Những bờ vai xám xịt trong bóng tối tách ra trước mặt tôi. Khuỷu tay tôi va vào gỗ tê rần khi tôi bị đây thô bạo qua ngưỡng cửa và ngã chúi vào một đám sinh vật sống không rõ hình dáng, đen sì, hôi thối và đang quằn quại. Tôi vùng vẫy hét lên, cố gắng tránh xa vô số bàn chân nhỏ xíu đang quờ quạo và cú tấn công của thứ gì đó lớn hơn nhắm vào đùi tôi.
Cuối cùng tôi cũng lăn người đi được, nhưng chỉ chừng nửa mét đã va phải một bức tường đất khiến cho một màn bụi đất ào ào rắc xuống đầu. Tôi nép sát vào tường, cố gắng kìm nén hơi thở hốn hển để lắng nghe thứ bị mắc kẹt cùng tôi trong cái hố bốc mùi này. Cho dù là gì/ nó khá to lớn và đang thở khào khào, nhưng không phải là tiếng gầm gừ. Một con lợn chăng?
“Ai đấy?” Một giọng nói vang lên từ bức màn đen ảm đạm, tuy có vẻ sợ hãi nhưng vẫn cất cao một cách cứng cỏi. “Claire, là cô phải không?”
“Geilie!” Tôi thở hổn hển và dò dẫm tiến về phía cô ta, rồi chạm vào hai bàn tay cô ta cũng đang quờ quạng tìm tôi. Chúng tôi ôm chặt nhau, khẽ đu đưa qua lại trong bóng tối âm u.
“Ngoài chúng ta ra, trong này còn có thứ gì khác không?” Tôi hỏi, thận trọng liếc quanh. Ngay cả khi mắt đã quen với bóng tối, tôi cũng chẳng nhìn thấy gì nhiều. Ở trên cao có những vệt ánh sáng nhạt nhòa lọt vào, nhưng ở dưới này, bóng tối u ám dâng lên đến tận vai; khuôn mặt Geilie ngang bằng và chỉ cách mặt tôi có chục phân, nhưng tôi vẫn không thể nhìn rõ.
Cô ta cười, hơi run rẫy. “Vài con chuột, tôi nghĩ vậy, và những loài có hại khác nữa. Và một thứ mùi đủ làm một con chồn sương ngất xỉu.”
“Tôi cũng đã ngửi thấy. Chúng ta đang ở nơi quái quỷ nào vậy?”
“Hố giam trộm. Lùi lại đi!”
Một tiếng ken két vang lên và một tia sáng bất ngờ rọi vào từ phía trên đầu. Tôi áp mình vào tường, vừa kịp lúc tránh một cơn mưa bùn và những thứ bẩn thỉu khác trút xuống qua một khe hở nhỏ trên mái nhà tù của chúng tôi. Theo sau dòng lũ lớn ấy là một tiếng tõm nhẹ. Geilie cúi xuống nhặt thứ gì đó ở dưới sàn. Khe hở bên trên vẫn chưa khép lại, và tôi có thể nhìn thấy thứ cô ta cầm là một ổ bánh nhỏ, chua lòm và dính đủ loại rác rến. Cô ta rón rén phủi nó bằng một nếp gấp ở váy.
“Bữa tối đây,” cô ta nói. “Cô đói không?”
•••
Khe hở ở bên trên vẫn còn đó và trống không, ngoại trừ thi thoảng có một vật bị người đi qua ném vào. Mưa phùn hắt xuống, kèm theo một cơn gió buốt thấu xương. Trong hố lạnh lẽo, ẩm thấp và tồi tàn hết mức, thích hợp vơi những kẻ bất lương mà cái hố này sẽ giam cầm: những kẻ trộm cắp, lang thang, ăn nói báng bổ, ngoại tình... Và bị tình nghi là phù thủy.
Geilie và tôi nép vào nhau, áp sát một bức tường để lấy hơi ấm. Chúng tôi không nói gì nhiều vì cũng chẳng biết phải nói gì, cả hai đều chẳng thể làm gì để giúp mình, ngoài việc kiên nhẫn giữ tự chủ.
Khe hở bên trên dần trở nên tối hơn khi màn đêm buông xuống, rồi nhòa vào màu đen xung quanh.
•••
“Chị nghĩ họ định nhốt chúng ta ở đây bao lâu?”
Geilie nhúc nhích, duỗi thẳng hai chân để khối ánh sáng hình chữ nhật từ bên trên chiếu xuống lớp vải lanh kẻ sọc của cô ta. Ban đầu bộ váy của cô ta có màu hồng tươi và trắng tinh, giờ thì đã trở nên khá nhếch nhác.
“Không lâu lắm đâu,” cô ta nói. “Họ đang đợi các thẩm tra viên của giáo hội. Tháng trước, Arthur đã thư từ qua lại với bên giáo hội để sắp xếp việc này vào tuần thứ hai của tháng Mười. Họ sẽ có mặt ở đây bất cứ lúc nào.”
Cô ta xoa hai tay vào nhau cho ấm rồi đặt chúng lên hai đầu gối trong vuông ánh nắng nhỏ bé.
“Nói tôi nghe về các thẩm tra viên đi,” tôi nói. “Chính xác thì chuyện gì sẽ xảy ra?”
“Tôi không thể nói chính xác. Tôi chưa bao giờ chứng kiến một cuộc xét xử phù thủy, nhưng đương nhiên là tôi đã nghe về nó.” Cô ta ngừng lại trong một thoáng, ngẫm nghĩ. “Mấy người này chỉ định đến để phân xử vài vụ tranh chấp về đất đai và sẽ không chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc xét xử phù thủy. Vì thế ít nhất họ sẽ không đem theo một người đâm thử phù thủy.”
“Một cái gì cơ?”
“Phù thủy không thể cảm nhận sự đau đớn,” Geilie giải thích. “Họ cũng không chảy máu khi bị đâm.” Người đâm thử phù thủy, được trang bị một loạt các dụng cụ như kim, lưỡi trích và những vật có mũi nhọn khác, được giao phó trọng trách kiểm tra tình trạng đó. Tôi mơ hồ nhớ lại bài viết về vấn đề này từ những cuốn sách của Frank, nhưng cứ nghĩ nó phổ biến ở thế kỷ mười bảy chứ không phải là thế kỷ này. Tuy nhiên, tôi mỉa mai nghĩ, Cranesmuir không phải là một cái nôi văn minh.
“Vậy thì thật tệ,” tôi nói, dù hơi chùn mình trước ý nghĩ bị đâm đi đâm lại. “Chúng ta có thể dễ dàng vượt qua thử thách. Chí ít tôi cũng có thể vượt qua,” tôi chua cay nói thêm. “Tôi cho là họ sẽ thấy nước đá chảy ra từ người chị chứ không phải là máu khi họ đâm thử.”
“Tôi không chắc lắm,” cô ta trầm ngâm nói, lờ đi ẩn ý xúc phạm của tôi. “Tôi nghe nói có những mũi kim đặc biệt sẽ bị gãy khi đâm vào da, do đó trông chúng như không thể đâm xuyên vào cơ thể.”
“Nhưng tại sao? Tại sao họ lại cố tình chứng minh ai đó là phù thủy?”
Mặt trời đang lặn, nhưng ánh nắng chiều vẫn lờ mờ rọi vào cái hố giam của chúng tôi. Khuôn mặt trái xoan thanh lịch của Geilie chỉ biểu lộ vẻ thương hại cho sự ngây thơ của tôi.
“Cô vẫn chưa hiểu sao?” Cô ta nói. “Họ muốn giết chúng ta. Không quan trọng tội danh là gì hay bằng chứng thế nào. Dù sao đi nữa, chúng ta vẫn sẽ bị thiêu chết.”
Đêm hôm trước, vì quá sốc trước cuộc tấn công của đám đông và sự tồi tàn của môi trường xung quanh nên tôi chỉ biết chụm vào một chỗ cùng với Geilie, đợi bình minh đến. Nhưng, cùng với ánh sáng, phần còn lại của linh hồn tôi đang bắt đầu thức tỉnh.
“Tại sao hả Geilie?” Tôi hỏi, cảm thấy nghẹt thở. “Chị có biết không?” Không khí trong hố sực mùi hôi thối của sự mục nát, bẩn thỉu và ẩm thấp, tôi cảm thấy những bức tường đất cứng chắc đến không thể thâm nhập được này sắp sửa đè bẹp tôi như các vách của một cái huyệt đào ẩu.
Tôi cảm thấy hơn là nhìn thấy cô ta nhún vai; tia sáng từ bên trên đã xê dịch theo sự di chuyển của mặt trời và bây giờ đang chiếu vào bức tường nhà lao, để lại chúng tôi trong bóng tối lạnh lẽo bên dưới.
“Nếu điều này có thể an ủi cô,” cô ta nói với vẻ châm biếm, “tôi không nghĩ họ cố ý bắt cô. Đây chi là vấn đề giữa tôi và Colum - cô thật xui xẻo khi ở cùng tôi lúc dân làng đến. Nếu cô ở chỗ Colum, cô có thể an toàn, dù có là Sassenach.”
Từ “Sassenach”, được nói ra với ý nghĩa xúc phạm quen thuộc của nó, đột nhiên khiến tôi nhớ đến quay quắt người đàn ông đã gọi tôi như thế bằng sự trìu mến. Tôi tự ôm lấy mình để kìm lại nỗi kinh hoàng và cô đơn đang đe dọa phủ trùm lên tôi.
“Tại sao cô lại đến nhà tôi?” Geilie tò mò hỏi.
“Tôi tưởng chị nhờ người gọi tôi đến. Một trong những cô gái ở lâu đài đã chuyển cho tôi một tin nhắn - từ chị, cô ta nói vậy.”
“À,” Geilie trầm ngâm nói. “Laoghaire phải không?”
Tôi ngồi xuống và dựa lưng vào bức tường đất, mặc kệ nỗi khiếp sợ đối với bề mặt lâm bùn nhớp nháp. Cảm nhận được cử động ấy, Geilie xích lại gần tôi hơn. Dù là bạn hay thù, chúng tôi là nguồn ấm áp duy nhất của nhau trong cái hố này; vì vậy việc chúng tôi nép vào nhau cũng là điều tất yếu.
“Làm sao chị biết đó là Laoghaire?” Tôi run rẩy hỏi.
“Chính cô ta đã bỏ bùa yểm vào giường cô,” Geilie trả lời. “Ngay từ đầu, tôi đã nói với cô là có những kẻ bực tức vì cô chiếm mất anh chàng tóc đỏ mà. Tôi cho là cô ta nghĩ nếu cô biến mất, cô ta sẽ lại có cơ hội với anh ta.”
Nghe thấy những lời này, tôi chỉ biết câm lặng, và mất một lúc mới cất được giọng nói.
“Không thể nào!”
Tiếng cười của Geilie hơi khàn đi bởi cái lạnh và cơn khát, nhưng vẫn nghe như tiếng bạc.
“Bất cứ ai trông thấy cái cách anh chàng đó nhìn cô cũng sẽ biết điều đó. Nhưng tôi không nghĩ cô ta đủ trải nghiệm để hiểu những chuyện như vậy. Cứ để cô ta ăn nằm với một người đàn ông đôi ba lần, cô ta sẽ biết, nhưng bây giờ thì chưa.”
“Ý tôi không phải như vậy!” Tôi bật thốt. “Jamie không phải là người mà cô ta muốn; cô ta đang có thai với Dougal MacKenzie.”
“Cái gì?!” Geilie thực sự bị sốc, bấu chặt vào cánh tay tôi. “Sao cô lại nghĩ thế?”
Tôi bèn kể cho cô ta nghe về việc nhìn thấy Laoghaire trên cầu thang bên dưới thư phòng của Colum, và những kết luận mà tôi đã suy ra.
Geilie phì cười.
“Hừ! Cô ta nghe thấy Colum và Dougal nói chuyện về tôi đấy; thế nên cô ta mới chùn bước - cô ta nghĩ Colum đã nghe thấy chuyện cô ta tới chỗ tôi để lấy bùa yểm. Ông ta sẽ phạt cô ta bị quất roi đến chảy máu vì ông ta vốn không cho phép những việc như vậy.”
“Chính chị đã cho cô ta bùa yểm?” Tôi choáng váng.
Geilie rụt người lại trước câu hỏi này.
“Không, tôi không cho cô ta. Tôi bán nó cho cô ta.”
Tôi giương mắt, cố gắng nhìn vào mắt cô ta qua bóng tối đang tụ lại.
“Có gì khác nhau ư?”
“Đương nhiên là khác chứ.” Cô ta nói với vẻ mất kiên nhẫn. “Đó là chuyện buôn bán, thế thôi. Tôi không tiết lộ bí mật của khách hàng. Hơn nữa, cô ta không nói với tôi cô ta yểm bùa ai. Và hẳn cô còn nhớ là tôi đã cố cảnh báo cô.”
“Cảm ơn,” tôi nói với chút mỉa mai. “Nhưng...” Đầu óc tôi rối loạn, cố gắng sắp xếp lại các ý nghĩ trước thông tin mới mẻ này. “Nhưng nếu cô ta bỏ bùa yểm vào giường tôi, thế thì Jamie chính là người mà cô ta muốn. Điều đó cũng sẽ giải thích cho lý do tại sao cô ta lại bảo tôi đến nhà chị. Nhưng còn Dougal thì sao?”
Geilie ngập ngừng trong một thoáng, rồi có vẻ đi đến một quyết định nào đó.
“Cô ta không mang thai với Dougal MacKenzie.”
“Làm sao chị có thể chắc chắn như thế?”
Cô ta lần tìm tay tôi trong bóng tối rồi kéo nó, đặt vào chỗ gồ lên bên dưới chiếc váy của mình.
“Bởi vì tôi mới là người mang thai với ông ấy,” cô ta chỉ đơn giản nói.
•••
“Vậy ra không phải là Laoghaire,” tôi nói. “Mà là chị.”
“Là tôi.” Cô ta nói, không màu mè kiểu cách như thường lệ. “Chẳng phải Colum đã nói “anh sẽ xử lý cô ta” sao? Chà, tôi cho rằng đây chính là cách giải quyết của ông ta.”
Tôi im lặng trong một lúc lâu, ngẫm nghĩ về mọi chuyện.
“Geilie,” cuối cùng tôi nói, “căn bệnh dạ dày của chồng chị...”
Cô ta thở dài. “Thạch tín,” cô ta nói. “Tôi cứ nghĩ nó sẽ kết liễu ông ta trước khi đứa trẻ bắt đầu lộ rõ, nhưng ông ta sống dai hơn tôi nghĩ.”
Tôi nhớ vẻ bàng hoàng trên mặt Arthur Duncan khi ông ta lao ra khỏi phòng của vợ mình vào ngày cuối cùng trong cuộc đời ông ta.
“Tôi hiểu,” tôi nói. “Ông ta không biết là chị có thai cho đến khi nhìn thấy chị cởi trần vào ngày yến tiệc của Công tước. Và khi ông ta phát hiện ra... tôi cho là ông ta có lý do chính đáng để biết đó không phải là con của mình?”
Một tiếng cười khẽ cất lên từ góc đằng xa.
“Diêm tiêu đắt đỏ lắm, nhưng nó đáng đồng tiền bát gạo.”
Tôi hơi rùng mình, khom người áp vào tường.
“Nhưng chị liều lĩnh giết ông ta ngay trong bữa yến tiệc trước con mắt của bao người là vì sợ ông ta sẽ tố giác chị là một kẻ ngoại tình - và một kẻ đầu độc, hay chị nghĩ ông ta đã nhận ra chuyện thạch tín?”
“Ồ, Arthur đã biết,” Geilie nói. “Ông ta sẽ không thừa nhận, hẳn rồi - ngay cả với chính mình. Nhưng ông ta biết. Chúng tôi thường ngồi đối diện nhau trong bữa tối, và tôi hỏi: “Anh ăn thêm một ít xúp nhé, anh yêu?” hoặc “Một ngụm bia nữa nhé, chồng của em?” Và ông ta nhìn tôi với đôi mắt như hai quả trứng luộc, nói rằng không, ông ta không thấy thèm ăn, rồi đẩy cái đĩa đi. Sau đó, tôi sẽ nghe thấy ông ta bí mật đứng ngốn ngấu thức ăn bên cái chạn trong bếp, nghĩ rằng mình an toàn vì không ăn thức ăn từ tay tôi.”
Giọng cô ta nhẹ nhàng và thích thú như thể đang thuật lại một mẫu tin đồn lý thú nào đó. Tôi lại rùng mình, rụt người lại để tránh xa khỏi kẻ đang cùng tôi chia sẻ bóng tối.
“Ông ta không ngờ chất độc nằm trong thứ thuốc bổ ông ta uống. Ông ta không uống loại thuốc nào do tôi bào chế mà đặt một loại thuốc bổ đặc biệt từ London - vốn cũng rất tốn kém.” Giọng cô ta tỏ vẻ căm phẫn trước sự hoang phí ấy. “Nó vốn có sẵn thạch tín; vì vậy ông ta không nhận ra mùi vị của nó có gì khác biệt khi tôi bỏ thêm vào đó một ít.”
Tôi vẫn luôn nghe nói lòng kiêu hãnh là điểm yếu phiền toái của những kẻ giết người; điều đó có vẻ đúng, vì cô ta tiếp tục thuật lại những thành tích của mình trong niềm tự đắc, lờ đi tình cảnh của chúng tôi.
“Giết ông ta trước cả đám người như thế thì hơi mạo hiểm, nhưng tôi phải ra tay thật nhanh.” Lúc đó, cô ta không dùng thạch tín. Tôi nhớ đến đôi môi thâm sì của viên biện lý và cảm giác tê rần ở môi tôi khi chạm vào môi ông ta. Đó là một chất độc phát tác nhanh và chí mạng.
Vậy mà tôi cứ nghĩ hôm ấy Dougal đang thú nhận về vụ dan díu với Laoghaire. Nhưng nếu là trường hợp đó, mặc dù Colum có thể không tán thành nhưng sẽ chẳng có gì ngăn cản được Dougal cưới cô ta. Lúc đó, ông ta đã góa vợ và tự do.
Còn việc ngoại tình với vợ của viên biện lý? Đó lại là một chuyện khác. Tôi nhớ rằng những hình phạt dành cho tội ngoại tình rất nghiêm khắc. Colum khó có thể bao che cho một vụ việc động trời như thế, nhưng tôi không nghĩ ông ta sẽ trục xuất hoặc quất roi em trai mình ở nơi công cộng. Và Geilie thà giết người còn hơn là bị dí một thanh sắt nóng giãy vào mặt và bị nhốt trong nhà lao vài năm, giã cây gai dầu mười hai tiếng một ngày.
Vì vậy cô ta đã lựa chọn biện pháp phòng ngừa, và Colum cũng thực hiện biện pháp của ông ta. Còn tôi thì bị mắc kẹt ở giữa.
“Nhưng còn đứa trẻ?” Tôi hỏi. “Hẳn là...”
Một tiếng cười đáng sợ cất lên trong không gian tối đen. “Đó chỉ là “tai nạn”, bạn của tôi ơi! Chuyện đó vẫn xảy ra với phần lớn chúng ta. Và khi nó xảy ra...” Tôi cảm thấy hơn là nhìn thấy cô ta nhún vai. “Tôi đã định bỏ đứa bé, nhưng rồi lại nghĩ đây có thể là một cách để khiến Dougal cưới tôi sau khi Arthur chết.”
Một nỗi nghi ngờ khủng khiếp dâng lên trong lòng tôi.
“Nhưng lúc đó vợ của Dougal vẫn còn sống. Geillis, có phải chị đã...”
Chiếc váy sột soạt khi cô ta lắc đầu, và tôi bắt gặp một tia sáng lờ mờ ánh lên trên tóc cô ta.
“Tôi đã định làm vậy,” cô ta nói. “Nhưng Chúa đã miễn cho tôi rắc rối đó. Tôi cứ nghĩ đó là một dấu hiệu. Đáng lẽ mọi chuyện đã tốt đẹp, nếu không có Colum MacKenzie.”
Tôi ôm lấy hai khuỷu tay để chống lại cái lạnh. Vào lúc này, tôi nói chuyện chỉ để giải khuây.
“Chị muốn con người Dougal, hay chỉ muốn địa vị và tiên bạc của ông ta?”
“Ồ, tôi có nhiều tiền lắm,” cô ta nói, với chút tự mãn. “Tôi biết chỗ Arthur cất giấu chìa khóa của nơi đựng tất cả giấy tờ và tiền bạc của ông ta. Người đàn ông đó lại có nét chữ rất rõ ràng - vậy nên giả mạo chữ ký của ông ta là một việc khá đơn giản. Trong hai năm qua, tôi đã xoay xở chuyển được gần mười nghìn bảng.”
“Nhưng để làm gì?” Tôi hỏi, hoàn toàn kinh ngạc.
“Vì Scotland.”
“Cái gì?” Trong một thoáng, tôi nghĩ mình đã nghe lầm. Rồi tôi quyết định rằng có lẽ đầu óc của một trong hai chúng tôi có vấn đề. Căn cứ vào bằng chứng trong tay, đó không phải là tôi.
“Ý chị là gì, Scotland ư?” Tôi thận trọng hỏi, rụt lại một chút. Tôi không chắc cô ta bất ổn đến mức nào; có lẽ việc mang thai đã làm đầu óc cô ta rối loạn.
“Cô không phải sợ; tôi không điên đâu.” Giọng điệu mỉa mai của cô ta khiến tôi đỏ bừng mặt, và tôi thầm biết ơn bóng tối vây phủ quanh tôi.
“Ồ, chị không điên ư?” Tôi nói, châm chọc. “Qua lời thú nhận của chị, chị đã phạm tội lừa gạt, ăn trộm và giết người. Coi chị bị điên là còn nhẹ đấy, bởi vì nếu chị không...”
“Tôi không điên, cũng không suy đồi,” cô ta quả quyết nói. “Tôi là một người yêu nước.”
Ra là vậy! Tôi trút ra hơi thở đã nín nhịn nãy giờ vì lo sợ một cuộc tấn công điên loạn.
“Một Jacobite,” tôi nói. “Chúa ơi, chị là một kẻ Jacobite quái quỷ!”
Đúng vậy. Và điều đó giải thích được đôi điều: Tại sao Dougal, vốn là tấm gương phản chiếu những ý kiến của anh trai ông ta, lại hăng hái quyên tiền cho nhà Stuart như vậy, và tại sao Geillis Duncan, có đầy đủ các yếu tố để dẫn dắt bất kỳ người đàn ông nào mà cô ta muốn tới nhà thờ, lại chọn hai mẫu người quá khác nhau như Arthur Duncan và Dougal MacKenzie. Một người thì vì tiền bạc và địa vị, người còn lại thì vì sức ảnh hưởng đến ý kiến của công chúng.
“Nếu là Colum thì tốt hơn,” cô ta nói tiếp. “Thật đáng tiếc! Nỗi bất hạnh của ông ta cũng chính là nỗi bất hạnh của tôi. Đáng lẽ ông ta mới là người mà tôi lựa chọn; đó là người đàn ông duy nhất tôi thấy xứng đôi vừa lứa với tôi. Kết hợp với nhau, chúng tôi có thể... Chà, chẳng còn cách nào! Người đàn ông mà tôi muốn lại chính là người đàn ông duy nhất trên đời này không bị ảnh hưởng bởi món vũ khí của tôi.”
“Vì thế chị đã chọn Dougal.”
“Đúng vậy,” cô ta nói, chìm đắm trong những suy nghĩ của chính mình. “Một người đàn ông mạnh mẽ, có chút quyền lực và tài sản. Là cái tai của mọi người. Nhưng thực sự thì, ông ta chỉ là đôi chân và công cụ gây giống” - cô ta thoáng cười - “của Colum MacKenzie. Colum mới là người có sức mạnh. Gần bằng tôi.”
Giọng điệu tự phụ của cô ta làm tôi bực mình.
“Theo như tôi thấy, Colum có một vài thứ mà chị không có. Chẳng hạn như lòng trắc ẩn.”
“À, phải. “Lòng khoan dung và trắc ẩn” ư?” Cô ta nói với vẻ nhạo báng. “Nó có ích gì cho ông ta chứ! Chỉ cần ghé mắt nhìn là cô có thể thấy cái chết đang nằm trên vai ông ta. Người đàn ông đó chỉ có thể sống thêm hai năm sau lễ Hogmanay; không lâu hơn thế.”
“Còn chị?” Tôi hỏi.
Sự chế nhạo bị đảo ngược, nhưng giọng nói trong như bạc vẫn điềm tĩnh.
“Sớm hơn thế một chút, tôi cho là vậy. Nhưng đó không phải vấn đề lớn. Tôi đã làm được nhiều điều trong khoảng thời gian mà mình có; mười nghìn bảng đã được chuyển tới Pháp và khu vực rục rịch nổi dậy vì Hoàng tử Charles. Khi nào cuộc nổi dậy xảy ra, tôi sẽ tự hào rằng mình đã đóng góp được chút sức mọn. Nếu tôi sống được đến lúc ấy.”
Cô ta đứng gần như ngay bên dưới khe hở trên mái. Đôi mắt tôi chỉ thấy được hình dáng lờ mờ của cô ta trong cảnh tối tăm, trông như một bóng ma hấp tấp và bất an. Cô ta đột ngột quay về phía tôi.
“Bất kể chuyện gì xảy ra khi các thẩm tra viên đến, tôi cũng không hối hận, Claire ạ!”
“Chị chỉ tiếc một điều là mình có mỗi một mạng sống để hiến dâng cho đất nước?” Tôi mỉa mai hỏi.
“Cô suy diễn hay lắm,” cô ta nói.
“Không phải sao?”
Chúng tôi rơi vào im lặng khi trời tối hơn. Không gian đen ngòm của cái hố dường như là một lực hữu hình, lạnh lẽo và nặng nề ép vào ngực tôi, lấp kín phổi tôi bằng mùi vị của cái chết. Cuối cùng, tôi cuộn tròn người lại như một quả bóng, gục đầu lên đầu gối và từ bỏ cuộc chiến, buông mình vào trạng thái mơ màng không mấy dễ chịu giữa sự lạnh lẽo và hoang mang.
“Cô yêu anh chàng đó à?” Geilie đột nhiên hỏi.
Tôi giật mình ngẩng đầu lên. Không biết bây giờ là mấy giờ; một vì sao mờ mờ nhấp nháy trên cao, nhưng chẳng rọi được chút ánh sáng nào vào trong hố.
“Ai cơ, Jamie á?”
“Còn là ai được chứ?” Cô ta giễu cợt nói. “Trong mơ, cô đã gọi tên anh ta.”
“Tôi không biết mình đã làm thế.”
“Chà, cô có yêu anh ta không?” Sự lạnh lẽo khiến người ta rơi vào trạng thái lơ mơ đáng sợ, nhưng giọng nói thúc giục của Geilie đã kéo tôi ra khỏi tình trạng ấy một lúc.
Tôi ôm lấy đầu gối, khẽ đu đưa qua lại. Ánh sáng từ khe hở bên trên đã chuyển thành màu tối mờ của buổi đầu đêm. Các thẩm tra viên sẽ tới trong nay mai. Đã khá muộn để quanh co lảng tránh, với chính tôi hoặc bất kỳ ai khác. Mặc dù tôi vẫn thấy khó mà chấp nhận sự thật rằng mình có thể sắp chết, nhưng tôi đang bắt đầu hiểu được thứ bản năng khiến các tù nhân bị kết án tử hình muốn được xưng tội vào đêm trước hôm hành quyết.
“Ý tôi là, thực sự yêu anh ta ấy,” Geilie khăng khăng. “Không chỉ là muốn lên giường với anh ta đâu; tôi biết cô muốn điều đó, và anh ta cũng thế. Họ đều thế. Nhưng cô có yêu anh ta không?”
Tôi có yêu anh không? Ngoài những đòi hỏi của xác thịt? Cái hố này có sự tối tăm giúp người ta giấu mặt giống như một phòng xung tội, và một linh hồn sắp chết không có thời gian để nói dối.
“Có,” tôi nói và lại gục xuống đầu gối.
Trong cái hố im lặng một lúc, tôi lại đang mơ màng ngủ thì bỗng nghe thấy Geilie nói, như đang tự lẩm bẩm với chính mình.
“Có thể lắm chứ,” cô ta trầm ngâm.
•••
Một ngày sau, các thẩm tra viên đến. Trong cái hố giam trộm ẩm ướt, chúng tôi có thể nghe thấy sự náo động: tiếng reo hò của dân làng và tiếng vó ngựa lộp cộp trên nền đá của con lộ chính. Tiếng ồn lắng dần khi đoàn người tiến về quảng trường phía xa xa.
“Họ đến rồi,” Geilie nói, lắng nghe sự phấn khích ở bên trên.
Chúng tôi siết chặt tay nhau theo phản xạ, sự thù địch đã bị nỗi sợ hãi lấn át.
“Chà,” tôi nói, cố gắng tỏ ra kiên cường, “thà bị thiêu còn hơn chết cóng.”
Tuy nhiên, chúng tôi vẫn phải tiếp tục chịu đựng cái lạnh thêm một thời gian nữa. Mãi đến trưa ngày hôm sau, cánh cửa nhà lao mới đột ngột mở ra, và chúng tôi bị kéo ra khỏi cái hố để đưa đến phiên tòa.
Chắc là vì để thỏa mãn đám đông khán giả, phiên xét xử diễn ra trên quảng trường ngay trước cửa nhà Duncan. Tôi thấy Geilie thoáng liếc lên những khung cửa sổ có ô kính hình thoi nơi phòng khách của cô ta, rồi quay đi, vẻ mặt vô cảm.
Có hai thẩm tra viên của giáo hội ngồi trên những cái ghế độn đằng sau một cái bàn được dựng lên trên quảng trường. Một người gầy và cao lêu nghêu, người kia lùn và béo phị. Họ gợi tôi nhớ đến một cuốn tạp chí truyện tranh Mỹ mà tôi từng xem; vì không biết tên họ, tôi thầm đặt tên cho người cao là Mutt và người còn lại là Jeff.
Hầu hết dân làng đều có mặt. Nhìn quanh, tôi có thể thấy rất nhiều bệnh nhân cũ của tôi. Nhưng không có cư dân nào của lâu đài.
John MacRae, viên cai làng của Cranesmuir, là người đọc to bản cáo trạng của Geillis Duncan và Claire Fraser. Cả hai bị buộc tội trước tòa án của nhà thờ vì tội sử dụng phép phù thủy.
“Dựa vào bằng chứng có được, bị cáo bị buộc tội dùng yêu thuật để gây ra cái chết của Arthur Duncan,” giọng MacRae vang lên rắn rỏi, đều đều. “Và chúng đã gây ra cái chết cho đứa trẻ chưa được sinh ra của Janet Robinson, làm đắm chiếc thuyền của Thomas MacKenzie, gieo rắc bệnh đường ruột cho ngôi làng Cranesmuir...”
Bản cáo trạng khá dài. Colum đã chuẩn bị hết sức kĩ lưỡng.
Sau khi bản cáo trạng được đọc xong, các nhân chứng được gọi lên. Tôi hầu như không biết ai trong số họ, không có bệnh nhân nào của tôi có mặt trong đó, điều này khiến tôi thầm vui mừng.
Mặc dù có nhiều lời khai hoàn toàn lố bịch, và có những nhân chứng rõ ràng đã được trả tiền để khai man, tuy nhiên vẫn có vài người thực sự thành thật. Chẳng hạn như Janet Robinson. Cô ta bị cha lôi đến trước tòa, tái xanh và run lẩy bẩy, trên má có một vết thâm tím. Cô ta thú nhận rằng mình đã mang thai với một người đàn ông có vợ và đã nhờ Geillis Duncan giúp phá bỏ nó.
“Cô ấy cho tôi uống một loại thuốc, và bảo tôi nói ba lần một câu thân chú vào lúc mặt trăng mọc,” cô gái lí nhí, lo lắng liếc Geillis rồi lại nhìn cha mình, không chắc ai mới là mối đe dọa lớn nhất. “Cô ấy nói rằng làm thế sẽ giúp tôi có kinh nguyệt trở lại.”
“Vậy nó có tác dụng không?” Jeff chăm chú hỏi.
“Ban đầu thì không, thưa ngài,” cô gái trả lời, lắc đầu vẻ căng thẳng. “Nhưng tôi lại uống thuốc lần nữa vào lúc trăng xế, và rồi nó bắt đầu hiệu nghiệm.”
“Hiệu nghiệm ư? Con bé suýt thì chảy máu đến chết!” Một bà lớn tuổi, chắc là mẹ cô gái, xen vào. “Chỉ vì cảm thấy mình sắp chết nên con bé mới kể với tôi sự thật.” Bà ta hăng hái kể thêm những chi tiết đáng sợ, và phải khó khăn lắm người ta mới có thể chặn lại lời bà ta để nhường chỗ cho những nhân chứng kế tiếp.
Dường như chẳng có lời cáo buộc đặc biệt nào dành cho tôi, ngoài lời buộc tội mơ hồ rằng vì tôi có mặt lúc Arthur Duncan chết và đặt tay lên người ông ta trước khi ông ta lìa đời nên rõ ràng tôi phải có liên quan tới cái chết của ông ta. Tôi bắt đầu nghĩ rằng Geilie đã đúng; tôi không phải là mục tiêu của Colum. Nếu vậy, có thể tôi sẽ thoát nạn. Tôi đã nghĩ như thế cho đến khi người phụ nữ trên đồi xuất hiện.
Đó là một người phụ nữ lưng gù, gầy nhom, choàng một chiếc khăn san màu vàng. Khi cô ta bước về phía trước, tôi cảm nhận rằng chúng tôi đang gặp rắc rối nghiêm trọng. Cô ta không phải là dân làng, trước đây tôi chưa từng nhìn thấy cô ta. Đôi chân trần của cô ta lấm lem bụi đường vì đã cuốc bộ đến đây.
“Chị đến để tố cáo hai người phụ nữ này, đúng không?” Vị quan tòa cao gầy hỏi.
Người đàn bà sợ hãi, không dám ngước mắt nhìn các quan tòa. Nhưng cô ta khẽ gật đầu và đám đông im lặng để nghe cô ta nói.
Giọng cô ta rất nhỏ và Mutt phải đề nghị cô ta nói lại một lần nữa.
Cô ta và chồng có một đứa con ốm yếu. Khi mới sinh ra, nó rất khỏe mạnh, nhưng sau đó lại trở nên yếu ớt và còi cọc. Cuối cùng, họ quyết định rằng nó là một đứa trẻ thay thế của tiên tộc nên đã đặt nó trên ngọn đồi Croich Gorm. Trong lúc canh chừng để lấy lại đứa con của họ khi tiên tộc đem trả nó, họ đã nhìn thấy hai người phụ nữ này tới bế đứa bé lên và yểm những câu chú kỳ lạ với nó.
Người phụ nữ đan hai bàn tay gầy gò vào nhau, nhét chúng xuống dưới tạp dề.
“Chúng tôi đã quan sát suốt đêm, thưa các ngài! Khi bóng tối buông phủ, một con quỷ to lớn xuất hiện, thân hình khổng lồ đen sì lặng lẽ đi xuyên qua bóng tối, nhòm xuống chỗ mà chúng tôi đã đặt đứa bé.”
Đám đông rì rầm kinh sợ. Tôi cảm thấy tóc gáy mình dựng đứng lên, dù biết rằng “con quỷ to lớn” ấy chính là Jamie tới xem liệu đứa bé còn sống hay không. Tôi tự ôm lấy mình, biết rằng chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.
“Khi mặt trời mọc, ông nhà tôi và tôi liền tới đó xem. Chúng tôi phát hiện đứa trẻ thay thế đã chết, và chẳng thấy bóng dáng đứa con bé nhỏ của chúng tôi đâu cả.” Nói tới đây, cô ta bật khóc, che tạp dề lên mặt để giấu dòng nước mắt.
Như thể đây là một tín hiệu, đám đông tách ra và anh chàng lùa gia súc Peter xuất hiện. Tôi thầm rên rỉ khi nhìn thấy anh ta. Tôi đã cảm nhận được thứ cảm xúc mà đám đông dành cho mình khi người phụ nữ vừa rồi kể chuyện; bây giờ chỉ còn chờ người đàn ông này nói với tòa về con thủy mã nữa thôi.
Tận hưởng giây phút mọi con mắt đều đổ dồn vào mình, anh chàng lùa gia súc ưỡn thẳng người và chỉ vào tôi một cách khoa trương.
“Ả đàn bà này đúng là phù thủy, thưa các ngài! Chính mắt tôi đã trông thấy ả gọi một con thủy mã ngoi lên mặt nước của hồ Quỷ! Đó là một sinh vật to lớn đáng sợ, thưa các ngài, nó cao như một cây thông, cái cổ giống một con rắn xanh khổng lồ, đôi mắt to tựa những quả táo và ánh mắt như chực đánh cắp linh hồn người ta.”
Các quan tòa có vẻ bị ấn tượng với lời khai của anh ta và thì thầm với nhau trong vài phút, trong khi Peter trừng mắt nhìn tôi vẻ thách thức, như muốn nói: “Cô sẽ nhận được một bài học!”
Cuối cùng, vị quan tòa béo lùn ngắt cuộc hội ý và hống hách ra hiệu cho John MacRae đang đứng canh ở một bên.
“Ông cai làng!” Viên quan tòa nói và quay sang chỉ vào anh chàng lùa gia súc. “Đưa hắn đi nhốt vào giàn gông vì tội say xỉn nơi công cộng. Đây là một phiên tòa nghiêm túc, chúng ta sẽ không lãng phí thời gian với những lời buộc tội ngớ ngẩn của một kẻ nghiện rượu nhìn thấy những con thủy mã khi đã nốc quá nhiều whisky!”
Peter kinh ngạc đến nỗi không cả chống cự khi viên cai làng kiên quyết sải bước tới, nắm lấy cánh tay anh ta. Anh ta há hốc miệng, trừng mắt nhìn tôi khi bị lôi đi. Tôi không kìm được khẽ vẫy tay chào tạm biệt sau lưng anh ta.
Nhưng sau sự gián đoạn nho nhỏ khiến mọi người bớt căng thẳng này, mọi chuyện nhanh chóng trở nên tồi tệ. Có cả một đám rồng rắn đàn bà con gái thề rằng họ đã mua bùa mê thuốc lú từ Geillis Duncan, vì những mục đích như gây bệnh, phá thai hay bỏ bùa yêu. Tất cả đều thề rằng chúng rất có hiệu quả - một thành tích đáng ghen tỵ đối với những người hành nghề này, tôi mỉa mai nghĩ. Mặc dù không một ai buộc tội tôi gây ra những việc như thế, nhưng vẫn có vài người nói rằng họ thường xuyên nhìn thấy tôi trộn các loại thuốc và giã thảo mộc trong phòng thảo mộc của phu nhân Duncan.
Tuy nhiên, điều đó cũng chẳng hại gì; có một số người tuyên bố rằng tôi đã chữa lành bệnh cho họ mà chỉ sử dụng những loại thuốc thông thường, chẳng hề dùng đến thần chú hay bùa phép. Hẳn là họ phải can đảm lắm mới dám bước lên trước đám đông để làm chứng cho tôi, và tôi biết ơn họ.
Chân tôi tê bì vì phải đứng quá lâu. Trong khi các quan tòa được ngồi tương đối thoải mái thì tù nhân không có cái ghế nào. Nhưng khi nhân chứng tiếp theo xuất hiện, tôi chẳng còn nghĩ gì đến đôi chân của mình nữa.
Với bản năng tự làm mình tỏa sáng không thua kém Colum, Cha Bain mở toang cánh cửa nhà thờ và khập khà khập khiễng chống một cây nạng gỗ sồi bước ra quảng trường. Ông ta chầm chậm đi vào giữa quảng trường, gật đầu với các quan tòa rồi quay sang nhìn chằm chằm vào đám đông, ánh mắt sắt đá của ông ta khiến cho những tiếng ồn ào xung quanh lắng xuống thành một tiếng lầm rầm trầm thấp. Thế rồi ông ta cất tiếng, giọng nói nghe như tiếng roi quất.
“Đây là bản phán quyết dành cho các người, hỡi dân làng Cranesmuir! “Bệnh dịch hạch đi trước mặt Người, và những hòn than cháy bỏng đi theo chân Người[1].” Ầy, các người đã để cho mình bị dân dụ ra khỏi chính đạo! Các người đã gieo gió, vì vậy bây giờ các người phải gặt bão!”
Tôi nhìn ông ta chằm chằm, khá ngạc nhiên trước năng khiếu hùng biện không thể nghi ngờ này. Hoặc có lẽ sự khủng hoảng đã kích thích khả năng diễn thuyết của ông ta. Giọng nói hoa mỹ tiếp tục oang oang.
“Bệnh dịch hạch sẽ đổ xuống đầu các người, và các người sẽ chết vì những tội lỗi của mình, trừ phi các người được thanh tẩy! Các người đã chào đón con điếm của thành Babylon.” - Tôi đoán ông ta đang nói đến tôi, vì ánh mắt ông ta trừng trừng hướng vào tôi. - “Các người đã bán linh hồn của mình cho kẻ thù, các người đã áp con rắn độc Anh quốc vào ngực mình, và bây giờ Thượng Đế toàn năng đang giáng đòn trừng phạt xuống đầu các người. “Con sẽ thoát khỏi người đàn bà trắc nết, khỏi người phụ nữ không quen cứ nói ngọt nói ngon. Nhà nó ở nghiêng về cõi chết, lối nó đi dẫn tới các âm hồn[2]”. Hãy sám hối, hỡi các người, trước khi quá muộn! Hãy quỳ xuống và cầu xin sự tha thứ! Tống cổ con điếm Anh và từ chối giao thiệp với dòng giống của Quỷ Satan!” Ông ta chộp lấy chuỗi tràng hạt ở thắt lưng và vung cây thánh giá bằng gỗ to lớn về phía tôi.
Mặc dù toàn bộ chuyện này có tính giải trí cao nhưng tôi thấy Mutt tỏ ra sốt ruột. Có lẽ là vì ghen tỵ.
“Ơ, thưa Đức Cha,” vị quan tòa nói, khẽ cúi đầu với Cha Bain, “Cha có bằng chứng buộc tội những người phụ nữ này không?”
“Ta có chứ!” Sau một hồi bùng nổ, viên linh mục nhỏ bé giờ đã bình tĩnh lại. Ông ta trỏ tay về phía tôi đầy vẻ hăm dọa và tôi phải gắng hết sức để ngăn mình lùi lại.
“Vào buổi trưa thứ Ba, hai tuần trước, ta đã gặp ả đàn bà này trong những khu vườn của lâu đài Leoch. Ả đã dùng ma lực của mình để kêu gọi một đàn chó tấn công ta, khiến ta ngã lăn ra trước mặt chúng và rơi vào tình cảnh nguy hiểm chết người. Vì bị thương nặng ở chân, ta đã định bỏ đi, nhưng ả đã cố dụ dỗ ta đi đến chốn riêng tư với ả. Khi ta cưỡng lại những mưu mẹo của ả, ả đã nguyền rủa ta.”
“Chuyện vớ vẩn quái quỷ gì thế!” Tôi phẫn nộ nói. “Đó là lời bịa đặt lố bịch nhất mà tôi từng được nghe!”
Mắt Cha Bain sáng rực lên như bị sốt, nhìn tôi chằm chằm.
“Cô có thừa nhận rằng mình đã nói những lời này với ta không? “Đi với tôi ngay, ông linh mục, nếu không vết thương của ông sẽ mưng mủ và thối rữa đấy!””
“Chà, giọng điệu không gay gắt như thế, nhưng có lẽ con đã nói một điều tương tự như vậy,” tôi thừa nhận.
Quai hàm siết chặt vẻ đắc thắng, viên linh mục hất vạt áo chùng sang bên. Một tấm băng lốm đốm máu khô và ướt vì mủ vàng quấn quanh đùi ông ta. Lớp da thịt tái nhợt phía trên và bên dưới lớp băng sưng phồng lên, với những vệt đỏ đáng ngại kéo dài từ chỗ vết thương bị băng kín.
“Chúa ơi!” Tôi nói, bàng hoàng trước cảnh tượng ấy. “Cha bị nhiễm trùng máu rồi. Cha cần chăm sóc vết thương ngay, nếu không Cha sẽ chết đấy!”
Một tiếng lầm rầm kinh hãi phát ra từ đám đông. Ngay cả Mutt và Jeff cũng có vẻ hơi choáng váng.
Cha Bani chậm rãi lắc đầu.
“Mọi người nghe thấy chưa?” Ông ta hỏi. “Người phụ nữ này thật to gan! Cô ta dám rủa ta chết trước tòa án của nhà thờ!”
Tiếng lầm rầm đầy kích động của đám đông trở nên to hơn. Cha Bain lại cất tiếng, lần này hơi cao giọng để mọi người có thể nghe thấy qua tiếng ồn.
“Thưa các quý ông, ta xin để cho các quý ông tự phán xét bằng óc sáng suốt của mình, và xin gửi đến các quý ông một mệnh lệnh của Chúa - “Các người không được để cho một phù thủy được sống![3]””
•••
Bằng chứng ấn tượng của Cha Bain đã kết thúc cho cuộc đấu tố. Có lẽ chẳng ai có thể vượt qua màn trình diễn đó. Các quan tòa cho nghỉ giải lao một lúc và đồ ăn thức uống từ quán rượu được đem tới cho họ. Những người bị buộc tội thì không được ưu đãi như thế.
Tôi gắng sức kéo thử dây trói. Sợi dây da bị nứt một chút nhưng không nhúc nhích một phân. Để cố tự trấn tĩnh mình, tôi mỉa mai nghĩ đây chính là thời điểm người hùng trẻ tuổi táo bạo cưỡi ngựa xông qua đám đông, đánh lui đám dân chúng hèn hạ và xốc nữ chính đang sắp ngất xỉu lên yên ngựa.
Nhưng người hùng trẻ tuổi của tôi đang ở một khu rừng nào đó, nốc bia ừng ực với một lão già quý tộc đồng tính và tàn sát những con hươu vô tội. Tôi nghiến răng nghĩ, Jamie có thể còn chẳng kịp quay về để thu nhặt tàn tro của tôi và mang đi rải theo đúng nghi thức. Lúc anh trở về, chắc là tôi đã bị gió cuốn đi tứ phương rồi.
Nỗi sợ hãi càng lúc càng lớn dần khiến tôi không nghe thấy tiếng vó ngựa. Mãi đến khi đám đông lầm rầm khe khẽ và quay đầu lại nhìn, tôi mới để ý tiếng lộp cộp nhịp nhàng vang lên trên những phiến đá của con lộ chính.
Những tiếng xì xầm kinh ngạc trở nên to hơn, rìa đám đông bắt đầu tách ra để mở đường cho người kỵ sĩ vẫn còn chưa xuất hiện trong tầm mắt tôi. Bất chấp nỗi thất vọng ban nãy, tôi lờ mờ cảm thấy một tia hy vọng phi lý. Phải chăng Jamie trở về sớm? Là vì sự quấy rầy quá mức của Công tước hay vì ở đó quá ít hươu? Cho dù là gì, tôi cũng ráng sức kiễng chân để nhìn mặt người đang đến.
Đám đông miễn cưỡng tách ra khi một con ngựa màu nâu đỏ khỏe mạnh thò cái mũi dài vào giữa hai bờ vai đứng chắn trước mặt nó. Trước con mắt sửng sốt của mọi người - bao gồm cả tôi - thân hình gầy như que củi của Ned Gowan thoăn thoắt xuống ngựa.
Jeff kinh ngạc quan sát người đang ở trước mặt mình.
“Ông là ai, thưa ông?” Giọng nói lịch sự miễn cưỡng của ông ta rõ ràng là kết quả của việc nhìn thấy cái khóa giày bằng bạc và chiếc áo khoác nhung của vị khách. Làm việc cho Lãnh chúa MacKenzie không phải là không có lợi.
“Tên tôi là Edward Gowan, thưa ngài,” Ned nói một cách rõ ràng. “Tôi là luật sư.”
Mutt khom vai và hơi ngọ nguậy; cái ghế đẩu của ông ta không có lưng tựa, thân người của ông ta lại dài, vì vậy chắc ông ta đang mỏi lắm. Tôi nhìn chằm chằm vào ông ta, cầu mong ông ta bị thoát vị đĩa đệm. Nếu tôi sắp sửa bị thiêu chết vì tội có con mắt ma quỷ, vậy thì hãy để nó phát huy chút tác dụng.
“Luật sư?” Ông ta oang oang. “Ông đến đây làm gì?”
Bộ tóc giả màu xám của Ned Gowan nghiêng xuống khi ông cúi đầu trang trọng.
“Tôi đến để giúp phu nhân Fraser, thưa ngài,” ông nói, “đó là một người phụ nữ vô cùng duyên dáng, và tôi đã tận mắt chứng kiến cô ấy tốt bụng và giỏi chữa bệnh thế nào, bởi vì cô ấy rất hiểu biết về y thuật.”
Tuyệt lắm, tôi hài lòng nghĩ. Ông đã ghi được một điểm cho chúng tôi. Nhìn sang phía Geilie, tôi thấy miệng cô ta nhếch lên, nửa ngưỡng mộ, nửa nhạo báng. Mặc dù Ned Gowan không phải là chàng bạch mã hoàng tử lý tưởng của tất cả mọi người, nhưng tôi không kén cá chọn canh vào một thời điểm như thế này. Tôi sẽ chào đón bất cứ người hùng nào đến với tôi.
Sau khi cúi đầu với các quan tòa và cúi đầu một cái nữa không kém phần trang trọng với tôi, ông Gowan đứng thẳng người, thậm chí còn thẳng hơn cả tư thế thông thường, móc hai ngón tay cái vào cạp chiếc quần ống túm, chuẩn bị chiến đấu với thứ vũ khí nhàm chán của luật pháp bằng sự lãng mạn của trái tim lớn tuổi hào hiệp.
Với sự chính xác tuyệt đối giống như một cỗ máy nghiền tự động, ông sắp xếp mỗi lời buộc tội của bản cáo trạng trên cái thớt săm soi của mình và tàn nhẫn thái nó thành từng mảnh nhỏ bằng quy chế và tiền lệ.
Đó là một cuộc trình diễn xuất sắc. Ông cứ nói và nói, thi thoảng kính cẩn ngừng lại theo lệnh của quan tòa, nhưng thực tế chỉ là để lấy hơi cho một cuộc tấn công dữ dội bằng lời nói khác.
Tính mạng tôi đang treo lơ lửng và tương lai của tôi hoàn toàn phụ thuộc vào tài hùng biện của người đàn ông gầy gò, nhỏ bé này, vậy nên đáng lẽ tôi phải dồn hết tâm tư vào từng lời nói của ông. Tuy nhiên, tôi lại thấy mình ngáp ngắn ngáp dài, không thể che giấu cái miệng há hốc, và đổi chân liên tục vì tê mỏi, tha thiết ước ao rằng họ thiêu tôi ngay lập tức để kết thúc màn tra tấn này
Dường như đám đông cũng có cảm giác như vậy, sự phấn khích cao độ của buổi sáng đã nhạt đi, biến thành sự buồn tẻ, nhưng giọng nói nhỏ nhẹ mà rắn rỏi của ông Gowan cứ vang lên đều đều. Dân chúng bắt đầu tản đi. Họ đột nhiên nhớ đến những con vật cần vắt sữa và những cái sàn nhà cần được quét, chắc mẩm rằng sẽ chẳng có gì thú vị xảy ra trong lúc giọng nói đơn điệu kia vẫn kéo dài không dứt
Khi Ned Gowan cuối cùng cũng kết thúc phần bào chữa sơ bộ, trời đã sẩm tối; vị quan tòa béo lùn mà tôi đặt tên là Jeff tuyên bố rằng phiên tòa sẽ tiếp tục vào sáng mai.
Sau một cuộc thảo luận ngắn giữa Ned Gowan, Jeff và John MacRae, tôi được hai người dân thị trấn lực lưỡng dẫn về quán trọ. Ngoảnh nhìn lại đằng sau, tôi thấy Geilie đang được đẩy về phía ngược lại. Cô ta ưỡn thẳng lưng, cự tuyệt sự thúc giục, cũng chẳng thèm để ý đến xung quanh.
Trong căn phòng tối tăm ở phía sau của quán trọ, cuối cùng tôi cũng được cởi trói. Một ngọn nến được mang tới, rồi Ned Gowan đến, đem theo một chai bia, một đĩa thịt và bánh mỳ.
“Khó khăn lắm tôi mới kiếm được vài phút để trò chuyện với cô, vì vậy hãy nghe cho kĩ đây.” Người đàn ông nhỏ bé ghé lại gần tôi hơn, ra vẻ bí mật trong ánh nến lập lòe. Đôi mắt ông sáng rực, ngoại trừ bộ tóc giả bị xộc xệch một chút, ở ông không có dấu hiệu gì của sự mệt mỏi.
“Ông Gowan, tôi rất mừng được gặp ông,” tôi chân thành nói.
“Vâng, vâng,” ông nói, “nhưng bây giờ không có thời gian để nói lời khách sáo.” Ông vỗ vỗ bàn tay tôi, vẻ trìu mến nhưng hời hợt. “Tôi đã thuyết phục được họ tách riêng trường hợp của cô với trường hợp của phu nhân Duncan, điều đó có thể có ích. Có vẻ như ban đầu họ không định bắt giữ cô, nhưng cô bị liên lụy vì mối liên hệ với phù... Với phu nhân Duncan.”
“Tuy nhiên,” ông tiếp tục nói liến thoắng, “tôi cũng không giấu cô rằng cô cũng gặp chút nguy hiểm. Hiện giờ dư luận không ưa cô. Thứ gì đã ám cô,” ông hỏi với vẻ giận dữ không giống với tính cách vốn có, “khiến cô chạm vào đứa trẻ đó vậy?”
Tôi mở miệng định trả lời nhưng ông đã sốt ruột gạt câu hỏi đó qua một bên.
“Ái chà, giờ thì chuyện đó không quan trọng. Điều chúng ta phải làm lúc này là dựa vào cái thực tế cô là người Anh - để lý luận rằng cô không hiểu biết về phong tục tập quán nơi đây chứ ở cô không có gì lạ thường - và kéo dài phiên tòa càng lâu càng tốt. Thời gian đứng về phía chúng ta, vì điều tồi tệ nhất của những phiên xử như thế này là nó diễn ra trong một bầu không khí kích động, khi người ta có thể lờ đi một bằng chứng - dù hợp lý và đúng đắn đến đâu - để thỏa mãn những kẻ khát máu.”
Khát máu. Tính từ đó đã miêu tả trọn vẹn thứ cảm xúc mà tôi cảm nhận được từ những khuôn mặt trong đám dân chúng. Thảng hoặc tôi cũng thấy dấu vết của nỗi nghi ngại và cảm thông, nhưng hiếm có ai dám đứng lên chống lại cả một đám đông, và ở Cranesmuir thì lại càng thiếu những nhân vật có phẩm chất như thế. Không, tôi tự sửa lại lời mình. Có một người - vị luật sư Edinburgh nhỏ bé, khô héo nhưng cứng rắn này.
“Chúng ta càng kéo dài lâu,” ông Gowan điềm tĩnh tiếp tục, “thì sự kích động của họ càng giảm bớt. Vì vậy,” ông nói, đặt tay lên đầu gối, “vào sáng mai, việc của cô chỉ là giữ im lặng. Cứ để mặc tôi nói. Cầu Chúa cho mọi việc suôn sẻ.”
“Nghe có lý đấy!” Tôi nói, gắng gượng nở nụ cười. Tôi liếc về phía cánh cửa nối liền với mặt trước của quán trọ, nơi những giọng nói đang cất lên. Bắt gặp ánh mắt tôi, ông Gowan gật đầu.
“Ừ, tôi sắp phải đi rồi. Tôi đã sắp xếp cho cô qua đêm ở đây,” Ông ta liếc quanh vẻ nghi ngại. Đây là một cái nhà kho nhỏ gắn vào quán trọ, chủ yếu được dùng để cất trữ những thứ đầu thừa đuôi thẹo và những đồ vật không dùng đến. Nó lạnh và tối, nhưng còn tốt hơn cái hố giam trộm gấp nhiều lần.
Cánh cửa nhà kho mở ra, hình dáng của chủ quán trọ xuất hiện, nhòm vào bóng tối đằng sau ánh nến chập chờn. Ông Gowan nhổm dậy để đi, nhưng tôi nắm lấy tay áo ông. Tôi cần biết một điều.
“Ông Gowan! Colum sai ông đến giúp tôi à?”
Ông Gowan ngập ngừng, nhưng trong phạm vi nghề nghiệp của mình, ông là một người trung thực không thể chê trách vào đâu được.
“Không,” ông thẳng thừng nói, trên khuôn mặt nhăn nheo thoáng hiện một vẻ gần như ngại ngùng, rồi ông nói thêm: “Tôi đến vì... chính tôi.” Ông đội mũ lên đầu và quay ra cửa, chúc tôi một câu “Chúc ngủ ngon” trước khi bước vào ánh sáng và sự ồn ào của quán trọ.
Phòng của tôi được chuẩn bị khá sơ sài, chỉ có một bình rượu vang nhỏ và một ổ bánh mỳ - lần này thì rất sạch sẽ - đặt trên một cái thùng tô nô lớn, và trên mặt đất dưới chân nó có một cái chăn cũ được gấp gọn.
Tôi quấn mình trong chăn và ngồi trên một cái thùng tròn nhỏ hơn để ăn tối, vừa nhai trệu trạo suất ăn ít ỏi vừa suy ngẫm.
Vậy là Colum không phái viên luật sư đến. Liệu ông ta có biết ông Gowan đến đây không? Hẳn là Colum đã cấm tất cả mọi người bén mảng đến ngôi làng vì sợ họ bị mắc kẹt trong cuộc săn phù thủy. Những làn sóng sợ hãi và kích động quét qua ngôi làng quá dữ dội; tôi có thể cảm thấy chúng đập thình thịch vào những bức tường của nơi trú ngụ mong manh này.
Tiếng ồn bùng lên từ quán rượu kề bên, cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Có lẽ đây chỉ giống như một đêm thức canh người chết. Nhưng khi ở bên bờ diệt vong, dù chỉ được sống thêm một giờ cũng đủ để thấy biết ơn rồi. Tôi cuộn mình trong chăn, trùm nó lên đầu để chặn lại những tiếng ồn từ quán rượu, và cố gắng hết sức để trong lòng chỉ còn lại cảm giác biết ơn.
•••
Sau một đêm ngủ không ngon giấc, tôi bị đánh thức ngay từ sớm tinh mơ và bị dẫn trở lại quảng trường, mặc dù một tiếng sau các quan tòa mới đến.
Chỉn chu, béo tốt và no nê, họ bắt tay vào việc ngay. Jeff quay sang John MacRae đang đứng ở vị trí của mình đằng sau các bị cáo.
“Chúng tôi thấy không thể định tội nếu chỉ dựa vào những bằng chứng được đưa ra.” Một sự phẫn nộ vỡ òa từ đám đông - họ đã tự đưa ra quyết định của riêng mình - nhưng Mutt đã dập tắt nó bằng cách hướng cặp mắt giống như những mũi khoan vào mấy người trẻ tuổi ở hàng đầu tiên, khiến họ ngừng ngay những tiếng kêu như chó bị giội nước lạnh. Sau khi đã lập lại được trật tự, ông ta quay khuôn mặt gầy giơ xương về phía viên cai làng.
“Phiền ông dẫn các tù nhân tới bên hồ.” Tiếng reo hò hân hoan trước câu nói này làm dấy lên những mối nghi ngờ khủng khiếp nhất trong tôi. John MacRae một tay nắm cánh tay tôi, tay kia tóm lấy Geilie, đẩy chúng tôi đi. Ông ta nhận được rất nhiều sự trợ giúp. Những bàn tay xấu xa thò ra xé váy tôi, cấu véo và xô đẩy. Một tên ngốc nào đó gõ một hồi trống rời rạc. Đám đông hô hào theo nhịp trống, nhưng tôi không thể nghe rõ giữa vô số tiếng ồn. Mà tôi cũng chẳng muốn biết họ đang nói gì.
Đoàn người băng qua đồng cỏ tơi mép hồ, ở đó có một cái cầu tàu bằng gỗ nhỏ nhô ra mặt nước. Chúng tôi bị lôi đến cuối cái cầu tàu này. Hai viên quan tòa đã ngồi vào vị trí của mình ở hai bên cầu tàu. Jeff quay sang đám đông đang đợi trên bờ.
“Mang dây lại đây!”
Tiếng lầm rầm vang lên, người này nhìn người kia với ánh mắt mong đợi, cho đến khi có người cầm một sợi dây thừng mỏng chạy tới. MacRae đón lấy nó và ngập ngừng tiến lại gần tôi. Sau khi trộm liếc mấy vị thẩm tra viên, ông ta có vẻ vững tâm hơn.
“Vui lòng cởi giày của cô ra,” ông ta yêu cầu.
“Để làm cái quái... Để làm gì?” Tôi hỏi, khoanh tay lại.
Ông ta chớp chớp mắt, rõ ràng không ngờ đến việc bị kháng cự, nhưng một trong hai quan tòa đã trả lời thay ông ta.
“Đây là thủ tục cần thiết của cuộc thử thách bằng nước. Kẻ bị nghi ngờ là phù thủy sẽ bị buộc ngón cái của bàn tay phải với ngón cái của bàn chân trái bằng một sợi dây gai dầu. Tương tự như vậy, ngón cái của bàn tay trái sẽ bị buộc vào ngón cái của bàn chân phải. Rồi sau đó...” Ông ta liếc mắt xuống mặt hồ. Có hai người đánh cá đi chân trần đang đứng trong lớp bùn chỗ bờ hồ, gấu quần được xắn lên trên đầu gối và cột lại bằng dây bện. Một trong hai người cười với tôi đầy ẩn ý, nhặt một hòn đá nhỏ và liệng nó xuống mặt nước. Nó nảy lên một lần rồi chìm nghỉm.
“Khi bước xuống nước,” viên quan tòa béo lùn phụ họa, “nếu là một phù thủy tội lỗi thì sẽ nổi, vì sự tinh khiết của nước từ chối con người dơ bẩn của ả. Nếu là một người phụ nữ vô tội thì sẽ chìm.”
“Vậy là tôi được lựa chọn hoặc bị kết tội là phù thủy hoặc chứng minh được mình vô tội nhưng chết đuối, đúng không?” Tôi cấm cảu. “Không, cảm ơn!” Tôi khoanh tay chặt hơn, cố gắng làm dịu cơn run rẩy có vẻ đã trở thành một phần cố định trong da thịt tôi.
Viên quan tòa béo lùn phồng mang trợn má như một con cóc bị đe dọa.
“Cô không được nói trước tòa khi không được phép! Cô dám từ chối sự kiểm tra của luật pháp sao?”
“Tôi có dám từ chối việc bị ép phải chết đuối không ư? Dĩ nhiên là tôi dám!” Nói xong câu đó, tôi mới nhìn sang Geilie, cô ta đang điên cuồng lắc lắc đầu khiến mái tóc sáng màu lúc lắc quanh mặt.
Quan tòa quay sang MacRae.
“Lột trần ả ra và đánh ả,” ông ta nói với giọng dứt khoát.
Tôi sửng sốt khi nghe thấy đám đông đồng loạt hít vào một hơi, có lẽ là vì kinh ngạc - nhưng thực tế, đó là vì khoái trá. Và tôi nhận ra thế nào là nỗi căm ghét thực sự. Không phải nỗi căm ghét của họ. Mà là của tôi.
Họ không buồn đưa tôi quay trở lại quảng trường của làng. Vì chẳng còn gì để mất, tôi sẽ không để họ dễ dàng làm việc đó.
Những bàn tay thô bạo lôi tôi về đằng trước, kéo giật chiếc áo cánh và áo chẽn của tôi.
“Buông tôi ra, đồ thô lỗ!” Tôi hét lên, đá vào chỗ nhạy cảm của một kẻ đang lôi kéo mình. Hắn cúi gập người lại, rên rỉ, nhưng thân hình lom khom của hắn nhanh chóng bị chìm lấp trong sự bùng nổ của những tiếng quát tháo, những cú phỉ nhổ và những khuôn mặt dữ tợn. Thêm nhiều bàn tay tóm lấy hai cánh tay tôi và xô đây tôi về đằng trước, gần như nhấc tôi lên qua những thân thể bị ngã trong cuộc chen lấn và ấn tôi len qua những khe hở nhỏ đến mức dường như không thể chui qua.
Có kẻ nào đó đấm vào bụng khiến tôi nghẹt thở. Chiếc áo chẽn của tôi đã trở nên tả tơi, vì vậy phần còn lại dễ dàng bị xé toạc. Tôi không phải là người quá e lệ, nhưng khi bị phơi bày nửa mình trần với những dấu tay nhớp mồ hôi trên ngực trước tiếng cười nhạo của đám người chỉ muốn hành hạ tôi, trong lòng tôi bỗng trào dâng một nỗi căm phẫn và nhục nhã mà tôi chưa từng tưởng tượng ra.
John MacRae lôi hai tay tôi ra phía trước, trói lại, sợi dây tròng quanh cổ tay tôi vẫn còn thừa một đoạn chừng vài mét. Ông ta có vẻ ngượng ngùng khi làm thế nhưng không ngước nhìn tôi, và rõ ràng tôi chẳng thể trông mong vào sự giúp đỡ hay lòng trắc ẩn của ông ta; ông ta cũng phụ thuộc vào đám đông như tôi vậy.
Geilie chắc hẳn cũng bị đối xử tương tự; tôi liếc nhìn mái tóc bạch kim của cô ta bay bay trong cơn gió bất chợt thổi đến. Hai cánh tay tôi giơ cao lên trên đầu khi sợi dây bị ném qua một cành sồi lớn và kéo mạnh. Tôi nghiến răng, giữ chặt cơn thịnh nộ của mình; đó là thứ vũ khí duy nhất mà tôi có để chống lại nỗi sợ hãi. Xung quanh tôi là bầu không khí mong đợi đến ngạt thở, được điểm xuyết bởi tiếng lầm rầm và hò hét phấn khích từ đám đông người xem.
“Ra tay đi, John!” Một người hét lên. “Bắt đầu đi!”
Ý thức được trách nhiệm của mình là phải gây kịch tính, John MacRae ngừng lại một lát để nhìn đám đông, cái roi giữ ở ngang hông. Sau đó, ông ta bước về phía trước, nhẹ nhàng chỉnh lại tư thế của tôi để tôi quay mặt vào thân cây, gần như chạm vào lớp vỏ xù xì. Rồi ông ta lùi lại hai bước, giơ cao ngọn roi và quất xuống.
Cảm giác bị sốc còn khủng khiếp hơn sự đau đớn. Thực ra, chỉ sau vài roi, tôi đã nhận ra viên cai làng đang cố nương tay với tôi. Tuy nhiên, vẫn có một, hai cú quất mạnh đến nỗi làm da tôi nứt toác, khiến tôi cảm thấy đau nhói.
Tôi nhắm chặt mắt, áp má vào thân cây, gắng sức tưởng tượng mình đang ở một nơi khác. Bỗng có tiếng gọi kéo tôi trở về với thực tại.
“Claire!”
Sợi dây trói ở cổ tay tôi đủ chùng để tôi có thể hất mạnh người và xoay lại đối mặt với đám đông. Nhờ động tác đột ngột đó mà tôi né được ngọn roi đang quất xuống, khiến viên cai làng mất đà, ngã chúi về phía trước, va đầu vào một cành cây. Đám đông rộ lên những lời thóa mạ và bắt đầu giễu cợt ông ta.
Tóc tôi dính bết vào mặt, vướng cả vào mắt vì mồ hôi, nước mắt và sự bẩn thỉu khi bị giam hãm. Tôi lắc đầu để hất nó ra và liếc mắt sang bên để xác nhận điều mà tai tôi vừa nghe thấy.
Jamie, với khuôn mặt sa sầm, đang len lỏi giữa đám đông, tận dụng hết mức vóc dáng và cơ bắp của mình.
Tôi cảm thấy mình giống như Tướng McAuliffe[4] ở Bastogne khi nhìn thấy đội quân số 3 của Patton[5]. Mặc dù Geilie, tôi và bây giờ là cả Jamie đang rơi vào tình cảnh nguy hiểm khủng khiếp nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy vui mừng đến thế khi nhìn thấy một người.
“Người đàn ông của mụ phù thủy!” “Đó là chồng ả ta!” “Gã Fraser thối tha! Gã dở người!” và những tên gọi tương tự bắt đầu vang lên giữa những lời lăng mạ nhắm vào tôi và Geilie. “Bắt cả hắn nữa!” “Thiêu chúng đi! Thiêu hết chúng đi!” Sau khi tạm thời lắng dịu bởi tai nạn của viên cai làng, sự cuồng loạn của đám đông giờ lại sôi lên như một cơn sốt.
Những kẻ phụ tá của viên cai làng cố gắng kiềm giữ và cản trở Jamie, khiến anh phải dừng lại. Mặc dù cả hai cánh tay đều bị ghì chặt nhưng anh vẫn cố gắng thò tay về phía thắt lưng. Nghĩ rằng anh đang tìm dao, một gã đấm mạnh vào bụng anh.
Jamie hơi gập người rồi đứng thẳng lên, huých cùi chỏ vào mũi kẻ vừa đánh mình. Một cánh tay tạm thời được giải thoát, anh lờ đi sự cào cấu điên cuồng của người đàn ông đang níu cánh tay kia, thọc bàn tay vào cái túi da để lấy vật gì đó rồi giơ cao tay và ném theo phong cách của dân chăn bò. Tiếng hét của anh vọng tới tôi khi vật thể ấy rời khỏi tay anh.
“Claire! Đứng yên!”
Tôi nào đi đâu được chứ, tôi sửng sốt nghĩ. Một vật nhòe tối hướng thẳng vào mặt tôi, tôi dợm rụt lại nhưng dừng đúng lúc. Vật đó lách cách va vào mặt khiến tôi đau nhói, và những hạt huyền nho nhỏ rơi xuống vai tôi khi chuỗi tràng hạt màu đen gọn gàng tròng vào cổ tôi. Cũng không hẳn là gọn gàng vì chuỗi vòng đã mắc vào tai phải của tôi. Tôi lúc lắc đầu, hai mắt nhòe nước vì cú va đập, và chuỗi hạt rơi vào đúng vị trí, cây thánh giá đung đưa giữa hai bầu ngực trần.
Những khuôn mặt ở hàng đầu tiên nhìn chằm chằm vào nó với vẻ hoang mang sợ hãi. Sự im lặng bất ngờ của họ lan đến những người ở đằng sau, và tiếng gầm sôi sục lắng dần. Giọng nói của Jamie vốn dịu dàng, ngay cả trong lúc giận dữ, nhưng bây giờ nó chẳng nhẹ nhàng chút nào mà sang sảng trong sự tĩnh lặng.
“Cắt dây trói cho cô ấy!”
Những kẻ theo đóm ăn tàn đã rơi rụng dần, đám đông tách làm đôi khi anh sải bước tới. Viên cai làng đứng đờ ra, miệng há hốc, nhìn anh tiến đến.
“Tôi nói, cắt dây trói cho cô ấy! Ngay lập tức!”
Viên cai làng, vốn đang sững sờ, bỗng sực tỉnh khi nhìn thấy hình ảnh của Tử thần có mái tóc đỏ trong Khải huyền thư chồm về phía mình, bèn cựa người và vội vàng mò mẫm tìm con dao găm. Sợi dây thừng bị cứa bung ra, hai cánh tay tôi rơi thõng xuống, đau nhức khi cơ bắp được giải thoát. Tôi lảo đảo suýt ngã, nhưng một bàn tay khỏe khoắn quen thuộc đã tóm được khuỷu tay tôi và nâng tôi dậy. Tôi áp mặt vào ngực Jamie, chẳng còn bận tâm đến điều gì nữa.
Hẳn là tôi đã mất ý thức trong vài giây, hoặc là vì quá nhẹ nhõm nên tôi mới có cảm giác như vậy. Cánh tay rắn chắc của Jamie quấn quanh eo tôi, giữ tôi đứng thẳng. Chiếc áo choàng len của anh đã được phủ trùm lên người tôi, che giấu tôi khỏi ánh mắt của đám dân làng. Khắp xung quanh xôn xao những giọng nói, nhưng đám đông không còn tỏ ra khát máu và cuồng loạn nữa.
Giọng nói của Mutt - hay là Jeff nhỉ? - xuyên qua sự náo động.
“Anh là ai? Sao anh dám cản trở việc điều tra của tòa?”
Tôi cảm thấy, hơn là nhìn thấy, đám đông đùn đẩy về phía trước. Jamie to lớn và có vũ khí nhưng anh chỉ là kẻ đơn thương độc mã. Tôi nép sát vào anh dưới những nếp gấp của chiếc áo choàng len. Cánh tay phải của anh siết chặt tôi, còn bàn tay trái lần tới bao kiếm đeo trên hông. Lưỡi kiếm màu xanh ánh bạc rít lên vẻ uy hiếp khi được rút một nửa ra khỏi vỏ, và những kẻ đứng ở hàng đầu đám đông bất chợt dừng khựng lại.
Các quan tòa có vẻ cứng rắn hơn. Nhòm ra từ chỗ trốn của mình, tôi thấy Jeff đang trừng mắt nhìn Jamie. Mutt thì tỏ ra bối rối hơn là bực tức trước sự xâm nhập bất ngờ này.
“Ngươi dám rút vũ khí trước công lý của Chúa sao?” Viên quan tòa béo lùn gắt gỏng.
Jamie rút hẳn thanh kiếm ra khỏi vỏ, lưỡi thép ánh lên sáng lòa, rồi cắm phập nó xuống đất khiến chuôi kiếm rung rinh không ngừng.
“Tôi rút kiếm để bảo vệ người phụ nữ này và lẽ phải.” Anh nói. “Nếu có ai ở đây chống lại hai đối tượng đó, họ sẽ phải chịu trách nhiệm trước tôi, và sau đó là Chúa.”
Quan tòa chớp mắt mấy cái như thể không tin nổi hành vi này, rồi tiếp tục công kích.
“Anh không có phận sự gì trong phiên tòa này, thưa anh! Tôi yêu cầu anh giao nộp phạm nhân ngay lập tức. Hành vi của anh sẽ được xử lý ngay bây giờ!”
Jamie lạnh lùng nhìn hai viên quan tòa. Tôi cảm thấy trái tim anh đập thình thịch bên dưới má tôi khi tôi bám chặt vào anh, nhưng hai bàn tay anh vẫn vững chắc như đá tảng, một tay nắm chuôi kiếm, tay còn lại đặt trên con dao ở thắt lưng.
“Về việc đó, thưa ngài, tôi đã tuyên thệ trước bàn thờ Chúa là sẽ bảo vệ người phụ nữ này. Nếu ngài cho rằng quyền của mình còn lớn hơn quyền của Đấng Toàn năng, vậy thì tôi phải nói cho ngài biết rằng tôi không nghĩ như thế.”
Một tiếng khúc khích vang lên, đây đó điểm xuyết những tiếng cười rụt rè. Mặc dù sự ủng hộ của đám đông chưa nghiêng về phía chúng tôi, nhưng họ cũng không dồn ép chúng tôi nữa.
Jamie đặt tay lên vai tôi, xoay người tôi lại. Tuy không thể chịu nổi việc đối mặt với đám đông nhưng tôi biết mình phải làm vậy. Tôi gắng sức hếch cao cằm, không nhìn vào những khuôn mặt mà tập trung vào một con thuyền nhỏ ở giữa hồ cho đến khi hai mắt nhòe nước.
Jamie vạch cái áo choàng len, để lộ cổ và vai tôi. Anh chạm vào chuỗi hạt huyền và nhẹ nhàng đu đưa nó qua lại.
“Hạt huyền sẽ thiêu cháy da của một phù thủy, đúng không?” Anh hỏi các quan tòa. “Hơn nữa, tôi nghĩ cây thánh giá của Chúa cũng làm được điều đó. Nhưng nhìn xem!” Anh luồn ngón tay xuống dưới chuỗi hạt và nhấc cây thánh giá lên. Da tôi trắng tinh, không có dấu vết gì ngoại trừ những đốm bẩn vì bị giam cầm. Đám đông xuýt xoa và rì rầm bàn tán.
Can đảm, nhanh trí, điềm tĩnh và có khiếu thu hút sự chú ý. Thảo nào mà Colum MacKenzie e sợ những tham vọng của Jamie. Tôi cũng có thể hiểu được tại sao ông ta lại làm thế này với tôi. Có lẽ ông ta nghĩ tôi biết ai là cha đẻ của Hamish và sợ tôi tiết lộ chuyện đó. Tôi có thể hiểu được, nhưng không thể tha thứ.
Đám đông hiện đang lung lay. Sự khát máu ban nãy đã tiêu tan đôi chút, nhưng nó vẫn có thể dâng cao như một con sóng bạc đầu và xô vào chúng tôi bất cứ lúc nào. Mutt và Jeff lưỡng lự nhìn nhau; diễn biến cuối cùng đầy bất ngờ này khiến các quan tòa mất kiểm soát tình hình trong thoáng chốc.
Geillis Duncan bước vào khoảng trống. Tôi không biết liệu có hy vọng nào cho cô ta không. Dù sao đi nữa, cô ta bướng bỉnh hất mái tóc hoe qua một bên vai và ném mạng sống của mình đi.
“Người phụ nữ này không phải là phù thủy,” cô ta đơn giản nói. “Nhưng ta thì có.”
Màn trình diễn của Jamie, dù xuất sắc, cũng không sánh nổi với lời tuyên bố này. Sự náo động nổi lên sau đó hoàn toàn nhấn chìm giọng nói của các quan tòa.
Chẳng thể biết được cô ta đang nghĩ gì hay cảm nhận gì; cũng giống như mọi khi. Vầng trán cao trắng trẻo của cô ta không hề phảng phất chút u ám, đôi mắt to màu xanh lá ánh lên vẻ thích thú. Cô ta đứng thẳng trong bộ đồ tả tơi, lấm lem và nhìn chằm chằm những kẻ buộc tội mình. Khi sự náo động đã lắng dịu phần nào, cô ta bắt đầu nói, không hề cao giọng nhưng vẫn buộc họ phải yên lặng lắng nghe.
“Ta, Geillis Duncan, thú nhận rằng mình là phù thủy và là tình nhân của quỷ Satan.” Tiếng la ó lại nổi lên, và cô ta kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi họ im lặng trở lại.
“Ta thừa nhận đã dùng pháp thuật để giết chồng mình, Arthur Duncan, theo lệnh của ông chủ ta.” Nói tới đây, cô ta liếc sang bên. Bắt gặp ánh mắt tôi, khóe môi cô ta khẽ mỉm cười. Đôi mắt cô ta dừng lại ở người phụ nữ choàng chiếc khăn san màu vàng, nhưng ánh mắt không hề dịu đi. “Vì sự ác tâm, ta đã yểm chú lên đứa trẻ thay thế để cho nó chết, khiến cho đứa trẻ loài người mà nó thay thế phải ở lại với tiên tộc.” Cô ta quay lại và chỉ về phía tôi.
“Ta đã lợi dụng sự ngu dốt của Claire Fraser để phục vụ cho những mục đích của mình. Nhưng cô ta không tham gia, cũng chẳng biết gì về những việc làm của ta. Cô ta cũng không phục vụ cho ông chủ của ta.”
Đám đông lại xì xầm, xô đẩy nhau để lại gần và nhìn cho rõ hơn. Geilie giơ cả hai tay về phía họ, lòng bàn tay hướng ra phía trước.
“Dừng lại!” Giọng nói trong trẻo vang lên như tiếng roi quất. Cô ta ngửa đầu nhìn lên trời và đứng im như tượng, như thể đang chăm chú lắng nghe.
“Nghe kìa!” Cô ta nói. “Hãy nghe tiếng gió đưa ông ấy đến! Coi chừng, hỡi dân làng Cranesmuir! Ông chủ của ta đang đến trên đôi cánh của ngọn gió!” Cô ta hạ thấp đầu xuống và hét lên một tiếng đắc thắng, cao vút đến rợn người. Đôi mắt to màu xanh lá đờ đẫn như bị thôi miên.
Gió đang nổi lên; những đám mây giông cuồn cuộn tràn tới từ phía bên kia bờ hồ. Mọi người bắt đầu lo lắng nhìn quanh; vài người ở rìa đám đông bất giác lùi lại.
Geilie bắt đầu xoay tròn, rồi cứ xoay tròn mãi, mái tóc bay phất phơ trong gió, bàn tay duyên dáng vẫy trên đầu như một vũ công nhảy múa quanh cây nêu ngày mồng Một tháng Năm. Tôi sửng sốt nhìn cô ta.
Mái tóc che khuất mặt cô ta lúc cô ta xoay về phía tôi. Nhưng trong vòng xoay cuối cùng, cô ta hất tóc sang một bên, và tôi thấy rõ khuôn mặt cô ta đang nhìn mình. Chiếc mặt nạ ngây dại thoáng biến mất, miệng cô ta mấp máy một từ: “Chạy!” Rồi cô ta lại xoay mặt về phía đám đông, bắt đầu cất lên tiếng thét kỳ quái.
Cô ta đột nhiên ngừng xoay, vẻ mặt hớn hở điên cuồng, hai tay nắm lấy cái áo chẽn tả tơi và xé toạc, phô bày trước đám đông cái bí mật mà tôi đã biết khi nép sát cô ta trong cái hố giam trộm bẩn thỉu, lạnh lẽo. Cái bí mật mà Arthur Duncan phát hiện ra trong giờ phút cuối cùng trước khi chết. Cái bí mật mà vì nó ông ta phải chết. Những mảnh váy rách rơi xuống, để lộ cái bụng bầu sáu tháng.
Tôi vẫn đứng im như hóa đá, nhìn chằm chằm. Jamie thì không chần chừ một giây. Một tay nắm lấy tôi, tay kia cầm thanh kiếm, anh lao vào đám đông, dùng cùi chỏ, đầu gối và chuôi kiếm huých mọi người tránh đường để xông về phía mép hồ rồi huýt một tiếng sáo lanh lảnh.
Vì đám đông đều đang chú tâm vào cảnh tượng dưới gốc sồi nên ban đầu có rất ít người để ý chuyện gì đang xảy ra. Sau đó, vài cá nhân bắt đầu la hét và tóm lấy chúng tôi. Bỗng có tiếng vó ngựa phi nước đại trên mặt đất cứng bên bờ hồ.
Donas vẫn không thích người lắm và sẵn sàng tỏ rõ điều đó. Nó cắn bàn tay đầu tiên thò ra túm lấy dây cương của mình khiến người này bị chảy máu, thét lên và buộc phải lùi lại. Rồi nó chồm lên, hí vang và quơ quào hai vó trước trong không khí, khiến cho mấy kẻ táo bạo vẫn nhăm nhăm cản trở nó bất giác nhụt chí.
Jamie ném tôi lên yên như một bao thức ăn rồi thuần thục nhảy lên theo. Vừa khua những nhát kiếm dữ dội để dẹp đường, anh vừa phi Donas qua đám đông. Khi người ta lùi lại trước sự tấn công của răng ngựa, vó ngựa và lưỡi kiếm, chúng tôi bắt đầu tăng tốc, rời khỏi cái hồ, ngôi làng và cả lâu đài Leoch. Cú ném vừa rồi của Jamie khiến tôi nghẹn thở, và tôi phải cố gắng lắm mới có thể hét lên với anh.
Ban nãy, tôi đứng sững như ngây dại không phải vì sự tiết lộ của Geilie về cái thai, mà là vì tôi đã nhìn thấy một thứ khiến tôi lạnh run tới tận xương tủy. Khi Geilie xoay người, hai cánh tay trắng vươn lên cao, tôi đã nhìn thấy thứ mà chính cô ta cũng đã nhìn thấy ở tôi khi y phục của tôi bị lột bỏ. Đó là một dấu vết trên cánh tay. Ở đây, vào thời đại này, dấu vết của ma thuật, dấu vết của phù thủy, vết sẹo chủng đậu nhỏ bé, xấu xí.
•••
Mưa rơi tí tách trên mặt nước, làm dịu khuôn mặt sưng vù và những vết dây thừng hằn trên hai cổ tay tôi. Tôi vốc nước từ dòng suối, chậm rãi nhấm nháp, cảm nhận chất lỏng mát lạnh chảy xuống cổ họng.
Jamie đi đâu mất vài phút rồi quay trở lại, mang theo một nắm lá màu xanh sẫm, miệng nhai thứ gì đó. Anh nhổ một cục bã ẩm ướt vào lòng bàn tay, nhét một nắm lá khác vào miệng và xoay tôi quay lưng về phía anh. Anh nhẹ nhàng xoa cục bã lên lưng tôi, khiến cảm giác đau đớn giảm đi đáng kể.
“Cái gì thế?” Tôi hỏi, cố gắng kiềm chế bản thân. Tôi vẫn run rẩy và sụt sịt, nhưng những giọt nước mắt vô thức đã bắt đầu ngừng chảy.
“Cải xoong,” anh trả lời, giọng hơi nghèn nghẹn vì những chiếc lá trong miệng. Anh nhổ chúng ra và bôi chúng vào lưng tôi. “Em không phải là người duy nhất biết chữa bệnh bằng cây cỏ, Sassenach,” anh nói, hơi rõ ràng hơn.
“Nó... nó có vị thế nào?” Tôi hỏi, nén lại những tiếng nức nở.
“Khá gớm ghiếc,” anh đáp ngắn gọn. Sau khi bôi xong, anh nhẹ nhàng khoác cái áo choàng len lên vai tôi.
“Chúng sẽ không...” Anh ngập ngừng, “ý anh là, các vết thương không sâu. Anh... anh nghĩ em sẽ không... bị sẹo.” Giọng anh khàn khàn nhưng bàn tay anh rất dịu dàng, khiến tôi lại bật khóc.
“Em xin lỗi,” tôi lẩm bẩm, chấm chấm góc áo choàng len lên mũi. “Em... em không biết mình bị làm sao nữa. Em không biết tại sao mình không thể ngừng khóc.”
Anh nhún vai. “Chắc là trước đây chưa có ai chủ ý làm em đau, Sassenach,” anh nói. “Có vẻ như em vừa bị sốc vừa bị đau.” Anh ngừng lại, nhặt một chiếc khăn tay lên.
“Anh cũng từng như vậy,” anh thản nhiên nói. “Sau khi bị đánh, anh đã nôn mửa và khóc trong lúc họ lau rửa các vết thương. Tiếp đó, anh cứ run cầm cập.” Anh cẩn thận lau mặt cho tôi rồi đặt một tay dưới cằm tôi và nâng mặt tôi lên.
“Và khi anh ngừng run rẩy, Sassenach,” anh khẽ nói, “anh đã cảm ơn Chúa vì nỗi đau đớn, bởi vì như thế có nghĩa là anh vẫn còn sống.” Anh buông tôi ra, gật đầu với tôi. “Khi nào em đến giai đoạn đó, hãy nói với anh; vì anh có vài điều muốn nói với em.”
Anh đứng dậy, đi xuống mép suối để giặt cái khăn tay lấm chấm máu trong nước lạnh.
“Sao anh lại trở về?” Tôi hỏi khi anh quay lại. Tôi đã ngừng khóc nhưng vẫn run lẩy bẩy, và khom người sâu hơn trong những nếp gấp của chiếc áo choàng len.
“Alec MacMahon,” anh nói, mỉm cười. “Anh đã dặn ông ấy để ý đến em trong lúc anh đi vắng. Khi dân làng bắt em và phu nhân Duncan đi, ông ấy đã cưỡi ngựa suốt đêm đó và cả ngày hôm sau để tìm anh. Thế rồi anh lập tức phi nước đại trở về. Chúa ơi, đó là một con ngựa tốt.” Anh nhìn Donas với ánh mắt tán thưởng. Nó đang bị buộc vào một cái cây phía trên bờ dốc, bộ lông ướt ánh lên màu đồng.
“Anh sẽ phải đem giấu nó đi,” anh trầm ngâm nói. “Anh không nghĩ có ai đuổi theo chúng ta, nhưng nơi này không xa Cranesmuir lắm. Em có thể đi bộ không?”
Tôi theo anh lên dốc với chút khó khăn. Những hòn đá nhỏ cứ trượt đi bên dưới bàn chân tôi, và váy lót của tôi liên tục bị mắc vào đám dương xỉ diều hâu cùng những bụi mâm xôi. Gần đỉnh dốc có một lùm tống quán sủi non mọc san sát, những nhành cây thấp đan cài vào nhau, tạo nên một cái mái xanh tươi che chắn cho đám dương xỉ diều hâu bên dưới. Jamie nâng các nhành cây lên cho tôi trườn vào khoảng không gian chật hẹp, rồi cẩn thận sửa sang lại đám dương xỉ diều hâu bị nghiền nát trước lối vào. Anh đứng lùi lại, săm soi kĩ càng chỗ ẩn nấp và gật đầu hài lòng.
“Ầy, tốt rồi. Sẽ không ai tìm thấy em ở đây.” Anh xoay người đi rồi lại quay lại. “Nếu có thể, em hãy cố ngủ một chút, và đừng lo lắng nếu anh không về ngay. Anh sẽ đi săn trên đường quay lại; chúng ta không có thức ăn, mà anh thì không muốn dừng lại ở một cái trại nhỏ nào đó để xin đồ ăn và gây sự chú ý. Trùm cái áo choàng len lên đầu em đi, nhớ che hết cả váy lót nhé; màu trắng tỏa hiện xa lắm.”
Thức ăn có vẻ là thứ không cần thiết. Tôi cảm thấy mình sẽ không bao giờ muốn ăn nữa. Nhưng ngủ thì lại là chuyện khác. Lưng và hai cánh tay tôi vẫn còn đau, vết dây thừng vẫn còn hằn rõ trên cổ tay tôi, và tôi cảm thấy ê ẩm khắp người; nhưng vì quá sợ hãi, đau đớn và kiệt sức nên tôi thiếp ngủ gần như ngay lập tức, mùi dương xỉ hăng nồng dâng lên quanh tôi như mùi hương trầm.
Bỗng bàn chân tôi bị thứ gì đó nắm lấy, tôi giật mình ngồi bật dậy, va đầu vào những nhánh cây bên trên khiến những chiếc lá và cành nhỏ rào rào trút xuống quanh người tôi. Tôi huơ tay loạn xạ, cố gắng gỡ những cành con ra khỏi tóc. Với cơ thể bị cào xước, đầu tóc rối bù, tôi hậm hực bò ra khỏi nơi trú ẩn và thấy Jamie đang ngồi xổm ở gần bên, thích thú quan sát tôi. Gần đến hoàng hôn; mặt trời đang lặn, khiến cho hẻm núi đá chìm trong cảnh nhá nhem. Mùi thịt nướng tỏa ra từ một đống lửa nhỏ đang cháy rừng rực giữa những tảng đá gần con suối, trên đó có hai con thỏ đang được quay bằng một cái xiên tự chế.
Jamie chìa tay ngỏ ý giúp tôi xuống dốc. Tôi kiêu hãnh từ chối và tự mình trượt xuống, chỉ bị vấp một lần vì cái đuôi dài lê thê của chiếc áo choàng len. Cơn buồn nôn ban nãy đã biến mất, và tôi cảm thấy thèm thịt.
“Chúng ta sẽ đi vào rừng sau bữa tối, Sassenach,” Jamie nói, xé một miếng thịt thỏ to tướng. “Anh không muốn ngủ gần suối; anh không thể nghe thấy ai đó tới gần khi có tiếng nước chảy.”
Chúng tôi không nói chuyện nhiều trong lúc ăn. Nỗi kinh hoàng của buổi sáng và ý nghĩ về những gì đã bỏ lại đằng sau đè nặng lên cả hai chúng tôi. Và tôi có cảm giác tiếc nuối sâu sắc. Tôi không chỉ mất đi cơ hội tìm hiểu lý do tại sao tôi có mặt ở đây mà còn mất đi cả một người bạn. Người bạn duy nhất của tôi. Tôi thường nghi ngờ những động cơ của Geilie, nhưng rõ ràng sáng nay cô ta đã cứu mạng tôi. Vì biết mình không thể thoát tội, cô ta đã làm hết sức để tạo cho tôi cơ hội trốn thoát. Đống lửa gần như vô hình trong ánh sáng ban ngày, nhưng bây giờ, khi bóng tối bắt đầu phủ xuống con suối, nó đã trở nên rực rỡ hơn. Tôi nhìn vào những ngọn lửa, vào lớp da giòn rụm và những khúc xương màu nâu của hai con thỏ quay. Một giọt máu nhỏ xuống từ một khúc xương gãy, rơi vào đống lửa, kêu xèo xèo rồi biến thành hư vô. Đột nhiên, miếng thịt trong miệng tôi bị mắc lại trong họng. Tôi vội vàng nuốt xuống và quay đi, nôn ọe.
Vẫn không nói gì nhiều, chúng tôi rời khỏi con suối và tìm thấy một chỗ thoải mái gần mép một khoảng đất trống trong rừng. Khắp xung quanh chúng tôi là những ngọn đồi nhấp nhô, nhưng Jamie đã chọn một điểm có địa thế cao để có thể bao quát con đường dẫn từ ngôi làng đến đây. Ánh hoàng hôn thoáng nhuộm sẫm mọi sắc màu của miền quê, như thắp sáng cho mảnh đất này bằng những hạt châu báu; một viên ngọc lục bảo ánh lên trong các thung lũng lòng chảo, một viên thạch anh tím đáng yêu giữa vô số bụi thạch nam, và hàng loạt viên hồng ngọc rực rỡ trên những cây thanh lương trà có quả mọng chín đỏ bao quanh đỉnh đồi. Quả thanh lương trà, một loại “biệt dược” chống lại yêu thuật. Xa xa, hình dáng của lâu đài Leoch vẫn còn hiển hiện ở chân của ngọn Ben Aden, nhưng rồi nó mờ đi nhanh chóng khi ánh sáng tắt lụi.
Jamie nhóm lửa ở một chỗ kín mưa kín gió và ngồi xuống bên cạnh nó. Cơn mưa đã nhỏ đi, biến thành một màn mưa bụi giăng mờ mờ trong không khí và dát lên lông mi tôi những chiếc cầu vồng sặc sỡ khi tôi nhìn vào những ngọn lửa đang nhảy nhót.
Anh ngồi nhìn chằm chằm vào đống lửa suốt một lúc lâu. Cuối cùng, anh ngẩng lên nhìn tôi, hai bàn tay siết chặt quanh đầu gối.
“Trước kia, anh đã nói với em rằng anh sẽ không hỏi những điều mà em không muốn kể. Và bây giờ anh sẽ không hỏi em; nhưng anh cần phải biết, vì sự an toàn của cả em và anh.” Anh dừng lại, ngập ngừng.
“Claire, nếu em chưa từng thành thật với anh, vậy thì bây giờ hãy thành thật, vì anh cần biết sự thực. Claire, em có phải là phù thủy không?”
Tôi há hốc miệng nhìn anh. “Phù thủy? Anh... anh thực sự có thể hỏi một điều như vậy ư?” Tôi nghĩ hẳn là anh đang đùa. Nhưng anh hoàn toàn nghiêm túc.
Anh nắm lấy hai vai tôi và siết chặt, nhìn chằm chằm vào mắt tôi như muốn thúc giục tôi trả lời.
“Anh phải hỏi điều đó, Claire! Và em phải nói cho anh biết!”
“Nếu em là phù thủy thì sao?” Tôi hỏi qua đôi môi khô khốc.
“Nếu anh nghĩ em là phù thủy, anh vẫn sẽ bảo vệ em chứ?”
“Anh sẽ đi tới cọc thiêu cùng em!” Anh gay gắt nói. “Và sau đó là tới địa ngục. Nhưng cầu Chúa rủ lòng thương cho linh hồn anh và em, hãy nói với anh sự thật!”
Nỗi căng thẳng lan từ anh sang tôi. Tôi vùng ra khỏi cú siết của anh và chạy sang phía bên kia khoảng đất trống, nhưng cũng không xa lắm, chỉ tới rìa rặng cây là dừng lại; tôi không thể chịu nổi sự trống trải của không gian rộng mở. Tôi ôm lấy một thân cây; bấu mạnh các ngón tay và ấn mặt mình vào đó rồi cười như điên dại.
Khuôn mặt trắng bệch và bàng hoàng của Jamie hiện ra ở phía bên kia của thân cây. Lờ mờ nhận ra tiếng cười của mình nghe như tiếng gà cục tác, tôi bèn cố hết sức để ngừng lại, vừa thở hổn hển vừa nhìn anh chằm chằm.
“Phải,” tôi nói, lùi lại, vẫn còn hổn hển. “Phải, em là một phù thủy! Với anh, em hẳn là phù thủy. Em chưa bao giờ bị bệnh đậu mùa, nhưng em có thể đi qua một căn phòng đầy người hấp hối mà không bao giờ mắc căn bệnh đó. Em có thể chăm sóc người ốm, thở chung bầu không khí với họ và chạm vào cơ thể họ, nhưng bệnh tật của họ không thể lây sang em. Em cũng không thể mắc bệnh tả, uốn ván hay viêm họng nặng. Hẳn anh sẽ nghĩ đó là nhờ phép thuật, bởi vì anh chưa bao giờ nghe nói đến vắc xin, và anh không thể giải thích điều đó.”
“Những chuyện em biết...” Tôi đứng lại, thở hổn hển, cố gắng tự trấn tĩnh mình. “Em biết về John Randall bởi vì em đã được nghe kể về hắn. Em biết hắn sinh ra và chết đi khi nào, em biết hắn đã và sẽ làm những gì, em biết về Sandringham bởi vì... bởi vì Frank đã kể cho em nghe. Anh ấy biết về Randall bởi vì anh ấy... anh ấy... Ôi, Chúa ơi!” Tôi cảm thấy mình như sắp ngất đến nơi, và nhắm mắt để khỏi phải nhìn thấy những vì sao đang xoay tròn trên đầu.
“Và Colum... ông ta nghĩ em là phù thủy bởi vì em biết Hamish không phải là con ruột của ông ta. Em biết... ông ta không thể có con. Nhưng ông ta nghĩ em biết ai là cha của Hamish... Em đã nghĩ có lẽ đó là anh, nhưng rồi em biết điều đó là không thể, và...” Tôi nói càng lúc càng nhanh, cố gắng ngăn chặn cảm giác chóng mặt bằng giọng nói của chính mình.
“Tất cả mọi điều em từng kể với anh về bản thân mình đều là thật,” tôi nói, gật đầu lia lịa như để tự trấn an mình. “Tất cả. Em không có người thân nào, không có quá khứ nào ở đây, bởi vì em chưa được sinh ra.”
“Anh có biết em được sinh ra khi nào không?” Tôi hỏi, ngước nhìn lên. Tôi biết tóc tôi rối bù và ánh mắt trợn trừng, nhưng tôi chẳng bận tâm. “Vào ngày 20 tháng 10 năm 1918. Anh có nghe em nói không?” Tôi hỏi, vì anh đang chớp chớp mắt nhìn tôi, khuôn mặt không cảm xúc, như thể không để ý gì đến lời tôi nói. “Em nói là 1918! Gần hai trăm năm sau! Anh có nghe thấy không?”
Giờ thì tôi đang la hét, và anh chậm rãi gật đầu.
“Anh có nghe,” anh khẽ nói.
“Vâng, anh có nghe!” Tôi bùng giận. “Và anh nghĩ em đang điên khùng. Đúng không? Thừa nhận đi! Anh đang nghĩ vậy. Anh hẳn nghĩ vậy, vì anh chẳng có cách nào khác để giải thích về những lời em vừa nói. Anh không thể tin em, anh không dám tin em. Ôi, Jamie...” Tôi cảm thấy mặt mình bắt đầu nhăn nhúm. Sau quãng thời gian dài che giấu sự thật vì nhận ra mình không thể chia sẻ với bất cứ người nào, đến bây giờ, khi tôi thấy có thể kể với Jamie, người chồng thân yêu của tôi, người đàn ông tôi tin tưởng hơn bất cứ ai, thì anh lại không tin tôi - anh không thể tin tôi.
“Chính vì những tảng đá - trên ngọn đồi tiên. Những tảng đá dựng đứng. Những tảng đá của Merlin[6]. Em đã đi xuyên qua nó.” Tôi thở hổn hển, gần như nức nở, càng lúc càng nói năng thiếu mạch lạc. “Ngày xửa ngày xưa, nhưng thực ra là hai trăm năm. Trong các câu chuyện lúc nào cũng là hai trăm năm... Nhưng trong các câu chuyện, người ta luôn trở về. Còn em thì không thể.” Tôi ngoảnh đi, loạng choạng tìm chỗ để bấu víu. Tôi ngồi lên một tảng đá, vai sụm xuống, gục đầu vào hai bàn tay. Khóm rừng trở lại tĩnh mịch, lâu đến nỗi những con chim ăn đêm nhỏ bé lấy lại được lòng can đảm, lích chích gọi nhau khi săn được những con côn trùng cuối cùng của mùa hè.
Mãi sau tôi mới ngước lên, nghĩ rằng có lẽ anh đã đứng dậy bỏ đi, choáng váng bởi những lời tiết lộ của tôi. Nhưng anh vẫn ngồi đó, hai bàn tay chống trên đầu gối, đầu cúi xuống như thể đang suy nghĩ.
Tuy nhiên, lông tay anh cứng ngắc như dây đồng trong ánh lửa, và tôi nhận ra chúng đang dựng đứng. Anh sợ tôi.
“Jamie,” tôi nói, cảm thấy trái tim mình vỡ vụn vì cô đơn. “Ôi, Jamie.”
Tôi cuộn tròn mình như quả bóng, gặm nhấm nỗi đau đớn. Chẳng còn để ý đến điều gì nữa, tôi òa khóc nức nở.
Anh đặt tay lên vai tôi, khiến tôi ngẩng lên để nhìn anh. Qua màn nước mắt, tôi thấy được vẻ mặt mà anh mang trong lúc chiến đấu, ở thời điểm đã vượt qua ngưỡng căng thẳng và trở nên điềm tĩnh, chắc chắn.
“Anh tin em,” anh quả quyết. “Anh chưa hiểu chút nào nhưng anh tin em. Claire, anh tin em! Hãy nghe anh! Giữa chúng ta - giữa em và anh - chỉ có sự thật, bất kể em nói với anh điều gì, anh cũng tin.” Anh nhẹ nhàng lắc lắc tôi.
“Bất kể là chuyện gì. Em đã nói với anh. Thế là đủ rồi. Yên nào, mo duinne. Nằm nghỉ đi! Em sẽ kể với anh phần còn lại sau. Và anh sẽ tin em.”
Tôi vẫn đang nức nở nên không thể nghe ra anh đang nói gì. Tôi vùng vẫy, cố gắng rụt lại, nhưng anh ôm chầm lấy tôi, áp đầu tôi vào chiếc áo choàng len của mình và lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác: “Anh tin em.”
Cuối cùng, vì đã kiệt sức, tôi bắt đầu bình tĩnh lại, ngước lên và nói: “Nhưng anh không thể tin em.”
Anh mỉm cười với tôi. Miệng anh hơi run run, nhưng anh đã mỉm cười.
“Sao em có thể nói với anh rằng anh không thể làm gì chứ, Sassenach.” Anh ngừng lại trong giây lát. “Em bao nhiêu tuổi?” Anh tò mò hỏi. “Anh chưa từng nghĩ sẽ hỏi em điều này.”
Câu hỏi đó có vẻ quá ngớ ngẩn đến nỗi tôi phải mất một phút để suy nghĩ.
“Em hai mươi bảy... hoặc có lẽ hai mươi tám,” tôi nói thêm.
Anh thoáng sửng sốt. Ở thời kỳ này, phụ nữ hai mươi tám tuổi gần như là bước vào độ tuổi trung niên rồi.
“Ồ,” anh nói, hít sâu một hơi. “Anh cứ tưởng em trạc tuổi anh hoặc trẻ hơn.”
Anh không cử động trong một giây, rồi nhìn xuống và khẽ mỉm cười với tôi. “Chúc mừng sinh nhật, Sassenach,” anh nói.
Tôi kinh ngạc nhìn anh chằm chằm. “Cái gì?” Cuối cùng, tôi cũng thốt ra được.
“Anh nói là “Chúc mừng sinh nhật”. Hôm nay là ngày Hai mươi tháng Mười.”
“Thế à?” Tôi ngơ ngác nói. “Em không để ý.” Tôi lại bắt đầu run rẩy, vì lạnh, sốc và tác động của tràng kể lể vừa rồi. Anh ghì chặt tôi, nhẹ nhàng vuốt tóc và áp đầu tôi vào ngực anh. Tôi lại bắt đầu khóc, nhưng lần này là vì nhẹ nhõm. Trong tình trạng bối rối của mình, tôi cho rằng nếu anh đã biết tuổi thật của tôi mà vẫn còn muốn có tôi, vậy thì mọi chuyện sẽ ổn cả.
Jamie bế tôi lên, cẩn thận áp tôi vào vai anh và mang tôi tới bên đống lửa, nơi anh đã đặt cái yên ngựa. Anh ngồi xuống, dựa vào cái yên, vẫn ôm tôi nhẹ nhàng nhưng thân mật.
Một lúc lâu sau, anh nói:
“Ổn cả rồi. Giờ thì kể anh nghe đi!”
Tôi bèn kể cho anh nghe. Kể hết mọi chuyện, ngập ngừng nhưng súc tích. Tôi cảm thấy tê liệt vì kiệt sức, nhưng mãn nguyện, như một con thỏ đã chạy thoát khỏi một con cáo và tìm thấy chỗ trú ẩn tạm thời dưới một khúc gỗ. Đó không phải là thánh đường để nương náu nhưng chí ít cũng cung cấp một chốn nghỉ ngơi. Và tôi kể cho anh nghe về Frank.
“Frank,” anh khẽ nói. “Vậy là anh ta chưa chết.”
“Anh ấy còn chưa được sinh ra.” Tôi lại cảm thấy một làn sóng kích động bắt đầu dâng lên, nhưng cố gắng giữ điềm tĩnh. “Em cũng vậy.”
Anh vuốt ve và vỗ về tôi, khe khẽ lẩm bẩm bằng tiếng Gaelic.
“Lần anh cứu em khỏi tay Randall ở pháo đài William,” anh đột nhiên nói, “đó là khi em đang cố gắng trở về. Chỗ những tảng đá. Và... Frank. Đó là lý do em rời khỏi khoảnh rừng nhỏ.”
“Vâng.”
“Và anh đã đánh em.” Giọng anh có chút hối hận.
“Anh không biết mà. Em đã không thể kể với anh.” Tôi bắt đầu mơ màng.
“Sao em có thể kể chứ!” Anh nhẹ nhàng quấn chiếc áo choàng chặt hơn quanh người tôi. “Ngủ đi, mo duinne! Sẽ không có ai làm hại em đâu; có anh ở đây rồi.”
Tôi ngả vào bờ vai ấm áp của anh, để mặc cho trí óc mệt mỏi của mình chìm vào sự lãng quên. Tôi gắng gượng dồn chút tỉnh táo cuối cùng để hỏi: “Anh có thực sự tin em không, Jamie?”
Anh thở dài và mỉm cười rầu rĩ.
“Có, anh tin em, Sassenach. Nhưng sẽ dễ dàng hơn nhiều nếu em chỉ là một phù thủy.”
•••
Tôi ngủ say như chết, rồi thức dậy khi trời đã sáng hẳn với một cơn đau đầu khủng khiếp và các bắp thịt cứng đờ. Jamie lấy vài nắm yến mạch trong một cái túi con đựng trong cái bao da của anh và ép tôi ăn drammach - yến mạch trộn nước lạnh. Nó mắc lại trong cổ họng tôi nhưng tôi vẫn cố nuốt xuống.
Anh chăm sóc tôi từ tốn và nhẹ nhàng, nhưng nói rất ít. Sau bữa sáng, anh nhanh chóng gói ghém mọi thứ và đóng yên cho Donas.
Vẫn còn tê liệt vì sốc do những sự kiện xảy ra gần đây, tôi thậm chí không hỏi xem chúng tôi sẽ đi đâu. Tôi leo lên ngồi đằng sau anh trên lưng ngựa, khoan khoái úp mặt vào tấm lưng to lớn của anh. Nhịp chuyển động của con ngựa ru tôi vào trạng thái ngẩn ngơ.
Chúng tôi đi xuống những sườn dốc gần hồ Madoch, hối hả băng qua làn sương mai lạnh lẽo để bước vào một tấm màn màu xám tĩnh lặng. Những đàn vịt trời lộn xộn bắt đầu ló ra từ đám lau sậy quanh các đầm lầy, quang quác gọi nhau để đánh thức những kẻ dậy muộn. Trái ngược với chúng, một bầy ngỗng có kỷ luật tốt hơn bay qua trên đầu chúng tôi, gợi lên nỗi sầu muộn quạnh hiu.
Màn sương mù xám xịt tan đi vào gần giữa trưa ngày thứ hai, vầng mặt trời nhạt nhòa chiếu sáng những đồng cỏ mọc đầy kim tước vàng và đậu chổi. Đi qua hồ được vài dặm, chúng tôi tới một con đường hẹp và rẽ về hướng tây bắc. Con đường lại đưa chúng tôi lên những ngọn đồi thấp, rồi sau đó chúng dần nhường chỗ cho những ngọn núi đá hoa cương trùng trùng điệp điệp. Trên đường đi, chúng tôi gặp một vài lữ khách và thận trọng rẽ vào bụi rậm mỗi khi nghe thấy tiếng vó ngựa ở đằng trước.
Rừng thông bắt đầu xuất hiện. Tôi hít ngửi thật sâu, tận hưởng bầu không khí khô lạnh thấm đẫm mùi nhựa cây, dù khí lạnh đã dâng lên vì gần đến hoàng hôn. Chúng tôi dừng lại nghỉ đêm trong một khoảng đất trống nhỏ cách đường đi một đoạn, vun một đống lá thông để tạo thành một cái ổ, trải chăn lên và rúc vào nhau cho ấm, rồi lấy áo choàng len của Jamie và cái chăn còn lại để đắp lên người.
Lát sau, anh đánh thức tôi trong bóng tối rồi làm tình với tôi, chậm rãi và dịu dàng, nhưng không nói năng gì. Tôi ngắm nhìn những ngôi sao nhấp nháy phía trên đầu qua những nhánh cây tối thẫm đang đan cài vào nhau, và lại ngủ thiếp đi với cơ thể ấm áp, đầy tính an ủi của anh trên người mình.
Vào buổi sáng hôm sau, Jamie có vẻ vui hơn, hay ít ra cũng thư thái hơn, như thể đã đưa ra được một quyết định khó khăn. Anh hứa với tôi bữa tối sẽ có trà nóng, một niềm an ủi nho nhỏ trong không khí buốt giá thế này. Tôi ngái ngủ đi theo anh trở lại con đường, gạt những chiếc lá thông và những con nhện nhỏ khỏi váy mình. Suốt buổi sáng, con đường hẹp chỉ như một dấu vết mờ nhạt xuyên qua bãi cỏ đuôi trâu xù xì dành cho lũ cừu, và ngoằn ngoèo uốn lượn quanh những khối đá nhấp nhô.
Tôi chẳng mấy để ý đến khung cảnh xung quanh khi mơ màng hưởng thụ ánh mặt trời ấm áp, nhưng mắt tôi đột nhiên chạm phải một khối đá có hình dáng vô cùng quen thuộc khiến tôi giật mình tỉnh táo hẳn. Tôi biết chúng tôi đang ở đâu. Và lý do tại sao.
“Jamie!”
Anh quay sang khi nghe thấy tôi thốt lên.
“Em không biết sao?” Anh tò mò hỏi.
“Việc chúng ta sẽ đến đây ư? Không, dĩ nhiên là em không biết.” Tôi cảm thấy hơi nôn nao. Đồi Craigh na Dun ở cách đây không quá một dặm; tôi có thể nhìn thấy hình dáng giống như chiếc lưng gù của nó qua những dải sương mai còn sót lại.
Tôi nuốt khan thật mạnh. Gần sáu tháng qua, tôi đã cố gắng biết bao để tới được nơi này. Vậy mà bây giờ, khi cuối cùng cũng có mặt ở đây, tôi lại muốn mình đang ở nơi nào khác. Từ bên dưới không thể nhìn thấy những cột đá sừng sững trên đỉnh đồi, nhưng dường như chúng tỏa ra một mối kinh hãi mơ hồ vươn đến tận chỗ tôi.
Đường lên đỉnh đồi khá khó khăn với Donas. Chúng tôi đành phải xuống ngựa và buộc nó vào một cây thông cằn cỗi rồi tiếp tục đi bộ lên.
Tôi thở hổn hển và vã mồ hôi khi tới chỗ mỏm đá hoa cương; Jamie chẳng có vẻ gì là mệt mỏi, ngoại trừ một mảng ửng đỏ chỗ cổ áo. Ở đây, bên trên cánh rừng thông, không gian thật yên tĩnh, chỉ có tiếng gió rít qua những kẽ đá. Những con chim nhạn bay vèo qua, đôi cánh mỏng manh dang rộng, đột ngột lao vút lên để đuổi bắt côn trùng rồi lại bổ nhào xuống như những chiếc máy bay ném bom.
Jamie cầm tay tôi, kéo tôi dấn bước cuối cùng lên đỉnh đồi bằng phẳng, rộng rãi. Anh không buông tôi ra mà kéo tôi lại gần, nhìn chăm chú, như thể đang ghi nhớ từng đường nét của tôi. “Tại sao...” Tôi hổn hển cất tiếng.
“Đó là chỗ của em,” anh khàn khàn nói. “Không phải sao?”
“Phải.” Tôi nhìn chằm chằm vào vòng tròn đá như thể bị thôi miên. “Trông nó vẫn vậy.”
Jamie theo tôi vào vòng tròn đá. Anh nắm lấy cánh tay tôi, vững vàng bước lên tảng đá bị nứt.
“Có phải là tảng đá này không?” Anh hỏi.
“Phải.” Tôi cố giằng ra khỏi anh. “Cẩn thận! Đừng lại gần nó quá!”
Anh hết nhìn tôi rồi lại nhìn tảng đá, tỏ vẻ hoài nghi. Cũng đúng thôi. Đến bản thân tôi còn đột nhiên cảm thấy nghi ngờ về tính chân thật trong câu chuyện của chính mình.
“Em... em không biết gì về nó. Có lẽ... thứ đó... đã khép lại đằng sau em. Có lẽ nó chỉ hoạt động vào một số thời điểm trong năm. Lúc em chui qua nó là gần đến lễ Beltane.”
Jamie ngoảnh lại nhìn vầng dương trông như một cái đĩa dẹt treo giữa bầu trời đằng sau một màn mây mỏng.
“Giờ là gần đến lễ Samhain,” anh nói. “Đêm trước ngày lễ các thánh. Có vẻ thích hợp, đúng không?” Dù miệng nói đùa nhưng anh bỗng vô thức rùng mình. “Lần trước, khi em... đi qua đó. Em đã làm gì?”
Tôi cố gắng nhớ lại, khoanh tay trước ngực vì đột nhiên cảm thấy lạnh giá.
“Em đi quanh vòng tròn, nhìn ngó mọi thứ, nhưng chỉ ngẫu nhiên thôi; không theo khuôn mẫu nào cả. Rồi em tới gần tảng đá bị nứt, và nghe thấy tiếng o o giống như tiếng ong vậy...”
Nó vẫn đang phát ra tiếng ong vo ve. Tôi lùi lại như thể nó là cái vòng sừng ở đuôi của một con rắn chuông.
“Âm thanh ấy vẫn còn đó!” Tôi kinh hãi nhảy chồm lên, ôm chầm lấy Jamie, nhưng anh dứt khoát đẩy tôi ra, xoay người tôi về phía tảng đá. Khuôn mặt anh trắng bệch.
“Sau đó thì sao?” Cơn gió rét buốt thổi rít bên tai tôi, nhưng giọng anh còn sắc lạnh hơn.
“Em đặt tay lên tảng đá.”
“Vậy thì làm thế đi!” Anh đẩy tôi lại gần hơn, và khi thấy tôi không phản ứng, anh tóm lấy cổ tay tôi và ấn tay tôi vào bề mặt màu nâu lốm đốm của tảng đá.
Tôi lập tức rơi vào sự hỗn loạn.
Cuối cùng, mặt trời cũng ngừng xoay tròn trong mắt tôi, và tiếng rít trong tai tôi cũng biến mất. Có một âm thanh khác vang lên dai dẳng, tiếng Jamie gọi tôi.
Tôi cảm thấy yếu ớt đến nỗi không thể ngồi dậy hay mở mắt, nhưng vẫn gắng gượng vẫy tay để anh biết tôi còn sống.
“Em ổn cả,” tôi nói.
“Thật không? Ôi, Chúa ơi, Claire?” Anh ghì tôi vào ngực mình. “Chúa ơi, Claire. Anh cứ tưởng em đã chết. Em... em bắt đầu... đi, trong chừng mực nào đó. Vẻ mặt em khủng khiếp chưa từng thấy, giống như em sợ chết vậy. Anh... anh đã kéo em lại. Anh đã ngăn cản em. Anh không nên làm vậy... Anh xin lỗi, em à!”
Tôi mở mắt và thấy khuôn mặt anh đầy bàng hoàng và sợ hãi.
“Ổn cả rồi.” Khó khăn lắm tôi mới cất tiếng được. Cảm giác thật nặng nề và hoang mang, nhưng mọi thứ đang trở nên rõ ràng hơn. Tôi cố gắng mỉm cười, nhưng cảm thấy khóe miệng mình chỉ hơi nhếch lên.
“Ít nhất... chúng ta biết... nó vẫn hoạt động.”
“Ôi, Chúa ơi, đúng vậy, nó vẫn hoạt động.” Anh ném ánh mắt căm phẫn và sợ hãi về phía tảng đá.
Sau đó, anh đi nhúng ướt một cái khăn trong vũng nước mưa ở một hõm đá, rồi trở về vừa lau mặt cho tôi vừa lẩm bẩm những lời an ủi và xin lỗi. Cuối cùng, tôi cũng có thể ngồi dậy.
“Lúc nãy, anh vẫn chưa thực sự tin em, đúng không?” Dù có cảm giác chao đảo nhưng tôi vẫn cảm thấy vui vì đã được minh oan. “Nhưng chuyện em kể là thật.”
“Ừ, là thật.” Anh ngồi cạnh tôi, nhìn chằm chằm vào tảng đá trong vài phút. Tôi cầm chiếc khăn ướt lên lau mặt, vẫn cảm thấy hoa mắt, chóng mặt. Bỗng anh đứng bật dậy, bước về phía tảng đá và đập tay vào nó.
Chẳng có gì xảy ra. Một phút sau, anh trở lại bên tôi, hai vai sụm xuống.
“Có lẽ chỉ có phụ nữ mới đi qua được,” tôi khẽ nói. “Trong các truyền thuyết cũng chỉ nói đến phụ nữ mà. Hoặc có lẽ, chỉ riêng mình em thôi.”
“Chà, anh không thể đi qua,” anh nói. “Nhưng vẫn nên thử lại cho chắc chắn.”
“Jamie! Cẩn thận!” Tôi hét lên, nhưng chẳng có tác dụng gì. Anh lại bước tới bên tảng đá, đập tay vào nó, ném mình vào nó, bước qua khe nứt rồi trở lại, nhưng nó vẫn chẳng khác gì một khối đá rắn chắc bình thường. Còn tôi, ngay cả ý nghĩ lại gần cánh cửa dẫn đến sự điên loạn đó cũng khiến tôi rùng mình.
Tuy nhiên, lần này, khi bắt đầu bước chân vào vùng hỗn loạn đó, tôi đã nghĩ về Frank. Và tôi đã cảm thấy anh. Chắc chắn như vậy. Đâu đó trong khoảng không trống rỗng có một lỗ sáng nhỏ xíu, và anh đang ở trong đó. Tôi biết. Tôi cũng biết rằng có một đốm sáng khác vẫn đang ngồi cạnh tôi, nhìn chằm chằm vào tảng đá, hai má ánh lên mồ hôi dù thời tiết giá lạnh.
Cuối cùng, anh quay sang nắm lấy hai bàn tay tôi, nâng chúng lên môi và trịnh trọng hôn vào mỗi bên tay.
“Em yêu,” anh khẽ nói. “Claire... của anh. Chờ đợi cũng chẳng ích gì. Anh phải chia tay em ngay bây giờ thôi.”
Môi tôi cứng đờ đến nỗi không thể thốt nên lời, nhưng biểu cảm trên mặt tôi hẳn vẫn dễ đoán định như thường lệ.
“Claire,” anh giục, “ở bên kia của... thứ đó là thời đại của em. ở đó, em có một mái nhà, một nơi chốn để đi về, những thứ em hằng quen thuộc. Và... Và cả Frank nữa.”
“Vâng,” tôi nói, “ở đó có Frank.”
Jamie nắm lấy hai vai tôi, kéo tôi đứng dậy và khẽ lắc tôi vẻ van lơn.
“Ở đây chẳng có gì cho em cả! Chẳng có gì ngoài bạo lực và nguy hiểm. Đi đi!” Anh khẽ đây tôi, xoay người tôi về phía vòng tròn đá. Tôi xoay người lại, nắm lấy tay anh.
“Thực sự ở đây chẳng có gì cho em sao, Jamie?” Tôi nhìn chằm chằm vào mắt anh, không cho anh ngoảnh đi.
Anh không trả lời mà nhẹ nhàng rút tay ra khỏi tay tôi và đứng lùi lại. Nhìn trên nền những ngọn đồi mờ sương, đột nhiên trông anh giống như một bóng hình đến từ một thời đại khác, những đường nét sống động trên mặt anh trở nên nhạt nhòa, cứ như bị phủ dưới vô số lớp sơn màu, chẳng khác nào một hồi ức về những nơi chốn và những niềm đam mê đã bị lãng quên của một người họa sĩ.
Tôi nhìn vào đôi mắt đầy đau đớn và khao khát của anh, và anh lại hiện ra rõ ràng, bằng xương bằng thịt ngay trước mặt tôi - người tình, người chồng và người đàn ông của cuộc đời tôi.
Nỗi đau khổ trong lòng tôi hẳn đã hiển hiện trên mặt, vì anh chần chừ rồi quay sang hướng đông và chỉ xuống con dốc. “Em có nhìn thấy thứ đằng sau lùm sồi nhỏ dưới kia không? Ở lưng chừng ấy.”
Tôi nhìn về phía lùm cây và thấy thứ anh đang chỉ, đó là ngôi nhà tranh của một chủ trại nhỏ đã bị hư hại phân nửa và bỏ hoang trên ngọn đồi quỷ ám này.
“Anh sẽ đi xuống ngôi nhà đó và ở lại cho đến tối, để đảm bảo... để chắc chắn là em được an toàn.” Anh nhìn tôi nhưng không định chạm vào tôi, rồi nhắm mắt lại như thể không chịu đựng nổi việc nhìn tôi lâu hơn nữa.
“Tạm biệt,” anh nói, quay người đi.
Tôi câm lặng dõi theo anh và rồi chợt nhớ ra. Có một điều tôi phải nói với anh. Tôi bèn gọi với theo anh.
“Jamie!”
Anh dừng lại và đứng bất động trong một thoáng, cố gắng kiểm soát nét mặt. Mặt anh trắng bệch, căng thẳng và đôi môi anh nhợt nhạt như không còn giọt máu khi anh xoay người về phía tôi.
“Ừ?”
“Có một chuyện... Ý em là, em phải nói với anh một chuyện trước khi... trước khi em đi.”
Anh thoáng nhắm mắt, và tôi nghĩ anh đang chao đảo, nhưng có thể chỉ là do cơn gió làm váy anh bay phất phơ thôi.
“Không cần,” anh nói. “Không. Em đi đi! Không nên trì hoãn. Đi đi!” Anh dợm quay đi, nhưng tôi nắm lấy tay áo anh.
“Jamie, nghe em này! Anh phải nghe em nói!”
Anh lắc đầu vẻ bất lực, nhấc tay lên như định đẩy tôi ra.
“Claire... không. Anh không thể.” Cơn gió khiến mắt anh nhòe nước.
“Sẽ có một cuộc nổi dậy,” tôi gấp gáp nói, lắc lắc cánh tay anh. “Jamie, nghe em này! Hoàng tử Charlie... quân đội của ông ta. Colum đã đúng! Anh có nghe em không, Jamie? Colum đã đúng, không phải là Dougal.”
“Ờ? Ý em là gì vậy?” Bây giờ anh mới chú ý đến những lời tôi nói. Anh đưa tay áo lên lau mặt, đôi mắt nhìn tôi sắc bén, trong veo. Gió vi vu bên tai tôi.
“Hoàng tử Charlie. Sẽ có một cuộc nổi dậy. Dougal đã đúng về điều đó, nhưng nó sẽ không thành công. Ban đầu, quân đội của Charlie làm khá tốt, nhưng cuộc chiến sẽ kết thúc bằng một cuộc tàn sát. Ở Culloden. Các... các thị tộc...” Tôi mường tượng ra những tấm bia mộ bằng đá xám nằm rải rác trên cánh đồng, mỗi tấm bia mang cái tên thị tộc của người đàn ông nằm bên dưới nó. Tôi hít một hơi và nắm lấy tay anh để tự trấn tĩnh mình. Nó lạnh như tay của một tử thi vậy. Tôi rùng mình, nhắm mắt để tập trung vào điều mình đang nói.
“Những người cao nguyên - toàn bộ các thị tộc ủng hộ Charlie - sẽ bị tàn sát. Hàng trăm tộc viên sẽ chết ở Culloden; những người còn sống sót sẽ bị truy lùng và giết. Các thị tộc sẽ bị đàn áp... Và họ sẽ không ngóc đầu dậy được nữa, trong thời đại của anh - thậm chí là trong thời đại của em.”
Tôi mở mắt, thấy anh đang nhìn mình chằm chằm, vẻ mặt đờ đẫn.
“Jamie, hãy tránh xa cuộc nổi dậy đó!” Tôi năn nỉ. “Khuyên nhủ những người thân của anh tránh xa nó nếu có thể, vì Chúa... Jamie, nếu anh...” Tôi ngừng lời. Tôi đã định nói: “Jamie, nếu anh yêu em”, nhưng không thể. Tôi sắp mất anh vĩnh viễn, nếu trước đây tôi không thể nói với anh về tình yêu thì bây giờ tôi lại càng không thể làm thế.
“Đừng đi Pháp,” tôi nói khẽ. “Hãy đến Mỹ, Tây Ban Nha hoặc Ý. Vì những người yêu quý anh, Jamie, đừng đặt chân lên cánh đồng Culloden.”
Anh vẫn nhìn tôi chằm chằm, khiến tôi tự hỏi liệu anh có nghe thấy những lời tôi nói không.
“Jamie? Anh có nghe em không? Anh có hiểu không?”
Sau một thoáng, anh lẳng lặng gật đầu.
“Ừ,” anh khẽ nói, khẽ đến nỗi tôi hầu như không thể nghe thấy lời anh trong tiếng gió rít. “Có, anh có nghe.” Anh bỏ tay tôi xuống.
“Chúa phù hộ em... mo duinne.”
Anh bước xuống con dốc đứng, bấu chân vào những búi cỏ và tóm lấy những nhành cây để giữ thăng bằng, không ngoảnh lại lấy một lần. Tôi dõi theo cho đến khi anh biến mất vào trong lùm sồi, bước chân anh chậm rãi như một người đàn ông bị thương biết mình phải tiếp tục di chuyển, nhưng cảm thấy sinh lực mình dần cạn kiệt qua những ngón tay đang siết chặt vết thương.
Hai đầu gối run lẩy bẩy, tôi từ từ ngồi xuống thềm đá hoa cương, băt tréo chân, dõi theo những con chim nhạn đang bay lượn. Dưới kia, tôi chỉ có thể nhìn thấy mái của ngôi nhà tranh đang lưu giữ quá khứ của tôi. Còn sau lưng tôi là tảng đá nứt đứng sừng sững. Và tương lai của tôi.
Tôi ngồi bất động suốt buổi chiều, cố gắng loại bỏ mọi cảm xúc ra khỏi tâm trí và vận dụng lý trí. Jamie có lý khi thuyết phục tôi trở về nhà, nơi an toàn, bên Frank; với những tiện nghi nho nhỏ trong cuộc sống mà tôi thi thoảng nhớ đến quay quắt, chẳng hạn như bồn tắm và hệ thống ống nước trong nhà, chưa kể những thứ lớn hơn như hệ thống y tế chuẩn mực và giao thông thuận tiện.
Không thể phủ nhận nơi này đầy những điều bất tiện và nguy hiểm, tuy nhiên tôi cũng phải thừa nhận rằng mình thích nhiều khía cạnh của nó. Việc đi lại khó khăn thật đấy, nhưng ở đây không có những mảng bê tông khổng lồ phủ khắp miền quê hay những chiếc ô tô ồn ĩ khủng khiếp - những phương tiện vô cùng nguy hiểm. Cuộc sống đơn giản hơn rất nhiều, và con người cũng vậy. Không phải là họ kém thông minh hơn mà là bộc trực hơn - tuy có vài ngoại lệ như Colum ban Campbell MacKenzie.
Vì công việc của bác Lamb, tôi đã sống ở rất nhiều nơi, thậm chí có những nơi còn lạc hậu và thiếu thốn tiện nghi hơn cả nơi này. Tôi khá dễ dàng thích nghi với hoàn cảnh gian khổ và không thực sự nhớ “nền văn minh” mỗi khi phải xa rời nó, dù tôi cũng dễ dàng làm quen với những phát minh thú vị như bếp điện và thùng đun nước nóng. Tôi rùng mình trước cơn gió lạnh, tự ôm lấy mình, nhìn chằm chằm vào tảng đá.
Lý trí có vẻ không giúp được gì nhiều. Tôi lưỡng lự chuyển hướng sang cảm xúc, và bắt đầu hồi tưởng lại những chi tiết trong hai cuộc hôn nhân của tôi - đầu tiên là với Frank, sau đó là với Jamie. Kết quả duy nhất của việc này là tôi cảm thấy đầu óc rối bời, nước mắt trào ra tạo thành những vệt lạnh buốt trên mặt.
Chà, nếu lý trí và cảm xúc đều không có hiệu quả, vậy bổn phận thì sao? Tôi đã trao cho Frank lời thề hôn nhân bằng cả trái tim mình. Tôi cũng trao cho Jamie thứ tương tự, nhưng lại luôn nhăm nhe phản bội nó. Bây giờ, tôi sẽ phản bội ai trong hai người họ? Mặt trời đã ngả về tây và những con chim nhạn đã bay về tổ, nhưng tôi vẫn còn ngồi trầm ngâm.
Khi sao Hôm bắt đầu lóe lên giữa những nhành thông tối thẫm, tôi kết luận rằng trong tình cảnh này, lý trí chẳng có mấy tác dụng. Tôi sẽ phải trông cậy vào một thứ khác; nhưng thứ đó là gì thì tôi không biết chắc. Tôi quay về phía tảng đá nứt, bước một bước, rồi thêm một bước nữa, rồi lại thêm một bước nữa. Sau đó, tôi dừng chân, xoay người và thử đi về hướng ngược lại. Một bước, rồi một bước nữa, rồi lại thêm một bước nữa. Trước khi nhận ra mình đã quyết định, tôi đã xuống được nửa chừng con dốc.
Hổn hà hổn hển chạy đến túp nhà tranh vì sợ rằng Jamie đã đi mất, tôi thở phào nhẹ nhõm khi thấy Donas đang tập tễnh gặm cỏ ở gần đó. Con ngựa ngẩng đầu nhìn tôi với vẻ khó chịu. Tôi khẽ khàng bước tới, đây mở cánh cửa.
Jamie đang ngủ trên một chiếc ghế tủ hẹp bằng gỗ sồi ở phòng khách. Anh nằm ngửa như thường lệ, hai bàn tay chồng lên nhau đặt trên bụng, miệng hé mở. Những tia nắng cuối cùng rọi vào từ ô cửa sổ đằng sau tôi, chiếu lên gương mặt anh như một chiếc mặt nạ bằng kim loại. Những vệt nước mắt bàng bạc đã khô lấp lánh trên làn da màu vàng kim, và đám chân râu màu đồng ánh lên lờ mờ.
Tôi đứng âu yếm nhìn anh trong một thoáng rồi khẽ khàng nằm xuống bên cạnh, rúc sát vào người anh. Anh quay sang tôi trong giấc ngủ như anh thường làm thế, ôm lấy tôi theo kiểu úp thìa và áp má vào tóc tôi. Nửa thức nửa ngủ, anh giơ tay gạt tóc tôi ra khỏi mũi, rồi giật mình tỉnh dậy khi nhận ra tôi đang ở đó, khiến chúng tôi mất thăng bằng và ngã đè lên nhau trên sàn với Jamie nằm bên trên.
Anh đúng là một khối thịt rắn chắc! Tôi thúc đầu gối vào bụng anh, càu nhàu.
“Xuống đi! Em không thở được!”
Thay vì làm theo lời tôi, anh càng làm tôi khó thở hơn bằng cách hôn tôi ngấu nghiến. Tôi tạm thời quên bẵng tình trạng thiếu ôxy của mình để tập trung vào những vấn đề quan trọng hơn.
Chúng tôi ôm nhau một lúc lâu mà không nói năng gì. Cuối cùng, anh thì thầm: “Tại sao?” Miệng anh áp vào tóc tôi.
Tôi hôn lên gò má ẩm ướt, mằn mặn của anh, cảm thấy trái tim anh đang đập trên mạng sườn tôi, và chẳng muốn gì hơn là được giữ nguyên tư thế đó mãi mãi, không cử động, không làm tình, chỉ thở cùng một bầu không khí.
“Em phải làm thế,” tôi nói, bật cười, tiếng cười hơi run rẩy. “Anh không biết sự lựa chọn đó khó khăn thế nào đâu. Những cái bồn tắm nước nóng suýt nữa đã chiến thắng đấy.” Rồi tôi òa khóc, người rung lên, bởi vì sự lựa chọn đó chỉ vừa mới được thực hiện và nó không dễ dàng gì, bởi vì niềm vui được ở bên người đàn ông mà tôi đang ôm trong tay quyện lẫn với nỗi đau xé lòng khi phải mãi mãi chia xa người đàn ông mà tôi sẽ không bao giờ gặp lại nữa.
Jamie ghì chặt như muốn bảo vệ tôi, muốn cứu tôi thoát khỏi lực hút khủng khiếp của vòng tròn đá. Cuối cùng, khi nước mắt đã cạn, tôi mệt mỏi nằm gối đầu lên ngực anh. Trời đã tối đen, nhưng anh vẫn ôm tôi, khẽ thủ thỉ vỗ về như thể tôi là một đứa trẻ sợ bóng tối. Chúng tôi cứ nằm ôm nhau như thế không muốn buông ra dù chỉ để nhóm lửa hay thắp nến.
Mãi rồi Jamie cũng đứng dậy, bế tôi lên, mang tôi tới cái ghế tủ và ngồi xuống, còn tôi vẫn nằm nép trong lòng anh. Cánh cửa của ngôi nhà tranh vẫn mở, chúng tôi có thể nhìn thấy những vì sao đang bắt đầu lấp lánh phía trên thung lũng bên dưới.
“Anh có biết rằng,” tôi mơ màng nói, “phải mất hàng ngàn năm, ánh sáng của những vì sao kia mới tới được chỗ chúng ta không? Thực tế, vài ngôi sao có thể đã chết rồi, nhưng chúng ta không biết, bởi vì chúng ta vẫn nhìn thấy ánh sáng của chúng.”
“Thế à?” Anh đáp, vuốt ve lưng tôi. “Anh không biết điều đó.”
Hẳn là tôi đã ngủ thiếp đi trên vai anh, nhưng thoáng thức giấc khi anh nhẹ nhàng đặt tôi lên những tấm chăn trải trên sàn. Anh nằm xuống bên cạnh tôi, kéo tôi lại gần.
“Ngủ đi!” Anh thì thầm. “Sáng mai, anh sẽ đưa em về nhà.”
•••
Chúng tôi thức dậy ngay trước lúc rạng đông, và đang trên đường xuống núi, hăm hở rời khỏi Craigh na Dun thì mặt trời mọc.
“Chúng ta đang đi đâu vậy, Jamie?” Tôi hỏi, cảm thấy hân hoan vì tôi có thể hướng tới một tương lai có anh sau khi đã từ bỏ cơ hội cuối cùng được trở lại với người đàn ông đã - hay sẽ - yêu tôi.
Jamie ghì cương ngựa, ngoảnh lại đằng sau. Từ chỗ này không còn nhìn thấy vòng tròn đá gớm ghiếc, nhưng sườn đồi vẫn sừng sững với những tảng đá và những bụi kim tước nhô lên tua tủa. Nhìn từ đây, lớp vỏ đổ nát của ngôi nhà tranh trông như một mỏm đá, nếu coi cả ngọn đồi là một nắm đấm thì nó chẳng khác nào một khớp ngón tay xương xẩu đang trồi lên.
“Anh ước gì mình có thể đánh nhau với anh ta để giành lấy em,” anh đột ngột nói, nhìn lại tôi, đôi mắt xanh tối sầm và đầy nghiêm túc.
Tôi mỉm cười với anh, trong lòng xúc động.
“Đó không phải là cuộc chiến của anh, mà là cuộc chiến của em. Dù sao đi nữa, anh đã chiến thắng.” Tôi chìa tay ra, anh liền nắm lấy.
“Ừ, nhưng ý anh không phải vậy. Nếu anh đánh nhau với anh ta và giành chiến thắng, em sẽ không phải dằn vặt.” Anh ngập ngừng. “Nếu có bao giờ...”
“Không còn một chữ “nếu” nào nữa,” tôi kiên quyết nói. “Hôm qua, em đã nghĩ đến từng giả thiết, và bây giờ em vẫn ở đây đấy thôi.”
“Ơn Chúa,” anh nói, mỉm cười, “Chúa phù hộ cho em.” Rồi anh nói thêm, “dù anh sẽ chẳng bao giờ hiểu được tại sao.”
Tôi choàng tay ôm quanh eo anh khi con ngựa đi xuống con dốc đứng cuối cùng.
“Bởi vì,” tôi nói, “em không thể sống thiếu anh, Jamie Fraser, chỉ vậy thôi. Mà này, anh đang đưa em đi đâu vậy?”
Jamie xoay người nhìn ngược lên con dốc.
“Hôm qua, anh đã cầu nguyện suốt chặng đường đi lên đồi,” anh khẽ nói. “Không phải là mong em ở lại, vì anh nghĩ như vậy là không đúng. Anh đã cầu nguyện rằng mình sẽ đủ mạnh mẽ để tiễn em đi.” Anh lắc đầu, vẫn nhìn lên đồi, ánh mắt xa xăm.
“Anh đã nói: “Chúa ơi, nếu trước đây con chưa từng có lòng can đảm, vậy thì bây giờ xin Người hãy ban nó cho con, giúp con có đủ dũng khí để không quỳ xuống và năn nỉ cô ấy ở lại.”“ Anh dời mắt khỏi túp nhà tranh và mỉm cười với tôi.
“Đó là điều khó khăn nhất mà anh từng làm đấy, Sassenach.” Anh xoay người lại, giục con ngựa đi về phía đông. Chẳng mấy khi có một buổi sáng rực rỡ thế này, mặt trời ban sớm dát vàng vạn vật, viền một đường mỏng đỏ rực như lửa dọc theo mép của sợi dây cương, đường cong ở cổ ngựa cùng những đường nét trên mặt và bờ vai Jamie.
Anh hít một hơi thật sâu và hất đầu về phía một con đèo xa xa nằm giữa hai ngọn núi đá ở bên kia bãi hoang.
“Vì vậy bây giờ anh cho là anh có thể làm điều khó khăn thứ hai.” Anh nhẹ nhàng thúc gót chân vào người con ngựa, chậc lưỡi. “Chúng ta đang về nhà, Sassenach! Về Lallybroch!”
[1] Trích trong Sách Habakkuk của nhà tiên tri Habakkuk.
[2] Trích trong sách Cách ngôn.
[3] Trích trong sách Xuất hành, quyển thứ hai trong Cựu ước.
[4] Anthony McAuliffe (1898 - 1975): một vị tướng của quân đội Mỹ.
[5] George Smith Patton Jr (1885 - 1945): vị tướng, nhà chỉ huy quân sự nổi tiếng của Lục quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ II.
[6] Một pháp sư huyền thoại nổi tiếng trong truyền thuyết về vua Arthur.