Đây không phải là nơi có thể xảy ra những vụ mất tích, ít nhất khi mới thoạt nhìn. Căn nhà nghỉ của bà Baird cũng giống hệt cả ngàn căn nhà nghỉ khác trên vùng cao nguyên Scotland vào năm 1945: sạch sẽ, yên tĩnh, giấy dán tường có họa tiết hoa cỏ bàng bạc, sàn nhà sáng bóng như gương và trong phòng tắm có một cái thùng đun nước nóng tự động được vận hành bằng tiền xu. Bà Baird có dáng người mập lùn, tính tình thoải mái, bà chẳng cất một lời phản đối khi Frank bày la liệt khắp căn phòng khách nhỏ xíu dán giấy hình hoa hồng của bà hàng tá sách báo mà anh vẫn luôn mang theo trong những chuyến du hành.
Đang đi ra ngoài thì tôi gặp bà Baird ở tiền sảnh. Bà giơ bàn tay múp míp níu cánh tay tôi và vỗ vỗ vào tóc tôi.
“Trời ơi, chị Randall, chị không thể ra đường trong bộ dạng thế này! Đây, để tôi dém chỗ này lại giúp chị. Đó! Khá hơn rồi đó. Chị biết không, cô em họ của tôi vừa khoe với tôi kiểu tóc uốn mới, rất đẹp và giữ nếp; có lẽ lần sau chị nên thử kiểu đó.”
Tôi không nỡ nói với bà rằng những lọn tóc xoăn màu nâu nhạt bất trị của tôi hoàn toàn là sản phẩm của tạo hóa chứ không phải là sai sót của công nghệ uốn tóc. Những lọn tóc dợn sóng sít sao của bà may mắn không bướng bỉnh như vậy
“Vâng, tôi sẽ thử, bà Baird,” tôi nói dối. “Tôi đang định xuống làng để gặp Frank. Chúng tôi sẽ trở về để dùng bữa trà.” Tôi lỉnh ra ngoài cửa và đi xuôi theo con đường nhỏ trước khi bà có thể phát hiện thêm bất cứ khuyết điểm nào khác ở ngoại hình “vô kỷ luật” của tôi. Sau bốn năm làm y tá cho Quân đội Hoàng gia, tôi đang tận hưởng khoảng thời gian được giải thoát khỏi những bộ đồng phục và chế độ phân phối bằng cách tự cho phép mình thoải mái mặc những chiếc váy cotton in hoa rực rỡ, dù chúng hoàn toàn không phù hợp để đi bộ qua những bãi thạch nam.
Ban đầu tôi cũng không có ý định đi lại nhiều, chỉ mơ tưởng đến những buổi sáng được ngủ nướng và các buổi chiều dài nằm lười trên giường với Frank. Tuy nhiên, ai mà giữ được tâm trạng lãng mạn khi bà Baird cứ cần mẫn hút bụi ngay bên ngoài cửa phòng cơ chứ!
“Đó hẳn là tấm thảm bẩn thỉu nhất vùng cao nguyên Scotland,” Frank đã nhận xét vào một buổi sáng khi chúng tôi nằm trên giường, nghe tiếng máy hút bụi ro ro ầm ĩ ngoài hành lang.
“Gần bẩn thỉu bằng đầu óc bà chủ nhà nghỉ của chúng ta,” tôi đồng tình. “Đáng lẽ chúng ta nên tới Brighton.” Chúng tôi đã chọn (nghỉ ngơi ở vùng cao nguyên này trước khi Frank nhậm chức giáo sư lịch sử tại Đại học Oxford, với lý do là Scotland phần nào ít bị bàn tay kinh hoàng của chiến tranh chạm đến hơn so với những vùng còn lại của Anh, và không mấy bị ảnh hưởng bởi những trò vui điên cuồng thời hậu chiến đã tiêm nhiễm các địa điểm du lịch nổi tiếng.
Và dù không ai bảo ai nhưng tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều cảm thấy đây là nơi rất có ý nghĩa để vun đắp cho cuộc hôn nhân của chúng tôi; chúng tôi đã kết hôn và có một chuyến trăng mật hai ngày ở vùng cao nguyên này ngay trước khi chiến tranh nổ ra bảy năm trước. Chúng tôi nghĩ đây là một nơi ẩn náu yên bình để khám phá lại nhau mà không nhận ra rằng, trong khi golf và câu cá là những môn thể thao ngoài trời phổ biến nhất ở Scotland thì ngồi lê đôi mách chính là trò tiêu khiển trong nhà phổ biến nhất. Và ở cái xứ sở lắm mưa nhiều gió như thế này, người ta dành rất nhiều thời gian ở trong nhà.
“Anh định đi đâu vậy?” Tôi hỏi, khi Frank hất chân xuống giường.
“Anh không muốn bà lão đáng mến đó thất vọng,” anh trả lời.
Sau đó, ngồi trên mép chiếc giường cũ kĩ, anh nhẹ nhàng nhún lên nhún xuống, phát ra tiếng cọt cà cọt kẹt đều đặn chói tai. Tiếng máy hút bụi ngoài hành lang đột ngột dừng lại. Sau một hai phút nhún lên nhún xuống, anh rên to một tiếng khoa trương và ngã ngửa ra sau khiến những chiếc lò xo kêu tưng tưng phản đối. Tôi úp mặt vào gối cười khúc khích để không làm ảnh hưởng tới sự im lặng đến nghẹt thở ở bên ngoài.
Frank nhướng lông mày với tôi. “Em phải rên rỉ kích động chứ không phải cười khúc khích như vậy,” anh thì thầm nhắc nhở. “Bà ấy sẽ nghĩ anh không phải là một người tình giỏi mất.”
“Anh sẽ phải làm thế lâu hơn, nếu anh trông chờ những tiếng rên rỉ cuồng dại,” tôi đáp. “Hai phút thì chỉ xứng đáng nhận được một tiếng cười khúc khích thôi.”
“Cô nàng vô tâm này. Anh đến đây để nghỉ ngơi, em nhớ chứ?”
“Đồ lười nhác. Anh sẽ không bao giờ tạo được nhánh tiếp theo cho cái cây gia phả trừ phi anh tỏ ra siêng năng hơn chút.”
Niềm đam mê của Frank đối với gia phả cũng là một lý do khiến chúng tôi chọn vùng cao nguyên này. Dựa vào một trong những mảnh giấy cũ kĩ dơ dáy mà anh mang đi hết chỗ này đến chỗ nọ, một vị tổ tiên phiền phức của anh có liên quan đến một chuyện gì đó ở vùng này vào giữa thế kỷ mười tám - hay mười bảy thì phải?
“Nếu anh trở thành một cái gốc cụt ngủn trên cây gia phả thì chắc chắn lỗi là ở bà chủ nhà nghỉ không biết mệt mỏi của chúng ta ngoài kia. Suy cho cùng, chúng ta cưới nhau đã gần tám năm rồi. Nhóc Frank Con sẽ là đứa con hợp pháp mà không cần phải hoài thai trước mặt một nhân chứng.”
“Nếu nó được hoài thai,” tôi bi quan nói. Chúng tôi đã lại thất vọng về chuyện này vào tuần lễ trước khi đi nghỉ.
“Với bầu không khí trong lành khiến người ta khỏe khoắn và chế độ ăn lành mạnh này ư? Làm sao chúng ta có thể không làm được chứ?” Bữa tối hôm qua là cá trích rán. Bữa trưa là cá trích giấm. Và mùi hăng nồng đang lùa lên cầu thang báo cho chúng tôi biết rõ rằng bữa sáng hôm nay sẽ là cá trích muối hun khói.
“Trừ phi anh muốn biểu diễn lại để khai sáng cho bà Baird,” tôi đề nghị, “anh nên mặc quần áo vào đi! Chẳng phải anh có cuộc hẹn với mục sư vào lúc mười giờ sao?” Tiến sĩ thần học Reginald Wakefield, mục sư của giáo xứ địa phương, định cho Frank xem một vài cuốn sổ rửa tội cực kỳ thú vị, chưa kể cái viễn cảnh rực rỡ là ông có thể đã khai quật được vài bản báo cáo mục nát liên quan đến quân đội hoặc thứ gì đó có nhắc đến vị tổ tiên khét tiếng này.
“Mà ông cụ cố cố cố cố đó của anh tên là gì nhỉ?” Tôi hỏi. “Người đã quanh quẩn ở đây vào thời điểm xảy ra một trong các cuộc nổi dậy ấy? Em không tài nào nhớ nổi tên cụ là Willy hay Walter.”
“Thực ra, cụ tên là Jonathan.” Frank tỏ ra bình thản trước sự thờ ơ của tôi với lịch sử gia đình anh, nhưng vẫn luôn canh chừng, sẵn sàng nắm bắt biểu lộ nhỏ nhất của lòng hiếu kỳ trong tôi để lấy cớ kể cho tôi nghe mọi sự kiện được biết đến từ trước tới nay về các vị tổ tiên của dòng họ Randall và những mối quan hệ của họ. Khi anh cài cúc áo, đôi mắt anh ánh lên vẻ nhiệt thành của một giảng viên đầy tâm huyết.
“Jonathan Wolverton Randall - Wolverton là tên người chú của mẹ cụ, một hiệp sĩ nhỏ ở Sussex. Tuy nhiên, cụ được biết đến với cái biệt danh khá bảnh là Jack Hắc Ám mà cụ có được trong quân đội, có lẽ trong thời gian cụ đóng quân ở đây.” Tôi nằm úp mặt xuống giường và giả bộ ngáy. Lờ tôi đi, Frank tiếp tục bài giảng uyên thâm của mình.
“Cụ mua được bằng phong cấp sĩ quan vào giữa thập kỷ 30 - tức thập niên 1730 - và trở thành một đại úy kỵ binh. Căn cứ vào những lá thư cũ mà chị họ May gửi cho anh, con đường binh nghiệp của cụ khá hanh thông. Đó là sự lựa chọn tốt cho người con trai thứ hai trong gia đình; em trai cụ cũng theo truyền thông, trở thành một cha phó, nhưng anh chưa tìm hiểu được nhiều về cụ ấy. Dù sao đi nữa, Jack Randall được Công tước Sandringham đánh giá rất cao vì những hoạt động của cụ trước và trong năm 45 - năm xảy ra cuộc nổi dậy Jacobite[1] lần thứ hai,” anh nhấn mạnh để giải thích cho khán giả ngu dốt của anh, tức là tôi. “Em biết Hoàng tử Charlie Xinh đẹp[2] và đồng bọn của ông ta chứ?”
“Em hoàn toàn không chắc là người Scot nhận thức được họ đã thua trong cuộc nổi dậy đó,” tôi ngắt lời, ngồi dậy và cố gắng “khuất phục” mái tóc. “Em đã nghe rõ mồn một tay phục vụ quầy ở quán rượu tối qua gọi chúng ta là Sassenach.”
“Ồ, thì có làm sao chứ?” Frank điềm tĩnh nói. “Suy cho cùng, nó chỉ có nghĩa là “người Anh” thôi mà, hoặc tệ lắm thì, “kẻ ngoại tộc”, và chúng ta đúng là thế còn gì.”
“Em hiểu nó có nghĩa là gì. Em chỉ cảm thấy khó chịu vì giọng điệu của hắn.”
Frank lục tìm thắt lưng trong ngăn kéo tủ com-mốt. “Hắn bực mình vì anh đã nói với hắn là bia ở quán hắn nhẹ quá. Anh nói bia cao nguyên đích thực khi ủ phải bỏ thêm một cái giày cũ vào và sản phẩm cuối cùng phải được lọc qua một chiếc quần lót sờn rách.”
“À, đó là lý do khiến số tiền trên hóa đơn lại cao như vậy.”
“Chà, anh đã nói một cách tế nhị hơn thế, nhưng trong tiếng Gaelic[3] không có từ riêng để gọi “quần lót”.”
Tôi thò tay lấy một cái quần lót của mình, tò mò. “Tại sao lại không có? Người Gael cổ không mặc quần lót à?”
Frank liếc nhìn tôi với ánh mắt ranh mãnh. “Em chưa bao giờ nghe bài hát cổ nói về việc đàn ông Scot mặc gì dưới váy của họ sao?”
“Chắc không phải là loại váy lót dài đến gối dành cho đàn ông,” tôi đùa bỡn. “Có lẽ em sẽ đi ra ngoài để kiếm một người đàn ông bản xứ mặc váy và hỏi anh ta trong lúc anh nhảy cẫng lên vì vui sướng với các mục sư.”
“Chà, cố gắng đừng để bị bắt nhé, Claire. Hiệu trưởng trường St. Giles sẽ không thích điều đó chút nào đâu.”
•••
Tuy nhiên, chẳng có người nào mặc váy truyền thống lảng vảng quanh quảng trường thị trấn hay lui tới những cửa hàng xung quanh. Nhưng ở đó có một cơ số người khác đang đi mua sắm, chủ yếu là các bà nội trợ kiểu như bà Baird. Họ là những kẻ nhiều chuyện, thích ngồi lê đôi mách, và sự hiện diện của những thân hình chắc nịch, mặc váy áo hoa hòe hoa sói của họ khiến các cửa hàng trở nên ấm cúng; một điểm tựa để chống lại màn sương giá lạnh lẽo của không khí ngoài trời buổi sáng.
Vì không có nhà riêng nên tôi chẳng cần phải mua gì mấy, nhưng tôi thích xem lướt qua những giá đồ mới được bổ sung, thuần túy vì niềm vui nhìn thấy vô số thứ được bày bán trở lại. Cái chế độ phân phối đã kéo dài quá lâu, thời ấy, những thứ căn bản như xà phòng và trứng còn thiếu thốn, nói gì đến những món xa xỉ phẩm như nước hoa cologne L’Heure Bleu.
Ánh mắt tôi nán lại trên một ô kính bày những món đồ dùng trong gia đình - khăn thêu dùng để trải bàn trà, ấm ủ nóng trà, bình nước, ly cốc, một chồng khay nướng bánh bằng thiếc có kiểu dáng khá giản dị và một bộ gồm ba chiếc bình hoa.
Trong đời tôi chưa bao giờ có một chiếc bình hoa. Hồi chiến tranh, đương nhiên tôi sống trong những khu dành cho y tá, đầu tiên là ở bệnh viện Pembroke, sau đó là bệnh viện dã chiến ở Pháp. Nhưng kể cả trước đó, chúng tôi chẳng sống ở nơi nào đủ lâu để có cớ mua một vật như thế. Nếu tôi có một cái bình hoa, tôi nghĩ bác Lamb sẽ nhét vào trong đó những mảnh gốm trước cả khi tôi có thể mang một bó hoa cúc lại gần nó.
Tên bác là Quentin Lambert Beauchamp. Đối với sinh viên khảo cổ và bạn bè của bác, bác chỉ đơn giản là “Q”. Đối với giới học giả mà bác là một phần trong đó, bác được gọi là “Tiến sĩ Beauchamp”. Còn với tôi, bác luôn luôn là bác Lamb.
Bác là anh trai duy nhất của cha tôi và là người thân duy nhất còn sống của tôi lúc bấy giờ, vậy nên tôi đã được giao cho bác nuôi nấng khi cha mẹ tôi mất trong một vụ tai nạn xe hơi hồi tôi lên năm tuổi. Lúc đó, bác đang sửa soạn đến Trung Đông nhưng đã hoãn lại để lo liệu tang ma, xử lý tài sản của cha mẹ tôi và đăng ký cho tôi vào học ở một trường nội trú dành cho nữ sinh. Nhưng tôi đã dứt khoát từ chối.
Vốn ghét các cuộc xung đột cá nhân dù thuộc bất kỳ dạng nào nên khi đối mặt với viễn cảnh phải cạy những ngón tay mũm mĩm của tôi ra khỏi tay cầm ở cửa xe và lôi tôi lên những bậc thang của trường học, bác đã thở dài bực bội, rồi cuối cùng nhún vai và ném lý trí của mình ra ngoài cửa sổ cùng với cái mũ rơm hình tròn mới mua của tôi.
“Thứ chết tiệt,” bác lẩm bẩm, nhìn nó vui vẻ lăn tròn qua gương chiếu hậu khi chúng tôi phóng xe đi. “Dù sao đi nữa, ta luôn ghét phụ nữ đội mũ.” Bác liếc nhìn tôi, ánh mắt dữ tợn.
“Có một điều này,” bác nói bằng giọng đáng sợ. “Cháu không được lấy những bức tượng tùy táng xứ Ba Tư của ta để chơi búp bê. Cháu có thể đụng vào bất cứ thứ gì khác, trừ chúng. Rõ chưa?”
Tôi gật đầu bằng lòng. Từ đó tôi đã đi với bác đến Trung Đông, Nam Mỹ và hàng tá địa điểm nghiên cứu trên khắp thế giới, học đọc và viết từ những bản nháp của các bài báo, đào nhà xí, đun nước và làm vô số việc khác không phù hợp với một quý cô danh giá - cho đến khi tôi gặp sử gia điển trai có mái tóc sẫm màu tới hỏi bác Lamb về một vấn đề của triết học Pháp vì nó liên quan đến tôn giáo Ai Cập.
Ngay cả khi đã kết hôn, Frank và tôi vẫn sống cuộc sống nay đây mai đó của một giảng viên trẻ, tham dự hết hội thảo này đến hội thảo khác tại lục địa[4] và ở trong những căn hộ tạm thời, cho đến khi chiến tranh nổ ra đẩy anh vào quân ngũ và đến đơn vị tình báo ở MI6[5], còn tôi thì được đào tạo làm y tá. Dù chúng tôi đã kết hôn gần tám năm nhưng căn nhà mới ở Oxford mà chúng tôi sắp dọn đến mới là tổ ấm thực sự đầu tiên của chúng tôi.
Kẹp chặt chiếc túi xách dưới cánh tay, tôi bước vào cửa hàng và mua bộ bình hoa đó.
•••
Tôi gặp Frank ở điểm giao nhau giữa phố High và đường Gereside, rồi chúng tôi cùng nhau đi về. Anh nhướng mày trước những món đồ tôi mua.
“Bình hoa à?” Anh mỉm cười. “Tuyệt đấy! Có lẽ từ giờ em sẽ ngừng kẹp hoa vào trong những cuốn sách của anh.”
“Chúng không phải hoa, chúng là các mẫu vật. Chính anh khuyên em nghiên cứu về thực vật cho đỡ buồn vì bây giờ em không còn làm y tá nữa rồi còn gì,” tôi nhắc anh.
“Đúng vậy.” Anh gật đầu, cười. “Nhưng lúc ấy anh chưa nhận ra là mình sẽ bị những mẩu hoa cỏ rơi vào lòng mỗi lần mở một cuốn sách tham khảo. Cái thứ màu nâu khô giòn gớm ghiếc mà em nhét vào sách của Tuscum và Banks là gì vậy?”
“Cỏ giám mục[6]. Chữa bệnh trĩ rất hiệu quả.”
“Em đang chuẩn bị trước cho tuổi già sắp tới của anh đấy à? Chà, em thật chu đáo, Claire ạ!”
Chúng tôi vừa cười vừa đẩy cổng vào sân và Frank đứng lại để nhường tôi bước lên những bậc thềm hẹp trước cửa nhà.
Thình lình anh nắm lấy cánh tay tôi. “Cẩn thận! Em không muốn giẫm lên nó đâu.”
Tôi rón rén nhón chân bước qua một vết màu nâu đỏ lớn ở bậc thềm trên cùng.
“Lạ quá,” tôi nói. “Sáng nào em cũng thấy bà Baird kỳ cọ các bậc thềm mà. Anh nghĩ đó có thể là gì?”
Frank cúi xuống bậc thềm, hít ngửi kĩ càng.
“Anh có thể nói ngay rằng đó là máu.”
“Máu ư?” Tôi lùi lại một bước. “Của ai?” Tôi căng thẳng liếc nhìn vào trong nhà. “Anh có nghĩ bà Baird bị tai nạn gì đó không?” Tôi không thể tưởng tượng nổi bà chủ nhà nghỉ ưa sạch sẽ của chúng tôi lại để mặc những vết máu khô in dấu trên bậc thềm nhà trừ phi đã có một tai họa nào đó xảy ra, và trong một thoáng tôi tự hỏi liệu có tên sát nhân điên rồ nào đang cầm rìu ẩn náu trong phòng khách, thậm chí đang sắp sửa nhảy bổ vào chúng tôi với một tiếng hét inh tai buốt lạnh sống lưng không?
Frank lắc đầu. Anh kiễng chân nhòm qua hàng rào để nhìn sang khu vườn bên cạnh.
“Anh không nghĩ vậy. Trên thềm nhà Collins cũng có một vết tương tự như thế.”
“Thật sao?” Tôi tiến lại gần Frank hơn, vừa để ngó qua hàng rào vừa để có chỗ dựa tinh thần. Ở vùng cao nguyên khó có thể xuất hiện một gã giết người hàng loạt, nhưng nghĩ lại thì mấy kẻ điên rồ đó có bao giờ dựa theo tiêu chí logic nào để lựa chọn địa điểm gây án đâu chứ. “Ghê quá,” tôi nhận xét. Chẳng có dấu hiệu gì của sự sống ở nhà bên cạnh. “Theo anh thì đã xảy ra chuyện gì?”
Frank nhíu mày ngẫm nghĩ rồi vỗ tay đánh bốp vào ống quần khi chợt nghĩ ra điều gì đó.
“Anh nghĩ là anh biết rồi! Đợi ở đây một lát nhé!” Anh lao như tên bắn ra khỏi cổng và bước hối hả trên đường, để mặc tôi đứng chết trân như bị mắc cạn trên rìa bậc thềm.
Chẳng mấy chốc anh quay lại, tươi cười rạng rỡ vì đã chứng thực được suy đoán của mình.
“Đúng như vậy, hẳn thế! Mọi ngôi nhà trong dãy này đều có thứ đó.”
“Có cái gì cơ? Dấu hiệu có một kẻ tâm thần giết người vừa ghé qua à?” Tôi nói hơi xẵng vì vẫn còn căng thẳng về chuyện đột ngột bị bỏ lại làm bạn với một vết máu lớn.
Frank bật cười. “Không, đó là một nghi lễ hiến tế. Thú vị thật!” Anh quỳ xuống, chống hai tay trên cỏ, chăm chú săm soi vết máu.
Chuyện này nghe cũng chẳng khá hơn một tên sát nhân tâm thần. Tôi ngồi xổm xuống bên cạnh anh, chun mũi trước thứ mùi tanh tưởi bốc lên. Vẫn chưa đến giờ hoạt động của lũ ruồi, nhưng đã có một vài con ruồi nhuế mập mạp của vùng cao nguyên lờ đờ bay vòng quanh vết máu.
“‘Nghi lễ hiến tế là thế nào?” Tôi hỏi. “Bà Baird là người chăm đi lễ nhà thờ, và tất cả những người xung quanh đây cũng thế. Đây không phải là ngọn đồi của các tín đồ Druid[7] hay thứ gì đó tương tự, anh biết đấy.”
Anh đứng dậy, phủi phủi những mẩu cỏ vương trên quần. “Em chỉ biết một mà không biết hai, cưng ạ,” anh nói. “Chẳng có nơi nào trên trái đất mà sự mê tín và ma thuật lại hòa quyện với cuộc sống đời thường hơn là vùng cao nguyên Scotland này đâu. Dù có chăm đi lễ nhà thờ thì bà Baird vẫn tin vào cha ông mình, và tất cả những người xung quanh đây cũng vậy.” Anh chĩa ngón chân cái được cắt tỉa gọn gàng vào vết máu. “Đây là máu của một con gà trống đen,” anh giải thích, vẻ mặt hài lòng. “Em thấy đấy, những ngôi nhà ở đây đều còn mới. Chúng là nhà tiền chế.”
Tôi lạnh lùng nhìn anh. “Nếu anh tưởng rằng chỉ cần nói như thế là đã giải thích được mọi chuyện thì mong anh hãy nghĩ lại. Những ngôi nhà này mới hay cũ thì có gì khác biệt chứ? Và mọi người đang ở nơi quái quỷ nào vậy?”
“Chắc là ở quán rượu. Chúng ta thử tới đó xem sao nhé?” Anh nắm lấy cánh tay tôi, đẩy tôi ra khỏi cổng và chúng tôi đi xuôi theo đường Gereside.
“Vào thời xưa,” anh vừa đi vừa giải thích, “và ngay cả thời điểm cách đây không lâu lắm, khi xây một căn nhà, người ta có tục lệ giết một con vật và chôn dưới móng nhà, để xoa dịu những linh hồn đất. Em biết đấy: “Kẻ nào đào móng dựng nền thì con đầu lòng của nó phải chết; kẻ nào dựng cống xây tường thì con út của nó phải mạng vong[8].” Xa xưa như những ngọn đồi này vậy.”
Tôi rùng mình trước lời trích dẫn ấy. “Vậy thì em cho rằng họ khá hiện đại và sáng trí khi sử dụng máu gà để thay thế. Ý anh là, vì các ngôi nhà được xây dựng trong thời gian gần đây nên chẳng có gì được chôn bên dưới chúng và các cư dân ở đây đang sửa chữa thiếu sót đó?”
“Chính xác.” Frank vỗ vỗ vào lưng tôi, có vẻ hài lòng với sự tiến bộ này. “Theo lời mục sư thì nhiều người dân địa phương nghĩ rằng chiến tranh nổ ra một phần là do người ta quay lưng với cội nguồn và lơ là sự phòng ngừa, chẳng hạn như chôn một vật hiến tế dưới móng nhà hay đốt xương cá trên nền lò sưởi - dĩ nhiên là trừ cá tuyết chấm đen,” anh nói thêm, vui vẻ chuyển chủ đề. “Em không bao giờ được đốt xương cá tuyết chấm đen, em biết chứ? Nếu không, em sẽ không bao giờ bắt được một con cá tuyết chấm đen nào khác nữa. Thay vào đó, em phải chôn xương của nó.”
“Em sẽ ghi nhớ điều này,” tôi nói. “Giờ thì hãy cho em biết phải làm gì để không bao giờ còn nhìn thấy một con cá trích nào khác nữa, em sẽ làm theo ngay tức khắc.”
Anh lắc đầu, chìm vào một ô trí nhớ. Đây là khoảng thời gian xuất thần ngắn ngủi khi anh hoàn toàn cắt đứt với thế giới xung quanh, mải miết khơi lên kiến thức từ tất cả các nguồn của nó.
“Về cá trích thì anh không biết,” anh lơ đãng nói. “Nhưng đối với lũ chuột thì em treo những bó cỏ rung xung quanh - “Treo cỏ rung trong nhà/ Lũ chuột sẽ tránh xa”. Còn về những cái xác dưới móng nhà - đó là nguyên nhân xuất hiện nhiều hồn ma ở trong vùng. Em có biết Mountgerald, ngôi nhà lớn ở cuối phố High không? Ở đó có một hồn ma, một người thợ xây bị giết làm vật hiến tế chôn dưới móng. Chuyện xảy ra vào một thời điểm nào đó ở thế kỷ mười tám; cũng mới đây thôi,” anh trầm ngâm nói thêm.
“Chuyện kể rằng, theo lệnh của chủ nhà, người ta xây một bức tường lên trước, rồi từ trên đỉnh tường thả một tảng đá xuống một người thợ xây ở bên dưới - có lẽ là một kẻ đáng ghét được nhắm sẵn làm vật hiến tế - sau đó chôn hắn dưới hầm và xây tiếp phần còn lại của ngôi nhà trên thi thể hắn. Hắn đã ám cái hầm nơi hắn bị giết, ngoại trừ vào ngày giỗ của hắn và bốn ngày lễ cổ.”
“Ngày lễ cổ?”
“Những ngày lễ từ xa xưa,” anh giải thích, vẫn còn chìm đắm vào những ghi chép trong đầu. “Đêm Giao thừa Hogmanay, ngày Hạ chí, lễ Beltane[9] và ngày lễ các thánh. Theo những gì chúng ta biết thì người Druid, người Beaker[10] và người Pict cổ[11] đều tổ chức những lễ hội mặt trời và lễ hội lửa. Các hồn ma được tự do trong những ngày thiêng liêng đó và có thể đi lang thang để làm điều tốt hay xấu tùy ý.” Anh xoa xoa cằm vẻ trầm tư. “Sắp đến lễ Beltane rồi, gần ngày Xuân phân. Lần sau, khi đi qua nghĩa địa của nhà thờ, em nhớ cẩn thận trông chừng nhé!” Anh nháy mắt, và tôi nhận ra trạng thái xuất thần đã chấm dứt.
Tôi cười. “Ở vùng này có nhiều hồn ma nổi tiếng lắm à?”
Anh nhún vai. “Không biết nữa. Khi nào gặp mục sư chúng ta sẽ hỏi ông ấy, được không?”
Thật ra, chỉ một lát sau chúng tôi đã gặp mục sư. Ông cũng có mặt ở quán rượu cùng với hầu hết dân làng, đang uống mừng lễ hiến tế cho những ngôi nhà.
Ông có vẻ khá bối rối khi bị bắt gặp đang dung túng cho những hành động ngoại giáo, nhưng rồi lập tức giải thích rằng đó chỉ là sự tuân thủ màu sắc lịch sử của địa phương, giống như việc đeo cỏ ba lá lên người[12] vậy.
“Thực sự thú vị, anh chị biết đấy,” ông giãi bày và tôi thầm thở dài khi nhận ra “tiếng gọi bầy” của giới học giả, một âm thanh dễ nhận biết như tiếng kêu tu-huýt của con chim hét. Nghe thấy tiếng gọi của người bạn tri âm, Frank lập tức ngồi xuống, tham gia vào “điệu vũ sóng đôi của học thuật”, và họ mau chóng chìm đắm vào việc so sánh nguyên mẫu và sự tương đồng giữa những điều mê tín cổ xưa với những tôn giáo hiện đại. Tôi nhún vai, luồn lách qua đám đông tới quầy bar rồi mang về hai ly brandy pha soda lớn.
Kinh nghiệm cho tôi biết khó mà làm Frank phân tâm trong những cuộc thảo luận kiểu này, do đó tôi chỉ đơn giản cầm tay anh lên, chụm những ngón tay anh quanh chân ly rượu rồi để mặc anh.
Tôi tìm thấy bà Baird trên một cái ghế băng gần cửa sổ, bà đang vui vẻ uống bia đắng với một ông lão mà bà giới thiệu với tôi là ông Crook.
“Đây là người mà tôi đã kể với chị đây, chị Randall,” bà nói, đôi mắt ngời sáng vì sự kích thích của chất cồn và bầu không khí náo nhiệt. “Ông ấy hiểu biết về mọi loài thực vật.”
“Chị Randall đây rất quan tâm đến cây cỏ,” bà tiết lộ với người bạn, ông ta nghiêng đầu nửa như lịch sự, nửa như nghễnh ngãng. “Chị ấy thường ép chúng trong những cuốn sách.”
“Chị làm thế thật sao?” Ông Crook hỏi, một bên lông mày chối xể bạc trắng nhướng lên hứng thú. “Tôi có vài cái khuôn ép hoa cỏ thực thụ. Thằng cháu tôi đã mang cho tôi khi nó về đây nghỉ hè. Tôi không nỡ nói với nó rằng tôi không bao giờ dùng mấy thứ ấy. Thường thì cây cỏ được treo lên hoặc phơi khô trên một cái phên rồi bỏ vào túi vải sa hoặc một cái lọ, tôi không thể nghĩ ra lý do tại sao chị lại ép dẹt chúng.”
“Chà, có thể là để ngắm nhìn thôi,” bà Baird tử tế xen vào. “Chị Randall đã làm được vài mẫu ép rất xinh xắn từ những bông cẩm quỳ và violet mà ông có thể đóng khung và treo lên tường.”
“Ừmmmmm.” Khuôn mặt nhăn nheo của ông Crook tuy vẫn còn chút ngờ vực nhưng có vẻ chấp nhận lời gợi ý này. “Chà, chị có thể lấy mấy cái khuôn ép hoa cỏ đó nếu chúng có tí hữu ích nào với chị. Tôi không muốn vứt chúng đi, nhưng quả thực tôi chẳng cần đến chúng làm gì cả.”
Tôi khẳng định với ông Crook rằng tôi rất vui lòng được sử dụng những cái khuôn ép hoa cỏ đó, và còn vui lòng hơn nếu ông chỉ cho tôi chỗ có thể tìm thấy vài loài thực vật hiếm có ở vùng này. Ông nhìn tôi trong một thoáng với ánh mắt sắc bén, đầu nghiêng sang một bên giống như một con chim cắt già, nhưng cuối cùng ông cũng có vẻ tin rằng tôi thật sự hứng thú và chúng tôi hẹn nhau sáng hôm sau sẽ đi tham quan các loài cây bụi trong vùng. Tôi biết ngày mai Frank định tới tòa thị chính của Inverness để tra cứu vài tư liệu, và tôi lấy làm mừng vì có một cái cớ để không phải đi cùng anh. Theo như những gì tôi biết thì tư liệu nào cũng giống tư liệu nào mà thôi.
Một lát sau, Frank tách khỏi mục sư và chúng tôi cùng bà Baird đi về nhà. Tôi ngần ngại không dám nhắc đến vết máu gà trên bậc thềm, nhưng Frank thì không dè dặt như thế, anh háo hức hỏi bà về phong tục đó.
“Chắc là nó khá lâu đời rồi nhỉ?” Anh hỏi, cầm một cái que quét dọc theo những vạt cỏ dại ven đường. Đám rau muối và ỷ lăng đã trổ bông, những nụ đậu chổi cũng đang căng phồng; chỉ một tuần nữa thôi là chúng sẽ bung nở.
“Ồ, đúng vậy.” Bà Baird núng nính bước nhanh, chẳng hề thua kém những đôi chân trẻ trung hơn của chúng tôi. “Lâu đến nỗi chẳng ai biết là có từ lúc nào nữa, anh Randall ạ. Thậm chí còn trước cả thời của những người khổng lồ.”
“Người khổng lồ?” Tôi hỏi.
“Đúng vậy. Fionn và tộc người Feinn[13].”
“Đó là những câu chuyện dân gian của người Gael[14],” Frank say sưa nói. “Họ là những vị anh hùng. Có lẽ có nguồn gốc từ Bắc Âu. Từ đây đến vùng duyên hải phía tây chịu rất nhiều ảnh hưởng của người Bắc Âu. Em biết không, vài địa danh được đặt tên bằng tiếng Bắc Âu chứ hoàn toàn không phải là tiếng Gaelic.”
Tôi đảo mắt khi cảm nhận được rằng anh lại sắp sửa bộc phát, nhưng bà Baird mỉm cười đôn hậu và khuyến khích anh, nói rằng đúng vậy, bà đã tới miền Bắc và thấy hai tảng đá Anh Em, và nó thuộc về người Bắc Âu, không phải sao?
“Người Bắc Âu đã xuống vùng duyên hải đó hàng trăm lần trong khoảng thời gian từ năm 500 đến năm 1300,” Frank nói, ánh mắt mơ màng nhìn về phía chân trời, như thể đang nhìn những con thuyền rồng trong đám mây băng qua. “Đó là người Viking[15], em biết đấy. Và họ mang theo rất nhiều chuyện thần thoại của dân tộc mình. Đây là một xứ sở phù hợp với những câu chuyện thần thoại. Mọi thứ dường như đều nảy mầm bén rễ ở đây.”
Tôi có thể tin được điều này. Ánh chiều chạng vạng đã bắt đầu buông phủ và một cơn bão cũng sắp nổi lên. Trong ánh sáng huyền ảo bên dưới những đám mây, ngay cả những ngôi nhà hoàn toàn hiện đại dọc đường cũng có vẻ cổ xưa và đáng sợ như phiến đá Pictish[16] đã bị mưa gió bào mòn nằm cách đây khoảng ba mét, canh gác cho ngã tư mà nó đã đánh dấu cả ngàn năm. Có vẻ đêm nay nên ở trong nhà với những cánh cửa chớp được cài chặt.
Tuy nhiên, thay vì ngồi trong căn phòng khách ấm cúng của bà Baird để giải trí bằng những hình ảnh của cảng Perth trên máy chiếu, Frank lại giữ lời hẹn uống rượu sherry với ông Bainbridge, một luật sư hứng thú với những tư liệu lịch sử địa phương, vẫn còn nhớ cuộc gặp gỡ gần đây nhất với ông Bainbridge, tôi lựa chọn ở nhà với cảng Perth.
“Cố về trước khi bão nổi nhé,” tôi nói, hôn tạm biệt Frank. “Và gửi lời hỏi thăm ông Bainbridge giúp em.”
“Ừm. Dĩ nhiên rồi.” Lẩn tránh ánh mắt tôi, Frank mặc áo khoác, lấy cái ô treo trên giá cạnh cửa và rời đi.
Sau khi Frank đã đi khỏi, tôi đóng cửa nhưng không cài chốt để lát lúc về anh có thể tự mở cửa vào. Tôi thơ thẩn quay lại phòng khách, chắc mẩm Frank sẽ vờ như mình không có vợ - và hẳn là ông Bainbridge sẽ vui vẻ hùa theo. Nhưng tôi không thể trách anh vì điều đó.
Ban đầu, chuyến viếng thăm ông Bainbridge của chúng tôi vào buổi chiều hôm qua diễn ra khá suôn sẻ. Tôi đã nghiêm trang, quý phái, thông minh, khiêm tốn, chỉnh tề và kín đáo - tất cả những gì mà người vợ hoàn hảo của một giáo sư đại học nên có. Cho đến khi ông Bainbridge mời chúng tôi uống trà.
Tôi lật bàn tay phải lại, rầu rĩ săm soi vết phồng rộp to tướng là chạy dọc bên dưới bốn ngón tay. Suy cho cùng, tôi nào có lỗi gì khi ông Bainbridge - một người góa vợ - dùng một cái ấm trà bằng thiếc rẻ tiền thay vì một cái ấm sành sứ đúng điệu cơ chứ. Đã thế để tỏ ra lịch sự, ông ta còn nhờ tôi rót trà. Mà miếng giẻ lót ông ta đưa cho tôi lại có một chỗ bị sờn đến mức mỏng tang khiến cho cái tay cầm nóng bỏng của ấm trà truyền thẳng nhiệt lượng vào tay tôi khi tôi nhấc nó lên.
Không, tôi quyết định rằng tôi chẳng có lỗi gì cả. Trong hoàn cảnh ấy thì đánh rơi ấm trà là một phản ứng hoàn toàn bình thường. Đánh rơi nó vào lòng ông Bainbridge cũng chỉ là một rủi ro ngoài ý muốn; cái ấm phải có chỗ mà rơi xuống chứ! Chính cái từ “Quý sứ chết tiệt!” buột ra khỏi miệng tôi với âm lượng át cả tiếng hét chói tai của ông Bainbridge mới là thứ khiến Frank trừng mắt nhìn tôi qua những chiếc bánh nướng thơm phức.
Khi đã hoàn hồn sau cú sốc, ông Bainbridge tỏ ra khá lịch sự. Ông cuống quýt cả lên vì bàn tay tôi và lờ đi những nỗ lực xin lỗi của Frank về lời ăn tiếng nói không được nhã nhặn của tôi với lời giải thích là tôi đã làm việc ở một bệnh viện dã chiến hơn hai năm. “Tôi e là vợ tôi đã nhặt nhạnh một vài… ờ… từ ngữ “màu mè” từ lính Mỹ,” Frank nói, với một nụ cười căng thẳng.
“Đúng thế,” tôi nghiến răng nói khi quấn một cái khăn sũng nước quanh bàn tay. “Đàn ông có xu hướng rất “màu mè” khi ta gắp mảnh đạn ra khỏi người họ.”
Ông Bainbridge khéo léo lái cuộc trò chuyện sang chủ đề lịch sử vô hại bằng cách nói rằng ông đã luôn hứng thú với biến thể qua các thời kỳ của thứ được coi là những lời cảm thán báng bổ. Như từ “Gorblimey[17]”, chẳng hạn, là một biến thể gần đây của “God blind me[18].”
“Vâng, dĩ nhiên rồi,” Frank nói, đón nhận sự chuyển hướng đó với lòng biết ơn. “Anh không dùng đường đâu, cảm ơn em, Claire. Còn từ “Gadzooks[19]” thì sao nhỉ? Đương nhiên “gad” thì rõ quá rồi, nhưng “zook” thì…”
“Chà, anh biết đấy,” ông luật sư xen ngang, “đôi lúc tôi nghĩ nó có thể là sự biến đổi của một từ cổ của người Scot là “yeuk”, có nghĩa là: “gây ngứa ngáy”. Nghe cũng có lý, đúng không?”
Frank gật đầu, khiến cho phần tóc mái trông chẳng hợp với một học giả rơi xuống trán. Anh vô thức hất nó lên. “Sự tiến hóa của những lời cảm thán báng bổ thật thú vị,” anh nói.
“Vâng, và nó vẫn còn tiếp diễn,” tôi nói, cẩn thận dùng kẹp gắp một viên đường lên.
“Ồ?” Ông Bainbridge lịch sự nói. “Phải chăng cô đã gặp vài biến thể thú vị trong… ờ… trải nghiệm thời chiến của cô?”
“Ồ vâng,” tôi nói. “Tôi học được từ một người Mỹ một từ mà tôi rất thích. Anh ta tên là Williamson, người New York, tôi tin là vậy. Anh ta nói từ đó mỗi lần tôi thay băng cho anh ta.”
“Nó là gì?”
“Jesus H. Roosevelt Christ,” tôi nói và thả tọt viên đường vào tách cà phê của Frank.
•••
Sau cuộc trò chuyện yên bình và không phải là không thú vị với bà Baird, tôi leo lên gác để sửa soạn một chút trước khi Frank về. Tôi biết anh chỉ có thể uống tối đa hai cốc sherry, vì vậy chắc hẳn anh sẽ về sớm. Gió đang nổi lên, không khí trong phòng ngủ đầy tĩnh điện. Khi tôi chải đầu, những lọn tóc xoăn kêu lách tách và xoắn thành những mớ rối nùi. Tôi quyết định tối nay chẳng việc gì phải hành hạ mái tóc mình bằng hàng trăm nhát lược. Thay vào đó, tôi chuyển sang đánh răng. Những lọn tóc vô tổ chức dính chặt vào má tôi, bướng bỉnh bám chắc khi tôi cố vén chúng lên.
Trong bình chẳng còn tí nước nào; Frank đã dùng hết lúc sửa soạn chỉnh tề để tới gặp ông Bainbridge, và tôi đã chẳng buồn hứng lại từ vòi nước trong nhà tắm. Tôi cầm lọ L’Heure Bleu lên và dốc một lượng lớn vào lòng bàn tay. Xoa mạnh hai bàn tay vào nhau trước khi mùi của nó bay mất, tôi nhanh chóng vuốt nó lên tóc. Tiếp đó, tôi dốc một ít nữa lên cái lược và chải những lọn tóc xoăn ra sau tai.
Chà. Khá hơn rồi đấy, tôi nghĩ, quay đầu sang bên này bên kia để kiểm tra thành quả qua cái gương lốm đốm. Hơi ẩm đã xua tan điện tích trong tóc tôi, khiên nó bồng lên thành những lọn sóng nặng nề, sáng bóng quanh mặt tôi. Và chất cồn đang bốc hơi để lại một mùi rất dễ chịu. Hẳn là Frank sẽ thích. Anh vốn chuộng L’Heure Bleu mà.
Bỗng một tia chớp lóe lên, kèm theo tiếng sấm nổ, và tất cả những ngọn đèn vụt tắt. Tôi lẩm bẩm chửi thề, mò mẫm trong các ngăn kéo.
Tôi đã nhìn thấy nến và diêm ở đâu đó. Trên vùng cao nguyên này rất hay mất điện nên nến là một vật trang bị cần thiết cho tất cả các phòng của nhà nghỉ và khách sạn. Tôi đã thấy chúng ở cả những khách sạn sang trọng nhất, nơi chúng được tẩm mùi hương kim ngân và được đặt trong những giá nến bằng kính mờ với những miếng thủy tinh trang trí đẹp lung linh.
Nến ở nhà bà Baird thì thiết thực hơn - chúng là loại nến trơn màu trắng - nhưng rất nhiều, kèm theo ba bao diêm. Tôi cũng không có ý định kén cá chọn canh vào một thời điểm như thế này.
Tôi cắm một ngọn nến vào cái giá bằng gốm màu xanh trên bàn trang điểm nhờ ánh sáng lóe lên của tia chớp tiếp theo, rồi đi quanh phòng, thắp sáng những ngọn nến khác cho đến khi cả căn phòng ngập tràn ánh sáng dìu dịu, lung linh. Lãng mạn quá, tôi nghĩ, và nhanh trí tắt công tắc đèn, để nếu có điện đột ngột trở lại vào một khoảnh khắc không thích hợp thì cũng sẽ không hủy hoại tâm trạng của tôi.
Những ngọn nến cháy chưa quá một phân thì cánh cửa bật mở và Frank ùa vào. Nói là anh “ùa vào” cũng không ngoa, vì luồng gió theo anh lên gác đã làm tắt ba ngọn nến.
Cánh cửa sau lưng anh đóng sầm lại khiến hai ngọn nến nữa bị tắt, và anh nhìn chằm chằm vào bóng tối ảm đạm bất chợt ập đến, lùa bàn tay vào mái tóc rối bời. Tôi đứng dậy để thắp lại nến, khẽ trách anh vì cái lỗi vào phòng đột ngột vừa rồi. Chỉ đến khi đã thắp nến xong và quay lại để hỏi anh có muốn uống một ly rượu không, tôi mới thấy mặt anh trắng bệch, đầy vẻ hoang mang.
“Có chuyện gì thế?” Tôi hỏi. “Anh vừa nhìn thấy ma à?”
“Chà,” anh chậm rãi nói, “anh hoàn toàn không chắc đó có phải là ma không nữa.” Anh lơ đãng nhấc cái lược của tôi lên để chải tóc. Khi mùi L’Heure Bleu bất ngờ xộc vào mũi, anh chun mũi và đặt nó xuống, thay thế nó bằng cái lược bỏ túi của mình.
Tôi liếc ra ngoài cửa sổ, nơi những cành du đang oằn mình quất qua quất lại như những thanh đập lúa. Một cánh cửa chớp lỏng lẻo đang đập uỳnh uỳnh ở đâu đó phía bên kia ngôi nhà, và tôi chợt nghĩ có lẽ chúng tôi nên đóng cửa sổ lại, mặc dù cảnh huyên náo bên ngoài khá thú vị.
“Dông gió thế này sao gặp ma được chứ,” tôi nói. “Chẳng phải chúng thích những buổi tối yên tĩnh, mù sương trong nghĩa địa sao?”
Frank cười, có chút ngại ngùng. “Chà, chắc là vì những câu chuyện của Bainbridge, cộng thêm việc anh uống hơi quá chén. Có vẻ như chẳng có chuyện gì cả.”
Giờ thì tôi đâm ra tò mò. “Chính xác thì anh đã nhìn thấy gì vậy?” Tôi hỏi, ngồi xuống chiếc ghế trước bàn trang điểm, nhướng mày về hướng chai whisky, và Frank lập tức đi tới rót hai ly.
“Ờ, thực ra chỉ là một người đàn ông thôi,” anh bắt đầu kể, rót cho mình một jigger[20] và rót cho tôi hai jigger. “Anh ta đứng ngay trên con đường bên ngoài ngôi nhà này.”
“Cái gì cơ, ngay bên ngoài ngôi nhà này á?” Tôi cười phá lên. “Vậy thì đó hẳn là một hồn ma rồi; em chẳng thể tưởng tượng nổi có người sống nào lại đứng đó vào một đêm mưa gió như thế này.”
Frank nghiêng bình nước định rót vào ly của anh, rồi nhìn tôi với ánh mắt trách móc khi không thấy giọt nào chảy ra.
“Đừng có nhìn em như vậy,” tôi nói. “Anh đã dùng hết nước còn gì. Nhưng em không ngại uống rượu nguyên chất đâu.” Tôi nhấp một ngụm để minh họa.
Trông Frank như muốn chạy ào xuống phòng tắm để lấy nước nhưng anh đành từ bỏ ý định đó và tiếp tục câu chuyện của mình, cẩn trọng nhấp rượu như thể ly của anh chứa acid sulfuric chứ không phải là loại whisky mạch nha đơn cất Glenfiddich ngon nhất vậy.
“Anh ta đứng bên cạnh hàng rào ở mép vườn phía bên này. Anh nghĩ là,” - anh ngập ngừng, nhìn xuống ly rượu trong tay mình. - “Anh nghĩ anh ta đang nhìn lên cửa sổ phòng em.”
“Cửa sổ phòng em á? Kỳ thế!” Tôi không nén nổi khẽ rùng mình, và đi chốt cánh cửa chớp lại, mặc dù có làm thế thì cũng đã muộn. Frank vừa nói vừa dõi theo tôi:
“Phải đấy, chính anh cũng có thể nhìn thấy em khi đứng ở dưới đó. Lúc ấy, em đang chải đầu và chửi thề vì tóc em cứ dựng đứng lên.”
“Thế thì có lẽ hắn ta cười to lắm nhỉ,” tôi ngoa ngoắt nói. Frank lắc đầu, mỉm cười và vuốt tóc tôi.
“Không, anh ta không cười. Trái lại, anh ta có vẻ cực kỳ buồn bã. Thực ra, anh cũng không nhìn rõ mặt anh ta; chỉ là dáng đứng của anh ta toát lên điều đó. Anh tiến lại sau lưng anh ta, và khi anh ta không cử động, anh đã lịch sự hỏi rằng liệu anh có thể giúp gì không. Ban đầu, anh ta làm như không nghe thấy lời anh, và anh nghĩ có lẽ anh ta không nghe thấy thật vì tiếng gió rít, vì vậy anh bèn hỏi lại và vươn tay ra vỗ vai anh ta. Nhưng anh còn chưa chạm được vào người anh ta thì anh ta đột nhiên quay ngoắt lại, lướt qua anh rồi vội vàng rời đi.”
“Nghe qua thì anh ta có vẻ hơi bất lịch sự, nhưng không có gì là giống ma cả,” tôi nhận xét, uống cạn ly rượu. “Trông anh ta thế nào?”
“Một gã to con,” Frank nói, cau mày hồi tưởng lại. “Và là người Scot, mặc nguyên bộ y phục truyền thống, từ chiếc túi da to đeo trước váy đến chiếc ghim cài hình hươu chạy trên áo choàng len. Anh định hỏi anh ta kiếm được nó từ đâu nhưng anh ta đã đi mất trước khi anh kịp mở miệng.”
Tôi đi tới tủ com-mốt và rót một ly rượu nữa. “Chà, vẻ ngoài của anh ta không phải là quá bất thường ở vùng này, đúng không nào? Thi thoảng em vẫn nhìn thấy những người đàn ông trong làng ăn mặc như thế.”
“Khôôông…” Giọng Frank đầy vẻ nghi ngại. “Không, điều kỳ quặc không nằm ở y phục của anh ta. Khi anh ta lướt qua anh, anh tin chắc là anh ta ở gần anh đến mức anh phải cảm nhận được anh ta sượt qua tay áo anh - nhưng anh lại không cảm thấy gì cả. Anh kinh ngạc đến nỗi quay người lại và dõi theo anh ta. Anh ta đi dọc theo đường Gereside, nhưng khi gần tới góc đường thì anh ta… biến mất. Đó là lúc anh bắt đầu cảm thấy lạnh toát sống lưng.”
“Có lẽ anh đã lơ đãng trong một thoáng, và anh ta chỉ bước vào trong bóng tối mà thôi,” tôi gợi ý. “Gần góc đường đó có rất nhiều cây mà.”
“Anh có thể thề là anh không rời mắt khỏi anh ta một giấy nào,” Frank lẩm bẩm. Rồi anh thình lình ngẩng lên. “Anh biết rồi! Giờ thì anh nhớ ra tại sao mình lại nghĩ anh ta kỳ quặc rồi, dù lúc đó anh không nhận ra.”
“Anh ta kỳ quặc ở điểm gì?” Tôi đang bắt đầu thấy ngán ngẩm với hồn ma này và muốn chuyển sang những vấn đề thú vị hơn, như lên giường chẳng hạn.
“Lúc ấy gió đang thổi dữ dội nhưng y phục của anh ta - váy và áo choàng len, em biết đấy - không lay động chút nào, chỉ khẽ đung đưa theo nhịp bước của anh ta lúc anh ta rời đi.”
Chúng tôi nhìn nhau. “Chà,” cuối cùng tôi nói, “rợn cả người.”
Frank nhún vai và chợt mỉm cười, gạt chuyện này đi. “Ít ra trong lần tới gặp mục sư, anh cũng có chuyện để kể với ông ấy. Có thể đó là một hồn ma nổi tiếng trong vùng và mục sư sẽ kể cho anh nghe về lai lịch hãi hùng của nó.” Anh liếc nhìn đồng hồ đeo tay. “Giờ thì đã đến lúc đi ngủ rồi.”
“Đúng vậy,” tôi lẩm bẩm.
Qua gương, tôi nhìn anh vừa cởi áo sơ mi vừa với lấy một cái mắc áo. Rồi anh đột nhiên ngừng lại khi đang cởi cái nút ở giữa.
“Em có nhiều bệnh nhân người Scot không, Claire?” Anh đột ngột hỏi. “Ở bệnh viện dã chiến hoặc ở Pembroke ấy?”
“Đương nhièn rồi,” tôi đáp, hơi khó hiểu. “Có vài người thuộc trung đoàn Seaforth và Cameron ở bệnh viện dã chiến tại Amiens, và sau đó một chút sau trận chiến ở Caen, bọn em có rất nhiều bệnh nhân thuộc trung đoàn Gordon. Hầu hết bọn họ đều đáng mến. Bình thường thì thật rắn rỏi, nhưng lại nhát như cáy trước mũi tiêm.” Tôi mỉm cười, nhớ lại một trường hợp đặc biệt.
“Có một người - một ông lão cộc cằn, là người thổi kèn túi của trung đoàn Seaforth số 3 - ông ta rất sợ tiêm, đặc biệt là ở hông. Ông ta sẽ cau có hàng tiếng đồng hồ trước khi để cho ai đó cầm kim tiêm tới gần mình, thậm chí khi đó ông ta còn cố nài xin bọn em tiêm cho ông ta vào cánh tay, mặc dù như thế có nghĩa là phải tiêm bắp.” Tôi cười phá lên khi nhớ về Hạ sĩ Chisholm. “Ông ta nói với em rằng: “Nếu tôi phải giơ mông úp mặt thì tôi muốn có một cô ả nằm bên dưới tôi, chứ không phải là ở đằng sau, tay lăm lăm cái ghim cài mũ!”.
Frank mỉm cười, nhưng trông anh có vẻ không mấy thoải mái, như thường thấy mỗi lần anh nghe những câu chuyện chiến tranh kém tế nhị của tôi. “Đừng lo,” tôi trấn an anh khi nhìn thấy vẻ mặt ấy. “Em sẽ không kể câu chuyện đó vào bữa tiệc trà của các giảng viên đâu.”
Anh cười tươi hơn. Khi tôi ngồi xuống bàn trang điểm, anh tới đúng đằng sau tôi, hôn lên đỉnh đầu tôi.
“Đừng lo,” anh nói. “Các giảng viên khác sẽ mến em, bất luận em kể chuyện gì. Ưm. Tóc em thơm quá!”
“Anh thích không?”
Thay vì trả lời, hai tay anh trườn xuống từ trên vai tôi, ôm trọn bầu ngực tôi trong chiếc váy ngủ mỏng manh. Qua tấm gương, tôi có thể nhìn thấy cằm anh đang tựa trên đỉnh đầu tôi.
“Anh thích mọi thứ ở em,” anh khàn khàn nói. “Trông em thật tuyệt dưới ánh nến. Đôi mắt em giống như rượu sherry trong bình pha lê, và làn da em ánh lên như ngà vậy. Em đúng là một phù thủy ánh nến. Có lẽ anh nên gỡ hết đèn đi.”
“Thế thì làm sao mà đọc sách trên giường được,” tôi nói, tim bắt đầu đập thình thịch.
“Anh có thể nghĩ ra khối việc thú vị hơn để làm trên giường thay vì đọc sách,” anh thì thầm.
“Thật ư?” Tôi nói, đứng dậy và xoay người lại để vòng hai cánh tay quanh cổ anh. “Chẳng hạn như việc gì nào?”
•••
Một lúc sau, đang nằm âu yếm ôm nhau đằng sau cánh cửa chớp đã cài then, tôi ngẩng đầu lên khỏi bờ vai anh và nói: “Sao lúc nãy anh lại hỏi em chuyện đó? Chuyện em có bệnh nhân người Scot nào không ấy? Ý em là, hẳn anh phải biết là có chứ, ở những bệnh viện như thế có đủ hạng người mà.”
Anh trở mình, nhẹ nhàng vuốt ve sống lưng tôi.
“Ừm. Không có gì đâu. Chỉ là, khi anh nhìn thấy gã đàn ông ở ngoài kia, anh chợt nghĩ hắn có thể là… - anh ngập ngừng, siết chặt vòng ôm hơn một chút - “Ờ, em biết đây, hắn có thể là bệnh nhân cũ của em, có thể… có thể hắn nghe nói em đang ở đây nên tới thăm… đại loại thế.”
“Nếu vậy thì,” tôi lý luận, “tại sao anh ta không vào nhà để gặp em?”
“Chà,” Giọng Frank rất thản nhiên, “có lẽ hắn không muốn chạm trán anh.”
Tôi chống một bên khuỷu tay, nhìn anh chằm chằm. Chúng tôi đã chừa lại một ngọn nến sáng nên tôi có thể nhìn rõ anh. Anh đã ngoảnh đầu đi và giả tảng nhìn về phía bức tranh bằng đá màu của Hoàng tử Charlie Xinh đẹp mà bà Baird cảm thấy là phù hợp để trang trí cho bức tường trong phòng chúng tôi.
Tôi nắm lấy cằm anh và xoay đầu anh đối diện với tôi. Anh mở to mắt, giả vờ kinh ngạc.
“Có phải anh đang ám chỉ rằng,” tôi hỏi, “người đàn ông mà anh nhìn thấy ở ngoài kia là một dạng, dạng…” tôi ngập ngừng, tìm từ ngữ thích hợp.
“Quan hệ bất chính?” Anh gợi ý giúp tôi.
“Đối tượng say nắng của em?” Tôi kết thúc câu.
“Không, không, chắc chắn là không,” anh nói mà chẳng có sức thuyết phục. Anh nhấc tay tôi ra khỏi mặt anh và cố gắng hôn tôi, nhưng giờ thì đến lượt tôi ngoảnh mặt đi. Anh đành phải ấn tôi nằm xuống bên cạnh anh.
“Chỉ là…” Anh bắt đầu. “Chà, em biết đấy, Claire, trong sáu năm trời. Chúng ta chỉ gặp nhau có ba lần, và lần cuối cùng thì gặp nhau đúng một ngày. Sẽ chẳng có gì lạ nếu… ý anh là, ai cũng biết là các bác sĩ và y tá đều phải chịu áp lực khủng khiếp trong những ca cấp cứu, và… chà, anh… chỉ là… chà, anh sẽ thông cảm, em biết đấy, nếu có xảy ra bất cứ chuyện gì, ờ, vì nhất thời…”
Tôi vùng ra khỏi vòng tay anh và đùng đùng xuống giường, ngắt ngang những lời nói rời rạc của anh.
“Anh nghĩ em đã phản bội anh sao?” Tôi hỏi. “Đúng không? Bởi vì nếu anh nghĩ như vậy, anh có thể rời khỏi căn phòng này ngay lập tức. Rời khỏi ngôi nhà này luôn! Làm sao anh dám ám chỉ một điều như thế?” Tôi giận sôi máu, còn Frank thì ngồi dậy, vươn tay ra để cố xoa dịu tôi.
“Đừng có chạm vào em!” Tôi gắt gỏng. “Anh nói đi, chỉ vì có một người đàn ông lạ mặt tình cờ nhìn lên cửa sổ phòng em mà anh nghĩ em có một mối tình ngoài luồng nóng bỏng với một trong những bệnh nhân của em, đúng không?”
Frank xuống giường và choàng tay quanh người tôi. Tôi đứng đờ ra như khúc gỗ[21], nhưng anh vẫn kiên trì vuốt tóc tôi và xoa vai tôi theo cái kiểu mà anh biết là tôi thích.
“Không phải, anh đâu có nghĩ như vậy,” anh quả quyết, rồi kéo tôi lại gần. Tôi hơi thả lỏng, nhưng chưa đủ để choàng tay ôm anh.
Một lúc lâu sau, anh thì thầm vào tóc tôi: “Không, anh biết em sẽ không bao giờ làm một chuyện như thế. Anh chỉ muốn nói rằng cho dù em có làm… Claire, thì với anh cũng sẽ chẳng có gì khác biệt. Anh rất yêu em. Cho dù em có làm gì thì cũng không thể khiến anh ngừng yêu em.” Anh ôm trọn mặt tôi trong hai bàn tay, nhìn thẳng vào mắt tôi - vì chỉ hơn tôi có chục phân nên anh có thể làm thế không khó khăn gì - và khẽ khàng nói: “Tha thứ cho anh nhé?” Hơi thở anh thoang thoảng mùi Glenfiddich, ấm áp phả vào mặt tôi; đôi môi đầy đặn và mời gọi kề sát đến mức khiến tôi nao lòng.
Một ánh chớp nữa lóe lên báo hiệu cơn bão đã kéo đến, mưa rơi như trút xuống mái nhà lợp ngói đen.
Tôi chầm chậm choàng hai tay quanh eo anh.
“Lòng khoan dung không thể gượng ép mà có,” tôi trích dẫn. “Nó rơi xuống như giọt sương trên thiên đường[22]…”
Frank cười phá lên và ngước nhìn trần nhà; những vết ố chồng chất nhau trên đó báo trước điềm gở rằng chúng tôi sẽ không được ngủ khô ráo suốt đêm.
“Nếu đó là ví dụ tiêu biểu cho lòng khoan dung của em,” anh nói, “anh sẽ không muốn nhìn thấy sự báo thù của em đâu.” Tiếng sấm rền vang tựa tiếng súng cối như thể đáp lại lời anh, cả hai chúng tôi cùng bật cười, cảm thấy thoải mái trở lại.
Mãi đến lúc nghe tiếng thở sâu của anh vang lên đều đều bên tai, tôi mới bắt đầu băn khoăn. Như tôi đã nói, về phần tôi, chẳng có bằng cớ gì cho thấy tôi không chung thủy. Đó là về phần tôi. Nhưng, như anh đã nói đấy, sáu năm quả là một quãng thời gian dài đằng đẵng.
[1] Jacobite: người ủng hộ Vua James II của Anh.
[2] Bonnie Prince Charlie, tức Charles Edward Stuart (1720 - 1788): còn được gọi là Kẻ Đòi vị Trẻ tuổi, là người mang hai dòng máu Scotland và Ba Lan, được nuôi dạy ở Rome. Ông đã tới Scotland chỉ huy cuộc nổi dậy năm 1745 và bị đánh bại trong trận Culloden.
[3] Ngôn ngữ gốc Celt bản địa tại Scotland, được nói bởi người Gael cổ.
[4] Chỉ lục địa châu Âu.
[5] Cục tình báo mật, là cơ quan có nhiệm vụ cung cấp cho chính phủ Anh những thông tin tình báo nước ngoài.
[6] Loài cây có hoa chùm nhỏ, màu trắng ở châu Âu và Bắc Mỹ, thường được xem là cỏ dại.
[7] Tín đồ thuộc một tôn giáo cổ đại ở Anh, Ireland và xứ Gaul trước khi dân chúng các vùng này theo đạo Cơ Đốc. Họ thờ phụng các thế lực siêu nhiên, thường tiến hành các nghi lễ hiến tế trên các ngọn đồi hoặc trong các khu rừng.
[8] Trích trong Sách Joshua, cuốn sách thứ sáu trong Kinh thánh Do Thái của người Do Thái và Cựu Ước của Kitô giáo. Cuốn sách viết về nhà tiên tri đầu tiên của Israel, người kế vị Moses. Sách Joshua còn ghi chép về lịch sử của Israel từ sau cái chết của Moses. Đây là lời Joshua nguyền rủa những ai đứng lên tái thiết thành Jericho.
[9] Lễ hội của người Celt cổ vào ngày mồng Một tháng Năm.
[10] Người tiền sử ở Trung Âu từ năm 2000 đến năm 1000 trước Công nguyên.
[11] Người thuộc một dân tộc ở miền Bắc nước Anh cổ đại, kiên cường chống chọi với người La Mã và đến thế kỷ thứ IX thì chung sức với người Scot lập nên một vương quốc mà sau này chính là Scotland.
[12] Cỏ ba lá là biểu tượng của ngày Thánh Patrick (17-3), tưởng niệm vị thánh bảo hộ của Ireland. Vào ngày này, mọi người thường mặc đồ màu xanh lá cây và gắn cỏ ba lá lên trang phục trên người.
[13] Tên các nhân vật trong các truyện dân gian của Scotland.
[14] Người ở miền cao nguyên Scotland.
[15] Người thuộc các dân tộc ở Scandinavia thường hay cướp bóc trên biển và xâm chiếm nhiều vùng thuộc miền Tây Bắc châu Âu từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XI.
[16] Các hòn đá có chứa những hình chạm khắc bí ẩn được cho là ngôn ngữ viết của người Pict.
[17] Từ được dùng để biểu lộ sự ngạc nhiên hay phẫn nộ.
[18] Nghĩa đen: Chúa làm lóa mắt tôi.
[19] Từ để biểu lộ sự ngạc nhiên hay bàng hoàng.
[20] Dụng cụ đong rượu.
[21] Nguyên văn: I stayed stiff as Lot’s wife (Tạm dịch: Tôi đứng cứng đờ như vợ của Lot). Vợ của Lot là một nhân vật được nhắc đến trong Kinh Thánh, sách Sáng thế ký chương 19, bà đã bị biến thành một cây cột muối vì đã ngoảnh nhìn lại thành Sodom sau khi chạy thoát thân dù đã được căn dặn là không được làm thế.
[22] Câu nói trích trong vở kịch Người lái buôn thành Venice của William Shakespear.
[Phần Một] Bản phát hành ở Anh đã đổi thành năm 1946.