,” anh bắt đầu, “những gì Ned nói là thật; Công tước có để mắt tới tôi, dù bấy giờ tôi mới mười sáu tuổi và còn ngây thơ lắm...” Nói tới đây, anh bị ngắt ngang bởi vô số những lời bình phẩm đầy nhạo báng, rồi anh cao giọng tiếp tục: “Như tôi nói đấy, vì ngây thơ đối với những chuyện như thế nên tôi không biết ông ta muốn gì, dù tôi thấy hơi lạ khi Công tước luôn muốn vỗ tôi như một con cún con và hứng thú quá mức với những món đồ có trong cái túi da của tôi.” (“Hoặc thứ nằm bên dưới nó!” Một giọng say xỉn cất lên.)
“Tôi càng thấy lạ hơn nữa,” anh tiếp tục, “khi ông ta muốn kỳ lưng cho tôi lúc trông thấy tôi đang tắm ở sông. Sau khi kỳ lưng xong, ông ta tiếp tục chà xát những chỗ khác nữa, khiến tôi hơi căng thẳng. Cho đến lúc ông ta luồn tay xuống dưới cái váy của tôi, tôi mới bắt đầu hiểu ra vấn đề. Tôi ngây thơ, nhưng không ngu ngốc, quý vị biết đấy!”
“Để thoát khỏi tình huống đặc biệt đó, tôi đành mặc nguyên váy mà ngụp xuống nước và bơi sang bờ bên kia; Công tước không phải là người sẵn sàng ngâm bộ quần áo đắt tiền của mình trong bùn và nước. Dù sao đi nữa, sau lần đó, tôi luôn thận trọng tránh ở một mình với ông ta. Ông ta bắt gặp tôi một, hai lần trong vườn hoặc ngoài sân, nhưng ở đó đủ rộng rãi để tôi có thể dễ dàng trốn đi, không phải chịu tổn hại gì ngoài việc bị ông ta hôn lên tai. Lần tồi tệ nhất là khi ông ta một mình tới chuồng ngựa tìm tôi.”
“Trong chuồng ngựa của ta?” Già Alec tỏ vẻ kinh hãi. Ông ta chồm dậy và gọi với sang cái bàn danh dự. “Colum, ngài hãy bảo đảm rằng người đàn ông đó không được bén mảng đến chuồng ngựa của tôi! Dù ông ta có là công tước chăng nữa, tôi sẽ không cho phép ông ta làm lũ ngựa của tôi hoảng sợ! Hoặc gây phiền phức cho những chàng trai của tôi!” Ông ta nói thêm, như thể mới nghĩ ra.
Jamie tiếp tục câu chuyện, không hề bị ảnh hưởng bởi sự gián đoạn này. Hai cô con gái tuổi mới lớn của Dougal say sưa lắng nghe, miệng hơi há ra.
“Vì đang ở trong một ngăn chuồng nên tôi không có nhiều chỗ để di chuyển. Tôi đang cúi người xuống (lại có thêm những lời nhận xét tục tĩu khác) - cúi người xuống máng ăn, xới tung trấu lên, thì nghe thấy một tiếng động ở đằng sau. Trước khi tôi kịp đứng thẳng người dậy, váy tôi đã bị tốc lên đến tận hông, và có thứ gì đó áp vào mông tôi.”
Anh xua tay để sự náo động lắng xuống rồi tiếp tục. “Chà, tôi chẳng thích thú gì việc bị chiếm đoạt từ đằng sau trong một ngăn chuồng ngựa, nhưng vào lúc đó, tôi cũng chẳng thấy có cách gì thoát được. Tôi đành nghiến răng và hy vọng sẽ không quá đau thì con ngựa - chính là con ngựa thiến màu đen to lớn mà ông kiếm được ở Brocklebury đấy Ned, con mà Colum đã bán cho Breadalbin ấy - chà, nó cảm thấy khó chịu trước tiếng động mà Công tước gây ra. Hầu hết lũ ngựa đều thích chúng ta nói chuyện với chúng, và con ngựa đó cũng thế, nhưng nó có mối ác cảm kỳ lạ với những giọng nói cao quá mức; tôi không thể dẫn nó vào trong sân khi có bọn trẻ con ở xung quanh, bởi vì nó sẽ trở nên căng thẳng khi nghe những tiếng la hét chói tai của chúng và bắt đầu gõ móng, giậm chân.”
“Chắc quý vị còn nhớ là Công tước có giọng nói khá cao, và lúc đó giọng ông ta còn cao hơn nữa, vì ông ta hơi phấn khích. Chà, như tôi nói đó, con ngựa không thích thế - thú thực là tôi cũng vậy - thế là nó bắt đầu giậm chân, thở phì phì, quay ngoắt người và ép Công tước vào sát vách ngăn. Ngay khi Công tước buông tôi ra, tôi liền nhảy vào máng ăn và vòng sang phía bên kia của con ngựa, để mặc Công tước tự tìm cách thoát ra ngoài.”
Jamie ngừng lại để lấy hơi và nhấp một ngụm bia. Lúc này, anh đã thu hút được sự chú ý của cả phòng, mọi khuôn mặt đều quay về phía anh, sáng bừng lên dưới ánh nến. Đây đó có một cái nhíu mày trước những lời tiết lộ chẳng tốt đẹp gì liên quan đến một trong những nhà quý tộc hùng mạnh nhất của triều đình Anh, nhưng phản ứng chủ yếu vẫn là sự thích thú không chút kìm nén trước tai tiếng đó. Tôi đoán rằng Công tước không phải là người được yêu quý ở lâu đài Leoch.
“Vì đã suýt đạt được mục đích, Công tước quyết tâm phải có được tôi, dù chuyện gì xảy ra. Do đó, ngày hôm sau, ông ta nói với Lănh chúa MacKenzie rằng người hầu thân cận của ông ta bị ngã bệnh, ông ta muốn mượn tôi giúp ông ta tắm rửa và mặc quần áo.” Đám đông thích thú khi thấy Colum che mặt, giả vờ kinh hãi. Jamie gật đầu với Rupert.
“Đó là lý do cậu thấy cháu đi vào phòng của Công tước vào buổi tối. Cháu phải tuân theo mệnh lệnh.”
“Đáng lẽ cháu phải nói với ta, Jamie. Nếu biết chuyện, ta sẽ không bắt cháu đến đó,” Colum nói với ánh mắt khiển trách.
Jamie nhún vai, cười toe. “Cháu xấu hổ, cậu ạ. Hơn nữa, cháu biết lúc ấy cậu đang cố gắng thương lượng với người đàn ông đó. Cháu nghĩ nếu cậu buộc phải nói với Công tước rằng đừng có động vào cái mông của cháu trai cậu thì có thể sẽ gây tổn hại đến những đàm phán của cậu.”
“Cháu suy nghĩ thật chín chắn, Jamie,” Colum châm chọc. “Vậy là cháu đã hy sinh thân mình vì những lợi ích của ta, đúng không?”
Jamie giơ cái cốc của mình lên, giả bộ chúc tụng. “Trong tâm trí cháu, lợi ích của cậu luôn là trên hết, thưa cậu,” anh nói, và tôi nghĩ rằng ẩn dưới giọng điệu bỡn cợt ấy là một sự thật sắc bén mà chính Colum cũng hiểu rõ.
Jamie uống cạn cốc bia rồi đặt nó xuống. “Nhưng không,” anh nói, lau miệng, “trong trường hợp này, cháu cảm thấy rằng bổn phận đối với gia đình không đòi hỏi ở cháu nhiều đến thế. Cháu đi tới phòng của Công tước, bởi vì cậu bảo cháu làm vậy, nhưng chỉ thế thôi.”
“Và cậu lại đi ra một cách nguyên vẹn?” Rupert có vẻ hoài nghi.
Jamie cười toe. “Vâng, đúng vậy. Cậu biết không, ngay khi nhận được mệnh lệnh, cháu đã tới chỗ bác Fitz, nói với bác ấy rằng cháu đang rất cần một liều si rô làm bằng quả vả. Khi bác ấy đưa nó cho cháu, cháu đã để ý thấy chỗ bác ấy cất cái chai, vì vậy một lát sau, cháu lặng lẽ quay lại, uống hết chỗ si rô đó.”
Căn phòng rung lên vì tiếng cười, ngay cả bà Fitz cũng cười đến đỏ bừng mặt, khiến tôi lo sợ bà có thể bị tai biến. Bà trịnh trọng đứng lên từ chỗ ngồi của mình, lạch bạch đi vòng quanh bàn và tát yêu vào tai Jamie.
“Hóa ra thằng nhãi này đã uống hết thuốc của ta!” Bà chống hai tay lên hông, lắc lắc đầu, khiến cho đôi bông tai màu xanh lá rung rinh như những con chuồn chuồn. “Mẻ tốt nhất ta từng làm nữa chứ!”
“Ồ, nó rất có hiệu quả,” anh trấn an bà, cười to trước người phụ nữ to lớn.
“Hẳn rồi! Bõ công ruột cháu phải chịu đựng sự ảnh hưởng của một lượng thuốc lớn như vậy. Chắc là cháu vẫn chưa thể trở lại bình thường trong nhiều ngày sau đó.”
Anh lắc đầu, vẫn cười.
“Đúng vậy, nhưng Công tước cũng chẳng làm gì được cháu. Ông ta có vẻ không phiền lòng chút nào khi cháu xin cáo lui. Nhưng cháu biết cháu không thể làm thế hai lần, vì vậy ngay khi cơn đau bụng qua đi, cháu liền lấy ngay một con ngựa trong chuồng và đột ngột bỏ đi. Đi mãi cháu mới về đến nhà, vì cứ mười phút cháu lại phải dừng lại, và đến bữa tối ngày hôm sau cháu mới về tới nơi.”
Dougal vẫy tay ra hiệu cho người hầu mang đến một hũ bia mới và chuyển cho Jamie.
“Ừ, sau đó cha cháu gửi lời nhắn đến cho chúng ta rằng ông ấy nghĩ có lẽ cháu đã học được đầy đủ những gì cần biết về cuộc sống trong lâu đài,” ông ta nói, cười rầu rĩ. “Ta nghĩ giọng điệu trong thư có ý gì đó mà bây giờ ta không hiểu lắm.”
“Chà, tôi hy vọng bà đã để dành được một mẻ si rô vả mới, bà Fitz,” Rupert xen ngang, chọc vào mạng sườn bà Fitz vẻ thân thiết. “Công tước sẽ tới đây trong một, hai ngày tới. Hay lần này cậu định trông cậy vào người vợ mới cưới của cậu, Jamie?” Ông ta liếc tôi với ánh mắt dâm đãng. “Từ tất cả những thông tin mà tôi thu thập được, có thể cậu cần phải bảo vệ cô ấy. Tôi nghe nói người hầu của Công tước không có chung sở thích với ông ấy, dù hắn ta cũng hăng máu như vậy.”
Jamie đứng dậy, dẫn tôi ra ngoài. Anh choàng tay quanh vai tôi và cười với Rupert.
“Chà, thế thì cháu cho là hai chúng cháu sẽ phải áp lưng vào nhau để chống trả họ.”
Đôi mắt Rupert mở to vẻ bàng hoàng.
“Áp lưng vào nhau!?” Ông ta thốt lên. “Tôi biết chúng tôi đã quên nói với cậu một chuyện trước đám cưới của cậu, chàng trai! Thảo nào mà cậu vẫn chưa làm cho cô ấy mang thai!”
Bàn tay Jamie siết chặt vai tôi, xoay tôi về phía cửa tò vò và chúng tôi rời khỏi đại sảnh giữa những tràng cười sảng khoái và vô số lời khuyên tục tĩu.
Trong hành lang tối tăm ở bên ngoài, Jamie dựa vào mặt tường đá, cúi gập người. Không thể đứng nổi, tôi ngồi phịch xuống sàn dưới chân anh và cười khúc khích không kiềm chế được.
“Em đã không kể với ông ấy, đúng không?” Cuối cùng, Jamie hổn hển hỏi.
Tôi lắc đầu. “Dĩ nhiên là không.” vẫn còn cười khùng khục, tôi mò mẫm tìm tay anh, và anh kéo tôi đứng dậy. Tôi ngã vào ngực anh.
“Để xem liệu bây giờ anh có làm đúng không nào.” Hai tay anh ôm lấy mặt tôi, trán anh áp vào trán tôi. Mặt anh kề sát đến mức đôi mắt anh nhòe đi thành một cầu mắt lớn màu xanh. Hơi thở anh ấm áp phả lên cằm tôi.
“Ý anh là mặt đối mặt ấy hả?” Cơn buồn cười đã lắng dần, nó bị thay thế bởi một thứ gì đó cũng có uy lực như vậy. Tôi chạm lưỡi vào môi anh, hai bàn tay lần xuống thấp hơn.
“Không nhất thiết phải là mặt. Nhưng em đang học mà.”
•••
Ngày hôm sau, tôi đang ở phòng khám, kiên nhẫn lắng nghe một bà già trong làng - vốn là họ hàng với đầu bếp nấu xúp - kể lể chi tiết về cuộc chiến của con dâu bà với bệnh viêm họng mà về mặt lý thuyết có chút gì đó liên quan đến bệnh viêm họng của bà, dù tôi chẳng thể nhìn ra mối liên hệ ấy. Bỗng một cái bóng hắt qua ngưỡng cửa, ngắt ngang tràng liệt kê các triệu chứng của bà già.
Tôi ngước lên, giật mình khi thấy Jamie xộc vào, theo sau là già Alec, cả hai người đều có vẻ lo lắng và kích động. Jamie thô lỗ giật lấy cái chặn lưỡi tự tạo mà tôi đang cầm và kéo tôi dậy, nắm chặt cả hai tay tôi.
“Cái gì...” Tôi vừa mở miệng thì đã bị Alec ngắt ngang. Ông ta nhòm qua vai Jamie để nhìn vào bàn tay tôi, đang được Jamie bày ra cho ông ta xem.
“Ừ, rất tốt, nhưng còn cánh tay? Cánh tay cô ấy có thích hợp không?”
“Già nhìn xem!” Jamie tóm lấy một bàn tay tôi và duỗi thẳng cánh tay tôi ra, đo nó với cánh tay anh.
“Chà,” Alec nói, kiểm tra nó với vẻ ngờ vực, “có thể được. Ầy, có thể đấy.”
“Anh làm ơn nói cho em biết anh đang làm gì được không?” Tôi hỏi, nhưng trước khi kịp nói xong, tôi đã bị hai người đàn ông đẩy xuống cầu thang, để mặc bà bệnh nhân lớn tuổi của mình bối rối há hốc miệng ở đằng sau.
Vài phút sau, tôi nghi ngại dán mắt vào cái mông màu nâu to tướng, sáng bóng của một con ngựa. Nó ở cách mặt tôi khoảng mười lăm centimet. Vấn đề đã được làm rõ trên đường tới chuồng ngựa. Jamie giải thích và già Alec phụ họa theo với những lời nói chêm và chửi thề.
Losgann, con ngựa mẹ ưu tú trong chuồng ngựa của Colum, bị sinh khó. Tôi có thể thấy rõ điều này; nó đang nằm nghiêng về một bên, chốc chốc cái mạng sườn sáng bóng lại nhấp nhô và thân hình đồ sộ có vẻ run rẩy. Bộ phận sinh dục của nó hé mở với mỗi cơn co thắt, nhưng không có gì hơn; không hề có dấu hiệu của cái móng guốc nhỏ xíu hay cái mũi ướt mềm mại ở khe hở. Con ngựa con rõ ràng đang ra bằng sườn hoặc mông. Alec nghĩ là sườn, Jamie nghĩ là mông, và họ tranh cãi về chuyện đó mất một lúc cho đến khi tôi sốt ruột hỏi họ muốn tôi làm gì trong cả hai trường hợp.
Jamie nhìn tôi như thể tôi bị ngớ ngẩn. “Dĩ nhiên là xoay con ngựa con lại,” anh kiên nhẫn nói. “Xoay hai chân trước của nó lại để nó có thể ra ngoài.”
“Ồ, thế thôi à?” Tôi nhìn con ngựa. Cái tên Losgann nghe có vẻ thanh lịch nhưng thực chất lại có nghĩa là “Ếch”. Nó khá thanh mảnh so với những con ngựa khác, nhưng vẫn quá to lớn.
“Ờ, ý anh là thò tay vào trong?” Tôi lén nhìn bàn tay mình. Có lẽ nó sẽ vừa vặn - khe hở đủ lớn - nhưng sau đó thì sao?
Bàn tay của cả hai người đàn ông đều quá to, không phù hợp để làm công việc này. Còn Roderick, chàng trai làm việc ở chuồng ngựa thường bị ép làm những việc đòi hỏi sự khéo léo thế này thì lại bị gãy tay từ hai ngày trước và đương nhiên không thể nhúc nhích được với thanh nẹp và dây đeo trên cánh tay phải. Tuy nhiên, Willie, một chàng trai khác cũng làm việc trong chuồng ngựa, đã đi gọi Roderick tới để đưa ra lời khuyên và động viên tinh thần. Đúng lúc này, anh ta đến, mặc độc chiếc quần tả tơi, bộ ngực dẹt trắng lóa trong chuồng ngựa lờ mờ tối.
“Đây là một công việc khó khăn,” anh ta nghi ngại nói, đánh giá tình hình và có vẻ không tin tưởng lắm khi thấy tôi là người thay thế cho anh ta. “Cần phải hết sức khéo léo. Có thủ thuật để làm việc này nhưng cũng mắt một chút sức lực.”
“Đừng lo,” Jamie tự tin nói. “Claire khỏe hơn cậu nhiều, cây cỏ dại tội nghiệp ạ! Nếu cậu nói cho cô ấy biết phải sờ thấy cái gì và làm gì, cô ấy sẽ xoay nó lại trong nháy mắt.”
Tôi cảm kích sự tín nhiệm của anh, nhưng không tin tưởng mình quá mức như vậy. Kiên quyết tự nhủ rằng việc này cũng chẳng tệ hơn chuyện phải trợ giúp một ca phẫu thuật ở bụng, tôi đi vào một ngăn chuồng để thay váy thành quần và khoác lên mình chiếc áo vải gai xù xì, rồi xát xà phòng mỡ trơn trượt vào bàn tay và cả cánh tay.
“Chà, khó quá trời,” tôi lẩm bẩm, luồn tay vào trong.
Bên trong rất chật và khó thao tác, ban đầu tôi không thể nhận ra mình đang sờ vào cái gì. Tôi bèn nhắm mắt để tập trung hơn, thận trọng mò mẫm. Có những bề mặt phẳng nhẵn và những chỗ mấp mô. Phần phẳng nhẵn chính là thân mình còn những chỗ mấp mô sẽ là chân hoặc đầu. Tôi cần tìm những cái chân - cụ thể là chân trước. Dần dà tôi bắt đầu sờ quen và tự biết phải giữ yên khi một cơn co thắt xuất hiện; lớp cơ dạ con mạnh mẽ đến đáng kinh ngạc kẹp chặt tay tôi như một cái mỏ cặp, nghiến vào xương tôi đau điếng cho đến khi cơn co thắt ngừng lại để tôi có thể tiếp tục mò mẫm.
Cuối cùng, những ngón tay tôi cũng chạm vào một thứ mà tôi biết chắc chắn.
“Em đã chạm vào mũi nó!” Tôi hân hoan reo lên. “Em đã tìm thấy đầu nó!”
“Giỏi lắm, giỏi lắm! Đừng buồng ra!” Alec lo lắng khom người bên cạnh tôi, vỗ về con ngựa khi một cơn co thắt khác bắt đầu. Tôi cắn răng và tựa trán vào phần mông sáng bóng khi cổ tay bị bóp nghiến. Nhưng rồi lớp cơ dạ con cũng nới lỏng và tôi thận trọng sờ lên trên, tìm thấy đường cong của ổ mắt và trán, cùng cái tai bị cụp lại. Sau khi đợi một cơn co thắt nữa qua đi, tôi lần theo cần cổ của nó xuống vai.
“Đầu nó ngoảnh ra sau vai,” tôi báo cáo. “Nhưng ít nhất đầu nó cũng đang xoay đúng hướng.”
“Tốt lắm!” Jamie đang đứng ở phía đầu của con ngựa, dịu dàng xoa cái cổ màu hạt dẻ mướt mồ hôi. “Chắc là chân nó sẽ bị gấp lại bên dưới ngực. Em thử tìm đầu gối nó xem!”
Thế là tôi lại tiếp tục sờ soạng, mò mẫm, cánh tay ngập lút đến tận vai, cảm nhận lực ép ghê gớm của những con co thắt và sự nới lỏng dễ chịu khi chúng ngừng lại, nỗ lực tim đến mục tiêu. Tồi có cảm giác chính mình đang sinh nở, và đó là một việc vất vả khủng khiếp.
Cuối cùng, tôi sờ thấy một cái móng guốc; tôi có thể cảm nhận bề mặt tròn tròn và mép cong sắc cạnh của nó. Cố gắng hết sức làm theo những lời chỉ dẫn căng thẳng, thường trái ngược nhau của đám đàn ông, tôi luân phiên kéo một cái chân về đằng trước, đây một cái chân lại đằng sau, nhẹ nhàng xoay thân hình kềnh càng của con ngựa con, cùng vã mồ hôi và rên rỉ với con ngựa mẹ.
Thế rồi công việc đột nhiên có kết quả. Khi một cơn co thắt dịu đi, cơ thể con vật thình lình xoay vào đúng vị trí. Tôi không nhúc nhích, chờ đợi cơn co thắt tiếp theo. Cuối cùng thì nó cũng đến, cái mũi nhỏ ướt át bỗng thò ra, đẩy theo tay tôi. Hai lỗ mũi nhỏ xíu nhanh chóng nở ra, như thế hứng thú với cảm giác mới mẻ này, rồi cái mũi lại biến mất.
“Cơn co thắt tiếp theo sẽ làm được!” Alec gần như nhảy múa vì phấn khích trên đống cỏ khô. “Cố lên, Losgann! Cố lên, chú ếch con dễ thương của ta!”
Như để trả lời, con ngựa mẹ khẽ rên rỉ. Mông nó cong lên và con ngựa con tuột ra, rơi vào lớp cỏ khô sạch sẽ.
Tôi ngồi ngả người ra sau, cười toe toét như một kẻ ngốc. Cánh tay tôi phủ đầy xà phòng, chất nhờn và máu, đau mỏi rã rời, và sực nức một thứ mùi không mấy dễ chịu. Tôi cảm thấy phấn khích.
Tôi ngồi nhìn Willy và Roderick lau chùi con ngựa mới sinh bằng những bó rơm, và reo hò với những người còn lại khi Losgann quay sang liếm láp con nó rồi nhẹ nhàng lấy mũi đây con ngựa con đứng dậy trên đôi chân lớn run rẫy.
“Làm tốt lắm, cô gái! Tốt lắm!” Alec hồ hởi lắc lắc bàn tay sạch sẽ của tôi để chúc mừng. Đột nhiên nhận ra rằng tôi đang ngồi lắc lư vì mệt và hết sức nhếch nhác, ông ta liền quay sang quát bảo một trong những anh chàng phụ việc đi lấy ít nước. Rồi ông ta đi vòng ra đằng sau tôi, đặt đôi bàn tay già nua chai sần lên vai tôi. Với sự nhẹ nhàng và khéo léo đáng kinh ngạc, ông ta ấn và xoa dịu sự căng cứng trên vai và cổ tôi.
“Thế nào, cô gái,” cuối cùng, ông ta nói. “Việc này thật khó khăn, đúng không?” Ông ta cười với tôi rồi quay sang cười trìu mến với con ngựa mới sinh.
“Chàng trai xinh đẹp,” ông ta nựng nịu. “Dễ thương làm sao!”
Jamie giúp tôi rửa ráy và thay đồ. Các ngón tay tôi cứng đến nỗi không cởi nổi nút áo chẽn, và tôi biết sáng mai cả cánh tay mình sẽ thâm tím, nhưng tôi cảm thấy hoàn toàn bình yên và thỏa mãn.
•••
Mưa gió liên miên nên khi cuối cùng cũng có một ngày hửng nắng và quang mây, tôi nheo mắt trước ánh sáng ban ngày giống như một con chuột chũi mới trồi lên mặt đất.
“Da em mịn đến nỗi anh có thể nhìn thấy máu chảy bên dưới,” Jamie nói, lần theo một tia nắng hắt trên cái bụng để trần của tôi. “Anh có thể lần theo những mạch máu từ bàn tay đến tim em.” Anh nhẹ nhàng rê ngón tay lên cổ tay tôi, rồi tới mặt trong của khuỷu tay, mặt trong của bắp tay và ngang qua phần trên của bầu ngực.
“Đó là mạch máu dưới xương đòn,” tôi nói, nhìn vào đường đi của ngón tay anh.
“Thế à? Ồ, đúng vậy, bởi vì nó ở ngay bên dưới xương đòn của em. Nói cho anh biết thêm một số cái tên đi!” Ngón tay chầm chậm lần xuống dưới. “Anh thích nghe những cái tên Latin của mọi thứ; anh chưa bao giờ nghĩ ân ái với một thầy thuốc lại thú vị đến thế.”
“Đó,” tôi nghiêm nghị nói, “là areola[4],” anh đã biết rồi, bởi vì tuần trước em vừa nói với anh.”
“Ừ,” anh lẩm bẩm. “Nhưng vẫn còn một cái nữa.” Mái đầu sáng của anh cúi xuống để cái lưỡi thay thế cho ngón tay, rồi di chuyển xuống thấp hơn.
“Umbilicus[5],” tôi hổn hển nói.
“Ừm,” anh nói, mỉm cười trên làn da trắng muốt của tôi. “Còn cái này là gì?”
“Anh nói với em đi,” tôi nói, ôm lấy đầu anh. Nhưng anh không thể nói gì cả.
Sau đó, tôi nằm ưỡn ra trên cái ghế khám bệnh, mơ màng đắm mình trong những ký ức về việc thức dậy trên một chiếc giường đầy ánh nắng, những tấm chăn lộn xộn vun thành đống, trắng lóa như các ụ cát trên bãi biển. Tôi đặt một tay lên ngực, vẩn vơ nghịch nhũ hoa, thích thú với cảm giác nó nhô lên dưới lớp vải trúc bâu mỏng manh của cái áo chẽn.
“Tự thỏa mãn à?”
Giọng nói chế nhạo bất ngờ cất lên từ chỗ cánh cửa làm tôi giật mình ngồi bật dậy, va đầu vào một cái kệ.
“Ồ,” tôi càu nhàu. “Geilie. Còn là ai nữa chứ? Chị đang làm gì ở đây?”
Cô ta lướt vào phòng khám như thể đang đi bằng bánh xe. Tôi biết cô ta có chân; tôi đã nhìn thấy chúng. Nhưng tôi không thể hiểu được cô ta đặt chân ở đâu khi đi lại.
“Tôi đến để mang cho bà Fitz ít nghệ tây từ Tây Ban Nha; bà ấy đang cần nó vì cuộc viếng thăm của Công tước.”
“Cần thêm gia vị à?” Tôi hỏi, bắt đầu lấy lại khiểu hài hước. “Nếu người đàn ông đó ăn hết một nửa những thứ mà bà ấy đang chuẩn bị cho ông ta, họ sẽ phải lăn ông ta về nhà.”
“Họ có thể làm điều đó ngay từ bây giờ. Tôi nghe nói ông ta khá tròn trĩnh.” Gạt đi chủ đề về Công tước và cơ thể của ông ta, Geilie hỏi tôi có muốn đi với cô ta tới rặng đồi thấp dưới chân núi ngay gần đây không.
“Tôi đang cần ít rêu,” cô ta giải thích, duyên dáng vẫy hai bàn tay dài, mềm dẻo. “Khi đun trong sữa với một chút len cừu, nó tạo ra một loại thuốc thoa tuyệt vời cho đôi bàn tay.”
Tôi liếc nhìn ô cửa sổ hẹp, những hạt bụi đang bay loạn xạ trong ánh nắng vàng. Mùi cỏ mới cắt và mùi quả chín thoang thoảng trong làn gió nhẹ.
“Tại sao lại không nhỉ?”
Trong lúc đợi tôi dọn dẹp mấy cái giỏ và đám chai lọ, Geilie đi quanh quẩn trong phòng khám, nhặt thứ này thứ nọ lên rồi lại đặt xuống. Cô ta dừng lại bên một cái bàn nhỏ và nhấc vật thể đang nằm trên đó lên, cau mày.
“Cái gì đây?”
Tôi ngừng việc đang làm và đến đứng bên cạnh cô ta. Cô ta đang cầm một bó thảo mộc khô, được buộc chặt bằng ba sợi chỉ xoắn vào nhau: màu đen, trắng và đỏ.
“Jamie nói đó là bùa yểm.”
“Anh ta nói đúng đấy. Cô có được nó từ đâu vậy?”
Tôi nói với cô ta về việc tìm thấy bó hoa nhỏ ở trên giường.
“Hôm sau, tôi đi tìm và thấy nó ở bên dưới ô cửa sổ mà Jamie đã ném nó qua. Tôi định mang nó tới nhà chị để hỏi xem chị có biết gì về nó không, nhưng quên khuấy đi mất.”
Cô ta trầm ngâm đứng gõ đầu móng tay vào răng cửa rồi lắc đầu.
“Không, tôi không thể nói là mình biết, nhưng có thể có cách để tìm ra ai đã để nó ở chỗ cô.”
“Thật ư?”
“Thật. Sáng mai hãy đến nhà tôi, tôi sẽ nói cho cô biết.”
Không nói thêm gì nữa, cô ta xoay người khiến cái áo choàng không tay màu xanh lá bay phất phơ, để mặc tôi bám theo sau.
Cô ta dẫn tôi đi lên rặng đồi thấp dưới chân núi, phi nước đại môi khi con đường đủ rộng rãi và đi bộ mỗi khi không có đường. Sau chừng một tiếng đồng hồ cưỡi ngựa ra khỏi ngôi làng, cô ta dùng lại gần một con suối nhỏ có những nhành liễu gai chìa ra mặt nước.
Chúng tôi lội qua con suối và trèo lên dãy đồi thấp, thu thập những loài thảo mộc mọc vào cuối hè vẫn còn sót lại, cùng với những loại quả mọng đang chín vào lúc đầu thu và những cây nấm dẹt màu vàng dày dặn mọc trên thân cây trong những thung lũng nhỏ hẹp râm mát.
Thân hình của Geilie biến mất trong bãi dương xỉ diều hầu phía trên tôi khi tôi dừng lại để cạo ít vỏ cây dương lá rung vào cái giỏ của mình. Dưới ánh nắng, những giọt nhựa cây khô trên lớp vỏ cây mỏng như giấy có màu đỏ sậm rực rỡ, trông giống hệt những cục máu đông.
Bỗng có một âm thanh vang lên làm tôi giật mình choàng tỉnh khỏi dòng suy tưởng, và tôi ngước nhìn ngọn đồi, nhắm theo hướng phát ra nó.
Âm thanh ấy lại cất lên; đó là một tiếng khóc lanh lảnh. Dưỡng như nó phát ra từ một khe đá nào đó gần đỉnh đồi. Tôi đặt cái giỏ trên tay xuống và bắt đầu leo lên.
“Geilie!” Tôi hét lên. “Lên đây! Ai đó đã bỏ lại một đứa trẻ!”
Tiếng loạt soạt và lầm bầm chửi rủa vang đến khi cô ta len lỏi qua những bụi cây đan xen rối rắm trên con dốc. Khuôn mặt trắng trẻo của cô ta hiện giờ đỏ bừng vì giận dữ, trên tóc vương những nhành cây con.
“Cái quái gì...” Cô ta cất tiếng, rồi lao tới. “Chúa ơi! Đặt nó xuống!” Cô ta vội vàng giật lấy đứa trẻ từ tay tôi và đặt nó xuống cái hố nhỏ nơi tôi đã tìm thấy nó. Cái hố có hình lòng bát rộng chưa đầy một thước. Trong lòng hố có một cái bát gỗ đựng sữa tươi và ở chân đứa trẻ có một bó hoa dại nhỏ được cột chặt bằng mẫu dây bện màu đỏ.
“Nhưng nó bị ốm mà!” Tôi phản đối, lại cúi xuống đứa trẻ. “Ai lại bỏ một đứa trẻ ốm yếu ở đây một mình thế?”
Đứa bé rõ ràng bị ốm rất nặng, khuôn mặt nhỏ bé có màu xanh lợt, đôi mắt thâm quầng, trũng sâu, hai nắm tay nhỏ bé yếu ớt huơ huơ bên dưới tấm chăn. Ban nãy, lúc tôi bế nó lên, nó mềm oặt trong tay tôi; tôi đã rất ngạc nhiên vì nó còn có sức để khóc.
“Bố mẹ nó chứ ai,” Geilie nói nhanh, bám vào cánh tay tôi để ngăn tôi lại. “Kệ nó đi! Hãy rời khỏi đây!”
“Bố mẹ nó?” Tôi phẫn nộ nói. “Nhưng...”
“Đó là một đứa trẻ thay thế,” cô ta sốt ruột nói. “Mặc kệ nó và đi thôi! Ngay lập tức!”
Cô ta kéo tôi luồn vào trong bụi cây thấp. Tôi vùng vằng phản đối, cho đến khi xuống tới chân đồi, thở hổn hển và mặt đỏ gay, tôi mới ép cô ta dừng lại được.
“Chuyện này là sao?” Tôi hỏi. “Chúng ta không thể bỏ mặc một đứa trẻ bị ốm ở ngoài trời như thế. Và chị nói nó là một đứa trẻ thay thế là thế nào?”
“Một đứa trẻ thay thế là một đứa trẻ thay thế chứ sao,” cô ta nói, vẻ mất kiên nhẫn. “Cô phải biết nó là gì chứ! Khi loài tiên bắt cóc một đứa trẻ loài người, họ để lại một đứa trẻ thuộc dòng giống của họ để thay thế vị trí của nó. Cô biết đó là một đứa trẻ thay thế bởi vì nó lúc nào cũng khóc ầm ĩ và không lớn lên hay phát triển.”
“Dĩ nhiên tôi biết nó là gì,” tôi nói. “Nhưng chị không tin vào chuyện vớ vẩn đó, đúng không?”
Cô ta ném sang tôi một ánh mắt kỳ lạ, đầy hoài nghi. Rồi những đường nét trên khuôn mặt cô ta dăn ra, tạo thành vẻ mỉa mai.
“Ừ, tôi không tin,” cô ta thừa nhận. “Nhưng dân chúng ở đây thì tin.” Cô ta lo lắng liếc lên con dốc, nhưng không còn nghe thấy âm thanh nào vọng xuống. “Gia đình nó ở đâu đó gần đây thôi. Đi nào!”
Tôi miễn cưỡng để cô ta kéo về phía ngôi làng.
“Tại sao họ lại để nó ở đó?” Tôi hỏi, ngồi xuống một tảng đá để cởi tất trước khi lội qua một con suối nhỏ. “Họ hy vọng loài tiên sẽ tới cứu chữa cho nó ư?” Tôi vẫn áy náy về đứa trẻ; nó có vẻ rất ốm yếu. Tuy không biết nó bị làm sao nhưng có lẽ tôi sẽ giúp được nó.
Có lẽ tôi nên để mặc Geilie trở về làng và quay lại với đứa trẻ. Nhưng phải mau lên mới được! Tôi ngước nhìn bầu trời phía đông, những đám mây xám mềm mại đang nhanh chóng sẫm lại. Một quầng sáng màu hồng vẫn hiển hiện ở phía tây, nhưng không quá nửa giờ nữa ánh sáng sẽ tắt lụi.
Geilie quàng cái quai giỏ liễu gai qua cổ, nhấc váy lên và bước xuống lòng suối, run rẩy vì làn nước lạnh giá.
“Không,” cô ta nói. “Hay đúng hơn là: phải. Đó là một trong những ngọn đồi tiên, ngủ ở đó rất nguy hiểm. Nếu cô để một đứa trẻ thay thế qua đêm ở một nơi như vậy, loài tiên sẽ tới mang nó về và trả đứa trẻ loài người mà họ đã đánh cắp vào vị trí của nó.”
“Nhưng họ sẽ không làm vậy, bởi vì nó không phải là một đứa trẻ thay thế,” tôi nói, xuýt xoa khi chạm vào làn nước lạnh như tuyết tan. “Nó chỉ là một đứa trẻ ốm yếu. Nó có thể không sống nổi sau một đêm ở ngoài trời!”
“Đúng,” cô ta nói nhanh. “Nó sẽ chết vào sáng mai. Cầu Chúa không ai nhìn thấy chúng ta ở gần nó.”
Tôi dừng khựng lại khi đang đi giày.
“Chết ư! Geilie, tôi phải quay lại với nó. Tôi không thể bỏ mặc nó ở đây được.” Tôi quay người và dợm băng trở lại qua con suối.
Geilie tóm lấy tôi từ đằng sau và đẩy tôi ngã sấp xuống mặt nước nông. Tôi loạng choạng và hổn hển bò dậy, làm nước bắn tung tóe. Geilie đứng trong làn nước sâu đến bắp đùi, váy ướt nhẹp, trừng mắt nhìn tôi.
“Đồ con lừa ngu ngốc!” Cô ta hét lên với tôi. “Cô chẳng thể làm gì được cả! Cô có nghe tôi không? Không thể làm được gì hết! Đứa trẻ đó sắp chết rồi! Tôi sẽ không đứng yên nhìn cô mạo hiểm tính mạng của cả cô và tôi vì cái nhận thức gàn dở của cô đâu!” Thở phì phì và khẽ càu nhàu, cô ta vươn tay xốc nách tôi, kéo tôi dậy.
“Claire,” cô ta gấp gáp nói, lắc lắc cánh tay tôi. “Nghe tôi này! Nếu cô tới gần đứa trẻ đó và nó bị chết - nó sẽ chết, tin tôi đi, tôi đã nhìn thấy quá nhiều đứa trẻ như vậy - gia đình nó sẽ đổ lỗi cho cô về cái chết của nó. Cô không thấy mối nguy hiểm đó sao? Cô không biết dân làng nói gì về cô sao?”
Tôi đứng run rẫy trong làn gió lạnh của buổi hoàng hôn, bị giằng xé giữa nỗi lo lắng của cô ta cho sự an toàn của tôi và ý nghĩ về một đứa trẻ bất lực đang một mình chết dần chết mòn trong bóng tối, với những bông hoa dại ở dưới chân.
“Không,” tôi nói, hất lọn tóc ướt ra khỏi mặt. “Geilie, không, tôi không thể. Tôi sẽ cẩn thận, tôi hứa đấy, nhưng tôi phải quay lại.” Tôi giằng ra khỏi bàn tay cô ta và bì bõm lội sang bờ bên kia, bước thấp bước cao.
Một tiếng thét phẫn nộ nghèn nghẹn vang lên từ đằng sau tôi, tiếp đó là tiếng lội bì bõm điên cuồng về hướng ngược lại. Chà, ít nhất cô ta sẽ không cản trở tôi nữa.
Trời sầm sập tối, tôi thoăn thoắt len mình qua những bụi cây và cỏ dại. Tôi không chắc mình có thể tìm thấy ngọn đồi ấy nếu trời tối trước khi tôi đến nơi; bởi vì ở đó có tới mấy ngọn đồi và tất cả đều cao như nhau. Hơn nữa, dù tộc tiên có thật hay không, tôi cũng không muốn lang thang một mình ở nơi này trong bóng đêm. Còn vấn đề làm thế nào để quay lại lâu đài với một đứa trẻ bị ốm, tôi sẽ giải quyết khi nào đến lúc.
Cuối cùng, tôi cũng tìm thấy ngọn đồi nhờ nhận ra rặng thông rụng lá non ở dưới chân của nó. Lúc này, trời đã gần như tối hẳn. Đêm nay không có trăng, tôi thường xuyên bị vấp ngã. Những cây thông rụng lá đứng tụm vào nhau, thì thầm trò chuyện trong làn gió đêm với những tiếng lách cách, kẽo kẹt và xào xạc.
Nơi quái quỷ này bị ma ám rồi, tôi nghĩ, lắng nghe cuộc trò chuyện của đám cành lá trên đầu khi len lỏi qua những thân cây mảnh mai. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu đụng độ một con ma đằng sau cái cây tiếp theo.
Nhưng tôi đã phải ngạc nhiên. Thật ra, tôi sợ hết hồn hết vía khi một thân hình đen ngòm đột ngột hiện ra và tóm lấy tôi. Tôi hét toáng lên và ra sức đánh nó.
“Chúa ơi,” tôi nói, “anh đang làm gì ở đây vậy?” Tôi nép vào ngực Jamie, thở phào nhẹ nhõm khi nhận ra anh, bất chấp nỗi sợ hãi mà anh đã gây ra cho tôi.
Anh nắm lấy cánh tay tôi và dẫn tôi ra khỏi rừng cây.
“Đến đón em,” anh khẽ nói. “Vì trời đang tối; anh đã gặp Geilie Duncan gần con suối ở St. John và cô ta nói cho anh biết em ở đâu.”
“Nhưng đứa trẻ...” Tôi dợm quay về phía ngọn đồi.
“Đứa trẻ chết rồi,” anh nói nhanh, kéo tôi lại. “Anh đã lên đó trước để xem xét tình hình.”
Nghe vậy, tôi liền đi theo anh mà chẳng đắn đo gì nữa, lòng tôi buồn bã vì cái chết của đứa trẻ nhưng cũng nhẹ nhõm vì rốt cuộc tôi sẽ không phải đối mặt với việc leo lên đỉnh ngọn đồi tiên hoặc hành trình dài quay về lâu đài một mình. Bóng tối và những cái cây xào xạc làm tôi lo lắng đến nỗi không thiết nói năng gì cho đến khi chúng tôi băng qua con suối. Người đã ướt sẵn nên tôi chẳng buồn cởi tất mà lội luôn qua. Còn Jamie, vẫn khô ráo từ đầu đến chân, nhảy từ bờ bên này tới một mỏm đá ở giữa dòng chảy rồi nhảy qua bờ bên kia như một vận động viên nhảy xa.
“Em có biết ở ngoài trời một mình vào ban đêm nguy hiểm thế nào không, Sassenach?” Anh hỏi. Anh không có vẻ giận dữ mà chỉ tò mò thôi.
“Không... ý em là có. Em xin lỗi nếu em làm anh lo lắng. Nhưng em không thể để mặc một đứa trẻ trong tình trạng như thế. Em không thể!”
“Ừ, anh biết.” Anh ôm lấy tôi. “Em là một người nhân hậu, Sassenach. Nhưng em không biết mình đang đối mặt với cái gì đâu.”
“Tiên tộc ư?” Tôi mệt mỏi và bối rối trước sự kiện này, nhưng che giấu nó bằng sự sôi nổi. “Em không sợ những điều mê tín.” Tôi chợt nảy ra một ý nghĩ. “Anh có tin vào tiên tộc, những đứa trẻ thay thế và tất cả những điều tương tự không?”
Anh chần chừ một thoáng trước khi trả lời.
“Không. Dù anh chẳng đời nào muốn ngủ cả đêm trên một ngọn đồi tiên nhưng anh không tin vào những thứ như thế. Anh là một người đàn ông có học thức, Sassenach. Ở nhà của Dougal, anh có một gia sư người Đức rất giỏi, ông ấy đã dạy anh tiếng Latin, tiếng Hy Lạp và những thứ tương tự. Sau đó, khi anh sang Pháp năm mười tám tuổi - chà, anh đã học lịch sử, triết học và thấy rằng trên thế giới còn có nhiều thứ khác ngoài những thung lũng hẹp, những trảng cỏ và những con thủy mã sống trong lòng hồ. Nhưng những người này...” Anh khoát tay về phía bóng tối đằng sau chúng tôi. “Họ chưa bao giờ đi quá một ngày đường khỏi nơi họ được sinh ra, ngoại trừ một dịp lễ lớn như lễ tụ hội của thị tộc, mà những sự kiện như thế chỉ có thể xảy ra hai lần trong cả đời người. Họ sống giữa những thung lũng hẹp và những hồ nước, chẳng được nghe gì hơn về thế giới ngoài những điều mà Cha Bain kể cho họ trong nhà thờ vào Chủ nhật. Và những câu chuyện cổ.”
Anh gạt một nhành tống quán sủi để tôi khom người đi qua bên dưới nó. Chúng tôi đang ở trên con đường mòn mà tôi cùng Geilie đã đi lúc nãy, và tôi vững tâm hơn khi thấy anh có thể tim đường ngay cả trong bóng tối. Khi đã đi xa khỏi ngọn đồi tiên, anh bắt đầu nói bằng giọng bình thường, chỉ thi thoảng ngừng lại để gạt một bụi cây rối rắm ra khỏi đường đi.
“Những câu chuyện đó chỉ là trò mua vui của Gwyllyn, khi em ngồi trong đại sảnh uống rượu vang Rhenish.” Anh đi trước tôi, giọng anh khẽ khàng nhưng rõ rệt vẳng lại chỗ tôi trong không khí buổi đêm lành lạnh.
“Nhưng ở ngoài này, thậm chí là ở trong làng - đó lại là chuyện khác. Người ta sống vì chúng. Anh cho là cũng có chút sự thật đằng sau vài câu chuyện.”
Tôi nghĩ về đôi mắt màu hổ phách của con thủy mã, và tự hỏi những câu chuyện nào là thật nữa.
“Còn những câu chuyện khác... chà.” Giọng anh trở nên khẽ khàng hơn, khiến tôi phải căng tai ra mới nghe thấy. “Có lẽ cha mẹ của đứa trẻ đó sẽ thanh thản hơn khi tin rằng đứa trẻ đã chết là đứa trẻ thay thế, còn đứa con của họ vẫn sống khỏe mạnh và hạnh phúc với tộc tiên.”
Lúc đó, chúng tôi tới chỗ lũ ngựa, và nửa tiếng sau, ánh sáng từ lâu đài Leoch đã chào đón chúng tôi. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình sẽ coi tòa kiến trúc ảm đạm ấy là một tiền đồn của sự văn minh, nhưng vào lúc này, thứ ánh sáng kia dưỡng như chính là ánh đèn khai sáng.
Mãi đến lúc lại gần hơn, tôi mới nhận thấy ánh sáng ấy phát ra từ dãy đèn lập lòe dọc theo thành cầu.
“Có chuyện gì thì phải,” tôi nói, quay sang Jamie. Giờ mới nhìn rõ anh nhờ ánh đèn, tôi nhận ra anh không mặc cái áo sờn và cái váy dơ dáy như thường lệ mà mặc một chiếc áo vải lanh trắng như tuyết. Cái áo khoác nhưng tốt nhất - và duy nhất - của anh nằm vắt qua yên ngựa.
“Ừ,” anh gật đầu. “Đó là lý do anh đi tìm em. Cuối cùng thì Công tước cũng đến rồi.”
•••
Công tước gây cho tôi chút ngạc nhiên. Tôi chưa từng tưởng tượng gì về ông ta, nhưng cũng không ngờ ông ta lại là một người có dáng thể thao, hồng hào, tráng kiện, sôi nổi và không màu mè khách sáo như vậy. Ông ta có khuôn mặt to bè, sạm nắng, vơi đôi mắt màu xanh nhạt luôn hơi nheo lại như thể đang nhìn theo một bầy chim trĩ bay về hướng mặt trời.
Trong một thoáng, tôi tự hỏi liệu mẫu chuyện về Công tước có phải đã được phóng đại lên không. Nhưng khi nhìn xung quanh đại sảnh, tôi nhận thấy mọi chàng trai dưới mười tám tuổi đều mang vẻ mặt hơi cẩn trọng, mắt gắn chặt vào Công tước khi ông ta cười với Colum và Dougal. Vậy ra nó không chỉ là câu chuyện kể mua vui; họ đã được cảnh báo.
Khi được giới thiệu với Công tước, tôi thấy hơi khó khăn để giữ gương mặt nghiêm trang. Ông ta là một người đàn ông to lớn, khỏe mạnh và rắn chắc, kiểu người thường nói oang oang trong các quán rượu, lấn át đối phương bằng sự to mồm và những lời nói lặp đi lặp lại. Đương nhiên, tôi cũng đã chuẩn bị tinh thần bởi câu chuyện của Jamie, nhưng ấn tượng về vẻ ngoài của ông ta mạnh đến nỗi khi Công tước cúi thấp đầu trên bàn tay tôi và nói: “Thật là tuyệt khi được gặp một người phụ nữ đồng hương ở nơi xa xôi này” với giọng nói như một con chuột đang căng thẳng, tôi phải cắn vào phần má trong để không tự làm mình bẽ mặt ở nơi công cộng.
Vì quá mệt mỏi sau chuyến đi nên Công tước và đoàn tùy tùng đi nghỉ sớm, nhưng tối hôm sau có biểu diễn âm nhạc và trò chuyện sau bữa tối, Jamie và tôi cũng tham gia với Colum, Dougal và Công tước. Sandringham trở nên cởi mở bên ly rượu vang Rhenish của Colum và nói chuyện liến thoắng, vừa than phiên về những nỗi kinh hoàng của việc đi lại ở vùng cao nguyên vừa ca ngợi vẻ đẹp của miền quê này. Chúng tôi lịch sự lắng nghe, và tôi cố gắng tránh nhìn vào mắt Jamie khi Công tước kể về những khó khăn, vất vả của ông ta bằng giọng nói the thé.
“Một cái trục bánh xe bị gãy ngay bên ngoài Stirling khiến chúng tôi bị cầm chân suốt ba ngày trong cơn mưa xối xả trước khi người hầu của tôi tìm được một thợ rèn để sửa thứ đáng nguyền rủa đó. Thế rồi chưa đầy nửa ngày sau, chúng tôi rơi vào cái ổ gà to nhất mà tôi từng thấy và lại làm gãy thứ chết tiệt ấy! Tiếp đến, một con ngựa bị văng mất móng, và chúng tôi phải xuống xe đi bộ bên cạnh nó - trong bùn - dắt theo con ngựa già què quặt. Sau đó...” Khi câu chuyện tiếp tục với hết rủi ro này tới rủi ro khác, tôi càng lúc càng buồn cười, bèn cố gắng nén lại bằng cách uống nhiều rượu vang hơn - có lẽ đó chính là sai lầm của óc xét đoán.
“Còn các trò chơi, MacKenzie, các trò chơi!” Công tước thốt lên, đảo mắt phấn khích. “Tôi không thể tin nổi. Thảo nào anh bày biện một bàn ăn thịnh soạn như thế!” Ông ta nhẹ nhàng vỗ vỗ cái bụng to rắn chắc. “Tôi thề tôi sẽ đổi cái răng nanh của mình để được săn một con hươu đực giống như con mà chúng tôi đã nhìn thấy hai hôm trước; một con thú tuyệt vời, hoàn toàn tuyệt vời! Nó nhảy vọt ra từ trong bụi rậm, ngay trước mũi cỗ xe ngựa,” ông ta kể với tôi, “làm con ngựa giật mình đến nỗi suýt thì lao ra khỏi đường lần nữa!”
Colum giơ cái bình thon cổ lên, nhướng mày vẻ dò hỏi. Vừa rót rượu vào những cái ly được đưa ra, ông ta vừa nói: “Chà, chúng tôi có thể sắp xếp một chuyến đi săn cho ngài, thưa Đức ngài! Cháu trai của tôi là một thợ săn tài giỏi.” Ông ta liếc nhìn Jamie với ánh mắt sắc sảo; anh gật đầu đáp lại, khẽ đến nỗi hầu như không ai có thể nhận ra.
Colum ngả người ra sau, đặt cái bình thon cổ xuống và nói: “Ầy, được đấy! Có lẽ vào đầu tuần tới. Giờ thì chưa có chim trĩ, nhưng săn hươu cũng thú vị.” Ông ta quay sang Dougal đang ngả người trên cái ghế độn bên cạnh. “Em trai tôi có thể đi cùng; nếu ngài muốn đi về phía bắc, cậu ấy có thể chỉ cho ngài thấy những vùng đất mà chúng ta đang bàn đến.”
“Tuyệt vời, tuyệt vời!” Công tước thích thú, vỗ vỗ vào chân Jamie; tôi nhìn thấy những bắp cơ của anh căng lên, nhưng anh không động đậy, chỉ mỉm cười bình thản. Bàn tay của Công tước nán lại hơi lâu. Rồi ông ta bắt gặp ánh mắt tôi và mỉm cười vui vẻ, biểu cảm trên mặt ông ta như đang nói: “Đáng để thử chứ hả?” Tôi không kìm được mỉm cười đáp lại. Bất ngờ làm sao, tôi khá thích người đàn ông này.
•••
Chuyến viếng thăm của Công tước khiến tôi quên khuấy mất lời đề nghị của Geilie là sẽ giúp tôi tìm ra người yểm bùa tôi. Và sau cuộc tranh cãi chẳng dễ chịu gì về đứa trẻ thay thế trên ngọn đồi tiên, tôi không chắc mình muốn làm theo bất cứ điều gì mà cô ta gợi ý.
Tuy nhiên, sự tò mò đã đánh bại nỗi nghi ngờ. Khi Colum sai Jamie đến hộ tống gia đình Duncan tới lâu đài để dự bữa yến tiệc dành cho Công tước vào hai ngày sau, tôi liền đi với anh.
Vậy là vào thứ Năm đó, tôi với Jamie được viên biện lý tiếp đãi bằng sự thân thiện vụng về ở phòng khách của gia đình Duncan trong lúc chờ vợ ông ta trang điểm ở trên gác. Tuy đã bình phục gần như hoàn toàn sau cơn đau dạ dày mới nhất nhưng trông Arthur vẫn không khỏe lắm. Giống như nhiều người đàn ông béo phì đột ngột giảm cần quá nhanh, chất béo chỉ biến mất khỏi mặt ông ta, còn ở bụng thì vẫn như vậy. Cái bụng phệ vẫn làm chiếc áo gi lê lụa màu xanh lá của ông ta căng phồng lên, trong khi da mặt ông ta chảy sệ thành những nếp gấp mềm nhão.
“Có lẽ tôi nên lên gác giúp Geilie làm tóc hoặc thứ gì đó,” tôi đề nghị. “Tôi đã mang cho cô ấy một chiếc ruy băng mới.” Biết trước rằng mình có thể cần một cái cớ để nói chuyện riêng với Geilie, tôi đã mang theo một gói nhỏ bên mình. Vừa giơ nó ra, tôi vừa đi qua cửa và lên gác trước khi Arthur kịp mở miệng phản đối.
Cô ta đang chờ tôi.
“Đi nào,” cô ta nói, “chúng ta sẽ lên phòng riêng của tôi. Cần phải khẩn trương lên, nhưng việc này cũng không mất nhiều thời gian đâu.”
Tôi theo Geilie lên cái cầu thang xoắn hẹp. Các bậc thang cao bất thường; một vài bậc cao đến nỗi tôi phải nhấc váy lên để tránh bị vấp. Chắc là những người thợ mộc ở thế kỷ mười bảy có phương pháp đo đạc không được chuẩn xác hoặc họ phải có óc hài hước ghê gớm lắm.
Chốn riêng tư của Geilie nằm ở trên cùng của ngôi nhà, đó là một trong những căn gác mái biệt lập nằm ở phía trên của khu vực dành cho người hầu. Nó được bảo vệ bởi một cánh cửa khóa. Để mở nó, Geilie lấy từ trong túi tạp dề ra một chiếc chìa khóa khổng lồ, dài ít nhất mười lăm phân, với cái đầu to tướng khắc hình dây leo và hoa cỏ. Chiếc chìa khóa phải nặng gần nửa cân; có thể được tận dụng để làm một món vũ khí. Cả ổ khóa và bản lề đều được bôi dầu kĩ càng, vì vậy cánh cửa dày mở ra rất êm.
Căn phòng nhỏ xíu và tù túng, với những ô cửa sổ mái được trổ ở mặt trước của tòa nhà. Các bức tường đều kê kín những cái kệ đựng đủ loại chai, lọ, bình dẹt và cốc miệng rộng. Trên xà nhà treo lủng lẳng những bó thảo mộc khô được buộc cẩn thận bằng những sợi chỉ có màu sắc khác nhau, chúng quệt vào tóc tôi và rắc xuống thứ bụi thơm ngát khi chúng tôi đi qua bên dưới.
Nơi này chẳng hề giống với phòng thảo mộc ngăn nắp, sạch sẽ ở dưới nhà. Nó chật ních, lộn xộn và âm u dù có những ô cửa sổ mái.
Có một cái kệ đựng sách, hầu hết đã cũ nát và không ghi tên trên gáy. Tôi tò mò lướt ngón tay qua hàng sách bìa da. Chủ yếu là da dê, nhưng có hai, ba quyển được bọc bằng thứ gì đó mềm mại nhưng trơn tuột. Và có một cuốn rõ ràng được bọc bằng da cá. Tôi lôi một quyển ra, rón rén mở xem. Nó được viết tay bằng tiếng Pháp cổ và thứ tiếng Latin thậm chí còn cổ hơn, nhưng tôi vẫn có thể đọc được tựa sách L’Grimoire d’le Comte St. Germain.
Tôi bàng hoàng gấp cuốn sách lại và đặt trả nó lên kệ. Một cuốn sách phù thủy. Một cuốn cẩm nang về ma thuật. Cảm thấy ánh mắt Geilie đang xoáy vào lưng mình, tôi bèn quay lại, bắt gặp vẻ mặt vừa tinh quái vừa suy đoán thận trọng của cô ta. Tôi sẽ làm gì đây khi đã biết được điều này?
“Vậy ra đó không phải là lời đồn đại vô căn cứ, đúng không?” Tôi nói, mỉm cười. “Chị thực sự là phù thủy.” Tôi tự hỏi cô ta đã lún sâu đến đâu, liệu cô ta có tin vào ma thuật không hay chỉ giả bộ như vậy để giải khuây trong cuộc hôn nhân buồn chán với Arthur. Tôi cũng tự hỏi cô ta đang luyện - hay nghĩ là mình luyện - thứ ma thuật gì.
“Ồ, vô hại,” cô ta nói, cười toe. “Chắc chắn là thứ ma thuật vô hại.”
Tôi rầu rĩ nghĩ rang Jamie đã nói đúng về khuôn mặt tôi - tất cả mọi người đều có thể nhận ra tôi đang nghĩ gì.
“Chà, thế thì tốt,” tôi nói. “Tôi thực sự không thích những kẻ cưỡi chổi và nhảy quanh đống lửa vào lúc nửa đêm, chưa kể còn hôn mông quỷ sứ.”
Geilie hất tóc ra sau và cười thích thú.
“Tôi có thể thấy là cô không hôn ai như vậy,” cô ta nói. “Tôi cũng thế. Nhưng nếu tôi có một con quỷ tóc đỏ dễ thương như chồng cô ở trên giường, tôi không chắc là mình sẽ không làm điều đó.”
“Điều đó gợi tôi nghĩ đến...” Nhưng tôi vừa mở miệng thì cô ta đã quay đi để sửa soạn, vừa làm vừa tự lẩm bẩm một mình.
Sau khi kiểm tra xem cánh cửa đã được khóa chưa, Geilie đi tới ô cửa sổ mái và lục lọi trong một cái hòm kê sát bên dưới cửa sổ. Cô ta lôi ra một cái chảo to tướng và một cây nến dài màu trắng cắm trên một cái giá nến bằng gốm. Sau một hôi lục tìm nữa, cô ta lấy ra một cái chăn đã sờn rồi trải lên sàn, như để bảo vệ chúng tôi khỏi bụi bẩn và những mảnh dăm.
“Chị định làm gì vậy, Geilie?” Tôi hỏi, nhìn chằm chằm vào những vật dụng mà cô ta chuẩn bị với ánh mắt nghi ngại. Tôi không thể nhìn ra ngay mục đích xấu nào từ một cái chảo, một ngọn nến và một tấm chăn, tuy nhiên dù sao tôi cũng chỉ là một phù thủy tập sự.
“Triệu mời,” cô ta nói, kéo các góc chăn cho vuông vắn.
“Triệu mời ai?” Tôi hỏi. Hay cái gì?
Cô ta đứng dậy, vén tóc ra sau. Những lọn tóc mềm mượt cứ chực xổ ra và xòa xuống. Cô ta vừa lẩm bẩm vừa giật những cái kẹp tóc ra, để mái tóc xõa xuống như một bức màn màu kem sẫm phẳng phiu, sáng bóng.
“Ồ, ma mãnh, linh hồn, ảo ảnh. Bất cứ thứ gì cô cần,” cô ta nói. “Dù là đối tượng nào thì sự chuẩn bị ban đầu cũng giống nhau, nhưng các loại thảo mộc và câu chú thì khác. Thứ chúng ta muốn bây giờ là một ảo ảnh - để xem kẻ đã yểm bùa cô là ai. Rồi sau đó chúng ta có thể yểm bùa lại họ.”
“Ờ, chà...” Tôi thực sự không muốn thù oán ai, nhưng tôi thấy tò mò - vừa muốn xem việc triệu mời như thế nào, vừa muốn biết ai đã yểm bùa tôi.
Geilie đặt cái chảo vào giữa tấm chăn rồi rót nước từ một cái bình vào đó, giải thích: “Cô có thể dùng bất cứ vật chứa nào đủ to để có được hình ảnh phản chiếu rõ ràng, mặc dù cuốn sách phù thủy nói phải dùng một cái chậu bạc. Thậm chí đối với một số trường hợp, có thể dùng một cái ao hay một vũng nước ngoài trời, tuy nhiên nó phải nằm ở nơi hẻo lánh. Việc này đòi hỏi sự tĩnh lặng.”
Cô ta thoăn thoắt đi từ ô cửa sổ này đến ô cửa sổ khác, kéo những tấm rèm màu đen nặng nề cho đến khi trong phòng hầu như không còn chút ánh sáng nào. Tôi chỉ còn thấy lờ mờ hình dáng mảnh mai của Geilie đang di chuyển cho đến khi cô ta thắp nến lên và mang nó lại chỗ tấm chăn. Ngọn lửa chập chờn rọi sáng khuôn mặt cô ta, hắt những cái bóng hình nêm lên phía dưới chiếc mũi cao và quai hàm như được tạc.
Cô ta đặt ngọn nến bên cạnh chảo nước, đối diện với tôi, rồi cẩn thận rót thêm nước vào cái chảo, nước hơi dềnh lên quá mép nhưng không bị trào ra ngoài. Tôi cúi nhìn, thấy rằng mặt nước tạo nên một tấm gương phản chiếu tuyệt vời, rõ hơn nhiều so với bất cứ cái gương soi nào trong lâu đài. Như thể lại đọc được suy nghĩ của tôi, Geilie giải thích rằng ngoài công dụng gọi hồn, chảo nước này còn là một vật dụng tuyệt vời để soi và vấn tóc.
“Đừng va vào nó, nếu không cô sẽ bị ướt đấy,” cô ta khuyên, cau mày tập trung khi thắp thêm nến. Câu nói đầy thực tế ấy giữa sự chuẩn bị mang tính tâm linh này gợi tôi nhớ đến một người. Ngước nhìn thân hình mảnh mai, xanh xao đang duyên dáng khom người cầm hộp đánh lửa, ban đầu tôi không thể nghĩ ra là ai. Nhưng đương nhiên, dù Geilie chẳng hề giống với con người ăn mặc lỗi mốt ngồi bên ấm trà trong thư phòng của linh mục Wakefield, nhưng giọng điệu của cô ta lại chính là giọng điệu của bà Graham.
Có lẽ họ đều có thái độ giống nhau, chỉ coi sự huyền bí như một hiện tượng tự nhiên, một thứ gì đó đòi hỏi phải dè chừng, thận trọng khi tiếp xúc - giống như khi người ta sử dụng một con dao làm bếp sắc bén - nhưng chắc chắn không việc gì phải tránh né hay sợ hãi.
Hoặc có thể là mùi nước hoa oải hương. Những chiếc váy thùng thình, bồng bềnh của Geilie luôn có mùi của các tinh chất mà cô ta chưng cất: cúc vạn thọ, cúc La Mã, lá nguyệt quế, cam tùng, bạc hà, kinh giới ô. Nhưng hôm nay, thứ mùi phảng phất tỏa ra từ những nếp gấp của chiếc váy trắng chính là mùi oải hương. Đó cũng chính là thứ mùi tỏa ra từ chiếc váy cotton màu xanh dương và bộ ngực xương xẩu của bà Graham.
Ngực Geilie lại rất đầy đặn. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy Geilie Duncan mặc váy cổ trễ. Thường thì cô ta hay mặc những chiếc váy kín đáo, rộng thùng thình, cài cúc cao đến cổ, phù hợp với địa vị phu nhân của một viên biện lý. Lúc này, gò ngực cô ta nhô cao, mịn màng và trắng trẻo gần giống như bộ váy cô ta đang mặc, giúp tôi hiểu được đôi chút lý do tại sao một người đàn ông như Arthur Duncan lại cưới một cô gái không xu dính túi và không có gia đình như cô ta. Mắt tôi vô thức lướt tới dãy lọ được dán nhăn gọn gàng xếp dọc theo bức tường, tìm kiếm diêm tiêu.
Geilie chọn ba cái lọ trên giá, đổ từ mỗi lọ một ít vào lòng cái lò than nhỏ bằng kim loại, rồi châm lửa từ ngọn nến vào lớp than bên dưới và thổi bùng ngọn lửa mới nhen. Một làn khói thơm bắt đâu bốc lên.
Không khí trong căn gác mái tĩnh lặng đến nỗi làn khói xám bốc lên thẳng đứng, không hề tản ra, tạo nên một cái cột trông y như một ngọn nến trắng dài. Geilie ngồi khoanh chân duyên dáng giữa hai cây cột, giống như một nữ tu trong điện thờ.
“Chà, tôi nghĩ thế là đủ rồi.” Geilie nhanh nhẹn phủi vụn hương thảo trên tay, hài lòng ngắm nhìn quang cảnh này. Những tấm màn đen, vốn biểu trưng cho sự bí ẩn, chặn lại tất cả ánh nắng từ bên ngoài, vì vậy ngọn nến là nguồn chiếu sáng duy nhất. Bóng phản chiếu của ngọn nến lan rộng trên mặt nước, rực rỡ như thể nó cũng là một nguồn sáng.
“Giờ thì sao?” Tôi hỏi.
Đôi mắt to màu xám ngời lên đầy vẻ mong đợi. Cô ta vây tay qua mặt nước rồi xếp hai tay lại, đặt giữa đôi chân đang khoanh tròn.
“Hãy ngồi im một lát,” cô ta nói. “Lắng nghe tiếng tim mình đập. Cô có nghe thấy nó không? Hít thở thật thoải mái, chậm và sâu.” Tuy vẻ mặt rạng rỡ nhưng giọng cô ta lại điềm tĩnh và chậm rãi, hoàn toàn trái ngược với lối trò chuyện sôi nổi lúc bình thường.
Tôi ngoan ngoãn làm theo hướng dẫn, cảm thấy tim mình đập chậm hơn khi hơi thở trở nên đều đều. Tôi nhận ra mùi hương thảo trong làn khói, nhưng không chắc chắn về hai loại thảo mộc còn lại; có lẽ là mao địa hoàng hoặc ỷ lăng? Tôi đã nghĩ những bông hoa màu tía là hoa anh đào đen, nhưng chắc là không phải. Cho dù chúng là gì chăng nữa, việc nhịp thở của tôi chậm đi dường như không hẳn là vì lời khuyên của Geilie. Tôi có cảm giác một vật nặng nào đó đang ép vào xương ức mình, khiến tôi buộc phải thở chậm hơn.
Geilie ngồi hoàn toàn bất động, đôi mắt không chớp theo dõi tôi. Cô ta gật đầu một cái và tôi ngoan ngoãn nhìn xuống mặt nước phẳng lặng.
Cô ta bắt đầu nói bằng giọng đều đều, một lần nữa gợi tôi nhớ đến bà Graham khi bà gọi mặt trời trong vòng tròn đá hôm nào.
Những lời lẽ ấy không phải tiếng Anh, nhưng cũng không hẳn là không phải. Đó là một thứ ngôn ngữ lạ lùng, nhưng tôi có cảm giác là mình biết nó, như thể chúng được nói quá nhỏ nên tôi mới không nghe rõ.
Hai bàn tay tôi bắt đầu trở nên tê cứng, tôi muốn nhấc chúng lên nhưng không được. Giọng nói đều đều của Geilie tiếp tục vang lên, nhẹ nhàng và đầy sức thuyết phục. Giờ thì tôi biết rằng mình hiểu những lời cô ta nói, nhưng vẫn không thể nghe ra.
Tôi mơ hồ nhận ra hoặc là mình đang bị thôi miên, hoặc là bị ảnh hưởng bởi một loại thuốc nào đó, và tâm trí tôi cố bám lấy sự tỉnh táo, cưỡng lại sự lôi kéo của làn khói thơm dịu. Tôi có thể thấy bóng phản chiếu của mình trong nước, hai đồng tử co rúm lại nhỏ như đầu đinh ghim, đôi mắt mở to như mắt cú bị lóa. Từ “thuốc phiện” dập dềnh hiện ra trong tâm trí lơ mơ của tôi.
“Cô là ai?” Tôi không biết ai trong chúng tôi đã hỏi câu hỏi ấy, nhưng tôi cảm thấy cổ họng mình cử động để trả lời: “Claire.”
“Ai cử cô tới đây?”
“Tôi tự tới đây.”
“Tại sao cô lại tới?”
“Tôi không thế nói được.”
“Tại sao cô không thể nói được?”
“Bởi vì sẽ không ai tin tôi.”
Giọng nói trong đầu tôi càng trở nên dịu dàng, thân thiện, ngọt ngào hơn.
“Tôi sẽ tin cô. Tin tôi đi! Cô là ai?”
“Claire.”
Một tiếng động lớn đột nhiên phá vỡ bùa chú. Geilie giật mình, va đầu gối vào chảo nước, làm khuây động bóng phản chiếu trong nước.
“Geillis? Em yêu?” Tiếng gọi xuyên qua cánh cửa, ngập ngừng nhưng đầy uy lực. “Chúng ta phải đi, em yêu. Lũ ngựa đã sẵn sàng rồi, vậy mà em còn chưa mặc váy xong.”
Lẩm bẩm một lời gì đó khiếm nhã, Geilie đứng dậy mở toang cửa sổ. Không khí trong lành ùa vào mặt tôi, khiến tôi chớp mắt và xua tan màn sương mù trong đầu tôi.
Cô ta tư lự đứng nhìn tôi rồi cúi xuống giúp tôi đứng dậy.
“Đi nào,” cô ta nói. “Cảm thấy hơi chóng mặt, đúng không? Đôi khi việc này khiến người ta bị như vậy đây. Cô nên nằm nghỉ trên giường của tôi trong lúc tôi thay váy.”
Tôi nằm nhắm mắt trên chiếc giường trong phòng ngủ của Geilie ở bên dưới, lắng nghe những tiếng loạc soạt nho nhỏ mà cô ta tạo ra trong nhà vệ sinh, tự hỏi chuyện quái quỷ gì vừa xảy ra. Rõ ràng nó chẳng liên quan tới bùa yểm hoặc người yểm bùa, mà chỉ liên quan đến nhân thân của tôi. Khi trí óc dần tỉnh táo, tôi bỗng tự hỏi phải chăng Geilie là gián điệp cho Colum? Ở địa vị của mình, cô ta có thể nghe được nhiều chuyện bí mật của cả vùng. Và còn ai ngoài Colum quan tâm tới lai lịch của tôi chứ?
Chuyện gì sẽ xảy ra nếu tiếng gọi của Arthur không chen vào cuộc gọi hồn? Trong màn khói thơm, liệu tôi có nghe thấy mệnh lệnh quen thuộc của nhà thôi miên: “Khi cô tỉnh lại, cô sẽ không nhớ gì cả” không? Nhưng tôi vẫn còn nhớ, và tự hỏi tại sao.
Tuy nhiên, tôi chẳng có cơ hội để hỏi Geilie về điều đó. Cửa phòng ngủ đột ngột mở toang, Arthur Duncan bước vào. Tới cửa nhà vệ sinh, ông ta chỉ gõ cửa một lần rồi đi vào.
Một tiếng thét cất lên rồi im bặt.
Arthur Duncan trở lại cửa nhà vệ sinh, hai mắt mở to, đờ đân, khuôn mặt trắng bệch như thể bị bệnh. Tôi nhảy bật dậy, vội vã chạy đến chỗ ông ta khi ông ta nặng nề dựa vào khung cửa.
Nhưng tôi còn chưa tới nơi thì ông ta đã lảo đảo bước tiếp, sượt qua người tôi để đi ra khỏi phòng, như thể không nhìn thấy tôi.
Tôi bèn gõ cửa nhà vệ sinh.
“Geilie! Chị ổn chứ?”
Sau một thoáng im lặng, một giọng nói hoàn toàn điềm tĩnh cất lên: “Vâng, đương nhiên rồi. Tôi ra ngay đây.”
Cuối cùng chúng tôi cũng xuống cầu thang. Arthur, đã bình tĩnh lại phần nào, đang nhấm nháp brandy với Jamie. Ông ta có vẻ hơi lơ đãng như thể đang suy nghĩ gì đó, nhưng vẫn chào đón vợ mình bằng một lời khen nhẹ nhàng về ngoại hình của cô ta trước khi sai người đi lấy ngựa.
Lúc chúng tôi về tới lâu đài, yên tiệc vừa mới bắt đầu. Ông biện lý và vợ mình được mời ngồi ở bàn danh dự. Còn Jamie và tôi, vì có địa vị hơi tháp hơn, ngôi ở một cái bàn khác cùng với Rupert và Ned Gowan.
Bà Fitz đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình và tươi cười rạng rỡ trước những lời khen tới tấp về đồ ăn thức uống cùng với những sự chuẩn bị khác của bà.
Bữa tiệc thực sự rất ngon. Tôi chưa bao giờ được thưởng thức món gà lôi quay nhồi hạt dẻ tẩm mật ong và đang ăn miếng thứ ba thì Ned Gowan, thích thú trước sự ngon miệng của tôi, hỏi rằng tôi đã thử món lợn sữa chưa.
Tôi còn chưa kịp trả lời thì đầu kia của đại sảnh bỗng có tiếng xê dịch. Colum đã đứng dậy khỏi bàn và tiến về phía tôi, theo sau là già Alec MacMahon.
“Ta thấy tài năng của cô đúng là không có giới hạn, phu nhân Fraser,” Colum nhận xét, hơi cúi đầu. Nụ cười tươi rói làm tôn lên những đường nét cuốn hút của ông ta.
“Từ băng bó vết thương, chữa bệnh tới đỡ đẻ cho ngựa. Ta cho rằng chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ phải nhờ cô làm cho người chết hồi sinh nữa đây.” Tiếng cười rộ lên trước câu nói này, nhưng tôi để ý thấy có một, hai người căng thẳng liếc nhìn về phía Cha Bain đang chén cừu nướng trong một góc.
“Dù sao đi nữa,” Colum nói tiếp, thò tay vào trong túi áo khoác, “cho phép ta tặng cô một kỷ vật nhỏ để tỏ lòng biết ơn.” Ông ta đưa cho tôi một cái hộp gỗ nhỏ, trên nắp có khắc biểu tượng của thị tộc MacKenzie. Tôi không biết Losgann là con ngựa quý giá đến thế, và thầm cảm ơn vị thần tốt bụng cai quản những sự kiện như vậy vì đã không xảy ra sai sót gì.
“Có gì đâu,” tôi nói, cố gắng trả lại món quà. “Tôi chẳng làm được điều gì ghê gớm cả. Chỉ là tôi may mắn có đôi bàn tay nhỏ mà thôi.”
“Dù thế nào ta cũng muốn cô nhận nó.” Colum kiên quyết. “Nếu cô muốn, hãy coi nó như một món quà cưới nhỏ.”
Thấy Jamie gật đầu, tôi miễn cưỡng nhận chiếc hộp và mở ra. Nó đựng một chuỗi hạt huyền xinh đẹp lồng cây thánh giá khảm bạc, mỗi hạt đều được điêu khắc tinh xảo.
“Dễ thương quá,” tôi thực lòng nói, dù chẳng biết mình có thế làm gì với nó. Trên danh nghĩa, tôi là một tín đồ Công giáo, nhưng người nuôi dạy tôi lại là bác Lamb, một người hoàn toàn theo thuyết bất khả tri, và chẳng biết gì mấy về tầm quan trọng của một chuỗi tràng hạt. Tuy nhiên, tôi vẫn nồng nhiệt cảm ơn Colum và đưa chuỗi hạt cho Jamie để anh cất hộ tôi vào trong cái túi da.
Tôi nhún gối cúi chào Colum và lấy làm vui mừng vì thấy mình đã thành thạo nghệ thuật này. Ông ta đang định mở miệng để cáo từ thì bị ngắt ngang bởi một tiếng huỵch vang lên từ đằng sau tôi. Tôi liền xoay người lại, nhưng chỉ nhìn thấy toàn lưng và đầu, vì mọi người đã nhảy bật dậy từ các băng ghế để tụ tập quanh thứ đã gây ra sự náo động. Colum tập tễnh đi vòng qua bàn, bàn tay sốt ruột gạt đám đông sang một bên. Khi mọi người cung kính nhường đường cho ông ta, tôi mới nhìn thấy thân hình phục phịch của Arthur Duncan trên sàn nhà, tứ chi khua khoắng dữ dội, gạt đi những bàn tay giúp đỡ. Vợ ông ta len lỏi qua đám đông đang xì xào bàn tán, ngồi phịch xuống bên cạnh ông ta và cố gắng nâng đầu ông ta lên đùi. Ông ta cắm gót chân xuống sàn và ưỡn lưng lên, thở khò khè.
Đôi mắt màu xanh lá của Geilie liếc nhìn lên, lo lắng quét qua đám đông như thể đang tìm kiếm ai đó. Cho rằng mình chính là người cô ta đang kiếm tìm, tôi chọn lối đi thông thoáng nhất, đó là luồn xuống bò dưới gầm bàn.
Khi đã tới bên Geilie, tôi ôm lấy mặt chồng cô ta bằng cả hai tay và cố gắng cạy hàm ông ta ra. Từ tiếng thở của ông ta, tôi nghĩ có lẽ ông ta bị nghẹn một miếng thịt, có thể nó vẫn đang mắc trong khí quản của ông ta.
Nhưng hàm ông ta nghiến chặt, cứng đo, môi tím tái và mép sùi bọt, không giống với hiện tượng bị nghẹn. Nhưng chắc chắn là ông ta bị nghẹt thở; bộ ngực mập mạp phập phồng dữ dội, cố gắng để hít thở.
“Nhanh lên, nghiêng người ông ấy đi!” Tôi nói. Vài bàn tay lập tức chìa ra để trợ giúp, và cơ thể nặng nề được lật một cách khéo léo, tấm lưng rộng mặc áo vải xẹc đen hướng về phía tôi. Tôi nện mạnh cườm tay vào giữa hai xương bả vai của ông ta, lặp đi lặp lại động tác ấy, tạo ra tiếng thình thịch nhàm chán. Tấm lưng đồ sộ khẽ rung lên theo những cú vỗ, nhưng không có dấu hiệu gì của một vật bị mắc kẹt đột nhiên long ra.
Tôi tóm lấy một bờ vai ụ thịt và kéo ông ta nằm ngữa ra. Geilie cúi sát khuôn mặt trợn trừng trợn trạc, gọi tên ông ta, xoa vuốt cái cổ họng lốm đốm. Đôi mắt ông ta giờ đã trợn ngược, hai gót chân bắt đầu gõ chậm dần. Hai bàn tay quơ quào trong nỗi đau đớn đột nhiên vung rộng, tát vào mặt một người đang lo lắng cúi xuống xem xét.
Những tiếng phì phì đột nhiên ngừng lại, cơ thể mập mạp trở nên mềm nhũn, nằm bất động trên sàn đá như một bao lúa mạch. Tôi cuống cuồng sờ mạch ở cái cổ tay buông thõng, loáng thoáng nhận ra Geilie cũng đang làm điều tương tự. Cô ta ngửa cái cằm tròn ủm nhẵn nhụi của chồng mình lên và ấn mạnh các đầu ngón tay vào phần thịt bên dưới góc hàm để tìm động mạch cảnh.
Cả hai sự tìm kiếm đều không có kết quả. Trái tim của Arthur Duncan, vốn gánh vác trọng trách bơm máu khắp cơ thể đồ sộ suốt bao nhiêu năm qua, đã bỏ cuộc.
Tôi thử mọi kỹ thuật hồi sức, dẫu biết rằng hiện giờ chúng đã trở nên vô dụng: đập cánh tay, xoa ngực, thậm chí hà hơi thổi ngạt, dù việc đó thật ghê tởm, nhưng kết quả vẫn vậy. Arthur Duncan đã chết thật rồi.
Tôi mệt mỏi đứng dậy và lùi lại khi Cha Bain, sau khi bực bội trừng mắt nhìn tôi, quỳ xuống bên cạnh viên biện lý và vội vàng thực hiện những nghi thức cuối cùng. Tôi cảm thấy lưng và hai cánh tay đau nhức, mặt tê bì lạ lùng. Sự huyên náo xung quanh dường như vọng đến từ một nơi xa xôi, như thể giữa tôi và cái đại sảnh đông đúc có một tấm rèm ngăn cách. Tôi nhắm mắt và quệt tay lên đôi môi đang râm ran, cố gắng tây xóa vị của cái chết.
•••
Cái chết của viên biện lý và những nghi thức tang ma, chôn cất sau đó chỉ trì hoãn cuộc săn hươu của Công tước không quá một tuần.
Ý nghĩ Jamie sắp rời đi khiến tôi buồn bã vô hạn; tôi đột nhiên nhận ra mình đã quen trông đợi được nhìn thấy anh ở bữa tối sau một ngày làm việc, trái tim tôi sẽ nhảy dựng lên khi bất ngờ nhìn thấy anh vào những lúc rỗi rãi trong ngày, và tôi đã quá phụ thuộc vào sự bầu bạn cùng sự hiện diện khiến tôi yên lòng của anh giữa những phức tạp của cuộc sống trong lâu đài. Còn nữa, thành thật mà nói, tôi yêu biết bao sức mạnh ấm áp, dễ chịu của anh trên giường mình mỗi đêm, và thức dậy trước những nụ hôn với gương mặt tươi cười cùng đầu tóc rối bù của anh mỗi sáng. Viễn cảnh vắng anh thật ảm đạm.
Anh ôm tôi thật chặt, tôi nép đầu vào hõm cổ anh.
“Em sẽ nhớ anh, Jamie,” tôi khẽ nói.
Anh ôm tôi chặt hơn và bật ra một tiếng cười rầu rĩ.
“Anh cũng vậy, Sassenach. Thú thực, anh không ngờ mình lại đau lòng đến thế khi phải rời xa em.” Anh nhẹ nhàng vuốt ve lưng tôi, những ngón tay lần theo từng đốt sống gồ lên.
“Jamie... anh nhớ cẩn thận nhé!”
Tôi có thể cảm nhận tiếng cười khùng khục thích thú trong ngực anh khi anh trả lời.
“Cẩn thận với Công tước hay với con ngựa?” Theo như tôi biết, anh định cưỡi Donas trong chuyến săn hươu. Tôi mường tượng ra con vật màu nâu đỏ khổng lồ đó lao qua một vách đá vì tính ương ngạnh tột độ, hoặc giẫm những cái móng guốc có thể giết chết người lên cơ thể của Jamie.
“Cả hai,” tôi đùa bỡn. “Nếu con ngựa hất anh xuống khiến anh bị gãy chân, anh sẽ phải phó mặc bản thân cho Công tước định đoạt.”
“Đúng vậy. Nhưng Dougal cũng ở đó mà.”
Tôi hừ mũi. “Ông ấy sẽ làm gãy nốt cái chân còn lại của anh.” Anh cười và cúi đầu hôn tôi.
“Anh sẽ cẩn thận, mo duinne. Em cũng hứa với anh như vậy nhé?” “Vâng,” tôi thực lòng nói. “Ý anh là với kẻ đã yểm bùa em?”
Sự vui vẻ ở anh đã biến mất.
“Có lẽ thế. Anh không nghĩ ở đây em sẽ gặp nguy hiểm, nếu không anh sẽ không rời khỏi em đâu. Nhưng mà... Ồ, và hãy tránh xa Geillis Duncan nhé!”
“Cái gì? Tại sao?” Tôi hơi ngửa ra sau để ngước nhìn anh. Trời tối nên tôi không thể thấy rõ khuôn mặt anh, nhưng giọng điệu anh hoàn toàn nghiêm túc.
“Người ta nói người phụ nữ đó là một phù thủy, và những câu chuyện về cô ta... chà, chúng càng lúc càng trở nên khủng khiếp hơn nhiều kể từ khi chồng cô ta chết. Anh không muốn em ở gần cô ta, Sassenach.”
“Anh thực sự nghĩ cô ấy là phù thủy ư?” Tôi hỏi. Đôi tay khỏe khoắn của anh ôm lấy mông tôi và kéo tôi lại gần. Tôi choàng hai tay quanh người anh, hưởng thụ cảm giác được tựa vào thân hình rắn chắc ấy.
“Không,” cuối cùng anh nói. “Nhưng thứ anh nghĩ có thể gây nguy hiểm cho em không phải là điều đó. Em hứa chứ?”
“Được rồi.” Kỳ thực, tôi chẳng ngần ngại hứa hẹn điều này; từ sau chuyện về đứa trẻ thay thế và buổi gọi hồn, tôi đã không còn muốn tới thăm Geilie nữa. Tôi kề miệng vào một bên đầu ngực của Jamie, nhẹ nhàng nghịch nó. Anh thốt ra một tiếng rên nhỏ và ghì lấy tôi.
“Dang chân ra,” anh thì thầm. “Anh muốn đảm bảo rằng em sẽ nhớ anh trong lúc anh đi vắng.”
Một lát sau, tôi thức dậy vì cảm thấy lạnh. Tôi ngái ngủ sờ soạng tìm chăn nhưng không thấy đâu cả. Đột nhiên nó được phủ lên người tôi. Tôi ngạc nhiên, chống khuỷu tay lên nhìn.
“Anh xin lỗi,” Jamie nói. “Anh không cố ý đánh thức em.”
“Anh đang làm gì vậy? Sao anh lại thức?” Tôi nheo mắt, ngoảnh lại nhìn anh. Trời vẫn còn tối nhưng mắt tôi đã nhìn quen nên có thể thấy được vẻ hơi ngại ngùng trên mặt anh. Anh đã tỉnh hẳn, ngồi trên một cái ghế đẩu bên cạnh giường, quấn chiếc áo choàng len quanh người để giữ ấm.
“Chỉ là... ờ, anh mơ thấy em bị lạc và không thể tìm thấy em. Vậy là anh tỉnh dậy và... muốn nhìn em, thế thôi. để gắn chặt em trong tâm trí anh, để nhớ em trong lúc anh đi vắng. Anh xin lỗi vì đã lật chăn ra và làm em bị lạnh.”
“Không sao.” Đêm nay thật lạnh giá và yên tĩnh như thể chúng tôi là hai linh hồn duy nhất trên đời này. “Lên giường đi! Hẳn là anh cũng lạnh lắm.”
Anh trườn lên cạnh tôi rồi cuộn tròn người, áp vào lưng tôi. Tay anh mơn man tôi từ cổ đến vai rồi lại từ eo đến hông, lần theo sống lưng tôi và những đường cong của cơ thể tôi.
“Mo duinne,” anh khẽ nói. “Bây giờ anh nên nói là mo airgeadach. Bạc của anh. Tóc em như dát bạc và da em mịn như nhưng trắng. Calman geal. Bồ câu trắng.”
Tôi áp hông vào anh vẻ mời mọc và hơi lún xuống với một tiếng thở dài khi anh lấp đầy tôi. Anh ghì chặt tôi và nhịp nhàng chuyển động. Tôi khẽ thở hổn hển khiến anh nới lỏng vòng tay.
“Anh xin lỗi,” anh lẩm bẩm. “Anh không cố ý làm em đau. Nhưng anh muốn ở thật sâu trong em, muốn gieo “hạt giống” của mình vào trong em, muốn ôm em như vậy cho đến bình minh và rời đi khi em đang say ngủ, với hơi ấm của em vẫn còn vương lại trong tay anh.”
Tôi áp chặt vào anh hơn.
“Anh sẽ không làm em đau đâu.”
•••
Sau khi Jamie đi rồi, tôi cứ ủ rũ quanh quẩn trong lâu đài, thăm khám cho các bệnh nhân, ở lỳ ngoài vườn lâu hết mức có thể và cố gắng giải khuây bằng cách mượn những cuốn sách trong thư viện của Colum để đọc, nhưng thời gian vẫn trôi thật nặng nề.
Tôi cứ cô đơn như thế gần hai tuần thì gặp cô nàng Laoghaire ở hành lang bên ngoài khu bếp. Từ ngày nhìn thấy cô ta trên chiếu nghỉ bên ngoài thư phòng của Colum, thi thoảng tôi vẫn lén quan sát cô ta. Trông cô ta thật rực rỡ nhưng vẫn có vẻ căng thẳng rất dễ nhận ra. Dường như cô ta hơi lơ đãng và ủ rũ - điều đó cũng chẳng có gì lạ, cô gái tội nghiệp!
Nhưng hôm nay, cô ta có vẻ khá phấn khích.
“Phu nhân Fraser!” Cô ta gọi. “Tôi có một tin nhắn cho cô.”
Laoghaire nói vợ góa của Duncan nhắn rằng cô ta đang bị ốm và nhờ tôi tới chăm sóc.
Tôi chần chừ khi nhớ lại những lời dặn dò của Jamie, nhưng lòng trắc ẩn và nỗi buồn chán đã thúc giục tôi tới ngôi làng trong vòng một giờ sau đó, với hộp thuốc được buộc ở đằng sau yên ngựa.
Lúc tôi tới, ngôi nhà của vợ chồng Duncan toát lên không khí hoang phế và bừa bộn. Không ai trả lời tiếng gõ cửa của tôi. Khi tôi đẩy cửa vào, tiền sảnh và phòng khách vương vãi sách và cốc chén bẩn, những tấm thảm bị xô lệch, bàn ghế thì bám đầy bụi. Khi tôi cất tiếng gọi, chẳng thấy người hầu nào xuất hiện, căn bếp cũng trống huơ trống hoác và lộn xộn như phần còn lại của ngôi nhà.
Càng lúc càng cảm thấy lo lắng, tôi bèn đi lên gác. Phòng ngủ phía trước cũng không có ai, nhưng tôi nghe thấy tiếng sột soạt khe khẽ phát ra từ phòng thảo mộc ở phía bên kia của chiếu nghỉ.
Đẩy cửa ra, tôi nhìn thấy Geilie đang ngồi trên một cái ghế êm ái, chân gác lên kệ. Căn phòng sực nức mùi brandy.
Cô ta giật mình khi trông thấy tôi, nhưng vẫn cố gắng đứng dậy và mỉm cười. Đôi mắt cô ta hơi lờ đờ nhưng chắc chắn là cô ta vẫn khỏe.
“Có chuyện gì vậy?” Tôi hỏi. “Tôi tưởng chị bị ốm?”
Cô ta trố mắt nhìn tôi vẻ ngạc nhiên. “Ốm ư? Tôi á? Không. Đám người hầu bỏ đi hết rồi, trong nhà chẳng còn thức ăn nhưng có nhiều brandy lắm. Cô uống một chút nhé?” Cô ta quay về phía cái bình thon cổ. Tôi nắm lấy tay áo cô ta.
“Không phải là chị gọi tôi đến đây sao?”
“Không.” Cô ta chằm chằm nhìn tôi, đôi mắt mở to.
“Vậy thì tại sao...” Câu hỏi của tôi bị ngắt ngang bởi một âm thanh từ bên ngoài. Một tiếng rì rầm xa xăm. Tôi đã từng nghe thấy nó từ chính căn phòng này, và hai lòng bàn tay tôi toát mồ hôi trước ý nghĩ đối mặt với đám đông tạo ra nó.
Tôi chùi tay vào váy. Tiếng rì rầm đến gần hơn, tôi không có nhu cầu cũng chẳng có thời gian để hỏi han gì nữa.
[1] Tiếng Gaelic: Cảm ơn, bạn của tôi.
[2] Tiếng Gaelic: Nghĩa đen là người. Ở đây có thể hiểu là cậu bé, cậu nhóc...
[3] Tiếng Gaelic: Mày khỏe không?
[4] Có nghĩa là quầng vú.
[5] Có nghĩa là rốn.