Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
40
Xá tội

❊ ❊ ❊

Tôi không nhớ mình đã về giường như thế nào, nhưng lúc tỉnh dậy, tôi thấy tôi đang ở trên giường. Cha Anselm đang ngồi đọc sách bên cửa sổ.

Tôi ngồi bật dậy.

“Jamie?” Tôi khàn khàn hỏi.

“Đang ngủ,” Cha Anselm nói, đặt quyển sách sang một bên. Ông liếc nhìn ngọn nến báo giờ trên bàn. “Giống như con. Con đã ở bên các thiên thần trong ba mươi sáu giờ qua, ma belle[1].” Ông rót đầy một cốc rượu vang từ cái bình đất nung và đưa nó lên môi tôi. Đã có lúc tôi nghĩ rằng uống rượu trên giường trước khi đánh răng là ví dụ rõ ràng nhất của sự suy đồi. Nhưng ở trong một tu viện, bên cạnh một tu sĩ Franciscan mặc áo chùng thâm thì hành động đó chẳng còn có vẻ như vậy nữa. Và rượu vang đã giúp xua tan cảm giác như bị phủ rêu trong miệng tôi.

Tôi thả chân xuống giường và lảo đảo ngồi dậy. Nhưng Cha Anselm nắm lấy cánh tay tôi, đẩy tôi nằm xuống trở lại. Ông đột nhiên có vẻ có tới bốn con mắt và nhiều mũi, miệng hơn mức cần thiết.

“Con hơi chóng mặt,” tôi nói, nhắm mắt lại, rồi mở một mắt ra. Khá hơn một chút. ít nhất tôi chỉ còn trông thấy một mình ông, dẫu có hơi nhòe.

Cha Alselm cúi xuống tôi, vẻ băn khoăn lo lắng.

“Ta đi gọi Thầy Ambrose hoặc Thầy Polydore nhé? Rủi là ta không thạo về thuốc men.”

“Không, con không cần gì cả. Chỉ là con ngồi dậy quá đột ngột thôi.” Tôi lại thử ngồi dậy, chậm hơn. Lần này, căn phòng và các món đồ đạc đều tương đối tĩnh tại. Tôi bắt đầu cảm nhận được vô số vết bầm và vết đau mà sự choáng váng lúc nãy đã che lấp đi. Tôi cố gắng hắng giọng và phát hiện ra họng mình đau rát. Tôi nhăn mặt.

“Thực sự thì, ma chère, ta nghĩ có lẽ...” Cha Alselm đã hướng ra phía cửa, sẵn sàng đi gọi người trợ giúp. Ông có vẻ khá lo lắng. Tôi giơ tay định với lấy cái gương soi trên bàn nhưng rồi lại đổi ý. Tôi thực sự chưa sẵn sàng cho việc đó. Thay vì thế, tôi cầm lấy bình rượu vang.

Cha Anselm chậm rãi quay trở vào phòng và đứng nhìn tôi. Khi đã tin rằng tôi sẽ không ngã quỵ, ông lại ngồi xuống. Tôi từ từ nhấm nháp rượu vang trong khi đầu óc dần tỉnh táo lại, cố gắng giũ bỏ dư âm của những giấc mơ do thuốc phiện gây ra. Vậy là rốt cuộc chúng tôi còn sống. Cả hai chúng tôi.

Những giấc mơ của tôi thật hỗn loạn, đầy bạo lực và máu me. Tôi đã mơ đi mơ lại rằng Jamie bị chết hoặc đang hấp hối. Và ở đâu đó trong màn sương mù là hình ảnh của cậu bé nằm trên tuyết, khuôn mặt bầu bĩnh kinh ngạc chồng lên hình ảnh khuôn mặt tím đen và bầm dập của Jamie. Thi thoảng lại là khuôn mặt Frank với hàng ria xoăn lờ mờ. Tôi nhớ rõ mình đã giết cả ba người họ. Tôi có cảm giác mình đã dành cả đêm để chém giết, và từng thớ cơ bắp thịt đều đau đớn, nhức mỏi.

Cha Anselm vẫn ở đó, kiên nhẫn canh chừng tôi, tay đặt trên đầu gối.

“Cha có thể giúp con một việc, thưa Cha,” tôi nói.

Ông lập tức đứng dậy, nhiệt tình giúp đỡ, vươn tay với lấy cái bình.

“Đương nhiên rồi! Con muốn uống thêm rượu vang phải không?”

Tôi mỉm cười mệt mỏi.

“Vâng, nhưng để lát nữa. Bây giờ, con muốn Cha nghe con xưng tội.”

Ông giật mình, nhưng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.

“Đương nhiên, chère madame, nếu con muốn. Nhưng thực sự thì, chẳng phải sẽ tốt hơn nếu đi gọi Cha Gerard hay sao? Ông ấy là một giáo sĩ nghe xưng tội nổi tiếng, trong khi ta” - ông nhún vai theo kiểu xứ Gaul - “đương nhiên ta được phép nghe những lời xưng tội, nhưng thực tế ta hiếm khi làm vậy, vì ta chỉ là một học giả thôi.”

“Con muốn Cha lắng nghe,” tôi kiên quyết nói. “Và con muốn xưng tội ngay bây giờ.”

Ông thở dài cam chịu và đi lấy dây các phép[2]. Ông quàng nó quanh cổ và chỉnh cho lớp lụa màu tía nằm ngay ngắn dọc theo mặt trước của chiếc áo chùng thâm, rồi ngồi xuống chiếc ghế đẩu, ban phước nhanh cho tôi và ngả người vào lưng ghế, chờ đợi.

Và tôi kể với ông. Tất cả. Tôi là ai và tôi đến đây bằng cách nào. Về Frank, về Jamie. Và về cậu lính Anh với khuôn mặt tàn nhang tái nhợt nằm chết trên tuyết.

Biểu cảm của ông không hề thay đổi trong lúc tôi nói, chỉ có đôi mắt nâu tròn trở nên to tròn hơn. Khi tôi kể xong, ông chớp mắt một, hai lần, mở miệng như muốn nói rồi lại thôi, và lắc đầu như để bỏ qua.

“Không,” tôi kiên nhẫn nói, rồi lại hắng giọng; giọng tôi khào khào như một con ễnh ương. “Cha chưa từng nghe thấy những chuyện như vậy. Và Cha cũng không tưởng tượng ra nó. Giờ thì Cha hiểu tại sao con muốn Cha nghe nó dưới dạng xưng tội rồi chứ?”

Ông gật đầu, hơi lơ đãng.

“Ừ. Ừ, hẳn rồi. Nếu... nhưng đúng vậy. Đương nhiên, con không muốn ta kể với ai khác. Và vì con kể chuyện này dưới dạng xưng tội, vậy thì con mong rằng ta phải tin nó. Nhưng...” Ông gãi đầu, rồi ngước nhìn tôi. Một nụ cười tươi tắn chầm chậm nở ra trên mặt ông.

“Nhưng thật diệu kỳ!” Ông khẽ thốt lên. “Thật lạ thường và thật tuyệt vời!”

“Là con thì con sẽ không nói là “tuyệt vời”,” tôi tự giễu, “nhưng đúng là rất “lạ thường”.” Tôi hứng hắng ho và với tay lấy thêm rượu vang.

“Nhưng đó là một... điều kỳ diệu,” ông như đang nói với chính mình.

“Nếu Cha khăng khăng nghĩ như vậy,” tôi nói, thở dài. “Nhưng con muốn biết - con nên làm gì? Con có phạm tội giết người hay tội ngoại tình không? Mặc dù không thể làm gì để sửa chữa sự đã rồi, nhưng con muốn biết. Và vì con đang ở đây, con nên làm thế nào? Con có thể - ý con là con có nên - dựa vào những gì con biết để... thay đổi mọi thứ không? Con thậm chí còn không biết mình có làm được một chuyện như vậy không nữa. Nhưng nếu được, con có quyền làm thế không?”

Ông ngả người ra sau, cân nhắc. Rồi ông từ từ giơ hai ngón trỏ lên, chụm chúng vào nhau và nhìn chằm chằm vào chúng trong một lúc lâu. Cuối cùng, ông lắc đầu và mỉm cười.

“Ta không biết, ma bonne amie[3]. Con hiểu cho, đây là một tình huống mà người ta không ngờ đến trong một phòng xưng tội. Ta sẽ phải suy nghĩ và cầu nguyện, ừ, nhất định là phải cầu nguyện rồi. Tối nay ta sẽ suy ngẫm về tình cảnh của con trước khi ta chầu mình thánh. Và ngày mai ta có thể cho con lời khuyên.”

Ông nhẹ nhàng ra hiệu cho tôi quỳ xuống.

“Còn bây giờ, con của ta, ta sẽ xá tội cho con. Cho dù tội lỗi của con là gì, hãy tin rằng chúng sẽ được tha thứ.”

Ông giơ một bàn tay lên để ban phúc, tay còn lại đặt lên đầu tôi. “Te absolvo, in nomine Patri, et Filii[4],...”

Ông đứng lên, nâng tôi dậy.

“Cảm ơn Cha,” tôi nói. Tôi là kẻ vô tín ngưỡng, và dùng cách xưng tội chỉ để buộc ông đón nhận câu chuyện của tôi một cách nghiêm túc, vì vậy tôi khá ngạc nhiên khi cảm thấy tinh thần mình như trút được một gánh nặng. Có lẽ đó chỉ là sự nhẹ nhõm khi kể cho ai đó nghe sự thật.

Ông phẩy tay gạt đi. “Ta sẽ gặp con vào ngày mai, chère madame. Còn bây giờ, con nên nghỉ ngơi thêm, nếu con có thể.”

Ông đi về phía cửa, gấp mảnh dây các phép lại thành một hình vuông gọn gàng. Ở ngưỡng cửa, ông dừng một thoáng, quay lại mỉm cười với tôi. Mắt ông sáng bừng vì một nỗi phấn khích như trẻ thơ.

“Ngày mai...” ông nói, “con có thể... nói cho ta biết nó như thế nào không?”

Tôi mỉm cười đáp lại.

“Vâng, thưa Cha. Con sẽ nói với Cha.”

Sau khi ông rời đi, tôi loạng choạng đi dọc theo hành lang để đến gặp Jamie. Tôi đã nhìn thấy nhiều tử thi còn có tình trạng tốt hơn anh nhiều, nhưng ngực anh nhô lên hạ xuống đều đặn, và da anh đã mất đi thứ màu xanh đáng sợ.

“Cứ vài tiếng tôi lại đánh thức cậu ấy dậy để húp vài thìa xúp loãng.” Thầy Roger đang đứng bên cạnh tôi nói khẽ. Ông dời ánh mắt từ bệnh nhân sang tôi, và giật mình trước vẻ ngoài của tôi. Đáng lẽ tôi nên chải đầu. “ơ, có lẽ cô sẽ... muốn ăn một chút gì đó?”

“Không, cảm ơn thầy. Tôi nghĩ... tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ ngủ thêm một chút.” Tôi không còn bị cảm giác tội lỗi và nỗi chán chường đè nặng, nhưng cảm giác uể oải đang lan khắp tứ chi. Chẳng biết đây là kết quả của lời xưng tội hay rượu vang, chỉ biết rằng tôi ngạc nhiên khi thấy mình đang mong ngóng cái giường và sự lãng quên.

Tôi cúi xuống, chạm vào Jamie. Người anh âm ấm nhưng không có dấu hiệu bị sốt. Tôi nhẹ nhàng xoa đầu anh, vuốt mái tóc đỏ rối bù. Khóe miệng anh thoáng nhếch lên rồi trở lại vị trí cũ. Nhưng nó đã nhếch lên. Tôi chắc chắn điều đó.

•••

Trời lạnh và ẩm ướt, chân trời là một mảng xám xịt hòa lẫn vào bức màn màu xám của các ngọn đồi và lớp tuyết bẩn đọng lại từ tuần trước, do đó tư viện như bị bao bọc trong một cuộn bông bẩn thỉu. Ngay cả bên trong tu viện, sự tĩnh mịch của mùa đông cũng đè nặng lên các cư dân. Tiếng tụng kinh của những Giờ Cầu Nguyện trong nhà nguyện nghe nhỏ hẳn đi, và các bức tường đá dày có vẻ thấm hút mọi âm thanh, bọc lại sự hối hả của các hoạt động thường nhật.

Jamie ngủ gần hai ngày, chỉ thức dậy để ăn một ít xúp loãng hay uống chút rượu vang. Khi đã tỉnh lại, anh bắt đầu hồi phục theo cái kiểu một chàng trai trẻ khỏe mạnh đột nhiên bị tước đi sức lực và sự độc lập mà bình thường anh ta không biết quý trọng. Nói cách khác, anh thích được chiều chuộng trong khoảng hai mươi tư tiếng đồng hồ và rồi luân phiên trở nên bồn chồn, bứt rứt, gắt gỏng, cáu kỉnh, quàu quạu, bướng bỉnh và cực kỳ xấu tính.

Các vết thương trên vai anh nhức nhối. Các vết sẹo trên chân anh ngứa ngáy. Anh đã chán ốm phải nằm sấp. Căn phòng quá nóng. Bàn tay anh đau đớn. Khói từ lò than làm mắt anh cay sè khiến anh không thể đọc sách. Anh phát ngây xúp loãng, sữa đặc nóng hòa rượu và sữa tươi. Anh muốn ăn thịt.

Tôi nhận ra các dấu hiệu hồi phục ở anh và cảm thấy vui mừng, nhưng chỉ có thể chịu đựng chừng này thôi. Tôi mở cửa sổ, thay chăn ga, thoa thuốc mỡ cúc vạn thọ lên lưng và nhựa cây lô hội lên hai chân anh. Rồi tôi gọi một tu sĩ cần vụ mang thêm xúp loãng.

“Anh không muốn ăn thứ lõng bõng này nữa! Anh cần thức ăn đặc!” Anh giận dữ gạt cái khay đi, khiến nước xúp sánh ra cái khăn ăn bao quanh bát.

Tôi khoanh tay, nhìn anh chằm chằm. Đôi mắt xanh hống hách chằm chằm nhìn lại tôi. Anh gầy như que củi, quai hàm và gò má nhô hẳn lên. Dù anh đang bình phục khá nhanh nhưng những dây thần kinh nhạy cảm ở dạ dày vẫn cần thêm một chút thời gian nữa để phục hồi. Anh vẫn chưa thể hoàn toàn giữ được xúp và sữa trong dạ dày.

“Anh sẽ được ăn thức ăn đặc khi nào em nói anh có thể,” tôi báo cho anh biết, “trước đó thì không.”

“Anh sẽ ăn ngay bây giờ! Em nghĩ em có thể bắt anh ăn theo ý em sao?”

“Vâng, em hoàn toàn có thể. Em là thầy thuốc ở đây, nếu anh đã quên.”

Anh vung chân xuống giường, rõ ràng định bước đi. Tôi chặn tay lên ngực anh và đẩy anh lại.

“Việc của anh là nằm trên giường và làm theo những gì được bảo, một lần trong đời,” tôi gắt gỏng. “Anh chưa đủ khỏe để đứng dậy, và cũng chưa thể ăn thức ăn đặc. Thầy Roger nói sáng nay anh lại nôn.”

“Hãy bảo Thầy Roger tự đi mà lo chuyện của mình, và em cũng vậy,” anh nghiến răng nói, vùng dậy trở lại, vươn tay ra bám vào mép bàn. Với sự nỗ lực đáng kể, anh đứng dậy được nhưng cả người cứ lắc lư.

“Trở lại giường đi! Anh sẽ ngã đấy!” Mặt anh tái mét, ngay cả nỗ lực để đứng cũng khiến anh toát mồ hôi lạnh.

“Không,” anh nói. “Anh sẽ về giường khi nào anh muốn. Đó là việc của anh.”

Lúc này thì tôi thực sự giận dữ.

“Ồ, thế à? Vậy anh nghĩ ai đã cứu cái mạng khốn khổ của anh vậy? Tự anh chăng?” Tôi tóm lấy cánh tay anh và đẩy anh về lại giường, nhưng anh giằng ra.

“Anh đâu có đòi hỏi em cứu anh, đúng không? Anh đã bảo em bỏ mặc anh, đúng không? Và anh không thể hiểu nỗi tại sao em lại cứu mạng anh, chỉ để bỏ đói anh đến chết - trừ phi em thích chứng kiến cảnh tượng đó!”

Thật quá sức chịu đựng!

“Đồ ăn cháo đá bát!”

“Đồ chuột chù đanh đá!”

Tôi đứng thẳng dậy và chỉ vào cái giường, vẻ đe dọa. Với giọng điệu đanh thép học được từ những năm làm y tá, tôi nói: “Trở lại cái giường đó ngay lập tức, đồ cứng đầu, ương ngạnh, đần độn...”

“Người Scot,” anh nói nốt giúp tôi một cách ngắn gọn, rồi bước một bước về phía cửa và suýt thì ngã nếu không bám được vào một cái ghế đẩu. Anh ngồi phịch xuống, lắc la lắc lư, đôi mắt hơi đờ đẫn vì choáng váng. Tôi siết chặt nắm đấm, trừng mắt nhìn anh.

“Được,” tôi nói. “Được lắm! Em sẽ kêu họ mang bánh mỳ và thịt cho anh, và sau khi anh nôn xuống sàn, anh có thể bò toài ra và tự lau dọn lấy! Em sẽ không làm đâu, và nếu Thầy Roger làm, em sẽ lột da sống thầy ấy!”

Tôi đùng đùng bỏ ra hành lang và đóng sầm cửa lại ngay trước khi cái chậu rửa bằng sứ va rầm vào nó từ bên trong. Tôi quay người và thấy có hai khán giả ở hành lang đang chăm chú nhìn, rõ ràng họ đã bị thu hút bởi tiếng cãi cọ. Thầy Roger và Murtagh đứng sóng vai, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt đỏ bừng và bộ ngực phập phồng của tôi. Thầy Roger có vẻ bối rối, còn Murtagh thì chậm rãi nở nụ cười khi ông nghe thấy cả chuỗi những lời tục tĩu bằng tiếng Gaelic đằng sau cánh cửa.

“Vậy là cậu ấy đang khá hơn rồi,” ông hài lòng nói. Tôi tựa người vào tường hành lang, một nụ cười cũng đang dần nở trên mặt tôi.

“Ồ, vâng,” tôi nói, “anh ấy đã khá hơn.”

•••

Sau cả buổi sáng ở lỳ trong phòng thảo dược, trên đường quay lại tòa nhà chính, tôi gặp Cha Anselm đang đi ra từ hành lang gần thư viện. Khuôn mặt ông sáng bừng lên khi nhìn thấy tôi, và ông vội vã bước xuống sân để tới chỗ tôi. Chúng tôi cùng nhau đi dạo qua các khoảnh sân của tu viện, vừa đi vừa trò chuyện.

“Vấn đề của con thật thú vị,” ông nói, bẻ một cành cây từ một bụi cây gần bức tường, chăm chú ngắm nghía những búp lá rồi ném nó đi và ngước nhìn bầu trời. Vầng mặt trời nhợt nhạt đang ló ra qua đám mây mỏng.

“Ấm hơn rồi, nhưng còn lâu mới đến mùa xuân,” ông nhận xét. “Tuy nhiên, hôm nay lũ cá chép chắc quậy lắm - chúng ta cùng tới chỗ bể cá đi!”

Khác hẳn với những gì mà tôi đã hình dung, các bể cá không được làm từ chất liệu mỏng manh có tính trang trí quen thuộc mà giống như những máng đá rắn chắc, được đặt thuận tiện gần khu bếp. Trong bể có chứa cá chép, cung cấp thức ăn cần thiết cho các ngày thứ Sáu và những ngày kiêng thịt[5], khi thời tiết quá xấu, không thể đánh bắt những loài cá truyền thống hơn như cá tuyết chấm đen, cá trích hay cá bơn.

Đúng như lời Cha Anselm, lũ cá thật quậy, những cơ thể hình thoi béo núc thoăn thoắt lướt qua nhau, lớp vảy trắng phản chiếu màu sắc của những đám mây phía trên đầu. Sự chuyển động của chúng thi thoảng khuấy lên những làn sóng nhỏ, làm nước bắn tung tóe lên vách “nhà tù” bằng đá của chúng. Khi bóng chúng tôi đổ xuống mặt nước, lũ cá chép hướng về phía chúng tôi như những cái kim la bàn chỉ về phía bắc.

“Chúng mong được cho ăn mỗi khi thấy bóng người,” Cha Anselm giải thích. “Sẽ thật đáng tiếc nếu làm chúng thất vọng. Chờ một lát nhé, chère madamel”

Ông sải bước vào khu bếp, chẳng mấy chốc đã quay trở lại với hai ô bánh mỳ chua. Chúng tôi đứng trên thành bể, xé những mẩu bánh và ném cho những cái miệng đói khát đang không ngừng đòi ăn ở bên dưới.

“Con biết đấy, tình cảnh kỳ lạ này của con có hai khía cạnh,” Cha Anselm nói, mải miết xé bánh mỳ. Rồi ông liếc nhìn tôi, đột nhiên nở một nụ cười làm bừng sáng khuôn mặt, lắc lắc đầu vẻ thích thú. “Ta vẫn chưa thể tin nổi. Quả là một điều kỳ diệu! Chúa thật tốt bụng khi cho ta thấy những chuyện như thế này.”

“Ồ, hay thật,” tôi nói, hơi mỉa mai. “Con không biết liệu Người có tử tế như vậy với con không.”

“Thật sao? Ta nghĩ là có,” Cha Anselm ngồi xổm xuống, trên tay vẫn cầm ổ bánh mỳ nham nhở. “Đúng là,” ông nói, “tình cảnh này gây cho con không ít bất tiện...”

“Đó là một cách nói,” tôi lẩm bẩm.

“Nhưng đó cũng có thể coi là một đặc ân của Chúa,” ông tiếp tục, chẳng để ý đến câu nói tôi vừa chêm vào. Đôi mắt nâu nhạt trầm ngâm nhìn tôi.

“Ta đã cầu xin sự chỉ dẫn của Người khi đang quỳ trước Thánh thể,” ông tiếp tục. “Trong sự tĩnh lặng của nhà nguyện, ta thấy con giống như một hành khách bị đắm tàu. Sự liên tưởng này rất phù hợp với tình cảnh của con, đúng không? Hãy hình dung một người đột nhiên bị trôi dạt đến một vùng đất xa lạ, chẳng còn người thân và bạn bè, trong tay không có gì ngoài những thứ mà vùng đất mới có thể cung cấp. Một sự kiện như vậy quả là một thảm họa, nhưng đó cũng có thể là sự khởi đầu cho một cơ hội lớn và những phúc lành. Nếu vùng đất mới giàu có thì sao? Họ có thể kết bạn với những người bạn mới, và một cuộc sống mới bắt đầu.”

“Vâng, nhưng...” Tôi định phản bác.

“Vì vậy” - ông giơ ngón tay lên để chặn lại lời tôi và nói với giọng uy nghiêm - “có lẽ Chúa tước mất cuộc sống trước kia của con chỉ vì Người thấy cần phải ban cho con một cuộc sống mới, giàu có và đủ đầy hơn.”

“Ồ, đúng là cuộc sống này thật đủ đầy đối với con,” tôi đồng ý. “Nhưng...”

“Bây giờ, đứng trên quan điểm của luật giáo hội Cơ Đốc,” ông cau mày nói, “các cuộc hôn nhân của con không có vấn đề gì hết. Cả hai cuộc hôn nhân đều hợp pháp và được giáo hội ban phép. Và xét cho kĩ ra thì cuộc hôn nhân của con với chàng hiệp sĩ trẻ kia còn xảy ra trước cuộc hôn nhân của con với ông Randall.”

“Vâng, nếu “xét cho kĩ ra”,” tôi đồng ý, lần đầu tiên xen được trọn vẹn một câu. “Nhưng không phải ở thời của con. Con nghĩ khi giáo hội Cơ Đốc lập nên bộ luật của mình, người ta không lường trước được những sự việc bất ngờ như thế này.”

Cha Anselm cười, chòm râu rung rung trong làn gió nhẹ.

“Rất đúng, ma chère, rất đúng. Ý của ta là, xét kĩ trên quan điểm luật pháp, con không phạm tội lỗi gì cả trong những việc con đã làm với hai người đàn ông này. Đó là hai khía cạnh trong tình cảnh của con, mà ta đã nói lúc nãy: việc con đã làm và việc con sẽ làm.” Ông cầm lấy tay tôi, kéo tôi ngồi xuống bên cạnh mình để tầm mắt chúng tôi ngang nhau.

“Đó là điều con đã hỏi ta khi ta nghe con xưng tội, đúng không? Con đã làm gì? Và con sẽ làm gì?”

“Vâng, đúng thế! Và Cha đang nói với con rằng con đã không làm gì sai? Nhưng con...”

Ông cũng giỏi chẹn lời người khác giống như Dougal MacKenzie vậy.

“Đúng, con không sai,” ông khẳng định. “Con biết đấy, cho dù nghiêm ngặt tuân theo luật Chúa và lương tâm, người ta vẫn có thể gặp phải khó khăn và bi kịch. Có một sự thật đau lòng là chúng ta vẫn không biết tại sao Chúa nhân từ lại cho phép tội ác tồn tại, nhưng lời của Người cho thấy điều đó là đúng. “Ta tạo ra cái tốt,” . Người đã nói trong Kinh Thánh, “và ta tạo ra cái xấu.” Hậu quả là, ta nghĩ, ngay cả những người tốt, những người cực kỳ tốt,” ông nói thêm với vẻ suy ngẫm, “thi thoảng cũng có thể gặp phải những xáo trộn và khó khăn lớn trong đời. Chẳng hạn như cậu thiếu niên mà con buộc lòng phải giết. Không,” ông nói, giơ tay chặn lại khi thấy tôi định xen ngang, “đừng nhầm lẫn. Con buộc phải giết cậu ta vì tình cảnh nguy cấp lúc bấy giờ. Ngay cả Giáo hội thiêng liêng, vốn dạy con người ta về sự thánh thiện, cũng công nhận nhu cầu bảo vệ bản thân và gia đình của mỗi người. Và vì đã nhìn thấy tình trạng của chồng con lúc trước” - ông liếc mắt về phía chái nhà dành cho khách ở đằng sau - “ta hiểu là hiển nhiên con buộc phải chọn hành vi bạo lực. Vì vậy, con chẳng việc gì phải tự trách mình. Đương nhiên, con cảm thấy thương xót và ân hận về hành động đó, vì con là người có lòng trắc ẩn.” Ông nhẹ nhàng vỗ vỗ bàn tay đặt trên hai đầu gối đang co lên của tôi.

“Đôi khi những hành động tốt nhất của chúng ta lại dẫn đến những sự việc đáng tiếc nhất. Nhưng con không thể làm khác đi. Chúng ta không biết Chúa có dự tính gì đối với chàng trai trẻ ấy - có lẽ Người muốn cậu ta lên thiên đường với Người vào thời điểm đó. Nhưng con không phải là Chúa, và con không thể lường trước được mọi việc.”

Tôi thoáng rùng mình khi một luồng gió lạnh lùa tới, và quấn cái khăn quanh người chặt hơn. Thấy vậy, Cha Anselm bèn chỉ xuống bể cá.

“Nước trong bể ấm lắm. Có lẽ con sẽ muốn ngâm chân trong đó?”

“Ấm ư?” Tôi há hốc miệng kình ngạc. Nãy giờ tôi đã không nhận ra, ở các góc máng không có mảnh băng vỡ nào như trên những bình đựng nước thánh bên ngoài nhà thờ, và từ những kẽ nứt giữa các phiến đá viên quanh bể mọc lên những loài rong rêu màu xanh nhỏ xíu, bồng bềnh trên mặt nước.

Để chứng minh, Cha Anselm cởi đôi dép da của mình. Dù có khuôn mặt và giọng nói của một trí thức, nhưng bàn tay, bàn chân của ông lại to bè, rắn chắc như của một nông dân vùng Normandy. Vén gấu áo chùng lên tận đầu gối, ông nhúng chân xuống bể nước. Lũ cá chép lao bắn đi, rồi quay lại gần như ngay lập tức để tò mò dò xét kẻ xâm nhập mới này.

“Chúng không biết cắn, đúng không?” Tôi hỏi, nghi ngại nhìn vô số cái miệng phàm ăn đang chầu chực xung quanh.

“Không, chúng không ăn thịt,” ông trấn an tôi. “Chúng không có răng.”

Tôi cởi dép, rón rén nhúng chân xuống nước, và ngạc nhiên khi thấy nước ấm áp một cách dễ chịu. Không phải là nóng, mà là một sự đối lập thú vị đối với không khí lạnh lẽo, ẩm ướt.

“Ồ, tuyệt quá!” Tôi thích thú ngọ nguậy các ngón chân, khiến lũ cá chép hoảng hốt.

“Gần tu viện có vài suối nước khoáng,” Cha Anselm giải thích. “Chúng phun lên từ trong lòng đất, nước của chúng rất nóng và có tác dụng chữa bệnh.” Ông chỉ về phía đầu kia của cái máng, ở đó, tôi có thể nhìn thấy một khe hở nhỏ giữa những phiến đá, bị những loài rong rêu trôi dạt che khuất một nửa.

“Một lượng nhỏ nước khoáng nóng được dẫn tới đây từ con suối gần nhất. Nhờ đó mà các đầu bếp có thể nuôi được cá vào tất cả các mùa để đảm bảo lúc nào cũng có món cá tươi; thường thì chúng không thể sống nổi trong thời tiết mùa đông quá đỗi khắc nghiệt.”

Chúng tôi vui vẻ vẫy chân trong im lặng mất một lúc, những thân hình nặng nề của lũ cá lao qua vun vút, thi thoảng va vào chân chúng tôi với một lực mạnh đến đáng kinh ngạc. Mặt trời lại ló ra, chúng tôi đắm mình trong hơi ấm yếu ớt nó mang lại. Cha Anselm nhắm mắt, để mặc ánh nắng tràn khắp mặt ông. Rồi ông cất tiếng mà không hề mở mắt.

“Người chồng đầu tiên của con - tên anh ta là Frank phải không nhỉ? - ta nghĩ hẳn là Chúa đã giao phó cho anh ta trọng trách trở thành một trong những điều đáng tiếc mà con không thể làm gì được.”

“Nhưng đáng lẽ con có thể làm được một việc,” tôi tranh cãi. “Con có thể trở về.”

Ông mở một bên mắt và nhìn tôi vẻ hoài nghi.

“Phải, con “có thể”,” ông đồng ý. “Và cũng có thể không. Con không cần tự trách bản thân vì đã lưỡng lự với việc mạo hiểm tính mạng của mình.”

“Không phải vì sự mạo hiểm,” tôi nói, xỉa ngón chân vào một con cá chép to tướng. “Không hoàn toàn như vậy. Con lưỡng lự vì... chà, một phần là vì sợ hãi, nhưng chủ yếu là vì con... con không thể rời xa Jamie.” Tôi nhún vai bất lực. “Con... chỉ đơn giản là con không thể.”

Cha Anselm mỉm cười, mở cả hai mắt.

“Một cuộc hôn nhân tốt đẹp là một trong những món quà quý giá nhất mà Chúa ban cho,” ông nói. “Không thể trách con được nếu con đủ khôn ngoan để nhận ra và đón nhận món quà ấy. Và căn cứ vào việc...” Ông nghiêng đầu sang một bên, giống như một con chim sẻ màu nâu.

“Con đã biến mất khỏi nơi ở của mình gần một năm. Người chồng đầu tiên của con ắt hẳn đã bắt đầu nguôi ngoai trước nỗi đau mất con. Cho dù anh ta yêu con đến mức nào, sự mất mát là điều bình thường đối với tất cả đàn ông, và chúng ta được ban cho những cách thức để vượt qua nó vì lợi ích của chúng ta. Có lẽ anh ta đã bắt đầu xây dựng một cuộc sống mới. Nếu con bỏ rơi người đàn ông rất cần con, đồng thời cũng là người con yêu, là người mà con bị ràng buộc bởi mối quan hệ vợ chồng thiêng liêng, để trở về và làm xáo trộn cuộc sống mới này của anh ta thì sẽ có ích gì cho con chứ? Và đặc biệt, nếu con trở về vì ý thức trách nhiệm, nhưng cảm giác rằng trái tim con đã hướng về nơi khác - không.” Ông dứt khoát lắc đầu.

“Không một người đàn ông nào có thể phục vụ hai chủ, không một người phụ nữ nào có thể sống với hai chồng. Chà, nếu cuộc hôn nhân kia của con là cuộc hôn nhân hợp pháp duy nhất, còn cuộc hôn nhân này” - ông lại hất đầu về phía chái nhà dành cho khách - “chỉ là một sự chung sống không đúng lễ giáo, vậy thì bổn phận của con không nằm ở nơi đây. Nhưng hai con đã được gắn kết bởi Chúa, và ta nghĩ con cần phải tôn trọng bổn phận của con đối với chàng hiệp sĩ này.”

“Còn bây giờ, về khía cạnh còn lại - con sẽ làm gì. Điều đó cần phải bàn luận một chút.” Ông rút chân lên khỏi mặt nước và lau chúng bằng vạt áo chùng. “Chúng ta hãy dời cuộc bàn luận này tới nhà bếp của tu viện, ở đó chúng ta có thể thuyết phục Thầy Eulogius mang cho chúng ta một món đồ uống ấm áp.”

Thấy một mẩu bánh mỳ rơi trên mặt đất, tôi ném nó cho lũ cá chép và cúi xuống đi dép vào.

“Con không biết phải diễn tả thế nào với Cha về sự nhẹ nhõm của mình khi có thể nói ra chuyện này với ai đó,” tôi nói. “Và con vẫn không thể tin nổi rằng Cha thực sự tin con.”

Ông nhún vai, lịch thiệp chìa tay ra cho tôi bám vào trong lúc tôi xỏ dép.

“Ma chère, ta phục vụ cho một người đàn ông làm sinh sôi những Ổ bánh mỳ và những con cá” - ông mỉm cười, hất đầu về phía bể cá, những xoáy nước khi lũ cá đớp mồi đang dần lắng xuống - “chữa bệnh cho người ốm và vực dậy người sắp chết. Liệu ta có kinh ngạc không khi chủ nhân của cõi vĩnh hằng ấy đưa một cô gái trẻ đi qua những tảng đá để làm theo ý nguyện của Người?”

Chà, tôi nghĩ, như thế còn tốt hơn bị tố là con điếm của Babylone.

Khu bếp của tu viện ấm áp và trông giống như một hang động, mái nhà uốn vòm đen sì vì bị ám khói dầu mỡ của hàng thế kỷ. Thầy Eulogius đang thọc tay vào một hũ bột sâu đến tận khuỷu tay. Thầy gật đầu chào Cha Anselm và dùng tiếng Pháp gọi một tu sĩ cần vụ tới phục vụ chúng tôi. Chúng tôi tìm một chỗ yên tĩnh để ngôi xuống với hai cốc bia và một đĩa bánh nóng hổi. Tôi đẩy đĩa bánh về phía Cha Anselm, tâm trí rối bời khiến tôi chẳng thiết ăn uống.

“Con xin nói rõ ràng hơn,” tôi nói, lựa chọn từ ngữ một cách cẩn thận. “Nếu con biết một mối nguy hại nào đó sắp xảy ra với một nhóm người, con có buộc phải cố gắng ngăn chặn nó không?”

Cha Anselm lấy tay áo chùi mũi, vẻ suy ngẫm; hơi nóng của nhà bếp đang bắt đầu làm ông chảy nước mũi.

“Theo nguyên tắc thì có,” ông đồng ý. “Nhưng còn tùy vào nhiều điều khác nữa - bản thân con sẽ đối mặt với nguy cơ gì, những bổn phận khác của con là gì, và cơ hội thành công của con là bao nhiêu?”

“Con không biết tí gì về những điều đó. Đương nhiên là ngoại trừ những bổn phận - ý con là, còn có Jamie. Nhưng anh ấy thuộc nhóm người có thể bị tổn hại.”

Ông bẻ một mẩu bánh còn bốc khói và đưa cho tôi. Tôi chẳng đoái hoài đến nó, chăm chú nhìn bia trong cốc. “Hai người đàn ông mà con đã giết,” tôi nói, “nếu con không giết họ, họ có thể sinh con. Họ có thể...” Tôi làm một cử chỉ tỏ vẻ bất lực. “... Ai biết họ có thể làm gì chứ? Con có thể làm ảnh hưởng đến tương lai... không, con đã làm ảnh hưởng đến tương lai. Và con không biết mình đã làm ảnh hưởng đến mức nào, điều đó khiến con rất lo sợ.”

“Ừm.” Cha Anselm trầm ngâm, và ra hiệu cho một tu sĩ cần vụ đi ngang qua mang thêm bánh và bia. Ông rót đầy hai cốc bia rồi mới nói.

“Dù con đã tước đoạt mạng sống của một vài người nhưng con cũng đã bảo vệ mạng sống của vô số người. Bao nhiêu người bệnh sẽ chết nếu không có sự can thiệp của con? Điều đó cũng sẽ ảnh hưởng đến tương lai. Nếu một người mà con đã cứu mạng phạm phải một tội ác tày trời thì sao? Đó có phải là lỗi của con không? Trong trường hợp ấy con có nên để mặc cho người đó chết không? Đương nhiên là không.” Ông dằn cái cốc xuống bàn để nhấn mạnh.

“Con nói rằng con e ngại làm bất cứ điều gì ở đây vì sợ ảnh hưởng đến tương lai. Điều này thật vô lý. Hành động của tất cả mọi người đều ảnh hưởng đến tương lai. Nếu con vẫn ở chỗ của con, những hành động của con vẫn sẽ ảnh hưởng đến những sự kiện sắp xảy ra, chẳng kém gì bây giờ. Con vẫn có những trách nhiệm mà con sẽ có khi ở đó - giống như bất cứ người nào ở bất cứ thời điểm nào. Khác biệt duy nhất là con có thể biết được chính xác những hành động của con sẽ có hậu quả thế nào - nhưng cũng có thể không,” Ông lắc đầu, điềm tĩnh nhìn ngang qua bàn.

“Chúa giấu kín đường lối của mình với chúng ta, và rõ ràng Người có lý do chính đáng để làm vậy. Con nói đúng, ma chère; khi lập nên bộ luật của mình, giáo hội không lường trước được những sự việc bất ngờ như của con, do đó con chẳng biết bấu víu vào đâu để được chỉ dẫn ngoài lương tâm con và bàn tay của Chúa. Ta không thể bảo con nên làm gì hay không nên làm gì. Con có quyền tự do lựa chọn; tất cả những người khác trên đời này cũng vậy. Và ta tin rằng lịch sử là sự tích lũy của tất cả những hành động đó. Vài cá nhân được Chúa lựa chọn để ảnh hưởng đến số phận của nhiều người khác. Có lẽ con là một trong số đó. Nhưng cũng có thể không phải. Ta không biết tại sao con lại ở đây. Con cũng không biết. Có lẽ cả hai ta đều sẽ không bao giờ biết.” Ông đảo mắt vẻ khôi hài. “Thi thoảng ta còn không biết tại sao ta lại ở đây!” Tôi bật cười và ông mỉm cười đáp lại. Ông rướn người tới chỗ tôi ngang qua những tấm ván xù xì của cái bàn, vẻ xúc động mãnh liệt. “Sự hiểu biết của con về tương lai là một công cụ được trao cho con giống như kẻ sống sót trong vụ đắm tàu có trong tay một con dao hay một chiếc cần câu. Việc sử dụng nó không hề trái đạo đức, miễn là con vận dụng hết khả năng của mình và làm theo đúng những chỉ dẫn của luật Chúa.”

Ông ngừng lại, hít sâu một hơi và thở mạnh ra khiến bộ ria mềm mại gợn lên. Ông mỉm cười.

“Đó là tất cả những gì ta có thể nói với con, ma chère madame - cũng giống như ta sẽ nói với bất cứ người nào đang gặp rắc rối tới chỗ ta để xin lời khuyên: hãy đặt niềm tin vào Chúa và cầu xin sự chỉ dẫn.”

Ông đẩy cái bánh mới về phía tôi.

“Nhưng cho dù con định làm gì, con cũng cần có sức khỏe. Vì vậy hãy nhận lấy lời khuyên cuối cùng của ta: khi còn lưỡng lự, hãy ăn chút gì đó!”

•••

Vào buổi tối, khi tôi tới phòng Jamie, anh đang gối đầu trên hai cánh tay mà ngủ. Bát xúp rỗng đặt ngay ngắn trên khay, bên cạnh nó là đĩa bánh mỳ và thịt không được đụng đến. Tôi hết nhìn khuôn mặt mơ màng, ngây thơ rồi lại nhìn đến cái đĩa. Tôi sờ vào cái bánh mỳ. Ngón tay tôi để lại một vết lõm nhẹ trên bề mặt ẩm ướt của nó. Còn mới.

Tôi để mặc anh ngủ, đi tìm Thầy Roger và thấy ông ta ở phòng chứa thực phẩm.

“Anh ấy đã ăn bánh mỳ và thịt à?” Tôi hỏi mà không mào đầu.

Thầy Roger mỉm cười. “Phải.”

“Anh ấy có giữ được thức ăn trong bụng không?”

“Không.”

Tôi nheo mắt nhìn ông. “Tôi hy vọng là thầy không lau dọn giúp anh ấy.”

Ông ta tỏ vẻ thích thú, hai gò má tròn ửng đỏ. “Tôi nào dám! Không, cậu ấy đã cẩn thận chuẩn bị sẵn một cái chậu để đề phòng.”

“Gã Scot quỷ quái chết tiệt,” tôi nói, không kìm được phì cười. Tôi quay lại phòng anh và hôn nhẹ lên trán anh. Anh trở mình, nhưng không tỉnh dậy. Theo lời khuyên của Cha Anselm, tôi mang đĩa bánh mỳ và thịt về phòng mình để ăn tối.

•••

Vì muốn cho Jamie thời gian để nguôi giận và hồi phục, tôi ở lỳ trong phòng mình hầu như cả ngày hôm sau, đọc một cuốn sách về thảo mộc mà Thầy Ambrose đã cho tôi mượn. Sau bữa trưa, tôi đi kiểm tra bệnh nhân cứng đầu của mình. Nhưng thay vì Jamie, tôi lại thấy Murtagh đang ngồi trên một cái ghế đẩu nghiêng vào tường trên hai chân sau, vẻ mặt bối rối.

“Anh ấy đâu?” Tôi hỏi, ngây người nhìn quanh phòng.

Murtagh chĩa ngón cái về phía cửa sổ. Trời lạnh và âm u, trong phòng phải thắp đèn. Cơn gió lạnh lẽo lùa vào qua ô cửa sổ không che rèm làm cho ngọn lửa nhỏ trên cái đĩa cứ chập chà chập chờn.

“Anh ấy đã ra ngoài sao?” Tôi nghi ngờ hỏi. “Đi đâu? Sao lại đi? Và anh ấy mặc cái gì?” Suốt mấy ngày qua, Jamie hầu như không mặc gì vì căn phòng vốn ấm áp và bất cứ thứ gì chạm vào những vết thương đang lành đều khiến anh rất đau đớn. Anh thường mặc một cái áo choàng ngoài của thầy tu mỗi khi cần phải rời khỏi phòng, với sự dìu đỡ của Thầy Roger, nhưng hiện chiếc áo vẫn ở đây, được gấp gọn gàng để ở cuối giường.

Murtagh đẩy ghế về đằng trước và nhìn tôi với ánh mắt của một con cú.

“Cô hỏi bao nhiêu câu nhỉ? Bốn phải không?” Ông giơ ngón trỏ lên. “Một: ừ, cậu ấy đã ra ngoài.” Ngón giữa nhô lên. “Hai: Đi đâu? Biết chết liền.” Ngón áp út cũng theo chân hai ngón vừa rồi. “Ba: Tại sao? Cậu ấy nói cậu ấy phát mệt với việc bị nhốt trong phòng rồi.” Ngón út nhanh chóng ngọ nguậy. “Bốn: Cũng biết chết liền. Lần cuối tôi nhìn thấy cậu ấy, cậu ấy chẳng mặc gì cả.”

Murtagh gập cả bốn ngón tay lại và giơ ngón cái lên.

“Cô không hỏi tôi, nhưng cậu ấy đã đi một tiếng đồng hồ rồi.”

Tôi phát khùng lên, bối rối không biết làm gì. Vì kẻ tội đồ không có ở đây, tôi gắt gỏng với Murtagh: “Ông không biết ngoài trời gần như đóng băng và sắp có tuyết rơi à? Tại sao ông không cản anh ấy lại? Và ông nói anh ấy không mặc gì là sao?”

Người tộc viên bé nhỏ bình thản. “Ầy, tôi biết chứ. Tôi cho là cậu ấy cũng biết, cậu ấy đâu có mù. Còn về việc ngăn căn cậu ấy, tôi cũng đã thử đây chứ.” Ông hất đầu về phía cái áo trên giường. “Khi cậu ấy nói cậu ấy sẽ ra ngoài, tôi nói cậu ấy vẫn chưa được khỏe, và cô sẽ lấy đầu tôi nếu tôi để cậu ấy làm vậy. Tôi chộp lấy cái áo của cậu ấy và áp lưng vào cửa, nói rằng cậu ấy sẽ không đi đâu hết, trừ phi cậu ấy đi xuyên qua người tôi.”

Murtagh ngừng lại, rồi nói một câu chẳng liên quan: “Ellen MacKenzie có nụ cười ngọt ngào nhất mà tôi từng thấy; nụ cười ấy sẽ làm cho một người đàn ông cảm thấy ấm áp đến tận xương tủy.”

“Vì vậy ông đã để cho cậu con trai có cái đầu chứa toàn mỡ[6] của bà ấy đi ra ngoài để chết cóng,” tôi nóng nảy nói. “Nụ cười của mẹ anh ấy thì có liên quan gì đến chuyện này?”

Murtagh chùi mũi vẻ trầm ngâm. “Chà, khi tôi nói tôi sẽ không để cho cậu ấy đi qua, cậu Jamie chỉ nhìn tôi trong giây lát. Rồi cậu ấy nở nụ cười hệt như nụ cười của mẹ cậu ấy và trèo ra ngoài cửa sổ mà trên người chả có gì ngoài làn da bao bọc. Lúc tôi tới cửa sổ thì cậu ấy đã biến mất rồi.”

Tôi đảo mắt lên trời.

“Đáng lẽ tôi nên báo cho cô biết cậu ấy đi đâu,” Murtagh tiếp tục, “để cô không phải lo lắng cho cậu ấy.”

“Tôi sẽ không lo lắng cho anh ấy!” Tôi lẩm bẩm khi sải bước về phía chuồng ngựa. “Anh ấy mới là người phải “lo lắng”, khi tôi bắt được anh ấy!”

Chỉ có một con đường chính dẫn vào nội địa. Tôi phi ngựa khá nhanh dọc theo con đường đó, vừa đi vừa để mắt tới những cánh đồng hai bên đường. Đây là một khu vực nông nghiệp trù phú, và may mắn là phần lớn rừng rú đã được phát quang; sói và gấu sẽ không phải là một mối nguy hiểm như ở sâu trong nội địa.

Tôi tìm thấy anh cách cổng tu viện chừng một dặm. Anh đang ngồi trên một cột mốc kiểu La Mã cổ xưa.

Anh đi chân trần, nhưng mặc một cái áo khoác ngắn không tay và một cái quần mỏng. Nhìn những dấu vết trên chúng, có thế thấy đây là bộ quần áo của một người trông chuồng ngựa.

Tôi ghì cươmg và nhìn anh chằm chằm trong một thoáng, dựa vào núm yên ngựa. “Mũi anh tím tái rồi,” tôi nhận xét như đang nói một chuyện bình thường. Rồi tôi nhìn xuống. “Cả chân anh nữa.”

Anh cười toe và dùng mu bàn tay chùi mũi. “Hạ bộ của anh cũng thế. Muốn sưởi ấm chúng cho anh không?”

Dù bị lạnh nhưng rõ ràng anh có tâm trạng rất tốt. Tôi xuống ngựa và tới đứng trước mặt anh, lắc đầu.

“Không có chút tác dụng nào, đúng không?” Tôi hỏi.

“Cái gì cơ?” Anh xoa tay vào cái quần rách.

“Việc nổi giận với anh. Anh không quan tâm liệu mình có bị viêm phổi, hoặc bị gấu ăn thịt, hoặc làm em lo lắng tới sống dở chết dở, đúng không?”

“Ồ, anh không mấy lo lắng về lũ gấu. Chúng ngủ vào mùa đông mà.”

Tôi không giữ nổi bình tĩnh, vung tay định tát tai anh. Anh dễ dàng tóm được cổ tay tôi và giữ lấy nó, cười với tôi. Sau một hồi giằng co vô ích, tôi bỏ cuộc và cũng bật cười.

“Anh có quay về luôn bây giờ không?” Tôi hỏi. “Hay anh còn muốn chứng tỏ điều gì?”

Anh hất cằm về hướng ngược lại. “Mang con ngựa lại cây sồi lớn ở đằng kia và đợi anh ở đó. Anh sẽ đi bộ tới đấy. Một mình.”

Tôi cắn răng kìm lại vài câu nói đang chực bật ra và lên ngựa. Tới chỗ cây sồi, tôi xuống ngựa, nhìn dọc theo con đường. Nhưng sau một thoáng, tôi thấy mình không thể chịu nổi việc nhìn anh chậm chạp lê bước. Khi anh ngã lần đầu tiên, tôi nắm chặt dây cương ngựa trong bàn tay đeo găng, rồi quyết tâm quay lưng đi, chờ đợi.

Jamie gần như gục ngã khi chúng tôi về tới chái nhà dành cho khách của tu viện, nhưng anh vẫn gắng gượng choàng cánh tay qua vai tôi, loạng choạng đi trên hành lang. Tôi nhìn thấy Thầy Roger đang lo lắng ngấp nghé ở hành lang, bèn nhờ ông ấy chạy đi lấy một cái lồng ấp trong lúc tôi dìu gánh nặng kềnh càng của mình vào phòng và đặt anh xuống giường. Anh rên rỉ khi thân người đổ xuống giường nhưng vẫn nằm yên, mắt nhắm lại, khi tôi bắt đầu lột những băng vải bẩn trên người anh.

“Được rồi; anh chui vào đi!”

Anh ngoan ngoãn lăn người vào bên dưới những tấm chăn mà tôi lật lên cho anh. Tôi nhanh chóng luồn cái lồng ấp vào giữa các tấm chăn ở cuối giường và đẩy nó qua lại. Khi tôi bỏ nó ra, anh duỗi thẳng đôi chân dài và thư thái thở dài mãn nguyện khi bàn chân chạm vào “cái ổ” ấm áp.

Tôi lặng lẽ đi quanh phòng, nhặt nhạnh đám quần áo vứt vung vãi, sắp xếp lại những món đồ bị xáo trộn trên bàn, cho than mới vào lò, bỏ thêm vào đó một nhúm thổ mộc hương để tạo khói thơm. Tôi cứ nghĩ anh đã ngủ nên bị giật mình khi anh cất tiếng từ đằng sau tôi.

“Claire.”

“Vâng?”

“Anh yêu em.”

“Ồ.” Tôi khá ngạc nhiên, nhưng không thể phủ nhận là trong lòng cảm thấy rất vui sướng. “Em cũng yêu anh.”

Anh thở dài và mở hé mắt.

“Randall,” anh nói. “Lúc gần kết thúc. Hắn muốn điều đó.”

Tôi thậm chí còn kinh ngạc hơn và thận trọng đáp.

“Ồ?”

“Ừ.” Đôi mắt anh gắn chặt vào ô cửa sổ để ngỏ, ngoài đó chỉ toàn là những đám mây tuyết xám xịt.

“Lúc ấy, anh đang nằm trên sàn, hắn nằm bên cạnh anh. Hắn cũng không mặc gì và cả anh và hắn đều loang lổ máu - cùng với những thứ khác nữa. Anh nhớ mình đã cố ngóc đầu dậy, và cảm thấy má mình như bị dính chặt vào sàn đá vì máu khô.” Anh cau mày, ánh mắt xa xăm khi nhớ lại ký ức đó. “Lúc ấy, anh đã quá kiệt sức, anh thậm chí không cảm thấy đau đớn nhiều nữa - anh chỉ cực kỳ mệt mỏi, và tất cả mọi thứ dường như đều xa xôi, hư ảo.”

“Cũng tốt,” tôi nói, hơi cộc lốc, và anh thoáng mỉm cười.

“Ừ, cũng tốt. Anh đang mơ màng, nửa thức nửa ngủ, vì thế anh không biết anh và hắn đã nằm đó bao lâu, nhưng khi tỉnh dậy, anh thấy hắn đang ôm anh, người hắn áp sát vào người anh.” Anh ngập ngừng, như thể phần tiếp theo khó mà nói ra được.

“Từ đầu cho đến lúc đó, anh không hề chống trả hắn. Nhưng bấy giờ anh đã quá mệt mỏi, và anh nghĩ anh không thể chịu đựng được nữa... Anh bắt đầu trườn ra, không hẳn là chống trả, chỉ là rụt lại khỏi hắn. Hắn choàng tay quanh cổ anh, kéo anh lại và vùi mặt vào vai anh, và anh có thể cảm nhận được rằng hắn đang khóc. Mất một lúc, anh không thể nhận ra hắn đang nói gì, và rồi cuối cùng anh cũng nghe ra; hắn đang lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác câu “Ta yêu em, ta yêu em”, nước mắt và nước dãi thi nhau chảy xuống ngực anh.” Jamie thoáng rùng mình, không rõ là vì lạnh hay vì ký ức ấy. Anh thở dài, làm khuấy động làn khói thơm đang cuộn lên gần trần nhà.

“Anh không hiểu tại sao mình lại làm vậy, nhưng anh choàng hai tay quanh người hắn, và bọn anh cứ nằm yên đó một lúc. Cuối cùng, hắn ngừng khóc, hôn anh và vuốt ve anh. Rồi hắn thì thầm với anh: “Hãy nói với ta rằng em yêu ta”.” Anh ngừng kể, mỉm cười uể oải.

“Anh không làm theo. Không biết tại sao nữa. Lúc đó, anh sẽ liếm giày hắn và gọi hắn là Vua Scotland nếu hắn muốn. Nhưng anh sẽ không nói yêu hắn. Anh thậm chí còn không nghĩ đến điều đó; anh chỉ... không nói là không nói.” Anh thở dài, bàn tay lành lặn siết chặt tấm chăn.

“Hắn lại lạm dụng anh - rất thô bạo. Và hắn cứ nói: “Nói với ta là em yêu ta đi, Alex! Hãy nói là em yêu ta!”

“Hắn gọi anh là Alex?” Tôi ngắt ngang, không thể kìm lại.

“Ừ. Anh nhớ là anh đã tự hỏi tại sao hắn lại biết tên đệm của anh. Nhưng anh không buồn thắc mắc rằng cho dù hắn biết thì tại sao hắn lại gọi cái tên đó.” Anh nhún vai.

“Dù sao đi nữa, anh không cử động hay nói năng gì cả, và khi hắn xong việc, hắn nhảy lên như thể đã hóa điên, và bắt đầu đánh anh bằng thứ gì đó - anh không thể nhìn ra đó là thứ gì - rồi chửi mắng anh, và nói: “Em biết là em yêu ta! Hãy nói với ta như thế! Ta biết đó là sự thật!” Anh đã đưa tay lên che đầu, và được một lúc thì hình như anh lại ngất, bởi vì điều cuối cùng anh còn nhớ được là sự đau đớn ở vai và giấc mơ về tiếng bò rống. Sau đó, anh tỉnh dậy, thấy mình đang nằm sấp trên lưng ngựa, cả người xóc nẩy, rồi lại chẳng biết gì nữa cho đến khi anh tỉnh lại bên lò sưởi ở Eldridge, và em đang nhìn anh.” Anh lại nhắm mắt. Giọng anh mơ màng, gần như lãnh đạm.

“Anh nghĩ... nếu anh nói là anh yêu hắn... hắn sẽ giết anh.”

Một vài người mơ thấy những con quái vật trong những cơn ác mộng. Tôi thì mơ thấy những bảng phả hệ - những đường kẻ màu đen mỏng manh với những cụm ngày tháng. Những đường kẻ đó giống như những con rắn với hàm răng gieo rắc sự chết chóc. Một lần nữa, tôi nghe thấy giọng Frank nói: “Cụ đã trở thành một người lính, đó là sự lựa chọn tốt cho người con trai thứ hai trong gia đình; em trai cụ cũng theo truyền thống, trở thành một cha phó, nhưng anh chưa tìm hiểu được nhiều về cụ ấy...” Tôi cũng không biết nhiều về ông ta. Trừ cái tên. Trên bảng phả hệ đó có tên ba người con trai của Joseph và Mary Randall. Tôi đã nhìn thấy nó nhiều lần; con cả: William; con thứ hai: Jonathan; và con thứ ba: Alexander.

Jamie gọi tôi, kéo tôi ra khỏi những ý nghĩ ấy.

“Sassenach?”

“Vâng?”

“Em còn nhớ cái pháo đài mà anh đã kể cho em nghe chứ, cái pháo đài ở bên trong anh ấy?”

“Em nhớ.”

Anh mỉm cười mà vẫn không mở mắt, vươn tay chạm vào tôi.

“Chà, ít nhất anh đã xây được một cái lán, và có một cái mái để che mưa.”

•••

Lúc đi ngủ, tôi cảm thấy mệt mỏi nhưng thư thái, và bắt đầu phân vân. Jamie sẽ hồi phục. Khi chưa chắc chắn về điều đó, những gì tôi nghĩ đến chỉ là giờ khắc tiếp theo, bữa ăn tiếp theo, lần thuốc thang tiếp theo. Nhưng bây giờ, tôi cần nghĩ xa hơn.

Tu viện là một nơi ẩn náu, nhưng chỉ là một nơi ẩn náu tạm thời. Cho dù các tu sĩ có thân thiện, mến khách thế nào, chúng tôi cũng không thể ở đây vô thời hạn. Scotland và Anh hiện giờ quá nguy hiểm; trừ phi Lãnh chúa Lovat có thể giúp đỡ - nhưng trong hoàn cảnh này, điều đó là quá xa vời. Tương lai của chúng tôi phải nằm ở phía bên này của eo biển Anh. Vì đã biết rõ về tình trạng say sóng của Jamie, tôi hiểu vì sao anh lại ngần ngại di cư sang Mỹ - nôn mửa suốt ba tháng là một viễn cảnh có thể làm nản lòng bất cứ ai. Vậy lựa chọn còn lại là gì?

Pháp là khả thi nhất. Chúng tôi đều nói tiếng Pháp trôi chảy. Mặc dù Jamie cũng nói tốt tiếng Tây Ban nha, tiếng Đức và tiếng Ý nhưng tôi lại không có khiếu ngoại ngữ như anh. Hơn nữa, gia đình Fraser có nhiều mối quan hệ ở đây; có lẽ chúng tôi sẽ tìm được một chỗ ở trong một điền trang của một người thân hay bạn bè, và sống yên bình ở đất nước này. Ý tưởng ấy khá hấp dẫn.

Nhưng còn vấn đề thời gian. Bây giờ đang là đầu năm 1744 - mới qua năm mới chừng hai tuần. Vào năm 1745, Hoàng tử Charlie Xinh đẹp sẽ lên tàu từ Pháp tới Scotland, Kẻ Đòi vị Trẻ tuổi sẽ tới đòi lại ngai vàng của cha mình. Đi kèm với ông ta là tai họa, chiến tranh và giết chóc, là nghiền nát các thị tộc Scotland và tàn sát tất cả những gì mà Jamie - và tôi - thương mến.

Từ giờ cho đến lúc đó chỉ còn có một năm. Một năm, trước khi mọi chuyện có thể xảy ra. Một năm, để thực hiện các biện pháp ngăn chặn tai họa. Như thế nào, và bằng phương tiện gì? Tôi không biết, nhưng tôi cũng không hề nghi ngờ về những hậu quả nếu tôi không hành động.

Các sự kiện có thể thay đổi không? Có lẽ là có. Các ngón tay tôi lần sang ve vuốt chiếc nhẫn vàng trên ngón áp út của bàn tay trái. Tôi nghĩ về những gì mình đã nói với Jonathan Randall trong lúc đang bùng cháy vì giận dữ và kinh hãi trong địa lao của nhà ngục Wentworth.

“Tôi nguyền rủa ông,” tôi đã nói, “tôi sẽ cho ông biết giờ khắc cái chết của ông.” Và tôi đã nói với hắn thời điểm hắn sẽ chết. Tôi đã nói với hắn về cái ngày được ghi trên bảng phả hệ của Frank - ngày 16 tháng 4 năm 1745. Jonathan Randall sẽ chết trong trận chiến Culloden vì bị mắc kẹt trong cuộc tàn sát mà quân Anh gây ra. Nhưng hắn lại không chết như vậy. Thay vào đó, hắn đã chết ngay sau khi tôi nguyền rủa hắn vài tiếng, bị giày xéo dưới những chiếc móng guốc từ đòn trả thù của tôi.

Và hắn đã chết khi vẫn còn là một gã độc thân không con cái. Hay ít nhất tôi nghĩ như vậy. Bảng phả hệ - cái bảng phả hệ chết tiệt! - nói rằng hắn kết hôn vào một thời điểm nào đó của năm 1744. Và con trai của hắn, cụ cố năm đời của Frank, được sinh ra ngay sau đó. Nếu Jack Randall đã chết và không có con, sao Frank có thể có mặt trên đời này được? Nhưng chiếc nhẫn của anh vẫn còn nằm trên bàn tay tôi. Anh đã tồn tại, sẽ tồn tại. Tôi an ủi mình với ý nghĩ ấy, xoa xoa cái nhẫn trong bóng tối, như thể trong đó có một vị thần có thể cho tôi lời khuyên.

Một lát sau, tôi choàng tỉnh từ giấc ngủ say với một tiếng hét bị bịt lại nửa chừng.

“Suỵt! Là anh đây.” Bàn tay to lớn nhấc khỏi miệng tôi. Căn phòng không thắp nến nên tối như hũ nút. Bàn tay tôi mù mờ quờ quạng cho đến khi va vào thứ gì đó rắn chắc.

“Anh không nên ra khỏi giường!” Tôi thốt lên, vẫn còn chếnh choáng vì ngái ngủ. Các ngón tay trườn lên làn da nhẵn nhụi lạnh giá. “Anh đang đông Cứng rồi đây này!”

“Chà, đương nhiên rồi,” anh nói, hơi cáu kỉnh. “Anh chẳng mặc gì cả, mà ngoài hành lang thì lạnh đến run cả người. Em cho anh lên giường nhé?”

Tôi dịch người ra xa nhất có thể trên chiếc giường hẹp, và anh trườn lên nằm cạnh tôi, ôm tôi để lấy hơi ấm. Anh thở hổn hển, và tôi nghĩ anh đang run rẩy vừa vì ốm yếu vừa vì lạnh.

“Chúa ơi, em ấm quá!” Anh nhích lại gần hơn, thở dài. “Ôm em thật tuyệt, Sassenach!”

Tôi không buồn hỏi anh đang làm gì; điều đó đã trở nên khá rõ ràng. Tôi cũng không hỏi liệu anh có chắc chắn không. Tôi có những mối nghi ngờ của mình, nhưng sẽ không nói ra vì sợ chúng sẽ trở thành những lời tiên tri tự ứng nghiệm. Tôi xoay người lại để đối mặt với anh, cẩn thận tránh bàn tay bị thương.

Chúng tôi đột ngột hợp nhất, sự xa cách lập tức biến thành sự thân thuộc. Jamie thở ra một hơi dài đầy thỏa mãn và, có lẽ, cả nhẹ nhõm nữa. Chúng tôi nằm im trong một thoáng, như thể sợ rằng nếu cử động sẽ làm ảnh hưởng đến mối liên kết mỏng manh ấy. Bàn tay lành lặn của Jamie chậm rãi vuốt ve tôi, lần tìm đường đi trong bóng tối, các ngón tay xòe ra như những cái râu mèo, nhạy cảm với sự rung động. Anh nhích người một cái, như thể hỏi một câu hỏi, và tôi đáp lại anh bằng thứ ngôn ngữ tương tự.

Chúng tôi bắt đầu một trò chơi gồm các động tác chậm chạp để cân bằng giữa nỗi khao khát và tình trạng yếu ớt, giữa sự đau đớn và niềm khoái lạc đang trào dâng trong cơ thể anh. Tôi thầm nhủ lúc nào đó mình phải nói với Cha Anselm rằng còn có một cách khác để làm cho thời gian ngưng đọng, nhưng rồi lại nghĩ là không nên, vì đó không phải là cách khả dĩ đối với một linh mục.

Tôi ôm Jamie thật chặt, bàn tay nhẹ nhàng đặt lên tấm lưng đầy sẹo của anh. Anh đặt ra nhịp điệu, nhưng để tôi dẫn dắt. Chúng tôi đều im lặng cho đến phút cuối, ngoại trừ tiếng thở của chính mình. Cảm thấy anh xuống sức, tôi ghì chặt anh, lắc lư hông để anh tiến vào sâu hơn, thúc anh lên đỉnh. “Nào,” tôi nói khẽ, “đến đây với em! Nào!” Anh tì mạnh trán vào trán tôi và chịu khuất phục trước tôi với một tiếng thở dài run rẩy.

Những người sống ở thời Victoria gọi đây là “cái chết tạm thời”, và họ rất có lý. Anh trở nên mềm nhũn và nặng nề khiến tôi tưởng rằng anh đã chết, nếu như không cảm nhận được tiếng tim anh đập chậm rãi trên mạng sườn tôi. Phải một lúc lâu sau anh mới trở mình và thì thầm gì đó vào vai tôi.

“Anh nói gì vậy?”

Anh quay đầu để miệng anh kề ngay bên dưới tai tôi. Hơi thở anh ấm áp phả lên cổ tôi. “Anh nói,” anh đáp khẽ, “bàn tay anh không còn đau chút nào nữa.”

Bàn tay lành lặn của anh nhẹ nhàng lần khắp mặt tôi, lau đi vết ẩm ướt trên hai gò má.

“Em lo cho anh à?” Anh hỏi.

“Vâng,” tôi nói. “Em nghĩ chưa đến lúc để anh làm chuyện này.”

Anh cười khẽ trong bóng tối. “Đúng vậy; anh gần như đã tự giết mình. Ầy, anh cũng sợ lắm chứ. Nhưng bàn tay đau nhức khiến anh tỉnh dậy và không thể ngủ lại được nữa. Anh cứ lăn lộn, trằn trọc, cảm thấy nhớ em da diết. Càng nghĩ về em, anh càng ham muốn em, và anh còn chưa kịp nghĩ mình sẽ làm gì khi tới đây thì đã đi được một nửa hành lang rồi. Và khi anh nghĩ ra...” Anh ngừng lại, vuốt má tôi. “Chà, anh không tốt đẹp cho lắm, Sassenach, nhưng có lẽ rốt cuộc anh không phải là một kẻ hèn nhát.”

Tôi ngoảnh đầu lại để đón nhận nụ hôn của anh. Bụng anh bỗng kêu òng ọc.

“Em đừng có cười,” anh càu nhàu. “Đó là lỗi của em, vì em đã bỏ đói anh. Quả là kỳ diệu khi anh có thể xoay xở với cái bụng chẳng có gì ngoài xúp thịt bò loãng và bia.”

“Được rồi,” tôi nói, vẫn cười khùng khục. “Anh thắng rồi. Sáng mai anh có thể ăn một quả trứng.”

“Ha,” anh nói, với giọng thỏa mãn sâu sắc. “Anh biết em sẽ cho anh ăn nếu anh đút lót em đúng cách mà.”

Rồi chúng tôi ôm nhau ngủ thiếp đi.

[1] Tiếng Pháp: Cô gái xinh đẹp.

[2] Còn gọi là dây Stola, một loại phẩm phục dành riêng cho những người đã lãnh nhận chức thánh trong một vài giáo hội Ki Tô giáo. Người đeo dây này thể hiện thẩm quyền của mình trong việc cử hành các bí tích.

[3] Tiếng Pháp: Người bạn tốt của tôi.

[4] Tiếng Latin: Ta tha tội cho con, nhân danh Cha, Con, (và Thánh thần).

[5] Nguyên văn: fast day. Vào ngày này, người ta không ăn thịt nhưng được ăn trứng, cá và các sản phẩm chế biến từ sữa.

[6] Chỉ người ngốc nghếch.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.