Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
31
Ngày nộp tô

❊ ❊ ❊

Một tiếng gõ cửa nhè nhẹ vang lên, rồi Jenny bước vào, mang theo một chiếc áo khoác màu xanh dương được gấp gọn ghẽ và một cái mũ. Chị nhìn kĩ em trai rồi gật đầu.

“Ầy, áo sơ mi thì ổn rồi. Chị cũng đã nới rộng chiếc áo khoác tử tế nhất cho em; vai em đã to hơn một chút kể từ lần cuối chị nhìn thấy em.” Chị nghiêng đầu sang một bên, ngắm nghía. “Hôm nay trông em khá tươm tất - chí ít là từ chân đến cổ. Ngồi xuống đằng kia đi, chị sẽ xử lý nốt mái tóc của em.” Chị chỉ vào cái ghế đẩu bên cửa sổ.

“Tóc em ư? Tóc em làm sao?” Jamie hỏi, đưa tay lên má. Tóc anh đã dài gần đến vai, anh thường buộc nó lại bằng một sợi dây da để ngăn nó xòa vào mặt.

Chẳng buồn giải thích lôi thôi, chị gái anh đẩy anh xuống cái ghế đẩu, giật sợi dây buộc ra và bắt đầu thô bạo chải tóc cho anh bằng cái bàn chải tóc đồi mồi.

“Tóc em làm sao ư?” Chị hỏi lại. “Ái chà! Thứ nhất, tóc em bám đầy quả ké.” Chị bứt ra một vật thể nhỏ màu nâu từ trên đầu anh và thả nó xuống mặt tủ trang điểm. “Và lá sồi. Hôm qua em đã đâu vậy - dũi đất dưới các gốc cây như một con lợn chăng? Tóc em còn rối hơn cả một cuộn chỉ bị vò nữa...”

“Ối!”

“Yên nào, roy!” Chị cau mày tập trung, cầm cái lược lên và gỡ những chỗ rối, khiến mái tóc bù xù của anh trở nên mượt mà, sáng bóng, lấp lánh trong ánh ban mai chiếu vào từ cửa sổ với đủ sắc nâu vàng, đồng, quế và vàng kim. Jenny trải mái tóc ra trên bàn tay mình, lắc lắc đầu.

“Chẳng hiểu sao ông trời lại lãng phí ban tặng mái tóc như thế này cho một người đàn ông,” chị nhận xét. “Trông như lông hươu hung vậy.”

“Thật là tuyệt, đúng không?” Tôi đồng ý. “Nhìn xem, ở đỉnh đầu, chỗ bị ánh nắng thường xuyên chiếu vào, có những vệt màu vàng hoe trông đến là đáng yêu.”

Đối tượng đang được chúng tôi trầm trồ ngưỡng mộ liền trừng mắt lên.

“Nếu hai người mà còn lải nhải nữa, tôi sẽ tự cạo trọc ngay bây giờ đấy!” Anh vươn tay về phía tủ trang điểm, nơi có cái dao cạo. Chị gái anh, tuy phải mang cái bụng bầu vướng víu nhưng vẫn rất nhanh nhẹn, lập tức đập cái lược vào tay anh. Anh kêu ré lên, rồi lại ré lên tiếng nữa khi chị túm tóc anh thành một nắm.

“Ngồi yên!” Chị ra lệnh, bắt đầu chia mái tóc thành ba phần dày dặn. “Chị sẽ làm cho em kiểu tóc cockernonny[1] đúng nghĩa,” chị hài lòng tuyên bố. “Chị sẽ không để em tiếp các tá điền với bộ dạng của một kẻ hoang dã đâu.”

Jamie lầm bầm phản đối nhưng vẫn chịu quy thuận đôi bàn tay của chị gái. Chị khéo léo vén những lọn tóc lại, bện thành một bím dày và buộc chặt chúng bằng chỉ. Rồi chị thò tay vào trong túi, lấy ra một sợi ruy răng lụa màu xanh da trời và hồ hởi thắt thành hình nơ bướm.

“Đó!” Chị nói. “Đẹp không?” Chị quay sang hỏi tôi và tôi buộc phải công nhận điều đó. Mái tóc được cột chặt làm mặt mũi anh sáng sủa hẳn lên. Trông anh thật thanh lịch trong chiếc áo vải lanh trắng tinh và cái quần màu xám sạch sẽ, gọn gàng.

“Đặc biệt là sợi ruy băng,” tôi nói, nén cười. “Tiệp với màu mắt của anh ấy.”

Jamie trừng mắt nhìn chị gái.

“Không,” anh cộc lốc nói. “Không ruy băng gì hết. Đây không phải là nước Pháp, cũng không phải triều đình của Vua Geordie! Em không quan tâm liệu nó có màu giống với áo choàng của Đức Mẹ Đồng Trinh hay không. Không ruy băng, Janet!”

“Ồ, được thôi, có thế mà cũng nhặng xị lên! Đó!” Chị tháo sợi ruy băng ra và lùi lại.

“Ầy, ổn rồi đó,” chị hài lòng nói, rồi hướng đôi mắt xanh sắc sảo sang tôi.

“Hừm,” chị nói, gõ nhịp bàn chân với vẻ suy ngẫm.

Vì khi đến đây tôi chỉ có độc một bộ đồ tả tơi trên người nên cần phải may gấp hai cái váy mới; một chiếc bằng vải thô để mặc hằng ngày và một chiếc bằng lụa để dành cho những dịp như thế này. Vốn giỏi khâu vết thương hơn là khâu vá nên tôi chỉ có thể giúp ghim và cắt vải, buộc phải để dành việc vẽ kiểu và may cho Jenny và bà Crook.

Họ đã làm rất tốt, chiếc váy lụa màu hoa anh thảo[2] vừa vặn với thân hình tôi như một chiếc găng tay. Vì tôi dứt khoát không chịu mặc coóc xê nên họ đành miễn cưỡng nhượng bộ và khéo léo gia cố cho phần thân trên của chiếc áo chẽn bằng những cái gọng được gỡ ra từ một cái coóc xê cũ.

Đôi mắt của Jenny chậm rãi nhìn tôi từ chân lên đầu và nán lại ở đó. Với một tiếng thở dài, chị vươn tay lấy cái bàn chải tóc.

“Cả em nữa,” chị nói.

Tôi ngồi xuống, mặt đỏ bừng, lẩn tránh ánh mắt Jamie khi Jenny cẩn thận gỡ vô số cành con cùng lá sồi ra khỏi những lọn tóc xoăn của tôi và đặt chúng xuống cạnh những thứ lấy được từ tóc của em trai chị trên cái bàn trang điểm. Cuối cùng, khi tóc tôi đã được chải xong và búi lên, chị thò tay vào trong túi, lấy ra một cái khăn trùm tóc bằng đăng ten.

“Đó,” chị nói, ghim chặt nó vào búi tóc xoăn của tôi. “Thêm cái khăn trùm tóc, trông em thật đoan trang, Claire.”

Tôi cho rằng đây là một lời khen, và lẩm bẩm gì đó để đáp lời.

“Nhưng em có món trang sức nào không?” Jenny hỏi.

Tôi lắc đầu. “Em e là không. Tất cả những gì em có là chuỗi ngọc trai mà Jamie đã tặng em trong đám cưới của bọn em, và…” Lúc rời khỏi Leoch, tôi đã chẳng nghĩ gì đến nó.

“Ồ!” Jamie thốt lên như thể đột nhiên nhớ ra điều gì. Anh thọc tay vào trong cái túi da đặt trên bàn trang điểm và đắc ý lôi ra chuỗi ngọc trai.

“Anh lấy được nó ở đâu vậy?” Tôi kinh ngạc hỏi.

“Murtagh mang nó đến vào sáng sớm nay,” anh trả lời. “ông ấy đã về Leoch lúc phiên xét xử diễn ra và lấy hết những gì có thể mang đi - vì nghĩ rằng chúng ta sẽ cần đến chúng nếu chúng ta bỏ đi. Ông ấy hy vọng sẽ gặp chúng ta trên đường đến đây nhưng dĩ nhiên là chúng ta đã tới... tới ngọn đồi trước.”

“Ông ấy vẫn còn ở đây à?” Tôi hỏi.

Jamie bước tới đằng sau để đeo chuỗi vòng cho tôi.

“Ừ. Ông ấy đang ở dưới nhà, ăn sạch những gì có trong bếp và quấy rầy bà Crook.”

Ngoài những bài hát, tôi mới chỉ nghe thấy người đàn ông bé nhỏ nhưng dẻo dai ấy nói chưa tới ba chục từ trong suốt quá trình chúng tôi quen biết, và ý nghĩ ông ấy “quấy rầy” ai đó nghe thật phi lý. Hẳn là ông ấy cảm thấy thoải mái như đang ở nhà khi tới Lallybroch.

“Murtagh gì?” Tôi hỏi. “Ý em là, ông ấy có phải là người thân của anh không?”

Jamie và Jenny đều có vẻ ngạc nhiên.

“Ồ, có,” Jenny đáp, quay sang em trai. “Ông ấy là - gì nhỉ, Jamie? Chú của một người em họ xa của cha à?”

“Cháu họ,” anh sửa lại. “Chị không nhớ à? Già Leo có hai con trai, và...”

Tôi đưa hai tay lên bịt tai, tỏ rõ thái độ của mình. Động tác này có vẻ gợi cho Jenny nhớ đến điều gì đó, vì chị vỗ tay đánh đét một cái.

“Hoa tai!” Chị thốt lên. “Chị nghĩ chị có một đôi hoa tai ngọc trai rất hợp với chuỗi vòng cổ này! Chị sẽ đi lấy chúng ngay.” Chị biến mất với tốc độ ánh sáng như thường thấy.

“Tại sao chị anh lại gọi anh là Roy?” Tôi tò mò hỏi, nhìn anh thắt khăn đeo cổ trước gương. Trông anh như đang đánh vật với một kẻ thù truyền kiếp, giống như hầu hết đàn ông mỗi lần phải chỉnh cà vạt, nhưng anh vẫn hé môi cười với tôi.

“Ồ, từ đó... không phải là Roy đâu. Đó là một tên gọi âu yếm trong tiếng Gaelic; chỉ màu tóc của anh. Nó là “ruadh”, có nghĩa là “đỏ”.” Anh phải đánh vần vài lần tôi mới nghe ra sự khác biệt.

“Nghe cứ như roy vậy,” tôi nói, lắc đầu.

Jamie nhấc cái túi da lên và bắt đầu nhét trở lại những món đồ bị rơi ra lúc anh lục tìm chuỗi ngọc trai. Thấy một sợi dây câu bị rối, anh bèn đổ ụp tất cả các thứ bên trong túi lên giường rồi bắt đầu bới móc đống đồ, nỗ lực quấn lại những mẩu dây, tìm những cái lưỡi câu bị rơi ra và cắm chặt chúng vào một mẩu bần mà anh vẫn dùng để cắm chúng. Tôi đi tới bên giường, kiểm tra đống đồ đó.

“Em chưa bao giờ nhìn thấy nhiều rác như thế trong đời,” tôi nhận xét. “Anh là một con quạ gáy xám đáng yêu, Jamie.”

“Đó không phải là rác,” anh nói, cảm thấy bị xúc phạm. “Thứ nào anh cũng dùng đến đấy.”

“Chà, dây câu với lưỡi câu thì không nói làm gì. Cả những sợi dây để giăng bẫy nữa. Thậm chí có thể chiếu cố cho miếng đệm súng và những viên đạn - thi thoảng anh có mang súng mà. Cả con rắn con mà Willie cho anh, em hiểu vì sao anh lại mang nó theo. Nhưng còn những viên đá? Một cái vỏ ốc? Một miếng thủy tinh? Và...” Tôi cúi sát xuống để nhòm vào một khối gì đó tối sẫm, lông lá xồm xoàm.

“Cái gì... Không phải chứ? Jamie, tại sao anh lại mang một cái bàn chân chuột chũi khô trong túi da vậy?”

“Đương nhiên là để tránh bệnh thấp khớp.” Anh giật lấy vật đó ngay dưới mũi tôi và nhét lại vào cái túi da con lửng.

“Ồ, dĩ nhiên rồi,” tôi đồng ý, chăm chú nhìn anh. Mặt anh hơi đỏ vì ngại ngùng. “Hẳn là nó đã có tác dụng; xương khớp của anh chẳng có chỗ nào kêu răng rắc cả.” Tôi nhặt một cuốn Kinh Thánh nhỏ từ đống lộn xộn còn lại lên và giở ra xem trong lúc anh cất nốt những món đồ quý giá của mình.

“Alexander William Roderick MacGregor.” Tôi đọc to cái tên trên trang gác. “Anh nói cậu ta còn một món nợ chưa đòi được, Jamie. Thế nghĩa là thế nào?”

“Ồ, chuyện đó...” Anh ngồi xuống cạnh tôi trên giường, cầm lấy quyền sách nhỏ từ tay tôi và nhẹ nhàng lật giở các trang. “Anh đã kể với em cuốn Kinh Thánh này là của một người tù đã chết ở pháo đài William, đúng không?”

“Vâng.”

“Chính anh cũng không biết cậu ta; khi anh tới đó, cậu ta đã chết được một tháng. Nhưng viên bác sĩ đưa cuốn sách cho anh đã kể về cậu ta trong lúc chăm sóc những vết thương ở lưng anh. Anh nghĩ ông ta cần kể cho ai đó nghe nhưng lại không thể nói với bất cứ người nào trong pháo đài.” Anh gấp cuốn sách lại, đặt nó lên đầu gối và nhìn chằm chằm ra ánh mặt trời tháng Mười rực rỡ ngoài cửa sổ.

Alex MacGregor là một chàng trai khoảng mười tám tuổi, cậu ta đã bị bắt vì một tội thường phạm là ăn trộm gia súc. Với tính tình trầm lặng, lễ phép, sau khi thụ án, cậu ta sẽ được thả ra mà không có vấn đề gì. Tuy nhiên, một tuần trước khi được thả, người ta phát hiện cậu ta đã treo cổ trong chuồng ngựa.

“Bác sĩ nói cậu ta đã tự tử.” Jamie rê ngón tay cái dọc theo tấm bìa da của cuốn sách nhỏ. “Ông ta không nói ra suy nghĩ của mình, chỉ nói rằng trước đó một tuần, Đại úy Randall đã có một cuộc trò chuyện kín với cậu ta.”

Tôi nuốt khan, đột nhiên thấy lạnh toát cho dù ánh nắng ấm áp đang tràn vào.

“Và anh nghĩ...”

“Không.” Giọng anh nhẹ nhàng và chắc chắn. “Không phải nghĩ, mà là biết, và ông bác sĩ cũng biết. Anh cho là viên thượng sĩ cũng biết rõ, đó là lý do hắn phải chết.” Anh xòe hai bàn tay, đặt trên đầu gối, nhìn xuống những khớp ngón tay dài. Bàn tay to lớn, khỏe khoắn và thạo việc; bàn tay của một nông dân, bàn tay của một chiến binh. Anh nhặt cuốn Kinh Thánh nhỏ lên và cất vào trong túi da.

“Nghe này, mo duinne! Một ngày nào đó, Jack Randall sẽ chết dưới tay anh. Khi nào hắn chết, anh sẽ gửi trả cuốn sách này cho mẹ của Alec MacGregor, với lời nhắn rằng con trai bà đã được báo thù.”

Không khí căng thẳng bị phá vỡ khi Jenny đột ngột quay trở lại, cầm trên tay một cái hộp to bằng da dê thuộc màu đỏ đã sờn. Trông chị thật lộng lẫy trong chiếc váy lụa màu xanh dương và chiếc khăn trùm đăng ten.

“Jamie, nhà Curran cùng với Willie Muray và nhà Jeffries đã tới. Em nên xuống ăn bữa sáng lần hai với họ - chị đã dọn ra bánh mỳ bắp nướng vỉ và cá trích muối, còn bà Crook đang làm bánh mứt.”

“Vâng! Claire, lúc nào xong thì xuống nhé!” Anh vội đứng dậy, kéo tôi lại để hôn một cái thật kêu rồi biến mất. Bước chân anh khua cồm cộp trên tầng thang đầu tiên, rồi chậm dần khi xuống tầng thang thứ hai và trở nên điềm tĩnh hơn, thích hợp với một vị lãnh chúa khi gần đến tầng trệt.

Jenny mỉm cười dõi theo anh rồi chuyển sự chú ý sang tôi. Chị đặt cái hộp lên giường, mở nắp ra, phơi bày một đống lộn xộn toàn châu báu và đồ trang sức khiến tôi vô cùng kinh ngạc, bởi vì Jenny Murray - người có đôi bàn tay sắt giữ cho mọi hoạt động trong nhà diễn ra trôi chảy từ lúc bình minh cho đến hoàng hôn - vốn luôn ngăn nắp và gọn gàng.

Chị đảo ngón tay qua đống đồ lộn xộn lấp lánh đó, rồi như thể đọc được suy nghĩ của tôi, chị ngẩng lên và mỉm cười. “Chị cứ nghĩ một ngày nào đó chị sẽ phải sắp xếp lại những món đồ này. Nhưng hồi chị còn nhỏ, thi thoảng mẹ chị lại cho phép chị lục lọi cái hộp của bà, và chị có cảm giác như mình đang tìm thấy một kho báu ma thuật - chị không bao giờ biết mình sẽ nhặt được cái gì tiếp theo. Chị cho là nếu nó được sắp xếp gọn gàng, ma thuật sẽ biến mất. Thật ngớ ngẩn, đúng không?”

“Không,” tôi nói, mỉm cười đáp lại chị. “Chẳng ngớ ngẩn chút nào.”

Chúng tôi chậm rãi lục lọi cái hộp chứa đựng những món đồ được nâng niu của bốn thế hệ phụ nữ.

“Cái này là của bà nội chị,” Jenny nói, giơ lên một cái ghim cài áo bằng bạc hình trăng lưỡi liềm khắc hoa văn chữ triện, trên chóp của nó có một viên kim cương nhỏ bé sáng lấp lánh như một ngôi sao.

“Còn cái này...” Chị lấy ra một chiếc nhẫn vàng mảnh mai, trên đó có đính một viên ruby được bao quanh bởi những hạt kim cương nhiều mặt. “Đây là nhẫn cưới của chị. Ian đã dành nửa năm tiền lương để mua nó, dù chị đã nói với anh ấy rằng anh ấy thật ngớ ngẩn khi làm vậy.” Vẻ trìu mến trên mặt chị cho thấy Ian chẳng xuẩn ngốc chút nào. Chị chùi viên đá quý vào ngực áo và ngắm nghía nó thêm một lần nữa trước khi cất trả vào hộp.

“Chị mong đứa bé chào đời quá,” chị nói, nhăn mặt, vỗ vỗ vào cái bụng tròn. “Các ngón tay của chị sưng vù lên vào mỗi buổi sáng khiến chị không thể tự cài dây váy, nói gì đến việc đeo nhẫn.”

Tôi bắt gặp một tia lấp lánh kỳ lạ phát ra từ một vật không phải kim loại ở dưới đáy hộp và chỉ vào đó. “Cái gì thế?”

“Ồ, cái đó à,” chị nói, lại vọc tay vào trong hộp. “Chị chưa bao giờ đeo chúng; chúng không hợp với chị. Nhưng em thì có thể, em cao và có dáng dấp giống một bà hoàng, hệt như mẹ chị vậy. Chúng là của mẹ chị đấy!”

Đó là một cặp vòng tay bằng ngà lợn lòi cong vút được đánh bóng đến mức ánh lên màu ngà sẫm, hai đầu có khớp nối bằng bạc khắc họa tiết hình mảng.

“Chúa ơi, đẹp quá! Em chưa bao giờ nhìn thấy thứ gì quá... hoang dã đến mức tuyệt vời như vậy.”

Jenny thích thú. “Ừ. Có người đã tặng chúng làm quà cưới cho mẹ chị, nhưng bà chưa bao giờ nói ra đó là ai. Thi thoảng cha chị lại trêu bà về người ngưỡng mộ bí ẩn ấy, nhưng bà không nói gì, chỉ mỉm cười như một con mèo vừa được ăn kem trong bữa tối. Đây, em đeo thử xem!”

Đôi vòng tay bằng ngà lành lạnh và khá nặng. Tôi không kìm được vuốt ve bề mặt vàng sẫm vì nhuốm màu thời gian của chúng.

“Ồ, chúng hợp với em lắm,” Jenny thốt lên. “Và hợp với chiếc váy vàng kia nữa. Hoa tai đây - em đeo vào đi, rồi chúng ta sẽ xuống dưới nhà.”

•••

Murtagh đang ngồi ở bàn ăn, ngốn ngấu miếng giăm bông cắm trên đầu lưỡi dao găm của mình. Bà Crook đi ngang qua sau lưng ông, khéo léo cúi người và sẻ ba chiếc bánh mỳ bắp nướng vỉ nóng hổi vào đĩa của ông mà hầu như không cần phải dừng bước.

Jenny đang hối hả đi đi lại lại, chuẩn bị và quan sát. Chị ngừng lại một thoáng, nhòm qua vai Murtagh để nhìn vào cái đĩa nhanh chóng sạch trơn của ông.

“Bác đừng làm khách nhé!” Chị mỉa mai nói. “Dù gì vẫn còn một con lợn nữa trong bãi quây.”

“Cháu tiếc cả miếng ăn với một người thân đấy à?” Ông hỏi, miệng vẫn không ngừng nhai.

“Cháu ư?” Jenny chống hai tay lên hông. “Trời ơi, không! Dù gì bác cũng mới ăn có bốn món thôi mà. Bà Crook,” chị quay sang gọi bà quản gia đang rời đi, “khi nào chia xong món bánh mỳ bắp nướng vỉ, bà hãy mang đến cho người đàn ông đói khát này một bát cháo yến mạch để lấp đầy cái bụng rỗng nhé! Chúng ta không muốn ông ấy bị ngất xỉu trên bậc thềm.”

Khi Murtagh nhìn thấy tôi đứng ở cửa, ông lập tức bị nghẹn miếng giăm bông.

“Ừmmmm,” ông ậm ừ, như một lời chào, sau khi Jenny vỗ vỗ vào vai ông để giúp ông hết nghẹn.

“Tôi cũng rất vui khi gặp ông,” tôi đáp, ngồi xuống đối diện với Murtagh. “Tiện đây, xin cảm ơn ông!”

“Ừmmmm?” Câu hỏi bị chẹn lại bởi nửa miếng bánh mỳ phết mật ong.

“Vì đã đến lâu đài lấy đồ đạc giúp tôi.”

“Ừmm.” Ông phẩy tay gạt đi lời cảm ơn và với lấy đĩa bơ.

“Tôi đã mang cho cô đám thảo mộc và những thứ tương tự,” ông nói, hất đầu về phía cửa sổ. “Chúng đang ở ngoài sân, trong những cái túi đeo trên yên ngựa của tôi.”

“Ông đã mang hộp thuốc của tôi tới ư? Tuyệt quá!” Tôi cảm thấy vui sướng. Có vài loại thảo dược rất quý hiếm, tôi đã mất không ít công sức để tìm và bào chế chúng.

“Nhưng làm thế nào mà ông lấy được vậy?” Tôi hỏi. Sau khi thoát khỏi nỗi ám ảnh kinh hoàng của phiên tòa xét xử phù thủy, tôi thường thắc mắc những cư dân trong lâu đài đón nhận thế nào về cái tin tôi bất ngờ bị bắt giữ và sau đó là bỏ trốn. “Tôi hy vọng ông không gặp khó khăn gì.”

“Ồ, không.” Ông cắn một miếng to, thong thả đợi nó trôi xuổng cổ họng rồi mới trả lời tiếp.

“Bà Fitz đã cất chúng vào một cái hộp. Tôi tới chỗ bà ấy đầu tiên vì không biết chắc những người khác sẽ đón tiếp mình ra sao.”

“Ông thật sáng suốt! Bà Fitz ắt hẳn sẽ không hét lên khi thấy ông,” tôi đồng ý. Những cái bánh mỳ bắp nướng vỉ thơm lừng đang nhẹ nhàng tỏa khói trong không khí mát mẻ. Tôi vươn tay lấy một cái, khiến cho hai cái vòng bằng ngà lợn lòi nặng nề trên cổ tay va vào nhau lanh canh. Thấy Murtagh dán mắt vào chúng, tôi bèn chỉnh lại chúng để ông có thể nhìn thấy những cái khớp nối bằng bạc được chạm khắc.

“Chúng thật dễ thương, đúng không?” Tôi hỏi. “Jenny nói chúng là của mẹ chị ấy.”

Murtagh cụp mắt xuống bát cháo yến mạch mà bà Crook vừa sỗ sàng dằn mạnh xuống dưới mũi ông.

“Chúng hợp với cô lắm,” ông lầm bầm. Thế rồi, ông đột nhiên quay lại chủ đề lúc nãy. “Không, bà ấy sẽ không gọi người tới cứu khi trông thấy tôi. Tôi thân thiết với Glenna FitzGibbons từ lâu lắm rồi.”

“Ồ, bà ấy có phải là người yêu cũ của ông không?” Tôi cất lời trêu, thích thú trước ý nghĩ phi lý rằng Murtagh được bao bọc trong vòng tay âu yếm của bà Fitz to béo.

Murtagh lạnh lùng ngước nhìn lên từ bát cháo yến mạch.

“Không phải! Phiền cô ăn nói lễ độ khi nhắc đến bà ấy. Chồng bà ấy là em trai của mẹ tôi. Nói cho cô biết điều này nhé, bà ấy đau lòng vì cô lắm đấy!”

Tôi cụp mắt, bối rối, và với lấy lọ mật ong để che giấu nỗi xấu hổ. Cái lọ bằng đá được đặt trong một nồi nước sôi để đun chảy mật ong chứa bên trong, vì vậy nó rất ấm áp khi chạm vào.

“Tôi xin lỗi,” tôi nói, rưới thứ chất lỏng màu vàng ngọt ngào ấy lên chiếc bánh mỳ bắp, cẩn thận quan sát để nó không tràn ra. “Bà ấy có cảm giác thế nào khi... khi tôi...”

“Ban đầu họ không nhận ra là cô đã biến mất,” người đàn ông nhỏ bé thản nhiên nói, chẳng đếm xỉa đến lời xin lỗi của tôi. “Khi cô không tới ăn tối, họ nghĩ có lẽ cô còn nán lại ở ngoài đồng hoặc đã đi ngủ mà không ăn gì; cửa phòng cô đóng mà. Và ngày hôm sau, khi tin tức về việc bắt giữ phu nhân Duncan lan ra, không ai nghĩ đến việc tìm cô. Chẳng ai nhắc đến cô mà chỉ nhắc đến cô ta thôi.”

Tôi tư lự gật đầu. Không ai nhớ đến tôi, trừ những người muốn chữa bệnh; trong thời gian Jamie đi vắng, tôi đã chủ yếu ở lỳ trong thư viện của Colum.

“Còn Colum thì sao?” Tôi hỏi, không chỉ vì tò mò. Có thật là ông ta đã lên kế hoạch cho vụ này như Geilie nghĩ không?

Murtagh nhún vai, quét mắt qua bàn để tìm xem còn đồ ăn không. Khi thấy chẳng có thứ gì khoái khẩu, ông bèn ngả người ra sau, khoan khoái đặt tay lên cái bụng săn chắc.

“Khi tin tức từ ngôi làng truyền đến, ông ta đã cho đóng cổng ngay lập tức và cấm tất cả mọi người trong lâu đài xuống đó, vì sợ họ bị mắc kẹt trong đám hỗn loạn.” Ông ngả người ra xa hơn, trầm ngâm nhìn tôi. “Vào ngày thứ hai, bà Fitz mới nghĩ tới việc đi tìm cô. Bà ấy đã hỏi tất cả các cô hầu gái xem có ai trông thấy cô ở đâu không. Không ai thấy cô cả, nhưng có một cô gái nói là có lẽ cô đã đi xuống làng và trú ở một ngôi nhà nào đó.”

Một cô gái ư? Tôi mỉa mai nghĩ. Đó hẳn là người duy nhất biết rõ tôi ở đâu.

Ông khẽ ợ hơi, chẳng màng kìm nén âm thanh ấy.

“Tôi nghe nói bà Fitz đã lật tung lâu đài lên, và khi không thể tìm thấy cô, bà ấy đã thuyết phục Colum sai một người đàn ông xuống làng. Cuối cùng, khi họ biết được chuyện gì đã xảy ra...” Một vẻ thích thú hiện lên làm khuôn mặt ngăm đen của ông bừng sáng. “Bà ấy không kể chi tiết, nhưng tôi đoán bà ấy đã quấy rầy Colum ghê lắm. Bà ấy cứ lèo nhèo nài nỉ ông ta đem quân đến giải cứu cô, nhưng chẳng có tác dụng gì, vì ông ta cãi lý rằng đã quá muộn để làm điều đó, giờ đây phiên tòa nằm trong tay các thẩm tra viên, vân vân và vân vân. Hẳn phải thú vị lắm,” Murtagh vừa nói vừa ngẫm nghĩ, “khi chứng kiến cảnh tượng hai bộ óc ấy đối chọi nhau.”

Cuối cùng, có vẻ như chẳng ai chiến thắng hay chịu nhượng bộ. Với năng khiếu hòa giải của một luật sư, Ned Gowan đã tìm được giải pháp vừa lòng cả đôi bên, đó là ngỏ ý rằng đích thân ông sẽ tới phiên tòa, không phải với tư cách đại diện của Lãnh chúa mà là một người bào chữa độc lập.

“Bà ấy có nghĩ tôi là phù thủy không?” Tôi tò mò hỏi.

Murtagh thoáng hừ mũi. “Tôi chưa từng thấy bà ấy hay những người trẻ tuổi tin là có phù thủy. Chỉ có đàn ông mới nghĩ rằng phụ nữ có bùa yểm và ma thuật, trong khi đó chỉ là thuộc tính tự nhiên của họ mà thôi.”

“Tôi bắt đầu hiểu tại sao ông không lấy vợ rồi,” tôi nói.

“Thế à?” Ông đột ngột đẩy cái ghế ra sau và đứng lên, kéo cái áo choàng len lên vai.

“Bác đi đây. Gửi lời tới Lãnh chúa giúp bác nhé!” Ông nói với Jenny. Chị đã quay lại sau khi tiếp đón các tá điền ở tiền sảnh. “Hẳn là cậu ấy đang bận.”

Jenny đưa cho ông một túi vải lớn được thắt nút ở miệng, rõ ràng nó chứa đủ thức ăn cho cả một tuần.

“Một chút đồ ăn cho hành trình trở về nhà,” chị nói, nở nụ cười làm hiện rõ lúm đồng tiền. “Đủ để bác lấp đầy bụng ít nhất là cho đến khi đi khuất khỏi điền trang này.”

Ông gọn gàng nhét phần thắt nút của cái túi vào thắt lưng, khẽ gật đầu rồi quay về phía cửa.

“Ừ,” ông nói, “nếu không, cháu sẽ thấy bầy quạ bu lại để nhặt nhạnh xương của bác ở ngay phía bên kia của ngọn đồi đấy.”

“Chúng sẽ kiếm được nhiều xương lắm đây,” chị đùa bỡn, nhìn thân hình khẳng khiu của ông. “Cháu thấy một cái cán chổi còn có nhiều thịt hơn.”

Khuôn mặt Murtagh vẫn nghiêm nghị, nhưng trong mắt ông lóe lên một tia sáng.

“Ồ, thế à?” Ông nói. “Chà, để bác nói cho cháu nghe này ...” Những lời tranh cãi và trêu chọc thân thiện nhỏ dần khi họ đi dọc theo hành lang dài, cuối cùng biến mất trong tiếng ồn ở tiền sảnh.

Tôi ngồi nán lại bên bàn ăn thêm một lúc nữa, vơ vẩn vuốt ve cặp vòng tay bằng ngà ấm áp của Ellen MacKenzie. Khi nghe tiếng cánh cửa đóng sầm lại phía xa xa, tôi lắc lắc đầu và đứng dậy để đảm nhiệm vai trò Lãnh chúa phu nhân của Lallybroch.

•••

Ngày thường vốn đã nhộn nhịp, vào ngày nộp tô, tòa nhà chính còn tấp nập hơn nữa. Các tá điền liên tục đến và đi. Nhiều người chỉ đến trong chốc lát để trả tiền tô; nhưng có vài người ở lại cả ngày, lang thang khắp nơi, trò chuyện với bạn bè, uống rượu và ăn nhẹ trong phòng khách. Jenny, rực rỡ trong chiếc váy lụa màu xanh nước biển, và bà Crook, cứng nhắc trong chiếc váy vải lanh trắng, liên tục chạy đi chạy lại giữa nhà bếp và phòng khách, giám sát hai cô hầu gái bước đi loạng choạng vì phải bê những cái đĩa khổng lồ đựng bánh yến mạch, bánh hoa quả, bánh giòn và những loại đồ ngọt khác.

Sau khi trịnh trọng giới thiệu tôi với các tá điền có mặt trong phòng ăn và phòng khách, Jamie trở về thư phòng với Ian để tiếp từng tá điền một, bàn bạc với họ về những nhu cầu trong vụ gieo trồng mùa xuân, tham khảo ý kiến của họ về tình hình bán len và ngũ cốc, thông báo về các hoạt động của điền trang và sắp đặt các công việc cho quý tiếp theo của năm.

Tôi vui vẻ lượn như đèn cù quanh nơi này, tán gẫu với các tá điền, giúp các cô hầu gái mang đồ ăn thức uống cho khách khi cần, thi thoảng lại đứng dẹp sang một bên để quan sát dòng người qua lại.

Nhớ tới lời hứa của Jamie với bà cụ bên hồ nước ở xưởng xay, tôi có chút tò mò chờ đợi sự xuất hiện của Ronald MacNab.

Anh ta đến vào đầu giờ chiều, cưỡi một con la cao nghều, gầy nhom, với một cậu bé bám vào sau thắt lưng. Tôi lén quan sát họ từ cửa phòng khách, thầm băn khoăn không biết lời đánh giá của mẹ anh ta chính xác đến chừng nào.

Tôi quyết định rằng mặc dù gọi anh ta là “sâu rượu” thì hơi quá nhưng nhìn chung sự mô tả của cụ MacNab là chính xác. Ronald MacNab có mái tóc dài nhờn bết, được buộc cẩu thả bằng dây bện, còn cổ áo và cổ tay áo thì đen sì vì cáu ghét. Tuy trẻ hơn Jamie chừng một, hai tuổi nhưng trông anh ta ít nhất cũng già hơn Jamie đến mười lăm tuổi. Khuôn mặt anh ta sưng vù lên, đôi mắt nhỏ màu xám lờ đờ và vằn tia máu.

Đứa bé cũng bẩn thỉu và lôi thôi lếch thếch như cha nó. Tệ hơn, theo những gì tôi nhận thấy, nó cứ cắm mắt xuống sàn khi bám theo đuôi cha nó và co rúm người mỗi khi Ronald quay lại gắt gỏng với nó. Jamie đang đứng ở cửa thư phòng nên cũng trông thấy cảnh ấy. Anh nhìn Jenny với ánh mắt đầy ẩn ý khi chị mang một bình rượu mới đến theo yêu cầu của anh.

Chị gật đầu nhẹ đến mức hầu như không thể nhận ra và đưa cho anh cái bình thon cổ. Sau đó, chị nắm chặt tay thằng bé, kéo nó về phía nhà bếp. “Đi với ta nào, cậu bé! Có một, hai cái bánh giòn đang đợi chúng ta đấy! Hay cháu thích bánh hoa quả hơn?”

Jamie trịnh trọng gật đầu với Ronald MacNab và đứng tránh sang một bên để nhường lối cho anh ta vào thư phòng. Lúc giơ tay đóng cửa, bắt gặp ánh mắt tôi, anh liền hất đầu về phía nhà bếp. Tôi gật đầu đáp lại, xoay người đi theo Jenny và nhóc Rabbie.

Họ đang vui vẻ trò chuyện với bà Crook trong lúc bà múc rượu punch từ cái vạc lớn vào một cái bát thủy tinh. Rồi bà múc một ít vào cái chén gỗ và đưa cho thằng bé. Nó chần chừ, nhìn bà nghi ngờ, nhưng cuối cùng cũng đỡ lấy cái chén. Jenny tiếp tục hỏi han thằng bé khi chị xếp bánh vào những cái đĩa, và nhận được những tiếng ậm ừ đáp trả. Tuy nhiên, thằng bé có phần hoang dã ấy dường như đang thoải mái hơn một chút.

“Quần áo cháu hơi bẩn đấy, nhóc,” chị nhận xét, cúi người lật cổ áo của nó. “Cởi ra đi, ta sẽ giặt qua nó trước khi cháu về.” Quần áo thằng bé không phải “hơi bẩn” mà là quá bẩn, nhưng thằng bé lùi lại vẻ phòng thủ khi nghe Jenny nói vậy. Tôi đang đứng sau lưng thằng bé nên khi Jenny ra hiệu, tôi liền tóm ngay lấy hai cánh tay nó trước khi nó có thể chạy biến đi.

Nó vùng vẫy và la hét, nhưng Jenny với bà Crook cũng đã xúm vào và cả ba chúng tôi cùng lột chiếc áo bẩn thỉu ra khỏi người nó.

“A!” Jenny hít sâu một hơi. Chị đang kẹp chặt đầu thằng bé dưới cánh tay, cái lưng gầy giơ xương của nó hoàn toàn bị phơi trần. Phần da thịt ở hai bên sống lưng gồ ghề chằng chịt những vết lằn và những vết sẹo đã đóng vảy: vài vết mới lành, vài vết cũ đến nỗi chỉ còn in dấu mờ mờ trên các dẻ xương sườn nhô lên. Jenny giữ chặt gáy thằng bé và nói mấy lời an ủi khi chị thả đầu nó ra. Chị nhìn tôi, hất đầu về phía hành lang.

“Em nên nói cho Jamie nghe.”

Cầm theo một đĩa bánh yến mạch tẩm mật ong để làm cái cớ, tôi rụt rè gõ cửa thư phòng. Trước lời đáp nghe không rõ của Jamie, tôi mở cửa, đi vào phòng.

Vẻ mặt tôi khi đặt đĩa bánh trước mặt MacNab đã nói lên tất cả, vì tôi không phải xin phép để được nói chuyện riêng với Jamie. Anh trầm ngâm nhìn tôi trong giây lát rồi quay sang người tá điền của mình.

“Chà, Ronnie, việc phân lô trồng ngũ cốc thế là ổn rồi, nhưng tôi còn một chuyện muốn nói với anh. Tôi biết anh có một đứa con trai tên là Rabbie, và tôi đang cân một thằng bé có vóc dáng như vậy để giúp việc trong chuồng ngựa. Anh có đồng ý cho nó tới đây làm không?” Những ngón tay dài của Jamie vẩn vơ nghịch cái bút lông ngỗng trên bàn. Ngồi ở một cái bàn nhỏ hơn bên cạnh, Ian chống cằm nhìn chằm chằm vào MacNab với vẻ hứng thú không che đậy.

MacNab trừng mắt vẻ thù địch. Tôi nghĩ anh ta có vẻ tức tối, cáu kỉnh như một người không say nhưng ước là mình say.

“Không, tôi cần thằng nhỏ,” anh ta nói cộc lốc.

“Ừm.” Jamie nằm ườn ra trên ghế, hai bàn tay xếp chồng lên nhau đặt trên bụng. “Đương nhiên là tôi sẽ trả anh tiền công của nó.”

MacNab thay đổi tư thế, càu nhàu: “Mẹ tôi đã tới nói chuyện với ngài, đúng không? Tôi nói không đồng ý là không đồng ý. Thằng bé là con tôi, tôi sẽ làm những gì mà tôi cảm thấy là phù hợp với nó. Và tôi thấy cần phải giữ nó ở nhà.”

Jamie tư lự nhìn MacNab, rồi cắm cúi xem sổ sách mà không bàn cãi thêm nữa.

Chiều muộn, khi các tá điền tới phòng ăn và phòng khách để ăn uống trước khi ra về, tôi chợt nhìn thấy Jamie qua cửa sổ. Anh đang thân mật khoác vai anh chàng MacNab bẩn thỉu, thong thả đi về phía chuồng lợn, có lẽ để kiểm tra thứ gì đó quan trọng liên quan đến việc nhà nông. Hai người biến mất đằng sau chuồng lợn chừng vài phút rồi lại trở ra, đi về phía tòa nhà chính.

Cánh tay Jamie vẫn nằm trên vai người đàn ông thấp hơn mình, nhưng bây giờ tư thế của nó giống như đang dìu đỡ anh ta. Mặt MacNab xám ngoét, bóng loáng vì mồ hôi, và anh ta bước đi rất chậm, có vẻ như không thể đứng thẳng người dậy suốt chặng đường về.

“Chà, tốt lắm!” Jamie vui vẻ thốt lên lúc họ lọt vào tầm nghe của tôi. “Chắc là vợ anh sẽ rất mừng vì có thêm một khoản tiền, đúng không, Ronald? A, con la của anh đây rồi - một con vật xinh đẹp, nhỉ?” Con la già chở hai cha con MacNab đến đây đang lê bước quanh sân, tận hưởng lòng hiếu khách của nơi này. Một búi cỏ khô thòi ra từ cái miệng đang nhai nhồm nhoàm của nó.

Jamie chìa tay cho MacNab giẫm lên để giúp anh ta leo lên lưng con la; sự giúp đỡ ấy có vẻ vô cùng cần thiết. MacNab không nói gì, cũng không vẫy tay đáp lại lời chúc liến thoắng “cầu Chúa phù hộ cho anh” và “đi đường bình an” của Jamie, chỉ đờ đẫn gật đầu khi anh ta rời khỏi sân, như thể đang mải nghĩ đến một vấn đề bí mật nào đó.

Jamie đứng tựa vào hàng rào, đùa bỡn với các tá điền khác đang trên đường về nhà cho đến khi hình dáng lôi thôi lếch thếch của MacNab khuất dạng sau đỉnh đồi. Anh đứng thẳng người lên, nhìn chằm chằm vào con đường rồi ngoảnh mặt lại và huýt sáo. Một thân hình nhỏ bé mặc chiếc áo khoác đã sờn nhưng sạch sẽ và chiếc váy ố màu bò ra từ gầm chiếc xe chở cỏ khô.

“Chà, nhóc Rabbie,” Jamie vui vẻ nói. “Có vẻ như cha cậu đã cho phép cậu làm việc trong chuồng ngựa của ta rồi. Ta chắc chắn cậu sẽ chăm chỉ và làm vẻ vang cho cha mình, phải vậy không?” Đôi mắt tròn xoe, đỏ ngầu trên khuôn mặt bẩn thỉu của thằng bé lặng lẽ ngước lên nhìn, và nó chẳng trả lời gì cả cho đến khi Jamie vươn tay, nhẹ nhàng siết vai nó, xoay nó về phía máng ăn cho ngựa.

“Bữa tối đang chờ cậu trong bếp đấy nhóc, nhưng trước hết hãy đi tắm rửa một chút đã; bà Crook là một người phụ nữ khó tính. À, Rabbie này” - anh cúi xuống thì thầm với thằng bé - “nhớ để ý đến đôi tai, nếu không bà ấy sẽ xử lý chúng giúp cậu đấy. Sáng nay bà ấy đã kỳ cọ tai ta.” Anh đặt hai bàn tay ra sau tai và vẫy vẫy, khiến thằng bé nở nụ cười ngại ngùng và chạy biến về phía máng ăn cho ngựa.

“Em rất mừng vì anh đã làm được,” tôi nói, khoác tay Jamie để đi ăn tối. “Ý em là về chuyện của cậu nhóc Rabbie MacNab. Nhưng anh đã làm cách nào vậy?”

Anh nhún vai. “Đưa Ronald tới nhà ủ bia và đấm một, hai cú vào những chỗ nhạy cảm của hắn, hỏi hắn rằng hắn muốn chia tay với con trai hay với buồng gan của mình.” Anh nhìn tôi, cau mày “Anh biết làm thế là không đúng, nhưng anh không thể nghĩ ra cách nào khác. Anh không muốn thằng bé về nhà với hắn. Không chỉ vì anh đã hứa với bà nội nó. Jenny đã mách anh về tấm lưng của thằng bé.” Anh ngập ngừng. “Cha anh thường xuyên đánh anh vì ông nghĩ anh cần bị trừng phạt, dù với anh thì như thế là hơi nhiều, nhưng anh không co rúm lại mỗi khi ông nói chuyện với anh. Và anh không nghĩ một ngày nào đó, nhóc Rabbie sẽ nằm trên giường với vợ nó và cười cợt về chuyện ấy.”

Anh so vai, cái kiểu nhún vai nửa chừng kỳ lạ mà hàng tháng trời nay tôi không thấy anh làm. “Hắn nói đúng, thằng bé là con trai hắn, hắn có thể làm gì nó tùy thích. Và anh không phải là Chúa Trời; anh chỉ là một lãnh chúa thôi, với quyền năng hạn hẹp hơn hẳn. Tuy nhiên...” Anh nhìn tôi, nở nụ cười nửa miệng. “Công lý và sự tàn bạo chỉ cách nhau một lằn ranh rất mỏng manh, Sassenach ạ! Anh chỉ hy vọng mình đã đặt chân đúng chỗ.”

Tôi choàng tay ôm quanh eo anh.

“Anh đã làm đúng, Jamie.”

“Em nghĩ vậy à?”

“Vâng!”

Chúng tôi lững thững ôm eo nhau đi về phía ngôi nhà. Tòa nhà quét vôi trắng ánh lên màu hổ phách trong bóng hoàng hôn. Nhưng thay vì vào nhà, Jamie đẩy tôi đi lên cái gò nhỏ đằng sau nó. Ở đây, ngồi trên thanh chắn cao nhất của cái hàng rào bao quanh một cánh đồng, chúng tôi có thể nhìn thấy toàn bộ trang viên trải ra trước mắt.

Tôi ngả đầu lên vai Jamie và thở dài. Anh nhẹ nhàng siết tôi.

“Anh được sinh ra để làm lãnh chúa, đúng không Jamie?”

“Có lẽ vậy, Sasenach.” Anh nhìn ra các cánh đồng, các tòa nhà, các trại nhỏ và các con đường, rồi nhìn tôi, bất chợt cười xòe.

“Còn em, Sassenach của anh? Em được sinh ra để làm gì? Để làm bà chủ của một trang viên hay để ngủ trên những cánh đồng như dân Di gan? Để làm một thầy thuốc, một mệnh phụ phu nhân hay vợ của một kẻ sống ngoài vòng pháp luật?”

“Em được sinh ra để dành cho anh.” Tôi chỉ đơn giản nói và chìa tay ra với anh.

“Em biết không,” anh nói khi cuối cùng cũng buông tôi ra, “em chưa bao giờ nói vậy.”

“Anh cũng thế.”

“Anh đã từng nói rồi. Sau ngày chúng ta đến đây. Anh đã nói anh muốn có em hơn bất cứ thứ gì.”

“Và em cũng đã nói rằng yêu và ham muốn không giống nhau,” tôi phản bác.

Anh cười. “Có lẽ em đúng đấy, Sassenach.” Anh gạt một lọn tóc ra khỏi mặt tôi và hôn lên trán tôi. “Anh muốn có em ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy em, nhưng anh yêu em từ lúc em khóc trong vòng tay anh và để cho anh an ủi em, khi chúng ta mới đến Leoch.”

Mặt trời lặn xuống bên dưới rặng thông đen, những ngôi sao đầu tiên bắt đầu xuất hiện. Giờ đã là giữa tháng Mười một, dù ban ngày trời đẹp nhưng đến tối, không khí lại trở nên lạnh giá. Đứng ở phía bên kia hàng rào, Jamie cúi đầu, áp trán vào trán tôi.

“Em trước.”

“Không, anh trước.”

“Tại sao?”

“Em sợ.”

“Sợ gì, Sassenach của anh?” Bóng tối đang bủa vây khắp các cánh đồng, lan đầy mặt đất và dâng lên để đón màn đêm. Ánh trăng lưỡi liềm mới mọc rọi chiếu lên những đường nét gồ ghề ở trán và mũi anh.

“Em sợ rằng nếu em bắt đầu, em sẽ không bao giờ dừng lại được.”

Anh liếc nhìn về phía chân trời, nơi vầng trăng lưỡi liềm đang lơ lửng. “Gần đến mùa đông rồi, đêm sẽ dài lắm, mo duinne.” Anh cúi người qua hàng rào, vươn tay ra, và tôi bước xuống, ngã vào vòng tay anh, cảm nhận hơi ấm trên cơ thể và nhịp đập của trái tim anh.

“Em yêu anh.”

[1] Tên một kiểu tóc cua Scotland.

[2] Màu vàng nhạt.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.