Sáng hôm sau, như thường lệ, tôi tới kiểm tra Jamie, hy vọng rằng anh đã ăn được chút gì đó. Khi tôi gần đến phòng anh, Murtagh bỗng trườn ra khỏi một hốc tường, chắn đường tôi.
“Có chuyện gì vậy?” Tôi hỏi cộc lốc. “Có gì không ổn à?” Tim tôi bắt đầu đập thình thịch và lòng bàn tay đột nhiên ướt sũng.
Nỗi hoảng loạn của tôi hẳn là rõ ràng lắm, vì Murtagh lắc đầu trấn an. “Không, cậu ấy ổn.” Ông nhún vai. “vẫn như cũ.” Ông nhẹ nhàng đặt tay dưới khuỷu tay tôi, xoay tôi lại và bắt đầu dẫn tôi đi ngược lại hành lang. Tôi thoáng kinh ngạc vì đây là Lần đầu tiên Murtagh chủ động chạm vào tôi; bàn tay ông nhẹ nhàng và khỏe như cánh bồ nông vậy.
“Có chuyện gì xảy ra với anh ấy thế?” Tôi hỏi. Khuôn mặt nhăn nheo của người đàn ông nhỏ bé vẫn không có lấy một chút biểu cảm như vốn dĩ, nhưng khóe mắt thì nhăn lại.
“Cậu ấy chưa muốn gặp cô,” ông nói.
Tôi dừng sững lại và giằng tay ra khỏi tay ông.
“Tại sao lại không?” Tôi hỏi.
Murtagh ngập ngừng, như thể đang cẩn thận lựa chọn từ ngữ. “Chà, đó là vì... cậu ấy quyết định rằng tốt nhất cô nên để cậu ấy ở lại đây và trở về Scotland. Cậu ấy...”
Ông còn chưa nói dứt lời, tôi đã thô bạo xô ông ra để chạy tới phòng anh.
Cánh cửa nặng nề đóng sập lại đằng sau tôi. Jamie đang ngủ, mặt úp xuống giường. Anh không đắp chăn, chỉ mặc một chiếc áo của tu sĩ tập sự; lò than ở trong góc khiến căn phòng ấm áp dễ chịu, dẫu có hơi ngột ngạt vì khói.
Anh giật nảy mình khi tôi chạm vào anh. Đôi mắt sâu thẳm vẫn đờ đẫn vì ngái ngủ, và khuôn mặt anh vẫn còn vương nét sợ hãi từ những giấc mơ. Tôi cầm lấy tay anh bằng cả hai bàn tay mình, nhưng anh giật tay ra. Với một vẻ gần như tuyệt vọng, anh nhắm mắt và vùi mặt xuống gối.
Cố gắng không để lộ nỗi lo âu, tôi lặng lẽ kéo một cái ghế đẩu và ngồi xuống gần đầu anh. “Em sẽ không chạm vào anh đâu,” tôi nói, “nhưng anh phải nói chuyện với em.” Tôi đợi vài phút trong lúc anh nằm bất động, vai khom lại phòng thủ. Cuối cùng, anh thở dài rồi ngồi dậy, thả chân xuống giường, động tác chậm chạp và đau đớn.
“Ừ,” anh nói một cách dứt khoát, không hề nhìn tôi. “Ừ, anh cho là anh phải nói chuyện với em. Đáng lẽ anh phải làm thế từ trước... nhưng anh đã quá hèn nhát.” Giọng anh đầy vẻ cay đắng và anh cứ cúi đầu, đôi bàn tay ôm hờ hai đầu gối. “Trước đây, anh chưa bao giờ nghĩ mình là kẻ đớn hèn như thế này. Đáng lẽ anh phải để cho Randall giết chết mình, nhưng anh lại không thể. Anh chẳng có lý do gì để sống, nhưng anh không đủ can đảm để chết.” Giọng anh nhỏ đi đến nỗi tôi hầu như không thể nghe thấy. “Và anh biết anh sẽ phải gặp em một lần cuối... để nói với em... nhưng... Claire, tình yêu của anh... ôi, tình yêu của anh.”
Anh nhấc cái gối lên, ôm vào lòng như để che chở mình, thay thế cho niềm an ủi mà anh không tìm được từ tôi. Rồi anh gục đầu vào nó trong một thoáng để lấy lại sự mạnh mẽ.
“Khi em rời khỏi anh ở Wentworth, Claire,” anh khẽ nói, đầu vẫn cúi gục, “anh đã lắng nghe tiếng bước chân em đi xa dần trên những phiến đá ở bên ngoài và tự nhủ, bây giờ mình sẽ nghĩ về cô ấy. Mình sẽ nhớ cô ấy; làn da, mùi tóc và nụ hôn. Mình sẽ nghĩ về cô ấy cho đến khi cánh cửa kia lại mở ra. Và mình sẽ nghĩ về cô ấy vào ngày mai, khi mình đứng trên giá treo cổ, để tiếp thêm sự can đảm cho bản thân. Khoảng thời gian giữa lúc cánh cửa này mở ra và lúc mình rời khỏi nơi này để đi đến cái chết” - hai bàn tay to lớn siết chặt trong giây lát rồi lại nới lỏng - “mình sẽ không nghĩ gì cả,” anh khẽ khàng kết thúc.
Trong căn phòng nhỏ dưới địa lao, anh đâ ngồi nhắm mắt chờ đợi. Anh không cảm thấy quá đau đớn chừng nào anh còn ngồi im, nhưng anh biết chẳng mấy chốc tình hình sẽ trở nên tồi tệ hơn. Mặc dù sợ hãi nỗi đau đớn nhưng trước đây anh đã phải đối mặt vóị nó quá thường xuyên. Anh biết rõ nó như thế nào và cũng biết rõ phản ứng của mình với nó đủ để sẵn sàng cắn răng chịu đựng, chỉ hy vọng nó sẽ không sớm làm mình kiệt sức. Giờ đây viễn cảnh bị xâm hại thân thể cũng không đến nỗi đáng sợ lắm. Nỗi tuyệt vọng đúng là một liều thuốc tê hiệu quả.
Trong phòng không có cửa sổ để phán đoán thời gian. Lúc anh được đưa tới địa lao thì đã là xế chiều, nhưng cảm nhận về thời gian của anh không được tốt lắm. Còn bao nhiêu giờ đồng hồ nữa thì đến bình minh, khi mọi chuyện kết thúc? Sáu, tám, hay mười tiếng nữa? Anh tự giễu rằng ít nhất Randall cũng ban cho anh đặc ân đón chào cái chết.
Khi cánh cửa mở ra, anh đã ngẩng lên, mong đợi - điều gì? Chỉ có một người đàn ông điển trai, mảnh khảnh, hoi xốc xếch với chiếc áo sơ mi vải lanh bị rách và mái tóc rối bù đứng tựa vào cánh cửa gỗ, quan sát anh.
Sau một thoáng, Randall lẳng lặng băng ngang căn phòng và đến đứng bên cạnh Jamie, đặt tay lên cổ anh trong giây lát rồi cúi xuống giật cây đinh ở bàn tay anh khiến anh đau đớn đến suýt ngất xỉu. Hắn đặt một ly brandy trước mặt anh và bàn tay rắn chắc của hắn ngửa đầu anh lên, giúp anh uống nó.
“Thế rồi hắn dùng cả hai tay nâng mặt anh lên để liếm những giọt brandy trên môi anh. Anh muốn rụt lại, nhưng vì đã trót thề với hắn nên đành ngồi yên.”
Randall ôm đầu Jamie trong một thoáng, nhìn xoáy vào mắt anh rồi buông anh ra và ngồi lên cái bàn ở bên cạnh.
“Hắn ngồi đó một lúc, không nói năng gì, chỉ đung đưa một bên chân. Anh không biết hắn muốn gì nhưng cũng chẳng buồn đoán. Anh mệt mỏi và cảm thấy hơi nôn nao vì bàn tay đau đớn. Vì vậy, sau một lúc, anh gục đầu xuống hai cánh tay và ngoảnh mặt đi.” Anh thở dài nặng nề. “Một lát sau, một bàn tay đặt lên đầu anh, nhưng anh không cử động. Hắn bắt đầu nhẹ nhàng vuốt tóc anh. Trong phòng chẳng có âm thanh nào ngoài tiếng thở khàn khàn của hắn và tiếng lửa lép bép trong lò than, và anh nghĩ... anh nghĩ anh đã ngủ thiếp đi trong giây lát.”
Khi anh tỉnh lại, Randall đang đứng trước mặt anh.
“Cậu cảm thấy khá hơn chút nào chưa?” Randall hỏi với giọng lãnh đạm, lịch thiệp.
Jamie không nói gì, chỉ gật đầu và đứng dậy Randall cởi quần áo của anh, hết sức cẩn thận với bàn tay bị thương, và dẫn anh lên giường.
“Anh đã thề sẽ không chống cự, nhưng anh cũng không có ý định hợp tác, vì vậy anh cứ đứng im như tượng. Anh nghĩ anh sẽ để hắn làm những gì hắn thích, nhưng anh sẽ không hưởng ứng - anh sẽ giữ khoảng cách với hắn, ít nhất là trong tâm tưởng.”
Bấy giờ, Randall mỉm cười và nắm lấy bàn tay phải của Jamie, mạnh đến nỗi khiến anh ngã phịch xuống giường, nôn nao và hoa mắt chóng mặt vì cơn đau đột ngột ập đến. Randall quỳ xuống sàn trước mặt anh, và chỉ trong vài phút choáng váng đã dạy cho anh biết rằng khoảng cách đó chỉ là một ảo tưởng.
“Khi hắn đứng lên, hắn cầm lấy con dao và rê nó ngang qua ngực anh. Vết rạch không sâu nhưng cũng hơi rỉ máu. Hắn nhìn mặt anh trong một thoáng rồi giơ ngón tay lên, quệt vào vết máu đó.” Giọng Jamie run run, thi thoảng lại bị vấp. “Hắn liếm ngón tay, giống như một con m-mèo đang tự liếm mình. Hắn khẽ cười - rất âu yếm - rồi cúi xuống ngực anh. Anh không hề bị trói, nhưng anh không thể cử động. Anh chỉ... ngồi yên đó, trong lúc hắn dùng lưỡi để... Anh không thấy đau, nhưng cảm giác rất kỳ quái. Một lúc sau, hắn đứng dậy và lấy khăn tay lau miệng kĩ càng.”
Tôi nhìn bàn tay của Jamie. Vì anh ngoảnh mặt đi nên nó là thứ chỉ ra rõ nhất những cảm xúc của anh. Bàn tay anh run rẩy siết chặt mép giường khi anh tiếp tục kể.
“Hắn... hắn nói với anh rằng... anh thật ngon lành. Vết rạch gần như đã ngừng chảy máu, nhưng hắn cầm lấy khăn tay và chà mạnh lên ngực anh để làm vết thương toác ra.” Các khớp ngón tay của bàn tay đang siết chặt trở nên trắng bệch. “Hắn cởi quần mình và bôi máu lên người hắn, và nói giờ đến lượt anh.”
Sau đó, Randall giữ đầu anh và giúp anh nôn, rồi nhẹ nhàng dùng khăn ướt lau mặt cho anh và đưa cho anh ly brandy để súc miệng. Và rồi, luân phiên thay đổi giữa hung bạo và dịu dàng, dùng nỗi đau đớn làm vũ khí, hắn đã từng chút một phá hủy toàn bộ rào cản của tâm trí và thể xác.
Tôi muốn ngăn Jamie lại, muốn nói với anh rằng anh không cần phải kể tiếp, anh không được kể tiếp, nhưng đành cắn chặt môi để ngăn mình nói ra và siết hai bàn tay vào nhau để ngăn mình chạm vào anh.
Anh tiếp tục kể cho tôi nghe phần còn lại. Những cú quất roi chậm rãi và thong thả xen lẫn những nụ hôn. Những vết bỏng đau đớn đến kinh hoàng đánh thức anh khỏi tình trạng bất tỉnh mà anh mong mỏi để đối mặt với những hành vi suy đồi khủng khiếp hơn. Anh ngắc ngứ kể hết với tôi, thi thoảng lại rớt nước mắt, khiến tôi khó lòng chịu đựng, nhưng tôi vẫn lặng lẽ lắng nghe anh như một giáo sĩ nghe xưng tội. Anh liếc tôi một cái rồi mau chóng đánh mắt nhìn đi chỗ khác.
“Anh có thể chịu đựng đau đớn, dù nỗi đau ấy khủng khiếp đến mức nào. Anh đã lường trước mình sẽ bị... lạm dụng, và anh nghĩ anh cũng có thể chịu đựng điều đó. Nhưng anh không thể... anh... hắn...”
Tôi bấm chặt móng tay vào lòng bàn tay để gắng sức giữ yên lặng. Anh run rẩy mất một lúc rồi lại cất tiếng, giọng khàn khàn nhưng rất điềm tĩnh.
“Hắn không chỉ làm anh đau, hoặc lạm dụng anh. Hắn làm tình với anh, Claire ạ! Hắn làm anh đau đớn - đau đớn khủng khiếp, nhưng đối với hắn, đó là một hành động yêu đương. Và hắn bắt anh đáp lại hắn - gã đốn mạt! Hắn bắt anh có phản ứng với hắn!” Bàn tay anh co lại và đấm vào khung giường với một nỗi thịnh nộ bất lực khiến cả chiếc giường rung lên.
“Lần... đầu tiên, hắn rất chu đáo với anh. Hắn xoa dầu khắp người anh rất lâu... nhẹ nhàng chạm vào tất cả các bộ phận của anh. Anh không thể ngăn mình có phản ứng với hắn, cũng như anh không thể ngăn mình chảy máu khi hắn tra tấn anh.” Giọng Jamie nghe mệt mỏi, đau khổ và tuyệt vọng. Anh ngừng lại và lần đầu tiên nhìn thẳng vào tôi kể từ lúc tôi bước vào đây.
“Claire, anh đã không muốn nghĩ về em. Anh không thể chịu đựng được việc mình trần truồng nằm đó, trong tình cảnh... như thế... mà lại nhớ đến việc yêu em. Thật báng bổ! Anh muốn quét sạch em ra khỏi tâm trí, và chỉ... tồn tại, chừng nào anh còn phải tồn tại. Nhưng hắn không cho phép điều đó.” Những giọt nước lấp lánh trên má anh, nhưng lúc này anh không khóc. “Hắn nói chuyện. Suốt lúc đó, hắn nói chuyện với anh. Lúc thì đe dọa, lúc lại là những lời lẽ yêu đương, nhưng chủ yếu là nói về em.”
“Em ư?” Vì im lặng quá lâu nên giọng tôi nghẹn ứ, nghe chẳng khác gì tiếng quàng quạc của một con quạ.
Anh gật đầu, lại nhìn xuống gối.
“Ừ. Hắn ghen với em vô cùng, em biết không?”
“Không, không, em không biết.”
Anh lại gật đầu. “Ồ, đúng vậy đấy. Hắn hỏi anh - trong lúc chạm vào anh: “Cô ta có làm thế này với cậu không? Người đàn bà của cậu có k-kích thích cậu như thế này không?”” Giọng anh run rẩy. “Anh không trả lời hắn - anh không thể. Và rồi, hắn hỏi anh nghĩ em sẽ cảm thấy thế nào khi thấy anh... thấy anh...” Anh cắn chặt môi, không thể tiếp tục mất một lúc.
“Hắn gây đau đớn cho anh, rồi dừng lại và âu yếm anh cho đến khi anh bắt đầu phản ứng... rồi sau đó hắn lại làm anh đau đớn dữ dội và cưỡng đoạt anh giữa lúc anh đau đớn nhất ấy. Suốt lúc đó, hắn nói chuyện với anh, và cứ nhắc đến em để hình ảnh em hiển hiện trước mắt anh. Anh chống cự trong tâm trí... anh cố gắng ngăn cách mình với hắn, cố gắng tách rời tâm trí với thể xác, nhưng nỗi đau cứ bừng lên, hết lần này đến lần khác, vượt qua mọi rào cản mà anh có thể dựng lên. Anh đã cố gắng, Claire ạ - Chúa ơi, anh đã rất cố gắng, nhưng...”
Anh vùi đầu vào hai bàn tay, các ngón tay bấu mạnh vào thái dương, rồi đột ngột nói: “Anh biết tại sao anh chàng Alex MacGregor lại treo cổ tự tử. Anh cũng sẽ làm như vậy nếu anh không biết đó là trọng tội. Hắn có thể đọa đày anh trong cuộc sống này, nhưng hắn sẽ không làm được như vậy trên thiên đường.” Anh thoáng im lặng trong lúc cố gắng kiểm soát bản thân. Tôi nhận thấy chiếc gối trên đầu gối anh loang lổ vết ẩm ướt, và định đứng dậy đổi nó cho anh. Anh chậm rãi lắc đầu, vẫn nhìn chằm chằm xuống chân.
“Bây giờ tất cả đều khiến anh liên tưởng đến chuyện đó. Anh không thể không có cảm giác sợ hãi, đau đớn và nôn nao khi nghĩ về em, Claire, ngay cả khi nghĩ đến việc hôn em hay chạm vào tay em. Khi nằm đây, anh có cảm giác rằng mình sẽ chết nếu không được em chạm vào, nhưng khi em chạm vào anh, anh lại cảm thấy như mình sẽ nôn mửa vì xấu hổ và căm ghét chính mình. Thậm chí bây giờ khi anh nhìn em, anh không thể không...” Trán anh gục vào hai nắm tay đang siết chặt, các khớp ngón tay ấn mạnh vào hai hốc mắt. Những đường gân ở cổ anh hiện lên rõ rệt vì căng thẳng, và giọng anh trở nên nghẹn ngào.
“Claire, anh muốn em rời xa anh. Hãy trở về Scotland, tới Craigh na Dun. Trở về chỗ của em, với... chồng của em. Anh đã dặn Murtagh đưa em đi an toàn.” Anh im lặng trong một thoáng, và tôi không cử động.
Anh lại dồn hết dũng khí để ngẩng đầu lên, nói rất đơn giản.
“Chừng nào còn sống thì anh còn yêu em, nhưng anh không thể làm chồng của em được nữa. Tuy nhiên, anh cũng không thể không làm chồng của em được.” Cảm xúc trên mặt anh bắt đầu vỡ òa. “Claire, anh muốn em nhiều đến nỗi toàn thân anh run rẩy, nhưng cầu Chúa phù hộ cho anh, anh sợ phải chạm vào em!”
Tôi dợm tới bên anh nhưng anh đột ngột giơ tay ngăn tôi lại. Anh nửa cúi xuống, mặt nhăn nhó vì sự đấu tranh nội tâm, giọng nghèn nghẹn và hổn hển.
“Claire... làm ơn! Làm ơn đi đi! Anh sắp bị nôn rồi, và anh không muốn em nhìn thấy. Làm ơn!”
Nghe thấy sự van vỉ trong giọng anh, tôi biết rằng ít nhất tôi phải giữ thể diện cho anh lần này. Tôi nhổm dậy, và lần đầu tiên trong cuộc đời làm y tá của mình, tôi bỏ mặc một người bệnh tự mình xoay xở, bất lực và cô đơn.
•••
Tôi lẳng lặng rời khỏi phòng anh và tựa người vào bức tường đá trắng ở bên ngoài, áp hai gò má đỏ bừng vào những khối đá cứng rắn để làm chúng dịu đi, chẳng buồn bận tâm đến ánh mắt chằm chằm của Murtagh và Thầy William. Cầu Chúa phù hộ cho anh, anh đã nói, cầu Chúa phù hộ cho anh, anh sợ phải chạm vào em.
Tôi đứng thẳng dậy. Chà, tại sao lại không nhỉ? Chắc chắn là sẽ chẳng còn ai khác có thể giúp tôi cả.
•••
Vào thời khắc khi thời gian bắt đầu chậm lại, tôi quỳ gối ở lối đi giữa hai hàng ghế của nhà nguyện St. Giles. Cha Anselm đang ở đó, bờ vai thanh mảnh thẳng băng bên dưới chiếc áo choàng tu, ngoài ra không có ai khác. Ông không cử động hay nhìn xung quanh, nhưng sự tĩnh lặng sống động của nhà nguyện bủa vây lấy tôi.
Tôi quỳ gối một lúc trong bóng tối yên ả, kiềm chế tâm trí đang rối bời. Chỉ khi cảm thấy trái tim mình đập chậm dần theo nhịp điệu của màn đêm, tôi mới lẩn vào một chỗ ngồi gần phía cuối nhà nguyện.
Tôi ngồi cứng đờ, không biết phải làm thế nào để bắt đầu cuộc trò chuyện với Đấng Thiêng Liêng. Cuối cùng, tôi nói, lặng lẽ và cộc lốc: Con cần giúp đỡ. Làm ơn!
Thế rồi tôi để sự tĩnh mịch bao trùm lấy mình như những làn sóng, quấn quanh tôi như những nếp gấp áo choàng, bao bọc tôi trước cái lạnh. Và tôi chờ đợi, như Anselm đã nói, và từng phút từng giây lặng lẽ trôi qua.
Cuối nhà nguyện có một cái bàn nhỏ phủ vải lanh, trên đó có chậu nước thánh, bên cạnh là một cuốn Kinh Thánh và hai, ba tác phẩm truyền cảm hứng khác. Chắc là để dành cho những tín đồ không chịu nổi sự tĩnh lặng.
Tôi cũng bắt đầu không chịu nổi, vì vậy tôi đứng dậy và cầm lấy quyển Kinh Thánh, mang nó tới chỗ cái ghế cầu kinh. Tôi không phải là người đầu tiên cầu viện đến cách bói kinh[1] này trong thời điểm khó khăn và bối rối. Anh sáng từ các ngọn nến đủ để giúp tôi đọc được, tôi cẩn thận lật các trang sách mỏng manh và nheo mắt trước những dòng chữ in đen.
“... Và Người gieo rắc cho chúng bệnh trĩ, khiến chúng rất đau đớn.[2] “Chắc chắn là đau rồi, tôi nghĩ. Bệnh trĩ là cái gì cơ chứ! Thử Thánh thi xem nào.
“Nhưng tôi là một con trùng, nào phải là người... Tôi bị đổ ra như nước, xương cốt rã rời: tim tôi giống như sáp; tan chảy trong người.” Chà, một lời chẩn đoán khá đấy, tôi nghĩ, có chút sốt ruột. Nhưng có cách điều trị nào không?
“Nhưng đừng xa tôi, thưa Đức Chúa: Ôi sức mạnh của tôi, xin hãy giúp tôi! Hãy giải cứu linh hồn tôi khỏi gươm đao; và mạng sống tôi khỏi loài chó.” Hừm!
Tôi chuyển sang Sách Job, cuốn sách yêu thích của Jamie. Chắc chắn nó có đủ tư cách để đưa ra lời khuyên hữu ích...
“Nhưng da thịt người sẽ đau đớn, và linh hồn người sẽ than khóc.” Ừm, phải, tôi nghĩ, và giở sang trang khác.
“Người bị trừng phạt bằng nỗi đau đớn trên giường, đau đến thấu xương... Thịt người tiêu hao, không còn nhìn thấy nữa; và xương người, trước chẳng thấy được, giờ lại lộ ra.” Tốt lắm, tôi nghĩ. Tiếp theo là gì?
“Linh hồn người bị kéo gần đến huyệt mộ, và sinh mạng người bị lôi đến những kẻ hành hình.” Không tốt lắm, nhưng phần tiếp theo có tính khích lệ hơn. “Nếu bên cạnh người có một sứ giả, một người truyền giải được chọn giữa nghìn người, để chỉ dạy người biết điều ngay thẳng vậy thì ngài mở lượng từ bi với người và phán: Thôi tha cho nó khỏi phải xuống huyệt mộ, ta đã tìm thấy sự cứu chuộc cho nó rồi. Da thịt nó sẽ tươi tắn hơn da thịt một đứa trẻ: nó sẽ trở lại tuổi thanh xuân.” Sự cứu chuộc ấy là gì mà có thể cứu rỗi được linh hồn của một người và giải cứu được tính mạng tôi khỏi loài chó?
Tôi gấp sách và nhắm mắt lại. Những lời lẽ vừa rồi lẫn vào nhau và nhòe đi trong tâm trạng khẩn trương của tôi. Nỗi đau đớn tột độ giáng vào tôi khi tôi nói ra tên của Jamie. Tuy nhiên, vẫn có một chút bình yên, nhẹ nhõm khi tôi lặp đi lặp lại: “Thưa Đức Chúa, con xin giao phó vào tay người linh hồn bầy tôi của người - James.”
Tôi chợt nảy ra ý nghĩ rằng có lẽ Jamie chết đi thì tốt hơn; anh đã nói anh muốn chết. Tôi chắc chắn nếu tôi rời khỏi anh, như anh mong muốn, chẳng bao lâu nữa anh sẽ chết thôi, vì hậu quả của cuộc tra tấn và tình trạng ốm yếu hoặc bị treo cổ hay tử nạn trong một trận chiến. Và rõ ràng anh cũng biết điều đó. Tôi có nên làm theo lời anh nói không? Quỷ tha ma bắt tôi đi nếu tôi làm vậy, tôi tự nhủ. Quỷ tha ma bắt tôi đi nếu tôi làm vậy, tôi nhấn mạnh với chiếc bình thánh hình mặt trời trên ban thờ và lại mở sách ra.
Mất một lúc tôi mới ý thức được rằng chuỗi thỉnh cầu của mình không còn là độc thoại nữa. Thực ra, tôi chỉ biết được điều này khi nhận ra mình vừa trả lời một câu hỏi mà tôi không nhớ là mình đã hỏi. Trong trạng thái nhập định, tôi đã được hỏi điều gì đó mà tôi cũng không rõ là gì, và đã trả lời không cần suy nghĩ: “Vâng.”
Tôi đột ngột ngừng mọi suy nghĩ, lắng nghe sự im lặng đang ngân lên. Và rồi, thận trọng hơn, tôi âm thầm lặp lại: “Vâng, vâng” và nghĩ nhanh, Những yếu tố cấu thành tội lỗi là: thứ nhất, ta hoàn toàn nhận thức được hành vi sai trái mà mình phạm phải... Và đó cũng là điều kiện để xuất hiện lòng vị tha, giọng nói âm thầm của Cha Anselm vang vọng bên tai tôi.
Tôi có cảm giác, tuy không đột ngột nhưng trọn vẹn, rằng tôi đã được ban cho một vật thể nhỏ vô hình để nắm giữ trong lòng bàn tay. Quý giá như ngọc mắt mèo, nhẵn như ngọc bích, nặng như một viên đá ở bờ sông, và mỏng manh hơn một quả trứng chim. Vô cùng tĩnh lặng nhưng sống động như gốc rễ của vạn vật. Không phải một món quà, mà là một sự gửi gắm. Để yêu thương mãnh liệt và dịu dàng che chở. Những lời ấy tự nói ra và biến mất trong bóng tối của mái vòm nhọn.
Tôi quỳ gối trước ban thờ rồi rời khỏi nhà nguyện, không hề nghi ngờ rằng, trong khoảnh khắc vĩnh hằng khi thời gian ngừng lại, tôi đã có được một câu trả lời, nhưng không biết câu trả lời đó là gì. Tôi chỉ biết rằng thứ tôi nắm giữ là linh hồn của một con người; của tôi hay của ai khác, tôi không thể khẳng định được.
•••
Có vẻ đó không phải là sự hồi đáp cho lời cầu nguyện của tôi, khi tôi tỉnh giác vào sáng hôm sau và thấy một tu sĩ cần vụ đang đứng bên cạnh chỗ tôi nằm, nói với tôi rằng Jamie đang sốt hầm hập.
“Anh ấy bị sốt như vậy bao lâu rồi?” Tôi hỏi, thành thạo sờ lên trán, lưng, nách và bẹn anh. Không có dấu vết của mồ hôi; chỉ có làn da khô nẻ nóng hừng hực. Anh đang thức, nhưng mắt nặng trĩu và đờ đẫn. Nguyên nhân gây ra cơn sốt thật rõ ràng. Bàn tay phải bị thương của anh sưng vù, một chất lỏng có mùi hôi rỉ ra thấm đẫm lớp băng quấn. Có những vệt sọc đỏ đáng ngại chạy ngược lên cổ tay. Nhiễm trùng máu, tôi nghĩ.
“Tôi thấy cậu ấy như vậy khi tôi đến thăm cậu ấy sau lễ cầu kinh buổi sáng,” viên tu sĩ cần vụ đã tới tìm tôi đáp. “Tôi đã cho cậu ấy uống nước, nhưng cậu ấy bắt đầu nôn mửa ngay khi trời tảng sáng,”
“Đáng lẽ thầy nên gọi tôi ngay,” tôi nói. “Nhưng đừng lo! Hãy mang cho tôi nước nóng, lá mâm xôi và gọi Thầy Polydore, càng nhanh càng tốt.”
Ông ta lập tức rời đi, hứa hẹn sẽ mang cả bữa sáng đến cho tôi, nhưng tôi phẩy tay gạt đi và với lấy bình nước.
Lúc Thầy Polydore đến, tôi đã thử cho Jamie uống nước nhưng anh nôn thốc nôn tháo nên tôi đành chuyển sang dấp nước ở bên ngoài bằng cách nhúng ướt các mảnh vải và quấn hờ chúng trên làn da nóng hầm hập.
Đồng thời, tôi nhúng bàn tay bị nhiễm trùng của anh vào nước sôi có độ nóng trong ngưỡng chịu đựng được. Vì thiếu các loại xun-pha-mít[3] hoặc thuốc kháng sinh hiện đại nên cách duy nhất để chống lại sự nhiễm khuẩn là gia tăng thân nhiệt. Do đó cơ thể người bệnh mới sốt cao, nhưng bản thân cơn sốt lại rất có hại, vì nó làm yếu cơ và tổn hại đến các tế bào não. Vì vậy, thủ thuật cần thiết là làm nóng cục bộ với nhiệt lượng vừa đủ để chặn đứng tình trạng nhiễm trùng, trong khi phần còn lại của cơ thể cần được làm mát để ngăn ngừa sự tổn hại và giữ ẩm để duy trì chức năng bình thường của nó. Quả là một việc vô cùng khó khăn, tôi chán nản nghĩ.
Giờ đây tôi chẳng còn bận tâm đến trạng thái tinh thần hay sự khó chịu về thể xác của Jamie nữa. Điều quan trọng nhất là nỗ lực hết sức để giúp anh sống sót cho đến khi tình trạng nhiễm trùng và cơn sốt chấm dứt.
Vào buổi chiều ngày thứ hai, anh bắt đầu gặp ảo giác. Chúng tôi trói anh vào giường bằng những miếng vải mềm để ngăn anh lao xuống sàn. Cuối cùng, để hạ sốt, tôi phải dùng đến biện pháp liều lĩnh là nhờ một tu sĩ cần vụ ra ngoài xúc một giỏ tuyết để lèn quanh người anh. Kết quả là anh run rẩy dữ dội đến mức cạn kiệt sức lực, nhưng cơ thể anh cũng nhanh chóng hạ nhiệt.
Rủi là phương pháp ấy phải được lặp lại hằng giờ. Đến chiều tối, căn phòng trông như một đầm lầy với những vũng tuyết tan trên sàn nhà, đống chăn đệm ướt nhẹp ụ lên giữa chúng như những búi cỏ, và những luồng hơi nước giống như khí mê tan bốc lên từ lò than trong góc. Thầy Polydore và tôi cũng ướt sũng vì mồ hôi lạnh cóng vì nước tuyết tan và gần như kiệt sức, mặc dù có sự trợ giúp đáng kể của Cha Anselm và các tu sĩ cần vụ. Các loại thảo mộc giúp giảm sốt như hoa nón, hải cẩu vàng[4], bạc hà mèo, và bài hương đều đã được thử mà không có tác dụng. Trà vỏ cây liễu gai có thể có kết quả bởi nó có chứa acid salicylic, nhưng vì anh không thể uống nhiều nên cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì.
Trong một lần tỉnh táo hiếm hoi, Jamie đòi tôi để mặc anh chết. Tôi trả lời cộc lốc như đêm hôm trước: “Quỷ tha ma bắt nếu em đồng ý,” và tiếp tục với việc mình đang làm.
Lúc mặt trời lặn, có một đoàn người kéo đến. Cửa mở và Tu viện trưởng - bác Alex của Jamie - bước vào, theo sau là Cha Anselm và ba tu sĩ khác, trong đó có một người mang một cái hộp nhỏ bằng gỗ tuyết tùng. Tu viện trưởng tới chỗ tôi và nhanh chóng làm dấu cầu phúc cho tôi, rồi cầm lấy bàn tay tôi.
“Chúng ta sẽ xức dầu cho thằng bé,” ông nói, giọng trầm ấm. “Đừng sợ!”
Ông quay về phía giường, và tôi hoảng hốt nhìn Cha Anselm để chờ nghe giải thích.
“Bí tích Xức dầu thánh,” ông tới gần tôi, nhỏ nhẹ giải thích để không làm ảnh hưởng đến các tu sĩ đang tụ tập quanh giường. “Xức dầu lần cuối.”
“Xức dầu lần cuối! Đó là nghi lễ dành cho những người sắp chết mà!”
“Suỵt!” Ông kéo tôi ra xa giường hơn. “Nó có thể được gọi một cách thích hợp hơn là Xức dầu người bệnh, dù thực tế nó thường được dành cho những người cận kề cái chết.” Các tu sĩ đã nhẹ nhàng xoay Jamie nằm ngửa lại, rồi điều chỉnh tư thế để hai bờ vai bị thương của anh ít đau đớn nhất.
“Bí tích này có hai mục đích,” Cha Anselm tiếp tục thì thầm bên tai tôi khi các tu sĩ chuẩn bị cho nghi lễ. “Thứ nhất, nó là một bí tích chữa lành; chúng ta cầu nguyện cho người bệnh khỏe mạnh trở lại, nếu đó là ý Chúa. Dầu thánh được coi là biểu tượng của sự sống và chữa lành.”
“Còn mục đích thứ hai?” Tôi hỏi, dù đã biết.
Cha Anselm gật đầu. “Nếu ý Chúa không muốn cho cậu ấy hồi phục, vậy thì cậu ấy được xá tội, và chúng ta giao phó cậu ấy cho Chúa, linh hồn cậu ấy có thể rời đi trong yên bình.” Nhìn thấy tôi siết chặt nắm tay vẻ phản đối, ông bèn đặt tay lên cánh tay tôi.
“Đây là những nghi thức cuối cùng của giáo hội. Cậu ấy được quyền hưởng chúng, và được quyền hưởng sự bình yên mà chúng có thể mang lại cho cậu ấy.”
Việc chuẩn bị đã xong. Jamie nằm ngửa, một mảnh vải đắp lên chỗ thắt lưng. Những ngọn nến được thắp sáng ở đầu và chân giường khiến tôi rùng mình nghĩ đến những ngọn đèn trong hầm mộ. Tu viện trưởng Alexander ngồi bên giường, đứng cạnh ông là một tu sĩ bê một cái khay đựng bình nước thánh có nắp đậy, hai cái chai nhỏ bằng bạc đựng nước thánh và dầu thánh, và trên mỗi cẳng tay vắt một cái khăn màu trắng. Giống như một gã hầu rượu chết tiệt, tôi bực bội nghĩ. Cả cái nghi thức này khiến tôi vô cùng khó chịu.
Nghi lễ được thực hiện bằng tiếng Latin, những lời rì rầm đối đáp bên tai nghe thật êm dịu, dù tôi không hiểu hết ý nghĩa của chúng. Cha Anselm khẽ giải thích cho tôi ý nghĩa của một vài chỗ; những chỗ còn lại thì đã quá rõ ràng. Có lúc, Tu viện trưởng ra hiệu cho Thầy Polydore bước tới và gí một cái bình nhỏ vào dưới mũi Jamie. Chắc là nó chứa dung dịch a-mô-ni-ắc hoặc một chất kích thích nào đó, bởi vì anh giật mình và quay ngoắt đầu đi, dù mắt vẫn nhắm.
“Tại sao họ lại cố đánh thức anh ấy?” Tôi thì thầm.
“Nếu có thể, đối tượng nên tỉnh táo để đồng ý rằng cậu ấy hối hận vì bất cứ tội lỗi nào phạm phải trong cuộc đời. Hơn nữa, Tu viện trưởng sẽ ban cho cậu ấy Thánh thể nếu cậu ấy có đủ sức để nhận nó.”
Tu viện trưởng khẽ vuốt má Jamie, xoay đầu anh lại chỗ cái lọ nhỏ, khẽ nói chuyện với anh. Ông đã chuyển từ tiếng Latin sang thứ tiếng Anh nặng giọng địa phương của gia đình họ, và giọng ông nghe thật dịu dàng.
“Jamie! Jamie? Ta là Alex đây. Ta đang ở đây với con. Con phải tỉnh táo một chút, chỉ một chút thôi. Bây giờ ta sẽ ban cho con sự xá tội, và sau đó là Thánh thể của Đức Chúa. Uống một ngụm đi, để con có thể trả lời ta khi cần.” Thầy Polydore kề cái cốc bên môi Jamie, cẩn thận đổ từng giọt nước vào miệng anh, cho đến khi cái lưỡi và cái cổ họng khô rát của anh có thể đón nhận nhiều hơn. Anh mở mắt, đôi mắt anh vẫn còn nặng trĩu vì cơn sốt, nhưng đủ lanh lợi.
Tu viện trưởng tiếp tục hỏi các câu hỏi bằng tiếng Anh, nhưng giọng ông thấp đến nỗi tôi hầu như không thể nghe thấy. “Con có phản đối Quỷ Satan và những việc làm của hắn không?” “Con có tin vào sự phục sinh của Đức Chúa Jesus không?”, vân vân. Đối với mỗi câu hỏi, Jamie đều trả lời “Có” bằng giọng khào khào.
Sau khi thánh thể đã được ban, Jamie nằm xuống, thở dài và nhắm mắt lại. Tôi có thể nhìn thấy xương sườn anh khi cái lồng ngực lõm sâu phập phồng theo từng nhịp thở. Anh đã yếu đi một cách đáng sợ từ lúc bị nôn mửa đến lúc lên cơn sốt. Tu viện trưởng lần lượt cầm lọ nước thánh và dầu thánh, làm dấu thánh giá trên cơ thế anh, xức dầu lên trán, môi, mũi, tai và mí mắt anh. Tiếp đó, ông xức dầu lên hõm ngực anh, bên trên chỗ trái tim, rồi đến hai lòng bàn tay và hai lòng bàn chân. Ông nhấc bàn tay bị thương của anh lên hết sức cẩn thận, nhẹ nhàng quét dầu lên chỗ bị thương và đặt bàn tay trở lại ngực Jamie, ngay bên dưới vết dao rạch.
Việc xức dầu diễn ra vô cùng nhẹ nhàng và nhanh chóng, với ngón tay cái của Tu viện trưởng thoăn thoắt di chuyển. “Đúng là trò mê tín,” lý trí trong tôi nói vậy, nhưng tôi xúc động sâu sắc bởi vẻ trìu mến trên mặt các tu sĩ khi họ cầu nguyện. Jamie lại mở mắt, nhưng rất điềm tĩnh, và Lần đầu tiên khuôn mặt anh mang nét bình yên kể từ lúc chúng tôi rời khỏi Lallybroch.
Nghi lễ kết thúc với một lời cầu nguyện ngắn bằng tiếng Latin. Tu viện trưởng đặt bàn tay lên đầu Jamie, nói bằng tiếng Anh: “Thưa Đức Chúa, chúng con xin giao phó vào tay Người linh hồn bầy tôi của Người, James. Chúng con cầu xin Người chữa lành cho cậu ấy, nếu đó là ý định của Người, và tiếp thêm sức mạnh cho linh hồn cậu ấy, để cậu ấy được hưởng ơn phước ngập tràn, và biết đến sự bình yên của người nơi cuộc sống vĩnh hằng.”
“Amen,” các tu sĩ khác đáp lời. Và tôi cũng vậy.
•••
Đến tối, bệnh nhân lại rơi vào trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Khi Jamie yếu đi, chúng tôi phải cố gắng hết sức mới có thể đánh thức anh dậy để cho anh uống chút nước cầm hơi. Đôi môi anh khô nẻ, và anh không còn nói chuyện được nữa, dù anh vẫn mở đôi mắt đờ đẫn khi bị lay mạnh. Anh không còn nhận ra chúng tôi; đôi mắt anh nhìn chằm chằm, rồi dần dần nhắm lại khi anh quay đầu đi, rên rỉ.
Tôi đứng bên giường nhìn anh, vì đã quá mệt mỏi nên tôi chỉ còn cảm thấy một nỗi tuyệt vọng chán chường. Thầy Polydore chạm nhẹ vào tôi, kéo tôi ra khỏi tình trạng ngơ ngẩn.
“Bây giờ cô cũng chẳng làm được gì hơn cho cậu ấy,” ông nói, kiên quyết dẫn tôi đi. “Cô phải đi nghỉ thôi.”
“Nhưng...” tôi định nói rồi lại thôi, vì nhận ra rằng ông nói đúng. Chúng tôi đã làm tất cả những gì có thể. Nếu cơn sốt không sớm dứt, Jamie sẽ chết. Ngay cả cơ thể khỏe mạnh nhất cũng không thể chịu đựng quá một, hai ngày sự tàn phá ngốn ngấu của một cơn sốt cao, huống hồ Jamie chẳng còn mấy hơi sức để vượt qua một sự vây hãm như thế.
“Tôi sẽ ở bên cậu ấy,” Thầy Polydore nói. “Đi ngủ đi! Tôi sẽ gọi cô nếu...” Ông không nói hết câu, chỉ nhẹ nhàng phẩy tay về phía phòng tôi.
Tôi nằm thao thức trên giường, nhìn chằm chằm lên trần nhà. Hai mắt tôi khô nóng và cổ họng đau rát, như thể tôi cũng đang bị sốt. Câu trả lời cho lời cầu nguyện của tôi là cả hai chúng tôi sẽ cùng chết ở đây hay sao?
Cuối cùng, tôi nhổm dậy, cầm lấy cái bình và cái chậu trên chiếc bàn cạnh cửa. Tôi đặt cái chậu gốm nặng trịch ở giữa sàn và cẩn thận rót đầy nó, để cho nước dềnh lên đến tận mép chậu.
Tôi mở những gói nhỏ đựng thảo mộc mà tôi đã ghé qua lấy ở phòng làm việc của Thầy Ambrose trên đường về phòng mình và rắc chung vào lò than, một làn khói mỏng thơm ngát tỏa ra từ đám lá có nhựa thơm, và từ những mảnh long não vụn bùng lên vô số lưỡi lửa nhỏ xíu xanh lè giữa những thỏi than đỏ rực.
Tôi đặt cái giá đõ nến đằng sau chậu nước rồi ngồi xuống trước mặt nó để chuẩn bị gọi hồn.
•••
Hành lang bằng đá lạnh và tối, được thắp sáng từng quãng bởi ánh đèn dầu lờ mờ treo trên trần. Bóng tôi đổ về đằng trước khi tôi đi qua bên dưới mỗi ngọn đèn, kéo dài ra cho đến khi nó có vẻ lộn nhào và biến mất trong bóng tối trước mặt.
Bất chấp cái lạnh, tôi đi chân trần và mặc độc một chiếc váy ngủ bằng vải cotton thô màu trắng. Sự lạnh lẽo từ các phiến đá trườn lên chân tôi.
Tôi gõ cửa một lần, hết sức khẽ khàng, và đẩy mở cánh cửa nặng hê mà không đợi ai mời vào.
Thầy Roger đang ngồi cúi đầu, Tân tràng hạt bên giường anh. Chuỗi tràng hạt bằng gỗ có treo cây thánh giá kêu lách cách khi ông ngẩng lên, nhưng đôi môi ông vẫn tiếp tục lặng lẽ mấp máy trong vài giây, kết thúc bài kinh Ave Maria trước khi chào tôi.
Ông ra tận cửa để đón tôi và nói rất khẽ, dù rõ ràng ông có hét lên thì cũng chẳng ảnh hưởng gì đến thân hình đang nằm bất động trên giường.
“Không có gì thay đổi. Tôi vừa rót nước mới vào chậu rửa tay.” Vài giọt nước ánh lên trên vỏ cái ấm thiếc nhỏ mới được đổ đầy đặt trên lò than.
Tôi gật đầu và đặt tay lên cánh tay ông, tỏ ý cảm ơn. Cánh tay ông ấm áp và rắn chắc đến đáng kinh ngạc so với những hình ảnh mà tôi đã cố hình dung ra trong một tiếng đồng hồ vừa qua, và phần nào đó khiến tôi có cảm giác được an ủi.
“Tôi muốn ở riêng bên anh ấy, nếu thầy không phiền.”
“Dĩ nhiên rồi. Tôi sẽ tới nhà nguyện - hay là tôi nên ở gần đây phòng khi...” Giọng ông nhỏ dần, ngập ngừng.
“Không cần đâu.” Tôi cố mỉm cười trấn an ông. “Thầy cứ tới nhà nguyện, hoặc tốt hơn hết là đi nghỉ đi! Tôi không ngủ được; tôi sẽ ở đây cho đến sáng mai. Nếu cần giúp đỡ, tôi sẽ gọi thầy.”
Ông liếc mắt về phía chiếc giường, vẫn còn nghi ngại. Nhưng đã khuya lắm rồi, và ông cũng đã mệt mỏi; bên dưới đôi mắt nâu tử tế của ông hiện rõ những quầng thâm.
Bản lề của cánh cửa nặng nề kêu rít lên, thế rồi chỉ còn lại một mình tôi với Jamie. Đơn độc, sợ hãi, và vô cùng hoài nghi về những gì tôi sắp làm.
Tôi đứng ở chân giường, quan sát anh trong một thoáng. Căn phòng được chiếu sáng lờ mờ bởi ánh lửa từ lò than và hai cây nến khổng lồ, mỗi cây cao gần một mét, đặt trên cái bàn kê sát tường. Anh không mặc gì, và ánh sáng yếu ớt càng tôn lên những vết hõm, hậu quả để lại của cơn sốt tai hại. Vết bầm đa sắc trên hai mạng sườn giống như một loại nấm đang lan rộng trên da anh.
Người hấp hối thường có vẻ xanh xao. Ban đầu, sự xanh xao ấy chỉ xuất hiện một chút ở quai hàm, rồi lan dần khắp mặt và xuống tới ngực khi sinh lực bắt đầu cạn kiệt. Tôi đã nhìn thấy điều này nhiều lần. Có vài lần, tôi thấy quá trình chết chóc đó ngừng lại và đảo ngược, làn da lại trở nên hồng hào, và người bệnh sống lại. Thường thì... Tôi lắc đầu lia lịa và ngoảnh đi.
Tôi đặt lên bàn những món đồ mà tôi đã thu thập được lúc ghé vào phòng làm việc tối om của Thầy Ambrose. Một lọ dung dịch a-mô-ni-ắc. Một gói oải hương khô. Một gói rễ nữ lang. Một cây hương kim loại nhỏ, có hình dáng như một bông hoa nở. Hai viên thuốc phiện có mùi thơm ngọt ngào và dấp dính vì nhựa. Và một con dao.
Căn phòng kín và ngột ngạt vì khói từ lò than. Cánh cửa sổ duy nhất được phủ một tấm thảm thêu nặng nề, miêu tả cảnh hành quyết Thánh Sebastian. Tôi nhìn vào khuôn mặt ngẩng cao và bộ ngực bị tên bắn của vị thánh ấy, tự hỏi lại lần nữa rằng người chọn tấm thảm này để trang trí cho một căn phòng bệnh có phải là người có thần kinh bình thường không.
Tuy nhiên, tấm thảm thêu được làm từ len và lụa này chặn lại được hầu hết những cơn gió lùa mạnh nhất. Tôi nhấc mép dưới của nó lên và phẩy phẩy, xua khói than ra ngoài qua khung cửa tò vò bằng đá. Không khí lạnh lẽo và ẩm ướt lùa vào mang lại cảm giác tươi mát, xoa dịu phần nào hai bên thái dương đang giần giật của tôi. Tình trạng này đã xuất hiện từ lúc nãy, khi tôi nhìn chằm chằm vào mặt nươc để tập trung hồi tưởng lại.
Đằng sau tôi vang lên một tiếng rên khe khẽ, và Jamie trở mình trong đống chăn đệm. Tốt lắm! Vậy là anh không bị hôn mê sâu.
Buông tấm thảm thêu xuống, tôi cầm lấy cây hương và gắn một trong hai viên thuốc phiện lên đầu nhọn của nó rồi châm lửa từ một dây nến sáp đang cháy. Tôi đặt nó lên cái bàn nhỏ gần đầu Jamie, cẩn thận không để mình hít phải những luồng khói gây buồn nôn ấy.
Không có nhiều thời gian nữa. Tôi phải nhanh chóng sửa soạn xong trước khi khói thuốc phiện ngấm sâu khiến anh khó tỉnh lại được.
Tôi cởi mặt trước chiếc váy ngủ và nhanh chóng xoa những nắm oải hương và rễ nữ lang lên cơ thể mình. Chúng có mùi quyến rũ, dễ chịu, đặc trưng và khơi gợi. Với tôi, chúng gợi lên hình bóng của người đàn ông xức mùi hương này, và hình bóng của người đàn ông đằng sau anh; hai hình bóng ấy hòa lẫn vào nhau, khơi lên những hình ảnh về nỗi kinh hoàng hiện tại và một tình yêu đã mất. Còn với Jamie, đây là thứ mùi gợi nhớ lại những giờ phút đau đớn và thịnh nộ. Tôi xoa mạnh phần còn lại giữa hai lòng bàn tay và thả những mảnh vụn thơm ngát ấy rơi lả tả xuống sàn.
Tôi hít một hơi sâu để lấy can đảm, nhặt lọ dung dịch a-mô-ni-ắc lên, rồi đứng bên giường một lúc, nhìn xuống khuôn mặt hốc hác, lún phún râu. Cùng lắm anh chỉ có thế cầm cự được một ngày; có khi chỉ một vài giờ nữa.
“Nào, đồ con hoang người Scot quái quỷ,” tôi khẽ nói. “Để xem ngươi cứng đầu đến mức nào.” Tôi nhấc bàn tay bị thương của anh lên và đặt đĩa nước nóng sang một bên, nước nhỏ tong tỏng từ bàn tay ướt sũng.
Tôi mở lọ dung dịch a-mô-ni-ắc và huơ huơ sát mũi anh. Anh xì mũi và cố gắng ngoảnh đầu đi, nhưng vẫn không mở mắt. Tôi bấm các ngón tay vào sau đầu anh để ngăn anh ngoảnh đi, và lại đưa cái lọ tới trước mặt anh. Anh chậm rãi lắc lắc đầu như một con bò đang ngủ bị đánh thức, và mở hé mắt.
“Chưa xong đâu, Fraser,” tôi thì thầm vào tai anh, cố gắng hết sức để bắt chước giọng điệu của Randall.
Jamie rên rỉ và so vai. Tôi nắm lấy cả hai vai anh và lắc thật mạnh. Da anh nóng đến nỗi tôi suýt thì buông anh ra.
“Dậy đi, đồ con hoang người Scot! Ta chưa xong việc với ngươi đâu!”
Anh bắt đầu gắng gượng chống khuỷu tay nhổm dậy với một nỗ lực đáng thương khiến lòng tôi đau như cắt. Đầu anh vẫn lắc qua lắc lại, đôi môi khô nẻ lẩm bẩm lặp đi lặp lại điều gì đó nghe như “Làm ơn đừng!”.
Vì sức khỏe đã suy yếu nên anh đổ nhào sang một bên, úp mặt xuống gối. Căn phòng bắt đầu lấp đầy khói thuốc phiện và tôi cảm thấy khá chóng mặt.
Tôi nghiến răng, thọc bàn tay vào giữa hai mông anh, ngoáy một vòng. Anh thét lên một tiếng the thé và đau đớn lăn sang một bên, cuộn tròn người lại, hai bàn tay nắm chặt giữa hai chân.
Ban nãy, tôi đã ngồi bên chậu nước cả tiếng đồng hồ để khơi gợi các ký ức. Về Jack Randall Hắc ám và về Frank, người chắt đời thứ sáu của hắn. Hai người đàn ông rất khác nhau nhưng lại có nhiều nét tương đồng đáng kinh ngạc về ngoại hình.
Tôi đau đến xé lòng khi nghĩ về Frank, nhớ lại khuôn mặt, giọng nói, phong thái và cách làm tình của anh. Tôi đã cố tẩy xóa anh ra khỏi đầu mình sau sự lựa chọn ở vòng tròn đá, nhưng anh vẫn luôn là một hình bóng mờ ảo trong đáy sâu tâm trí tôi.
Tôi cảm thấy đau khổ vì đã phản bội anh, nhưng trong lúc cấp bách, tôi đã ép đầu óc mình tỉnh táo lại theo cách Geilie đã dạy tôi, tập trưng vào ngọn lửa nến, hít thở hương vị gay gắt của các loại thảo mộc, tự trấn tĩnh mình cho đến khi tôi có thể gợi lên hình ảnh của anh, nhìn thấy những đường nét trên gương mặt anh, cảm nhận được sự ve vuốt của bàn tay anh mà không òa khóc.
Từ nơi những cái bóng đang đan xen còn có một người đàn ông nữa, với đôi bàn tay ấy, khuôn mặt ấy. Với đôi mắt đong đầy ánh nến, tôi cũng đã kéo hắn ra đằng trước, lắng nghe, quan sát, xem xét những điểm giống nhau và khác nhau, dựng lên một... một cái gì nhỉ? Một bản sao. Một nhân vật. Một hình tượng. Một sự mô phỏng. Một khuôn mặt tối sẫm, một giọng nói thì thào, và một sự ve vuốt yêu đương đủ để lừa dối một thần trí đang mơ màng. Cuối cùng, tôi đã rời khỏi phòng mình với lời cầu nguyện dành cho linh hồn của phù thủy Geillis Duncan.
Jamie đang nằm ngửa, quằn quại vì đau đớn. Hai mắt anh cứ nhìn trân trối vô hồn, không nhận biết được điều gì.
Tôi mơn trớn anh theo cái cách mà tôi đã quá quen thuộc, lần từ xương ức đến lưng theo đường nét của các rẻ xương sườn, nhẹ nhàng giống hệt Frank, và ấn mạnh lên vết bầm đau đón, một việc mà tôi chắc chắn là kẻ kia sẽ làm. Tôi cúi xuống, chầm chậm rê lười quanh tai anh, nếm và thăm dò, thì thầm: “Đánh trả ta đi! Đánh trả đi, đồ đuôi cụt bẩn thỉu!”
Cơ bắp anh căng cứng và quai hàm anh nghiến chặt, nhưng anh vẫn tiếp tục nhìn chằm chằm lên trần. Vậy là không có sự lựa chọn. Rốt cuộc tôi sẽ phải dùng đến con dao. Tôi biết việc này thật liều lĩnh, nhưng thà tôi tự tay giết anh còn hơn ngồi yên nhìn anh chết.
Tôi cầm lấy con dao trên bàn và xoáy mạnh vào ngực anh, dọc theo vết sẹo mới lành. Anh hít sâu một hơi vì sốc và ưỡn người lên. Tôi nhanh chóng vớ lấy một cái khăn để bịt lên vết thương. Trước khi có thể chùn tay, tôi ép mình lướt các ngón tay trên ngực anh, quệt một ít máu và xoa mạnh lên môi anh. Có một cụm từ mà tôi không phải sáng tạo ra, bởi vì tôi đã được chính tai nghe thấy. Tôi cúi xuống anh, thì thầm: “Giờ thì hôn ta đi!”
Tôi hoàn toàn không lường được điều này. Anh ấn tôi mạnh đến nỗi khiến tôi bật ngửa người ngang qua nửa căn phòng khi anh nhổm dậy khỏi giường. Tôi lảo đảo và ngã vào bàn, khiến những cái giá đỡ nến khổng lồ lung lay. Những cái bóng lao vào nhau, chập chà chập chờn khi những bấc nến bùng cháy và tắt ngúm.
Lưng tôi va mạnh vào mép bàn, nhưng tôi kịp đứng dậy để né tránh khi anh lao vào tôi. Với một tiếng gầm gừ không rõ ràng, anh đuổi theo tôi, hai tay dang rộng.
Anh vừa nhanh vừa khỏe hơn tôi tưởng, dù anh bước đi loạng choạng vụng về, hết va vào thứ nọ lại đụng phải thứ kia. Anh dồn tôi vào giữa lò than và cái bàn. Tôi có thể nghe tiếng thở khào khào của anh khi anh tóm lấy tôi. Anh dùng tay trái đấm vào mặt tôi; nếu sức khỏe và phản xạ của anh giống như lúc bình thường, tôi hẳn đã bị cú đâm đó giết chết rồi. Thay vì thế, tôi kịp né sang một bên, và cú đấm của anh sượt qua trán tôi, khiến tôi ngã xuống sàn, có chút choáng váng.
Tôi bò xuống dưới gầm bàn. Vì vươn tay ra để tóm tôi nên anh mất thăng bằng và vấp vào lò than. Những thỏi than hồng bắn tung tóe khắp sàn đá của căn phòng. Anh rú lên khi đầu gối nghiến phải một mẩu than nóng. Tôi chộp lấy một cái gối từ trên giường và đập đập những tàn lửa đang cháy âm ỉ trên cái ga trải giường bị kéo lê. Mải dập lửa, tôi không để ý anh đang tiến lại gần, cho đến khi một cú đấm rắn chắc giáng vào đầu làm tôi ngã sõng soài.
Chiếc giường đổ nhào khi tôi cố gắng bám vào khung giường để đứng dậy. Tôi nằm nấp đằng sau nó trong một thoáng, cố gắng tĩnh trí lại. Tôi có thể nghe tiếng Jamie săn lùng tôi trong cảnh tranh tối tranh sáng. Hơi thở anh khò khè giữa những tiếng chửi rủa đứt quãng bằng tiếng Gaelic. Đột nhiên, anh nhìn thấy tôi và nhào qua giường, đôi mắt long lên sòng sọc trong ánh sáng lờ mờ.
Khó mà miêu tả chi tiết chuyện gì xảy ra tiếp theo, chỉ vì mọi chuyện cứ lặp đi lặp lại nhiều lần, chồng chéo nhau trong ký ức tôi. Có vẻ như đôi bàn tay bỏng rát của Jamie chỉ siết cổ tôi đúng một lần, nhưng thời khắc ấy kéo dài mãi. Thực ra, anh làm thế hàng tá lần. Mỗi lần cố gắng bẻ được cú siết của anh và đẩy anh ra, tôi lại lùi lại, lẩn tránh quanh những món đồ đạc bị phá hỏng. Và anh sẽ lại đuổi theo. Anh - người đàn ông được cơn thịnh nộ kéo lại từ rìa cái chết - chửi thề và nức nở, loạng choạng và khua khoang loạn xạ.
Sau khi bị rơi ra khỏi lò lửa, các hòn than nhanh chóng tắt ngấm, khiến căn phòng tối đen như hũ nút và đầy những bóng hình ma quái. Trong những tia sáng le lói cuối cùng, tôi thấy anh lom khom ở bên tường, bờm tóc rực lửa và người phủ đầy máu, đôi mắt xanh đằng đằng sát khí trên khuôn mặt trắng bệch. Một chiến binh Viking hung bạo. Giống như những “con quỷ phương Bắc” ùa ra từ những chiếc thuyền rồng, xông lên vùng bờ biển Scotland cổ xưa đầy sương mù để chém giết, cướp bóc và đốt phá. Họ sẽ chém giết cho đến khi sức cùng lực kiệt, sẽ vận dụng chút sức mạnh cuối cùng ấy để cưỡng hiếp và gieo dòng giống hung bạo của họ vào bụng những kẻ bị chinh phục. Cây hương nhỏ xíu không tỏa ra ánh sáng, nhưng mùi thuốc phiện khiến người ta buồn nôn làm nghẹt phổi tôi. Dù than đã tắt, tôi vẫn thấy những tia lửa trong bóng tối, những tia lửa sặc sỡ phảng phất ở rìa tầm nhìn của tôi.
Việc di chuyển trở nên khó khăn hơn; tôi có cảm giác như mình đang lội qua làn nước sâu đến đùi, bị một con cá khổng lồ đuổi theo. Tôi nhấc cao đầu gối, chạy từng bước chậm chạp, cảm giác như nước đang vỗ vào mặt mình.
Tôi lắc lắc đầu để thoát khỏi cơn mơ màng, nhận ra rằng mặt và tay tôi bị ướt thật. Không phải nước mắt, mà là máu và mồ hôi của sinh vật đáng sợ mà tôi đang cùng vật lộn trong bóng tối.
Mồ hôi. Có thứ gì đó liên quan đến mồ hôi mà tôi nên nhớ, nhưng không tài nào nhớ ra được. Một bàn tay tóm lấy cánh tay tôi, tôi bèn giật mạnh ra, trên da vẫn còn vương một lớp gì đó nhớp nháp, trơn trượt.
Quanh quanh bụi dâu tằm, con khỉ đuổi con chồn[5]. Nhưng có gì đó không đúng, chính con chồn đang đuổi tôi, nó đang cắm hàm răng trắng nhọn vào cẳng tay tôi. Tôi tát vào mặt nó, khiến nó nhả ra, nhưng còn các móng vuốt... Quanh quanh bụi dâu tằm...
Con quỷ đã dồn tôi vào tường; tôi có thể cảm nhận bề mặt đá ở sau đầu và bên dưới những ngón tay bấu chặt của tôi. Rồi tôi bị một cơ thể rắn chắc như đá ép mạnh vào, cái đầu gối xương xẩu chặn giữa hai chân tôi, đá và xương, giữa... hai chân tôi, còn có thêm một thứ gì đó cứng như đá... A! Một sự dịu dàng giữa những khắc nghiệt của cuộc sống, sự mát mẻ dễ chịu giữa cơn nóng bức, sự an ủi giữa nỗi đau buồn...
Chúng tôi cùng ngã xuống sàn, vẫn quấn vào nhau, lăn mãi lăn mãi, vướng vào những nếp gấp của tấm thảm thêu bị rơi, tắm mình trong những luồng khí lạnh lùa vào từ cửa sổ. Màn sương điên loạn bắt đầu tan đi.
Chúng tôi va mạnh vào một món đồ đạc nào đó và cả hai đều nằm yên. Hai bàn tay Jamie đan vào nhau trên ngực tôi, những ngón tay bấm chặt vào da thịt đến thâm tím. Cảm thấy một giọt nước rỏ xuống mặt, không biết là mồ hôi hay nước mắt, tôi bèn mở mắt để nhìn. Jamie đang nhìn tôi, khuôn mặt anh đờ đẫn dưới ánh trăng hắt vào từ cửa sổ, đôi mắt mở to, thất thần. Hai bàn tay anh nới lỏng. Một ngón tay nhẹ nhàng lần đi lần lại theo hình dáng khuôn ngực tôi. Rồi anh ôm trọn lấy bầu ngực, các ngón tay xòe ra như một con sao biển, mềm mại như bàn tay của một đứa trẻ sơ sinh.
“M-mẹ?” Anh nói. Tóc gáy tôi dựng đứng. Đó là giọng nói trong trẻo, cao vút của một cậu bé. “Mẹ?”
Không khí lạnh lùa qua chúng tôi, cuốn đi làn khói độc hại như một luồng hoa tuyết. Tôi giơ tay lên, áp vào gò má lạnh giá của anh.
“Jamie, anh yêu,” tôi nói, thì thầm qua cái cổ họng bầm tím, “lại đây, lại đây nghỉ ngơi đi anh.” “Chiếc mặt nạ giả trang” rung rung, vỡ ra, và tôi áp chặt cơ thể to lớn của anh vào người mình, cả hai cùng run rẩy vì tiếng nức nở của anh.
•••
Nhờ may mắn, người bắt gặp chúng tôi vào sáng hôm sau là Thầy William điềm tĩnh. Tôi chếnh choáng thức dậy trước tiếng cửa mở, và giật mình tỉnh táo hẳn khi nghe tiếng ông cố ý đằng hắng trước khi nói “Chúc cô buổi sáng tốt lành” bằng giọng Yorkshire mềm mại kéo dài.
Jamie đang đè nặng trên ngực tôi. Tóc anh đã khô, những lọn tóc màu đồng xõa trên ngực tôi như những cánh hoa cúc. Gò má áp vào xương ức tôi thật ấm áp và hơi nhớp nháp vì mồ hôi, nhưng luồng không khí mùa đông đang tấn công chúng tôi khiến lưng và cánh tay anh cũng lạnh như đùi tôi vậy.
Ánh sáng ban mai rọi vào qua ô cửa sổ không che rèm, soi tỏ toàn bộ tình trạng đổ nát mà đêm hôm qua tôi mới chỉ lờ mờ nhận ra; bàn ghế bị gãy và đồ sành sứ bị vỡ rải rác khắp phòng, mấy cặp giá đỡ nến đồ sộ nằm lăn lóc như những khúc gỗ giữa một mớ rối bời gồm rèm rách và chăn nệm vương vãi. Từ những vết hằn in trên lưng làm tôi đau nhói, tôi nghĩ hẳn là tôi đang nằm lên tấm thảm thêu hình Thánh Sebastian bị bắn tên; vậy thì cũng chẳng phải là mất mát gì lớn cho tu viện.
Thầy William đứng bất động ở ngưỡng cửa, tay cầm bình nước và cái chậu. Ông nhìn chằm chằm vào lông mày bên trái của Jamie và hỏi: “Sáng nay cậu cảm thấy thế nào?”
Im lặng một lúc lâu. Jamie vẫn nằm yên, che chắn phần lớn cơ thể tôi. Cuối cùng, anh khàn khàn đáp: “Đói.”
“Ồ, tốt lắm,” Thầy William nói, vẫn nhìn chằm chằm vào lông mày anh. “Tôi sẽ đi nói với Thầy Josef.” Cánh cửa đóng lại không một tiếng động sau lưng ông.
“Khá khen cho anh vì đã không cử động,” tôi nhận xét. “Em không muốn chúng ta phải chịu trách nhiệm với việc gieo vào đầu Thầy William những ý nghĩ ô uế.”
Đôi mắt xanh nhìn tôi chằm chằm. “Ừ,” anh thận trọng nói. “Trong hoàn cảnh hiện tại thì nhìn thấy mông anh sẽ không làm ảnh hưởng đến Bí tích Truyền chức của bất cứ ai. Nhưng nếu nhìn thấy của em thì...” Anh ngừng lại để hắng giọng.
“Nhìn thấy của em thì sao?” Tôi hỏi.
Mái đầu đỏ rực từ từ hạ xuống để đặt một nụ hôn lên vai tôi. “Của em,” anh nói, “sẽ gây hại cho một ông giám mục.”
“Ừmmmm.” Tôi cảm thấy mình đã khá thạo cái việc tạo ra “âm thanh kiểu Scot” này. “Dù vậy, có lẽ bây giờ anh nên dịch ra đi. Em nghĩ sự tế nhị của Thầy William cũng chỉ có giới hạn thôi.”
Jamie rón rén ngả đầu lên một nếp gấp của tấm thảm thêu, liếc xéo tôi. “Anh không biết đêm qua có bao nhiêu phần là mơ và bao nhiêu phần là thật.” Bàn tay anh vô thức đưa lên gãi ngực. “Nhưng nếu một nửa những gì anh nghĩ là đã xảy ra thực sự đã xảy ra thì bây giờ anh đã chết rồi.”
“Anh làm sao mà chết được. Em đã trông chừng anh.” Tôi ngập ngừng hỏi: “Anh có muốn chết không?”
Anh chậm rãi mỉm cười, đôi mắt khép hờ. “Không, Sassenach, anh không muốn.” Khuôn mặt anh hốc hác và sạm đen vì bệnh tật và mệt mỏi, nhưng toát lên vẻ bình yên, những nếp hằn quanh miệng anh đã biến mất và đôi mắt xanh trong veo trở lại. “Nhưng dù có muốn hay không thì anh cũng gần như sắp chết rồi. Anh nghĩ lý do duy nhất anh chưa chết là vì anh đang đói. Anh sẽ không thấy đói nếu anh sắp chết, em có nghĩ vậy không? Thế thì lãng phí quá!” Một mắt anh nhắm lại hoàn toàn, còn mắt kia vẫn hé mở, nhìn tôi vẻ bỡn cợt.
“Anh không đứng dậy được à?”
Anh cẩn thận cân nhắc. “Anh có thể nhấc đầu lên lần nữa nếu tính mạng anh phụ thuộc vào điều đó. Nhưng đứng dậy ư? Không.”
Tôi thở dài, trườn ra bên dưới người anh và dựng lại cái giường trước khi cố gắng dìu anh dậy. Anh chỉ đứng được vài giây trước khi trợn ngược mắt và ngã xuống giường. Tôi cuống cuồng mò tìm mạch ở cổ anh và bắt được nó ngay bên dưới vết sẹo hình tam giác ở cổ họng. Mạch đập chậm và khỏe. Chỉ đơn giản là kiệt sức. Sau một tháng ngồi tù và một tuần căng thẳng cả về thể xác lẫn tinh thần, lại còn bị đói, bị thương, bị nôn và sốt cao, thân hình cường tráng của anh cuối cùng cũng không chịu nổi nữa.
“Trái tim của một con sư tử,” tôi nói, lắc đầu, “và cái đầu của một con bò. Tiếc là anh không có lớp da của một con tê giác.” Tôi chạm vào một vết thương mới chảy máu trên vai anh.
Anh mở một mắt. “Tê giác là gì?”
“Em cứ tưởng anh đã bất tỉnh!”
“Đúng thế. Anh đang bất tỉnh. Đầu anh đang quay mòng mòng.”
Tôi kéo chăn đắp lên người anh. “Thứ anh cần bây giờ là thức ăn và nghỉ ngơi.”
“Thứ em cần bây giờ,” anh nói, “là quần áo.” Và anh nhắm mắt lại lần nữa, lập tức chìm vào giấc ngủ.
[1] Nguyên văn: Sortes Virgilianae: Phương pháp tiên đoán vận mệnh của một người bằng cách cầm cuốn kinh lên, mở ra một trang ngẫu nhiên và ngón tay chạm vào một dòng ngẫu nhiên. Dòng chữ đó sẽ là lời sấm cho vận mệnh của người đó.
[2] Trích sách Samuel, Kinh Thánh Cựu ước.
[3] Hợp chất hóa học dùng để diệt vi khuẩn.
[4] Cây thuộc họ mao lương hoa vàng.
[5] Lời một bài hát cho trẻ em.