Sáng hôm sau, ông Crook đến đón tôi vào đúng bảy giờ như đã hẹn.
“Đi sớm thế này thì mới bắt gặp những giọt sương mai đọng trên những cây mao lương hoa vàng, đúng không?” Ông nói, nháy mắt vẻ ga lăng. Ông chở tôi trên cái xe mô tô cũ kĩ gần bằng tuổi đời của ông trong chuyến ngao du nhàn nhã về vùng đồng quê tĩnh mịch. Hai bên sườn cỗ xe đồ sộ cột chặt những cái khuôn ép hoa cỏ, trông như mấy thanh hãm xung trên một con tàu kéo. Sự tĩnh mịch càng trở nên nổi bật khi tiếng gầm như sấm rền của động cơ xe đột ngột tắt lịm. Tôi phát hiện ra ông lão quả thực rất rành về các loài hoa cỏ trong vùng. Ông không những biết tìm được chúng ở đâu mà còn nắm được dược tính và cách sơ chế chúng. Nuối tiếc vì không mang theo một cuốn sổ để ghi chép hết những điều ấy, tôi chỉ còn cách lắng nghe chăm chú giọng nói già nua khàn khàn của ông và cố gắng hết sức để ghi nhớ thông tin khi tôi xếp gọn ghẽ các mẫu vật vào những cái khuôn ép hoa cỏ nặng nề.
Chúng tôi dừng lại gần chân một ngọn đồi bằng phẳng đến kỳ lạ để ăn bữa trưa mà chúng tôi gói mang theo. Nơi này cũng xanh mướt với những vách đá và mỏm đá lởm chởm như hầu hết các ngọn đồi kế cận, nhưng nó cũng có một điểm khác biệt: có một con đường mòn dẫn lên sườn đồi và biến mất đột ngột đằng sau một mỏm đá hoa cương trồi lên.
“Trên kia có gì vậy?” Tôi hỏi, chỉ về phía ấy bằng bàn tay đang cầm cái bánh sandwich kẹp thịt xông khói. “Có vẻ khó mà picnic trên đó.”
“À.” Ông Crook liếc nhìn ngọn đồi. “Đó là Craigh na Dun. Tôi cũng định dẫn chị lên đó sau khi chúng ta ăn xong.”
“Vậy ư? Nó có gì đặc biệt à?”
“Ồ, đúng vậy,” ông trả lời, nhưng từ chối mô tả chi tiết hơn, chỉ nói rằng khi nào thấy nó thì tôi sẽ hiểu.
Tôi có chút lo lắng ông lão không thể leo lên một con đường dốc như thế, nhưng những nỗi e ngại ấy đã bốc hơi khi tôi thấy mình thở hổn hển đằng sau ông. Cuối cùng, ông Crook giơ bàn tay xương xẩu ra kéo tôi lên đỉnh đồi.
“Đây này.” Ông phẩy tay với vẻ sở hữu.
“Ồ, một vòng tròn đá!” Tôi thích thú reo lên. “Một vòng tròn đá thu nhỏ!”
Vì chiến tranh, đã vài năm rồi tôi chưa tới bình nguyên Salisbury, nhưng Frank và tôi đã từng đến tham quan Stonehenge[1] ngay sau khi chúng tôi kết hôn. Giống như những du khách đi lang thang giữa những cột đá khổng lồ, trầm trồ kính sợ, chúng tôi đã há hốc miệng sửng sốt trước hòn đá Bệ Thờ (“nơi các tín đồ Druid ngày xưa thực hiện những nghi lễ hiến tế người đáng sợ,” hướng dẫn viên người Cockney[2] có giọng nói oang oang đã giới thiệu như vậy với một đoàn du khách người Ý, và tất cả bọn họ đều chụp ảnh khối đá trông có vẻ khá bình thường ấy một cách nghiêm túc).
Vì Frank vốn mê mẩn sự chính xác - anh thường chỉnh lại những chiếc cà vạt trên mắc sao cho hai đầu của nó dài bằng nhau - nên chúng tôi đã đi bộ quanh vòng tròn, bước từng bước để đo khoảng cách giữa các hố Z và hố Y, và đếm các lanh-tô[3] trong vòng tròn Sa Thạch, vòng ngoài cùng của những cột đá khổng lồ.
Ba tiếng đồng hồ sau, chúng tôi đã biết có bao nhiêu hố Y và hố Z (nếu bạn quan tâm thì đó là năm mươi chín, nhưng tôi thì không), nhưng chẳng có được manh mối nào hơn về mục đích của kiến trúc này so với hàng tá nhà khảo cổ chuyên nghiệp và nghiệp dư đã bò lê bò toài khắp nơi đó trong suốt năm trăm năm qua.
Dĩ nhiên là không thiếu các giả thuyết. Cuộc sống giữa các học giả đã dạy tôi rằng một giả thuyết được trình bày tốt thường có sức thuyết phục hơn một sự thật được trình bày tồi.
Đền thờ. Nghĩa địa. Đài quan sát thiên văn. Nơi hành quyết (do đó mới có hòn đá có cái tên ghê rợn là “đá Sát Sinh” nằm về một phía, bị chìm một nửa trong cái hố của nó). Chợ trời. Tôi thích giả thuyết cuối cùng này, hình dung ra các bà nội trợ thời kỳ Cự Thạch đi đi lại lại giữa các lanh-tô, tay đeo giỏ, soi xét tỉ mỉ lớp men trên lô hàng cốc chén bằng đất sét đỏ nung mới nhất và ngờ vực lắng nghe những lời quảng cáo hùng hồn của đám thợ bánh cùng những tay bán dạo xẻng xương hươu và hạt hổ phách.
Điều duy nhất chống lại giả thuyết này là sự hiện diện của những thi thể bên dưới hòn đá Bệ Thờ và dấu tích của tro cốt trong các hố Z. Trừ phi đây là di thể bất hạnh của những lái buôn bị buộc tội cân điêu, chứ chôn người ở chợ thì có vẻ hơi mất vệ sinh.
Không có dấu vết gì của việc chôn cất trong vòng tròn đá mi ni trên đỉnh đồi này. Tôi gọi nó là “mi ni” chỉ vì nó nhỏ hơn Stonehenge, chứ mỗi cột đá vẫn cao gấp đôi người tôi, và đồ sộ tương xứng.
Tôi đã nghe một hướng dẫn viên khác ở Stonehenge nói rằng những vòng tròn đá này có ở khắp nơi trên nước Anh và châu Âu - một vài cái vẫn còn trong tình trạng tốt, những cái khác thì hư hỏng hơn, một vài cái lại hơi khác biệt về phương hướng hay hình dáng, nhưng tất cả đều không rõ mục đích và nguồn gốc.
Ông Crook mỉm cười hiền từ khi tôi đi thơ thẩn giữa những cột đá, thi thoảng dừng lại để nhẹ nhàng chạm vào một khối đá, như thể sợ để lại dấu vết trên những tảng đá mòn to lớn.
Vài cột đá có những vệt vằn lờ mờ. Các cột khác lại lốm đốm những hạt mica óng ánh vui mắt dưới vầng mặt trời buổi sáng. Tất cả bọn chúng đều khác biệt rõ rệt so với những hòn đá tự nhiên nhô lên giữa đám dương xỉ xung quanh. Bất kể là ai đã dựng lên những vòng tròn đá này, và với mục đích gì, thì họ cũng cho rằng nó quan trọng đến mức đáng để cất công khai thác, tạo hình và chuyên chở những khối đá đặc biệt tới đây. Tạo hình - bằng cách nào? Chuyên chở - ra sao, và từ khoảng cách xa xôi đến mức nào?
“Chồng tôi sẽ thích mê cho xem,” tôi nói với ông Crook, cảm ơn ông vì đã chỉ cho tôi nơi này và những loài hoa cỏ. “Tôi nhất định sẽ đưa anh ấy lên đây xem nó.” Tới đầu con đường mòn, ông lão xương xẩu lịch thiệp khuỳnh cánh tay ra. Tôi bám vào tay ông sau khi nhìn xuống con dốc dựng đứng và quyết định rằng dù tuổi đã cao, ông vẫn có đôi chân vững vàng hơn tôi.
•••
Chiều hôm đó, tôi nhún nhảy dọc theo con đường dẫn vào làng để tới nhà mục sư gọi Frank về. Tôi khoan khoái hít thở mùi hương hỗn hợp của vùng cao nguyên khắc nghiệt gồm thạch nam, xô thơm và đậu chổi, thi thoảng còn quyện cả mùi khói và mùi cá trích rán khi tôi đi ngang qua những ngôi nhà lợp mái tranh nằm rải rác. Ngôi làng nằm nép mình bên một con dốc nhỏ dưới chân một trong những ngọn núi đá cao vút nhô lên từ các bãi hoang của vùng cao nguyên. Những túp nhà gần đường cái rất xinh đẹp. Sự phồn thịnh rực rỡ thời hậu chiến đã lan tỏa đến mức các ngôi nhà đều khoác một lớp sơn mới, ngay cả ngôi nhà lớn ít nhất cũng một trăm năm tuổi của mục sư cũng trưng lớp viền màu vàng tươi quanh những khung cửa sổ võng xuống.
Ra mở cửa là bà quản gia của mục sư, một phụ nữ cao ráo, mảnh khảnh với ba chuỗi ngọc trai nhân tạo đeo trên cổ. Sau khi nghe tôi tự giới thiệu, bà mời tôi vào nhà và dẫn tôi đi dọc theo một hành lang tối, dài và hẹp, hai bên là những bức vẽ bằng mực nâu đỏ khắc họa những người có thể là những nhân vật nổi tiếng vào thời kỳ của họ, hoặc những người họ hàng thân thích yêu quý của mục sư hiện tại, nhưng cũng có thể là thành viên của hoàng gia, từ những gì tôi thấy ở các đặc điểm của họ trong ánh sáng lờ mờ.
Trái ngược với khung cảnh tối tăm ấy, thư phòng của mục sư chói lòa ánh sáng từ các ô cửa sổ đồ sộ trổ từ trần xuống sàn trên cả một bức tường. Một giá vẽ gần lò sưởi, trên đó là một bức sơn dầu dang dở vẽ vách đá đen dưới bầu trời đêm, chỉ ra lý do vì sao lại có những ô cửa sổ mà hắn là mãi sau này mới được thêm vào ấy.
Frank và một người đàn ông mập lùn mặc áo cổ đứng của mục sư đang mải mê nghiên cứu một đống giấy rách nát trên bàn làm việc ở đầu đằng kia của căn phòng. Frank chỉ hơi ngước mắt nhìn tôi, còn mục sư thì lịch sự ngắt ngang những lời giải thích và vồn vã đi tới bắt tay tôi, khuôn mặt tròn trĩnh rạng ngời vui vẻ.
“Chị Randall!” Ông nói, nồng nhiệt lắc lắc tay tôi. “Rất vui được gặp lại chị. Chị đến vừa kịp lúc để nghe tin mới đấy!”
“Tin mới ạ?” Ném ánh mắt về đống giấy má bẩn thỉu ở trên bàn và kiểu chữ in của chúng, tôi đoán chừng cái tin này có từ khoảng năm 1750. Vậy thì không phải là tin sốt dẻo rồi.
“Phải. Chúng tôi đang lần theo dấu vết tổ tiên của chồng chị, Jack Randall, qua các báo cáo hỏa tốc của quân đội vào thời kỳ đó.” Mục sư ghé lại gần, nhếch miệng nói thầm như một tên gangster trong phim Mỹ. “Tôi đã, ờ, “mượn” những bức thư gốc từ tủ hồ sơ của Hiệp Hội Lịch Sử trong vùng. Chị sẽ không nói với ai chứ?”
Tôi buồn cười, đồng ý sẽ không tiết lộ bí mật chết người này của ông, rồi nhìn quanh tìm một cái ghế thoải mái để ngồi và đón nhận những tiết lộ mới nhất từ thế kỷ mười tám. Chiếc ghế bành có lưng tựa cao ở gần cửa sổ nhất trông có vẻ thích hợp, nhưng khi tôi tới để xoay nó về phía chiếc bàn, tôi phát hiện ra nó đã bị chiếm giữ. Một cậu bé với mái tóc đen bóng bù xù đang nằm cuộn tròn trong lòng ghế, ngủ ngon lành.
“Roger!” Mục sư cũng ngạc nhiên như tôi khi ông tới giúp tôi. Cậu bé giật mình choàng tỉnh, ngồi phắt dậy, đôi mắt màu rêu mở to.
“Con đang làm gì ở đây vậy hả, thằng quỷ nhỏ này?” Mục sư trìu mến quở trách. “Ồ, lại đọc họa báo rồi ngủ gật hả?” Ông nhặt những trang báo màu sắc sặc sỡ lên và đưa cho cậu bé. “Đi chỗ khác chơi ngay, Roger, cha có chuyện cần bàn với cô chú Randall. Ồ, đợi đã, cha quên chưa giới thiệu con - chị Randall, đây là con trai tôi, Roger.”
Tôi hơi kinh ngạc vì vẫn luôn nghĩ mục sư Wakefield chính là mẫu người độc thân “kinh niên” điển hình. Tuy nhiên, tôi vẫn cầm lấy bàn tay đang lịch sự chìa ra và lắc nó nồng nhiệt, kiềm chế thôi thúc chùi tay vào váy vì sự nhớp nháp dính phải từ tay cậu bé.
Mục sư Wakefield âu yếm nhìn theo sau khi cậu bé lỉnh về phía nhà bếp.
“Thực ra nó là con trai của cô cháu gái tôi,” ông tiết lộ. “Cha nó bị bắn chết trên eo biển Anh[4], còn mẹ nó thì bị giết ở Blitz, vì vậy tôi đã nhận nuôi nó.”
“Ngài thật tốt bụng,” tôi lẩm bẩm, nghĩ về bác Lamb. Bác cũng đã mất ở Blitz khi thính phòng trong Viện bảo tàng Anh nơi bác đang diễn thuyết bị trúng bom. Hiểu rõ bác nên tôi nghĩ cảm giác của bác lúc đó hẳn là thấy biết ơn vì khu trưng bày các món cổ vật Ba Tư ở ngay bên cạnh đã thoát nạn.
“Có gì đâu, có gì đâu.” Mục sư ngại ngùng xua tay. “Có con trẻ trong nhà cũng thích mà. Nào, chị ngồi đi!”
Frank cất tiếng trước cả khi tôi đặt túi xách xuống. “Đây quả là may mắn tuyệt vời nhất, Claire ạ,” anh tán tụng, lật giở đống giấy má quăn queo. “Mục sư đã tìm được một loạt báo cáo hỏa tốc của quân đội có nhắc đến cụ Jonathan Randall.”
“Chà, phần lớn trong số đó là nói đến những việc làm của Đại úy Randall,” mục sư nhận xét, lấy vài tờ giấy từ tay Frank. “Ông ấy là chỉ huy của đơn vị đồn trú ở pháo đài William trong khoảng bốn năm, nhưng ông ấy có vẻ dành khá nhiều thời gian để quấy rối liên miên vùng đồng quê Scotland phía bên kia biên giới nhân danh nhà vua. Chỗ này” - ông cẩn thận tách ra một xấp giấy và đặt lên bàn - “là báo cáo về những vụ kiện Đại úy của các gia đình và địa chủ, bao gồm đủ thứ chuyện, từ việc binh lính của quân đồn trú cưỡng bức các cô hầu gái tới việc ăn cắp ngựa trắng trợn, chưa kể vô số vụ “lăng nhục” không được kể rõ chi tiết.”
Tôi lấy làm thích thú. “Hóa ra trong gia tộc của anh có một kẻ trộm ngựa nổi tiếng?” Tôi nói với Frank.
Anh thản nhiên nhún vai. “Cụ ấy có là người thế nào thì anh cũng chẳng thể làm được gì để thay đổi điều đó. Anh chỉ muốn tìm hiểu thôi. Những vụ kiện này cũng không phải là chuyện gì lạ lùng vào thời kỳ đó; bấy giờ chẳng mấy ai ở vùng cao nguyên ưa người Anh nói chung và quân đội Anh nói riêng. Điều kỳ quặc nằm ở chỗ dường như những vụ kiện ấy chẳng đi đến đâu, kể cả những vụ nghiêm trọng.”
Mục sư nói xen vào vì không thể giữ im lặng lâu hơn: “Đúng vậy. Mặc dù các sĩ quan thời đó không bị ràng buộc bởi những chuẩn mực giống như thời hiện đại; họ có thể làm bất cứ điều gì họ muốn trong những vấn đề nhỏ nhặt, nhưng điều này thì thật kỳ lạ. Những vụ kiện ấy không phải bị bác đi sau khi đã điều tra; mà là chúng không bao giờ được nhắc đến nữa. Anh biết tôi đang nghi ngờ điều gì, đúng không Randall? Cụ cố của anh hẳn phải có một người đỡ đầu. Một người có thể che chở, bảo vệ ông ấy thoát khỏi sự khiển trách của các thượng cấp.”
Frank gãi gãi đầu, nheo mắt nhìn những bức thư. “Có thể lắm. Đó phải là một người khá quyền lực. Có vị trí cao trong quân đội, hoặc thuộc giới quý tộc.”
“Đúng vậy, hoặc có thể…” Những giả thuyết của mục sư bị ngắt ngang khi bà quản gia Graham đột ngột xuất hiện.
“Tôi mang cho các vị ít đồ giải khát,” bà nói, và mục sư kịp thời cứu lấy những giấy tờ quý giá ngay trước khi bà đặt mạnh khay trà vào giữa bàn. Đôi mắt sắc sảo của bà liếc nhìn tôi, đánh giá tay chân bứt rứt và đôi mắt đờ đẫn của tôi.
“Tôi chỉ mang hai tách vì tôi nghĩ có lẽ chị Randall sẽ muốn vào bếp với tôi. Tôi có một chút…” Không đợi bà dứt lời, tôi đã sốt sắng đứng bật dậy. Lúc đi qua cánh cửa lò xo[5] để vào phòng bếp, tôi lại tiếp tục nghe thấy những giả thuyết bùng nổ ở đằng sau.
Nước trà xanh ngắt, nóng hổi và thơm phức, với những mẩu lá trà xoay tròn trên mặt nước.
“Ưm,” tôi nói, đặt tách trà xuống. “Lâu lắm rồi tôi mới được thưởng thức trà Ô long đấy.”
Bà Graham gật đầu, cười tươi khi thấy tôi bày tỏ lòng yêu thích đối với món đồ giải khát của bà. Nhìn những chiếc bánh nướng phủ lớp kem bọc sữa dày và những miếng vải lót bằng đăng ten tự làm bên dưới những cái tách hình vỏ trứng, tôi biết bà đã chuẩn bị rất kỳ công.
“Vâng, hồi chiến tranh tôi không thể nào kiếm được nó. Nó là thứ thích hợp nhất để bói lá trà. Khoảng thời gian phải dùng trà Bá tước để thay thế thật khủng khiếp. Các lá trà rã quá nhanh, khiến tôi khó mà kết luận được gì.”
“Ồ, bà biết bói lá trà ư?” Tôi hỏi, cảm thấy tức cười. Với mái tóc ngắn dợn sóng màu xám sắt và ba chuỗi ngọc trai trên cổ, trông bà Graham chẳng giống chút nào với hình ảnh quen thuộc của một bà thầy bói Di gan. Ngụm trà bà nuốt chạy dọc theo cái cổ dài mảnh và biến mất bên dưới những hạt trai sáng bóng.
“Đương nhiên rồi, cưng ạ. Bà tôi đã dạy tôi, còn bà thì học từ bà của bà. Uống hết tách trà của chị đi, rồi tôi sẽ xem cho chị.”
Bà im lặng một lúc lâu, thi thoảng lại nghiêng cái tách về phía ánh sáng hoặc chầm chậm lăn nó giữa hai lòng bàn tay gầy để có một góc nhìn khác.
Bà cẩn thận đặt cái tách xuống như thể sợ nó sẽ nổ tung trước mặt. Những nếp nhăn hai bên khóe miệng lõm sâu hơn, và lông mày bà nhíu chặt lại vẻ bối rối.
“Chà,” cuối cùng bà nói. “Đây là một trong những trường hợp lạ lùng nhất mà tôi từng thấy.”
“Ồ?” Tôi vẫn còn buồn cười nhưng bắt đầu cảm thấy tò mò. “Tôi sẽ gặp một người lạ cao ráo ngăm đen, hay sắp có một chuyến đi qua biển?”
“Có thể thế.” Bà Graham đã nghe ra giọng điệu đùa bỡn của tôi và khẽ mỉm cười, bắt chước theo. “Cũng có thể không. Đó là điều kỳ quặc ở tách trà của chị đấy, cưng ạ. Tất cả mọi thứ đều mâu thuẫn. Có một lá trà cuộn lại tượng trưng cho một cuộc hành trình, nhưng nó lại bị một chiếc lá rách nằm chồng lên tượng trưng cho việc ở yên. Và chắc chắn là có những người lạ, đến vài người lận. Một trong số đó là chồng của chị, nếu tôi xem đúng.”
Cảm giác tức cười của tôi tiêu tan phần nào. Sau sáu năm xa cách và sáu tháng bên nhau, chồng tôi vẫn còn có chút gì đó giống như một người lạ. Nhưng tôi không hiểu làm thế nào mà một lá trà có thể biết được điều đó.
Trán bà Graham vẫn nhăn lại. “Cho tôi xem tay chị nào, cô bé,” bà nói.
Bàn tay cầm lấy tay tôi thật xương xẩu, nhưng ấm áp đến kỳ lạ. Mái đầu hoa râm gọn gàng cúi xuống xem xét lòng bàn tay tôi phảng phất mùi oải hương. Bà nhìn chằm chằm một lúc lâu, thi thoảng lần ngón tay theo một đường chỉ tay, như thể đang dò một tấm bản đồ mà các nẻo đường đều biến mất trong những con suối cạn đầy cát hay những hoang mạc vắng lặng.
“Tình hình thế nào, bà Graham?” Tôi hỏi, cố duy trì bầu không khí nhẹ nhàng. “Hay là số mệnh của tôi kinh khủng đến nỗi không thể tiết lộ?”
Bà Graham ngước đôi mắt nghi ngại lên nhìn tôi vẻ đăm chiêu, nhưng vẫn cầm tay tôi. Bà lắc đầu, mím môi.
“Ồ, không, cưng à. Vận mệnh của chị không nằm trong tay chị. Chỉ có mầm mống của nó thôi.” Đầu bà nghiêng sang một bên như một chú chim, tính toán cân nhắc. “Chị biết đấy, các đường chỉ tay thường biến đổi. Vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời, chúng có thể rất khác so với bây giờ.”
“Tôi không biết điều đó. Tôi cứ nghĩ ta sinh ra đã có chúng, và chúng sẽ mãi như vậy.” Tôi kìm lại thôi thúc muốn giật tay ra. “Vậy thì việc xem chỉ tay có ý nghĩa gì?” Tôi không muốn tỏ ra vô lễ, nhưng sự soi xét này khiến tôi cảm thấy hơi bất an, đặc biệt là sau vụ bói lá trà. Bà Graham chợt mỉm cười và gấp các ngón tay tôi lại.
“Chà, các đường chỉ tay của chị cho thấy chị là người thế nào, cưng ạ. Đó là lý do chúng biến đổi - hoặc nên biến đổi. Ở một vài người thì chúng không biến đổi chút nào; những người đó bất hạnh đến nỗi không bao giờ thay đổi chính bản thân họ, nhưng ít người như vậy lắm.” Bà siết chặt nắm tay tôi và vỗ vỗ nó. “Tôi nghĩ chị không thuộc số đó. Dẫu còn rất trẻ nhưng bàn tay chị đã có khá nhiều sự biến đổi. Hẳn là do chiến tranh,” bà nói, như thể tự nhủ với chính mình.
Tôi lại tò mò và vô thức mở lòng bàn tay ra.
“Vậy nhìn vào bàn tay tôi, bà thấy tôi là người thế nào?”
Bà Graham cau mày, nhưng không cầm tay tôi nữa.
“Tôi không thể nói rõ được. Điều đó thật kỳ lạ, vì hầu hết các bàn tay đều có sự tương đồng. Tôi không nói bàn tay nào cũng giống bàn tay nào, mà thường thì có những khuôn mẫu.” Bà chợt mỉm cười, nụ cười cuốn hút kỳ lạ, phô bày hàm răng giả trắng bóc.
“Các thầy bói làm việc như thế đấy. Hồi trước chiến tranh, tôi thường hành nghề xem bói vào dịp lễ của nhà thờ hằng năm; có lẽ từ giờ tôi sẽ lại tiếp tục làm việc đó. Có lần, có một cô gái đi vào trong lều. Lúc đó, tôi đội một chiếc khăn xếp đính lông công mượn của ông Donaldson và mặc “chiếc áo choàng phương Đông lộng lẫy” - chính là chiếc áo choàng ngủ của mục sư có hoa văn hình con công và vàng rực như mặt trời. Trong lúc vờ xem bàn tay của cô ta, tôi lén nhìn và thấy cổ áo cô ta trễ đến tận rốn. Cộng thêm mùi nước hoa rẻ tiền và đôi hoa tai dài đến tận vai, chẳng cần đến quả cầu thủy tinh tôi cũng có thể nói ngay rằng cô ta sẽ có con trước dịp lễ năm sau.” Bà Graham ngừng lại, đôi mắt xám ánh lên vẻ hóm hỉnh. “Nhưng nếu bàn tay mà chị đang cầm không đeo nhẫn, cần khéo léo tiên đoán rằng cô ta sẽ sớm kết hôn trước đã.”
Cả tôi và bà cùng cười phá lên. “Vậy là bà không hề nhìn vào bàn tay của họ à?” Tôi hỏi. “Trừ việc kiểm tra xem họ có đeo nhẫn không?”
Bà tỏ vẻ kinh ngạc. “Ồ, dĩ nhiên là có chứ. Ta quan sát họ chỉ để biết trước được những gì ta sẽ nhìn thấy ở bàn tay của họ thôi. Thường là vậy.” Bà hất đầu về phía bàn tay đang xòe ra của tôi. “Nhưng tôi chưa từng nhìn thấy khuôn mẫu nào như vậy. Ngón tay cái lớn” - bà cúi xuống và nhẹ nhàng chạm vào nó - “không thay đổi gì nhiều. Có nghĩa chị là người cứng cỏi và có một ý chí không dễ dàng bị khuất phục.” Bà nháy mắt với tôi. “Hẳn là chồng chị đã nói với chị như thế. Chỗ đó cũng vậy.” Bà chỉ vào gò thịt ở dưới ngón tay cái.
“Nó là gì vậy?”
“Nó được gọi là gò Kim Tinh.” Bà mím làn môi mỏng để tỏ vẻ nghiêm túc, nhưng khóe miệng vẫn không kìm được khẽ nhếch lên. “Với đàn ông, như thế có nghĩa là anh ta thích gái gú. Còn với phụ nữ, nó lại có ý nghĩa hơi khác. Nói một cách lịch sự, chồng chị không thích phải xa cái giường của chị.” Bà cất lên một tiếng cười khiếm nhã đáng kinh ngạc, khiến tôi hơi đỏ mặt.
Bà quản gia đứng tuổi lại chăm chú săm soi bàn tay tôi, ngón tay trỏ nhọn hoắt chỉ hết chỗ này đến chỗ nọ để nhấn mạnh lời mình.
“Đường sinh mệnh rõ nét; chứng tỏ chị có sức khỏe tốt, và có thể sau này vẫn vậy. Nó bị đứt đoạn, nghĩa là cuộc đời chị có sự thay đổi lớn - chà, tất cả chúng ta đều như vậy, phải không nào? Nhưng đường sinh mệnh của chị bị chia nhỏ hơn tôi thường thấy; đến mức nát vụn cả ra. Còn đường hôn nhân của chị thì” - bà lại lắc đầu - “nó bị tách làm đôi; điều đó không có gì bất thường, có nghĩa là có hai cuộc hôn nhân…”
Phản ứng của tôi rất khẽ và được kìm lại ngay nhưng bà vẫn cảm nhận được và lập tức ngẩng đầu lên. Bà quả là một thầy bói tinh tường. Mái đầu hoa râm lắc lắc trấn an tôi.
“Không, không, cưng à. Không phải là sẽ có chuyện gì xảy ra với người đàn ông tuyệt vời của chị đâu. Chỉ là nếu có,” bà nhấn mạnh từ “nếu”, khẽ siết tay tôi, “chị sẽ không phải là người héo hon và lãng phí quãng đời còn lại của mình trong nỗi tiếc thương. Có nghĩa là, chị có thể yêu lại lần nữa nếu mất đi tình yêu đầu tiên.”
Bà nheo mắt nhìn sát vào lòng bàn tay tôi, nhẹ nhàng lướt móng tay nổi gờ, ngắn ngủn dọc theo đường hôn nhân sâu hoắm. “Nhưng phần lớn các đường bị tách đôi như thế đều là đường đứt đoạn - của chị thì lại phân nhánh.” Bà ngẩng lên với nụ cười hóm hỉnh. “Chị không phải là người phạm tội trùng hôn đấy chứ?”
Tôi lắc đầu và cười. “Không. Tôi làm gì có thời gian chứ?” Rồi tôi lật tay lại, giơ cạnh bàn tay ra.
“Tôi nghe nói những vết lằn nhỏ ở cạnh bàn tay sẽ cho ta biết ta có bao nhiêu đứa con, đúng không?” Tôi hy vọng giọng mình vẫn điềm tĩnh. Cạnh bàn tay tôi phẳng nhẵn đến mức đáng thất vọng.
Bà Graham phẩy tay gạt quan niệm này đi.
“Hừ! Sau khi chị có một, hai đứa con, những vết lằn đó có thể hiện ra. Giống như những nếp nhăn trên mặt vậy. Chúng chẳng chứng minh được điều gì cả.”
“Vậy ư?” Tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn đôi chút. Đúng lúc tôi đang định hỏi liệu những đường hằn sâu chạy ngang qua cổ tay tôi có ý nghĩa gì không (khuynh hướng tự tử chẳng hạn?) thì mục sư Wakefield bước vào, mang theo những tách trà rỗng. Ông đặt chúng xuống giá úp và bắt đầu lóng ngóng lục lọi tủ bát đĩa ầm ĩ cả lên, rõ ràng là muốn được giúp đỡ.
Bà Graham đứng bật dậy để bảo vệ căn bếp thiêng liêng của mình, khéo léo đẩy mục sư qua một bên rồi xếp bộ đồ uống trà vào một cái khay để mang lên thư phòng. Mục sư kéo tôi tránh đường.
“Sao chị không tới thư phòng để uống một tách trà nữa với tôi và chồng chị nhỉ, chị Randall? Chúng tôi vừa tìm ra một thứ rất đáng phấn khởi.”
Tôi có thể thấy rằng mặc dù ngoài mặt điềm tĩnh nhưng ông đang vỡ òa vì vui sướng bởi thứ gì đó mà họ đã phát hiện ra, giống như một cậu bé có một con cóc nhét trong túi áo vậy. Rõ ràng tôi sẽ phải tới thư phòng để đọc hóa đơn giặt là hoặc hóa đơn sửa giày của Đại úy Jonathan Randall hoặc bất cứ tài liệu nào hấp dẫn tương tự.
Frank đang mải miết với những tài liệu rách nát đến nỗi anh chẳng hề ngẩng lên khi tôi bước vào phòng. Anh miễn cưỡng trao chúng vào bàn tay mập mạp của mục sư Wakefield và tới đứng đằng sau ông, nhòm qua vai ông, tựa hồ không thể rời mắt khỏi chúng dù chỉ một giây.
“Xem nào.” Tôi lịch sự nói, lật giở những tờ giấy lem luốc. “Ừm, vâng, rất thú vị.” Thật ra, nét chữ này quá rườm rà, bay bướm và mờ đến nỗi rất khó để luận ra nó viết gì. Có một tờ giấy được bảo quản tốt hơn phần còn lại mang một biểu tượng gia huy ở trên đầu.
“Công tước xứ… Sandringham, đúng không?” Tôi hỏi, săm soi cái gia huy hình con báo ngẩng đầu đã bạc màu và phần chữ in bên dưới dễ đọc hơn phần chữ viết tay.
“Đúng vậy,” mục sư nói, cười tươi hơn. “Một tước hiệu giờ đã không còn nữa, chị biết đấy.”
Tôi nào có biết, nhưng vẫn gật đầu ra vẻ thông hiểu, bởi tôi vốn chẳng lạ gì các sử gia lúc họ đang trong cơn phấn khích vì có một phát hiện mới. Ta hiếm khi phải làm gì khác ngoài việc gật đầu đều đặn và nói “Ồ, thật ư?” hoặc “Thú vị làm sao!” vào những lúc thích hợp.
Sau một hồi nhường qua nhường lại giữa Frank và mục sư, cuối cùng mục sư cũng giành được vinh dự kể cho tôi nghe về khám phá của họ. Dựa vào toàn bộ đống rác rưởi này, họ đã phát hiện ra cụ cố của Frank, Jack Randall Hắc Ám khét tiếng, không chỉ là một chiến binh dũng cảm của hoàng gia mà còn là một gián điệp bí mật và đáng tin cậy của Công tước Sandringham.
“Gần như là một kẻ gây kích động, đúng không Tiến sĩ Randall?” Mục sư lịch thiệp nhường lời cho Frank, anh liền chộp lấy cơ hội.
“Vâng, đúng vậy. Đương nhiên là ngôn từ trong các lá thư được lựa chọn và sử dụng rất cẩn thận…” Anh nhẹ nhàng lật giở các trang bằng ngón trỏ đã được lau chùi sạch sẽ.
“Ồ, thật ư?” Tôi nói.
“Nhưng có thể thấy cụ Jonathan Randall đã được giao phó nhiệm vụ kích động tư tưởng ủng hộ phái Jacobite, nếu có, giữa các gia đình người Scot có tiếng tăm trong vùng. Mục đích của cụ là đưa ra ánh sáng bất cứ tòng nam tước hay thủ lĩnh thị tộc nào bí mật nung nấu cảm tình với phái Jacobite. Nhưng thật lạ lùng! Chẳng phải chính Sandringham bị nghi ngờ là một Jacobite đó sao?” Frank quay sang mục sư, cau mày thắc mắc. Cái trán hói nhẵn thín của mục sư cũng nhăn lại y hệt như thế.
“Chà, đúng vậy. Nhưng đợi đã, để tôi kiểm tra trong sách của Cameron xem sao” - ông đâm bổ tới giá sách chật kín những cuốn sách bọc da dê - “chắc chắn là ông ấy có nhắc tới Sandringham.”
“Thú vị làm sao,” tôi lẩm bẩm, chuyển sự chú ý sang tấm gỗ xốp khổng lồ che phủ cả một bức tường của thư phòng.
Nó kín đặc các loại giấy tờ như hóa đơn tiền gas, thư từ, thông báo từ Hội đồng Mục sư, các trang tiểu thuyết bị xé rời, các ghi chú viết tay của chính mục sư, ngoài ra còn có những vật nhỏ như chìa khóa, nắp chai và phụ tùng ô tô. Tất cả bọn chúng đều được đính bằng đinh ghim hoặc treo bằng dây.
Tôi vẩn vơ xem lướt qua mớ hỗn độn đó, chỉ nghe câu được câu chăng cuộc tranh luận đang diễn ra sau lưng mình. (Họ đã quyết định rằng Công tước Sandringham có thể là một Jacobite.) Ánh mắt tôi dừng lại ở một bảng phả hệ được đính hết sức cẩn thận bằng bốn cái đinh ghim ở bốn góc. Trên đầu bảng là những cái tên từ đầu thế kỷ mười bảy. Nhưng thứ thu hút sự chú ý của tôi chính là cái tên ở cuối bảng: Roger W. (Mackenzie) Wakefield.
“Xin lỗi,” tôi nói, ngắt ngang cuộc tranh luận về việc con báo trong gia huy của công tước đang cầm một bông huệ tây hay một bông nghệ tây. “Đây có phải là bảng phả hệ của con trai ngài không?”
“Hử? Ồ, phải, phải đấy.” Mục sư vội vã đi tới, nở nụ cười rạng rỡ. Ông nhẹ nhàng gỡ bảng phả hệ xuống và đặt nó lên bàn, trước mặt tôi.
“Tôi không muốn nó quên mất gia tộc của mình,” ông giải thích. “Đó là một dòng họ khá lâu đời, từ những năm 1600.” Ngón trỏ mập mạp của ông gần như cung kính lần theo các nhánh của bảng phả hệ.
“Vì nó sống ở đây nên tôi cho nó mang họ của tôi, nhưng tôi không muốn nó quên mất gốc gác của mình.” Ông nhăn mặt ra chiều tiếc nuối. “Tôi e là dòng tộc tôi chẳng có gì đáng để khoe khoang. Chỉ toàn là mục sư với cha phó, thi thoảng có một người bán sách cho thêm đa dạng, và chỉ có thể truy nguyên đến năm 1762. Các ghi chép quá ít ỏi, chị biết đấy,” ông nói, lắc lắc đầu trước sự thờ ơ của tổ tiên mình.
Chúng tôi rời khỏi nhà mục sư vào lúc sẩm tối. Ông hứa hẹn sáng sớm mai sẽ mang những lá thư này vào thị trấn để sao lại. Suốt chặng đường về nhà bà Baird, Frank cứ vui vẻ thao thao bất tuyệt về các gián điệp và Jacobite. Tuy nhiên, cuối cùng anh cũng nhận thấy sự yên lặng ở tôi.
“Có chuyện gì thế, cưng?” Anh hỏi, lo lắng nắm lấy cánh tay tôi. “Em cảm thấy không khỏe à?” Giọng anh vừa lo lắng vừa hy vọng.
“Không, em vẫn ổn. Em chỉ đang nghĩ…” Tôi ngập ngừng, bởi vì trước đây chúng tôi đã từng bàn về vấn đề này. “Em đang nghĩ về Roger…”
“Roger nào nhỉ?”
Tôi cất tiếng thở dài bực tức. “Frank, thật là! Anh… đãng trí thế! Roger, con trai của mục sư Wakefield ấy.”
“Ồ. Ừ, đúng rồi,” anh nói, vẫn còn có vẻ mơ hồ. “Thằng bé đáng yêu lắm. Nó làm sao?”
“Chà… chỉ là có nhiều đứa trẻ như thế. Những đứa trẻ mồ côi.”
Anh nhìn tôi với ánh mắt sắc lẹm và lắc đầu.
“Không, Claire. Thật sự thì, anh cũng muốn, nhưng anh đã nói với em suy nghĩ của anh về chuyện nhận con nuôi rồi còn gì. Anh không thể có tình cảm với một đứa trẻ không phải… ờ, không phải máu mủ của mình. Anh biết như thế thật lố bịch và ích kỷ, nhưng anh thực sự có cảm giác như vậy. Có thể dần dà anh sẽ đổi ý, nhưng bây giờ thì…” Chúng tôi bước vài bước trong sự im lặng ngột ngạt. Chợt anh dừng lại và quay sang nắm lấy tay tôi.
“Claire,” anh khàn khàn nói, “anh muốn có đứa con của chúng ta. Em là điều quan trọng nhất với anh trên đời này. Hơn tất cả, anh muốn em được hạnh phúc, nhưng anh muốn… anh muốn giữ em cho riêng mình. Anh sợ một đứa trẻ từ bên ngoài đến, không có quan hệ ruột thịt gì với chúng ta sẽ giống như một kẻ phá đám, xâm nhập và làm đảo lộn tất cả, và anh không thích điều đó. Nhưng nếu anh có thể cho em một đứa con, nhìn thấy nó lớn lên trong em, nhìn thấy nó chào đời… vậy thì anh sẽ cảm thấy nó giống như… một phần cơ thể của em, có lẽ vậy. Và cả anh nữa. Một thành viên thực sự của gia đình.” Đôi mắt anh mở to, ánh lên vẻ van nài.
“Vâng, thôi được. Em hiểu.” Tôi muốn bỏ qua chủ đề này - vào lúc này. Nhưng khi tôi quay người định tiếp tục cất bước, anh liền ôm lấy tôi.
“Claire. Anh yêu em.” Giọng anh đầy dịu dàng, và tôi ngả đầu vào chiếc áo khoác của anh, cảm nhận hơi ấm và sức mạnh của vòng tay anh.
“Em cũng yêu anh.” Chúng tôi đứng ôm nhau một lúc, khẽ đu đưa trong cơn gió đang quét dọc con đường. Đột nhiên Frank khẽ nhích người ra, mỉm cười với tôi.
“Hơn nữa,” anh nhẹ nhàng nói, gạt mớ tóc lòa xòa trên mặt tôi, “chúng ta còn chưa bỏ cuộc, đúng không nào?”
Tôi mỉm cười đáp lại. “Đúng vậy.”
Anh cầm tay tôi khoác lên cánh tay anh, và chúng tôi hướng về phía ngôi nhà nghỉ của mình.
“Em sẵn sàng thử lại lần nữa chứ?”
“Vâng. Tại sao lại không nhỉ?” Chúng tôi lững thững trở lại đường Gereside. Mãi đến khi nhìn thấy Baragh Mhor, hòn đá Pictish ở góc đường, tôi mới nhớ tới những thứ cổ xưa.
“Em quên béng mất!” Tôi thốt lên. “Em muốn cho anh xem thứ này hay lắm.” Frank nhìn tôi, kéo tôi lại gần hơn và siết chặt tay tôi.
“Anh cũng có thứ muốn cho em xem,” anh nói, cười toe. “Thứ đó của em để dành đến ngày mai đi!”
•••
Tuy nhiên, sáng hôm sau, chúng tôi còn bận làm chuyện khác. Tôi quên khuấy mất rằng chúng tôi đã lên kế hoạch dành một ngày để tới dạo chơi ở hồ Ness nằm trong thung lũng lớn.
Quãng đường khá dài nên chúng tôi phải đi từ sáng sớm, trước cả lúc bình minh ló dạng. Sau khi vội vội vàng vàng chạy tới chỗ chiếc xe đang đợi trong bầu không khí lạnh đến tê tái, cảm giác thật dễ chịu khi được nằm thư giãn bên dưới tấm chăn và cảm nhận sự ấm áp len trở lại chân tay mình. Cùng với nó là cơn buồn ngủ ập đến, và tôi thoải mái thiếp đi trên vai Frank. Hình ảnh cuối cùng mà tôi nhìn thấy là cái đầu của tài xế in bóng trên nền trời đỏ ửng.
Lúc chúng tôi tới nơi thì đã hơn chín giờ, và hướng dẫn viên mà Frank thuê đang đợi chúng tôi ở mép hồ với một cái xuồng nhỏ.
“Thưa ngài, tôi nghĩ chúng ta nên đi thuyền xuôi theo bờ hồ để tới lâu đài Urquhart. Có lẽ chúng ta sẽ ăn trưa ở đó một lúc rồi tiếp tục lên đường.” Hướng dẫn viên của chúng tôi là một người đàn ông nhỏ thó có vẻ mặt nghiêm nghị, mặc áo sơ mi cotton bạc phếch và quần vải chéo. Sau khi xếp gọn cái giỏ đựng đồ picnic dưới ghế ngồi, anh ta đưa bàn tay chai sần ra đỡ tôi bước xuống thuyền.
Hôm ấy trời đẹp tuyệt, những rặng cây đang đâm chồi nảy lộc hai bên bờ dốc lờ mờ in bóng trên mặt hồ lăn tăn sóng gợn. Mặc dù có vẻ ngoài nghiêm nghị nhưng hướng dẫn viên của chúng tôi lại là người giàu kiến thức và nói nhiều, vừa đi anh ta vừa chỉ cho chúng tôi xem những hòn đảo, lâu đài và các phế tích nằm ven cái hồ dài và hẹp.
“Đằng kia chính là lâu đài Urquhart.” Anh ta chỉ một bức tường đá phẳng nhẵn lấp ló sau những rặng cây. “Hay đúng hơn là những gì còn lại của nó. Nó đã bị các phù thủy ở thung lũng lớn nguyền rủa và phải chứng kiến hết bất hạnh này đến bất hạnh khác.”
Anh ta kể cho chúng tôi nghe câu chuyện về Mary Grant, con gái của vị lãnh chúa ngự tại lâu đài Urquhart, và người tình của nàng, Donald Donn, cậu con trai thi sĩ của MacDonald xứ Bohuntin. Mặc dù họ bị ngăn cấm bởi cha nàng không chấp nhận thói quen của chàng là “nẫng” bất cứ con gia súc nào mà chàng bắt gặp (hướng dẫn viên quả quyết với chúng tôi đó là một “nghề” danh giá và lâu đời của vùng cao nguyên), nhưng họ vẫn lén lút gặp nhau. Nghe phong thanh được chuyện đó, cha nàng bèn nhử Donald tới một điểm hẹn giả và bắt giữ chàng. Bị xử tội chết, chàng đã cầu xin để mình bị chặt đầu như một quý ông thay vì bị treo cổ như một tên tội phạm xấu xa tàn ác. Yêu cầu ấy được chấp thuận, và chàng trai trẻ được dẫn đến chỗ hành hình, miệng lặp đi lặp lại: “Quỷ sứ sẽ đến bắt Lãnh chúa Grant, bởi Donald Donn không bị treo cổ.”[6] Và truyền thuyết kể rằng khi cái đầu đã lìa khỏi cổ của chàng lăn khỏi tấm gỗ kê, nó nói: “Mary, hãy nhặt đầu anh lên.”
Tôi rùng mình, và Frank choàng cánh tay ôm lấy tôi. “Có một mẩu thơ của Donald Donn vẫn còn lưu lại đến ngày nay,” anh khẽ nói. “Nó là thế này:
Ngài mai tôi sẽ ở trên một ngọn đồi, không còn đầu nữa.
Người có xót thương cho nàng trinh nữ u sầu của tôi không,
Mary của tôi, có nước da trắng và cặp mắt dịu dàng?”
Tôi nắm lấy tay anh và khẽ siết nó.
Sau khi nghe hết câu chuyện này đến câu chuyện khác về sự phản bội, giết người và bạo lực, cái hồ bỗng trở nên đáng sợ như danh tiếng của nó.
“Còn con quái vật thì sao?” Tôi hỏi, ngoảnh nhìn lòng hồ u ám. Nó có vẻ là nơi trú ẩn hoàn toàn lý tưởng cho con quái vật.
Hướng dẫn viên của chúng tôi nhún vai và khạc nhổ xuống mặt nước.
“Chà, rõ ràng cái hồ này rất kỳ quái. Có những câu chuyện kể rằng từng có một sinh vật già đời và độc ác sống trong lòng hồ. Người ta đã dâng các vật hiến tế cho nó - bò cái, thậm chí đôi khi là trẻ nhỏ, được bỏ trong những cái giỏ liễu gai và ném xuống nước.” Anh ta lại khạc nhổ. “Và một số người nói cái hồ này không có đáy - ở giữa lòng hồ có một cái hố sâu hơn bất cứ thứ gì khác ở Scotland. Tuy nhiên,” - đôi mắt đầy vết chân chim của hướng dẫn viên nheo lại - “mấy năm trước, có một gia đình từ Lancashire chuyển đến đây hớt hơ hớt hải chạy vào đồn cảnh sát ở Invermoriston, kêu lên thất thanh rằng họ đã nhìn thấy con quái vật rời khỏi mặt nước và trốn trong bãi dương xỉ diều hâu. Họ nói đó là một sinh vật gớm ghiếc, có bộ lông màu đỏ và những cái sừng đáng sợ. Nó đang nhai một thứ gì đó, máu từ miệng nhỏ xuống tong tỏng.” Anh ta giơ tay lên, ngăn chặn tiếng thét kinh hãi của tôi.
“Viên cảnh sát được cử đi xem xét tình hình khi quay lại đã nói, trừ việc máu nhỏ tong tỏng, họ đã miêu tả rất chính xác” - anh ta ngừng lại để gây kịch tính - “một con bò cao nguyên xinh đẹp đang nhai lại thức ăn trong bụi dương xỉ diều hâu!”
Chúng tôi đi được một nửa chiều dài của hồ thì lên bờ để ăn bữa trưa muộn. Xe ô tô đón chúng tôi ở đó và chở chúng tôi về qua thung lũng lớn. Trên đường đi chẳng thấy có gì đáng sợ, chỉ có một con cáo đỏ ngậm một sinh vật nhỏ mềm nhũn ở trong mồm. Nó giật mình ngẩng lên khi chúng tôi quẹo xe ở một khúc quành, rồi nhảy vọt vào lề đường và trèo lên bờ đê, nhanh như một cái bóng.
Trời đã tối mịt lúc chúng tôi lảo đảo bước trên con đường dẫn về căn nhà nghỉ của bà Baird, nhưng chúng tôi vẫn bám dính vào nhau trên bậc thềm và cười vui vẻ trước các sự kiện trong ngày khi Frank mò mẫm tìm chìa khóa.
Mãi đến lúc cởi đồ để đi ngủ, tôi mới nhớ ra và nhắc đến vòng tròn đá mi ni ở Craigh na Dun với Frank. Vẻ mệt mỏi của anh biến mất ngay lập tức.
“Thật à? Và em biết nó ở đâu ư? Tuyệt quá, Claire!” Anh cười rạng rỡ và bắt đầu lục lọi va li.
“Anh tìm gì thế?”
“Đồng hồ báo thức,” anh đáp, lôi nó ra.
“Để làm gì?” Tôi ngạc nhiên hỏi.
“Anh muốn dậy kịp lúc để được nhìn thấy họ.”
“Ai cơ?”
“Các phù thủy.”
“Phù thủy á? Ai nói với anh là có phù thủy chứ?”
“Mục sư,” Frank trả lời, rõ ràng thích thú với lời nói đùa này. “Bà quản gia của ông ấy là một trong số đó.”
Tôi nghĩ về bà Graham đáng kính và cười khẩy. “Đừng có lố bịch thế!”
“Chà, thực ra thì không phải phù thủy. Đã từng có phù thủy trên khắp vùng Scotland trong hàng mấy trăm năm, nhưng đến thế kỷ mười tám họ đã bị thiêu sống hết rồi. Đám người này là tín đồ Druid, hoặc đại loại thế. Anh không nghĩ đó là một giáo phái tà đạo thờ ma quỷ. Nhưng mục sư nói rằng trong vùng vẫn có một nhóm người thực hiện các nghi lễ thờ cúng vào những ngày lễ mừng mặt trời. Ông ấy không thể quan tâm quá nhiều đến chuyện này vì địa vị của mình, em biết đấy, nhưng lòng hiếu kỳ khiến ông ấy không thể lờ nó đi hoàn toàn. Ông ấy không biết các nghi lễ được thực hiện ở đâu nhưng nếu có một vòng tròn đá ở gần đây thì hẳn là nơi đó.” Anh xoa xoa hai tay vào nhau vẻ háo hức. “May mắn làm sao!”
•••
Thức dậy khi trời còn tối mò để đi khám phá thì cũng vui đấy, nhưng làm thế trong hai ngày liên tiếp thì chẳng khác nào tự hành xác.
Lần này cũng không có chiếc ô tô ấm áp với chăn và bình nước nóng. Tôi loạng choạng đi theo sau Frank lên đồi trong tình trạng ngái ngủ, thi thoảng lại vấp vào một hòn đá hoặc rễ cây. Trời lạnh căm căm và dày đặc sương mù, khiến tôi phải thọc sâu hai tay vào túi áo khoác len.
Dấn bước cuối cùng lên đỉnh đồi, vòng tròn đá lập tức lờ mờ hiện ra trước mắt chúng tôi trong cảnh tranh tối tranh sáng. Frank đứng im như tượng, say mê ngắm nghía nó, trong khi tôi ngồi phịch xuống một tảng đá, thở hổn hển.
“Đẹp quá,” anh lẩm bẩm, rón rén tiến tới mép ngoài của vòng tròn, thân hình như một cái bóng của anh biến mất giữa những cái bóng lớn hơn của những tảng đá. Chúng thật đẹp nhưng cũng kỳ quái ghê gớm. Tôi rùng mình, không chỉ vì lạnh. Nếu người nào đó tạo ra vòng tròn này có ý định dọa dẫm kẻ khác thì họ đã làm được rồi đấy.
Một thoáng sau, Frank quay lại. “Chưa có ai ở đây cả,” anh chợt thì thầm từ phía sau, khiến tôi giật nẩy mình. “Đi nào, anh đã tìm ra một chỗ để chúng ta có thể núp vào mà quan sát.”
Lúc này, ánh sáng bắt đầu hiện lên ở đằng đông, nó mới chỉ là một vệt màu xám nhạt nơi chân trời, nhưng cũng đủ giúp tôi khỏi vấp ngã khi Frank dẫn tôi chui qua một khe hở mà anh tìm thấy giữa những bụi tống quán sủi gần đầu con đường mòn. Bên trong những lùm cây có một khoảng trống nhỏ xíu, hai chúng tôi phải nép sát vào nhau mới đủ chỗ, nhưng từ đây có thể nhìn rõ con đường mòn và phía trong của vòng tròn đá nằm cách chúng tôi không quá sáu mét. Tôi lại một lần nữa tự hỏi trong chiến tranh Frank đã làm loại công việc gì? Anh có vẻ rất rành việc di chuyển lặng lẽ trong bóng tối.
Vì đang ngái ngủ nên tôi chỉ muốn nằm cuộn mình dưới một bụi cây ấm áp và đánh một giấc, nhưng vì chẳng có chỗ để làm việc đó nên tôi đành tiếp tục đứng nhìn chăm chú con đường dốc để ngóng các tín đồ Druid đang trên đường đến. Lưng và chân tôi bắt đầu nhức mỏi, nhưng chắc cũng không còn lâu nữa; vệt sáng đằng đông đã chuyển sang màu hồng nhạt, chắc chỉ chưa đầy nửa tiếng nữa là bình minh sẽ lên.
Người đầu tiên đến một cách lặng lẽ gần như Frank. Chỉ có tiếng lạch cạch rất khẽ khi chân bà ta đá phải một viên sỏi gần đỉnh đồi, rồi mái đầu màu xám gọn gàng đột ngột nhô lên. Bà Graham. Vậy là đúng rồi! Bà quản gia của mục sư đang mặc váy vải tuýt và áo khoác len, tay kẹp một cái bọc màu trắng. Bà biến mất sau một cột đá, âm thầm như một bóng ma.
Chẳng mấy chốc những người còn lại cũng tới, đi một mình hoặc theo nhóm hai, ba người, cười khúc khích và thì thầm với nhau. Thế rồi con đường nhanh chóng trở lại im ắng sau khi họ đi vào vòng tròn.
Tôi nhận ra một vài người. Kia là bà Buchanan, giám đốc bưu điện của làng, mùi hương Evening in Paris đang nồng nàn tỏa ra từ mái tóc vàng hoe mới uốn của bà. Tôi nén cười. Vậy ra đây chính là một tín đồ Druid thời hiện đại!
Cả thảy có mười lăm người, toàn là phụ nữ, trong độ tuổi từ bà Graham hơn sáu mươi đến một thiếu phụ trẻ chừng ngoài hai mươi mà hai hôm trước tôi đã nhìn thấy đẩy một cái xe nôi quanh các cửa hàng. Tất cả bọn họ đều ăn mặc phù hợp với việc đi bộ, dưới cánh tay ai nấy đều kẹp một bọc đồ. Họ chào hỏi nhau đôi ba câu rồi biến mất đằng sau những tảng đá hay những bụi cây, rồi quay trở lại với hai bàn tay không, trên người là bộ đồ màu trắng và cánh tay để trần. Khi một người đi lướt qua bụi cây chúng tôi đang nấp, tôi ngửi thấy mùi xà phòng giặt và nhận ra y phục của họ giống như những tấm chăn mỏng quấn quanh cơ thể và thắt lại ở vai.
Họ tụ lại bên ngoài vòng tròn đá, theo một hàng từ già đến trẻ, và đứng im lặng, chờ đợi. Ánh sáng từ đằng đông trở nên mạnh hơn.
Khi vầng dương nhú lên trên đường chân trời, hàng người bắt đầu di chuyển chậm rãi giữa hai cột đá. Người đứng đầu dẫn họ đi thẳng vào tâm vòng tròn, rồi cứ thế đi vòng quanh, chậm rãi và nghiêm trang như những con thiên nga đang diễu hành.
Người đứng đầu đột ngột dừng lại, giơ hai tay lên và bước vào tâm vòng tròn. Ngẩng mặt về phía hai cột đá ở rìa phía đông, bà ta cất tiếng kêu gọi bằng giọng cao vút, tiếng nói không lớn lắm nhưng đủ rõ để khắp vòng tròn nghe thấy được. Trong màn sương mù tĩnh lặng, tiếng nói ấy trở nên vang vọng như thể nó phát ra từ khắp nơi, thậm chí từ chính bản thân những cột đá.
Các vũ công lặp lại lời bà. Bây giờ họ đã trở thành những vũ công. Họ không chạm vào nhau, mà chỉ giơ tay về phía nhau, nhún nhảy và đi vòng quanh. Đột nhiên vòng tròn tách làm đôi. Bảy vũ công di chuyển theo chiều kim đồng hồ. Những người khác di chuyển theo hướng ngược lại. Hai nửa vòng tròn đi qua nhau với tốc độ ngày càng tăng, thi thoảng hợp thành một vòng tròn trọn vẹn, thi thoảng lại tạo nên một hàng đôi. Và ở giữa, người dẫn đầu đứng im phăng phắc, vẫn tiếp tục cất giọng thê lương với âm vực cao vút bằng một thứ ngôn ngữ đã mất từ lâu.
Đáng lẽ tôi phải cảm thấy buồn cười vì trông họ thật ngớ ngẩn. Và có lẽ họ ngớ ngẩn thật. Một nhóm phụ nữ, trong đó có nhiều người to béo và chẳng hề nhanh nhẹn, quấn chăn và diễu hành theo vòng tròn trên đỉnh một ngọn đồi. Nhưng tóc gáy tôi dựng đứng cả lên khi nghe thấy tiếng kêu của họ.
Họ dừng lại cùng một lúc, quay mặt về phía mặt trời mọc, đứng thành hai nửa vòng tròn, tạo ra một lối đi ở giữa. Khi mặt trời nhô hẳn lên khỏi đường chân trời, ánh sáng tràn qua khoảng trống giữa hai cột đá ở đằng đông, theo lối đi giữa hai nửa vòng tròn chiếu vào cột đá nứt đồ sộ ở phía đối diện.
Trong một thoáng, các vũ công đứng sững như hóa đá trong bóng tối hai bên luồng sáng. Thế rồi bà Graham nói gì đó bằng thứ ngôn ngữ kỳ lạ lúc nãy, nhưng lần này với giọng bình thường. Bà xoay người và bước đi dọc theo con đường ánh sáng, lưng ưỡn thẳng, những dợn tóc màu xám sắt lấp lánh dưới ánh mặt trời. Các vũ công lục tục bước theo bà, không ai nói một lời. Từng người một đi qua khe nứt trên tảng đá chính và lặng lẽ biến mất.
Chúng tôi lom khom ẩn nấp trong bụi tống quán sủi cho đến khi những người phụ nữ, giờ đã cười nói bình thường, thay lại y phục cũ và đi thành nhóm xuống đồi, hướng về phía nhà mục sư để uống cà phê.
“Chúa ơi!” Tôi duỗi tay duỗi chân, cố gắng xua tan cơn tê mỏi ở chân và lưng. “Quả là một cảnh tượng đặc biệt, đúng không?”
“Tuyệt vời!” Frank tán tụng. “Anh sẽ không đánh đổi khoảnh khắc được chứng kiến cảnh tượng ấy vì bất cứ thứ gì trên đời này.” Anh trườn ra khỏi lùm cây như một con rắn, để mặc tôi tự gỡ mình ra trong khi anh bò quanh phía bên trong của vòng tròn, gí sát mũi xuống đất như một con chó săn.
“Anh đang tìm cái gì vậy?” Tôi hỏi, ngập ngừng bước vào vòng tròn đá, nhưng trời đang sáng rõ, và những cột đá, dù vẫn oai vệ, đã mất đi dáng vẻ hăm dọa đầy nguy hiểm như trong lúc bình minh.
“Các dấu vết,” anh đáp, bò loanh quanh, mắt dán chặt vào lớp đất cỏ mọc lún phún. “Làm sao họ biết phải bắt đầu và dừng lại ở đâu nhỉ?”
“Câu hỏi hay đấy. Em chẳng thấy gì cả.” Nhưng khi quét ánh mắt trên mặt đất, tôi trông thấy một loài cây thú vị mọc gần chân một trong những cột đá cao. Cỏ lưu ly chăng? Không, có lẽ không phải; hoa của loài cây này có nhụy màu cam và cánh màu xanh sẫm. Trí tò mò bị khơi gợi, tôi dợm bước về phía nó. Vốn thính tai hơn tôi, Frank bỗng nhảy dựng lên và túm lấy cánh tay tôi, kéo tôi ra khỏi vòng tròn ngay trước khi một trong những vũ công buổi sáng bước vào từ phía bên kia.
Đó là cô Grant, người phụ nữ mập lùn, chủ cửa hàng bánh kẹo ở phố High của thị trấn, một nghề có vẻ phù hợp với thân hình của cô ta. Cô ta nheo mắt săm soi khắp xung quanh, rồi mò mẫm tìm kính trong túi. Ấn kính lên mũi, cô ta lững thững đi quanh vòng tròn, cuối cùng chộp lấy cái kẹp tóc bị rơi, thứ đã khiến cô ta phải quay lại. Sau khi kẹp nó vào những lọn tóc dày dặn bóng mượt, cô ta có vẻ không vội quay về với công việc mà lại ngồi xuống một tảng đá, tựa vào một trong những cột đá khổng lồ với vẻ thoải mái và nhàn nhã châm một điếu thuốc.
Frank khẽ thở dài bực tức bên cạnh tôi. “Hừ,” anh nói, vẻ nhẫn nhịn, “chúng ta nên đi thôi. Cô ta có thể ngồi đó cả buổi sáng mất, cứ nhìn cái dáng vẻ kia thì biết. Dù sao đi nữa, anh cũng không thấy dấu vết rõ rệt nào.”
“Có lẽ chúng ta nên quay lại đây sau,” tôi gợi ý, vẫn còn tò mò về loài cây leo có hoa màu xanh.
“Ừ.” Nhưng rõ ràng anh đã mất hết hứng thú với vòng tròn đá mà chỉ đắm chìm vào những chi tiết của nghi lễ vừa rồi. Trên đường xuống đồi, anh hỏi tôi không ngừng, giục tôi nhớ lại càng chính xác càng tốt từng lời mà những người phụ nữ kia đã nói, và thời điểm diễn ra điệu nhảy.
“Bắc Âu,” cuối cùng anh nói với vẻ thỏa mãn. “Những từ cơ bản là ngôn ngữ Bắc Âu cổ, anh gần như chắc chắn đấy. Nhưng điệu nhảy,” anh lắc đầu, ngẫm nghĩ. “Không, điệu nhảy còn cổ xưa hơn nhiều. Không phải là người Viking không có những điệu nhảy vòng tròn,” anh nói, nhướng mày vẻ nghiêm nghị, như thể chính tôi đã nói là không có. “Nhưng cái kiểu di chuyển theo hai hàng đó, nó… hừm, nó giống như… chà, một vài mẫu hoa văn trên những món đồ gốm tráng men của người Beaker, khá giống như thế, nhưng mà… hừm.”
Anh lại rơi vào trạng thái xuất thần của một học giả, thi thoảng lẩm bẩm một mình. Trạng thái ấy chỉ bị phá vỡ khi anh bất ngờ vấp phải một thứ gì đó gần chân đồi. Anh giật mình hét to, khua loạn hai tay khi bị trượt chân và lăn lông lốc xuống khoảng một mét cuối cùng của con đường, ngã vào một lùm nga sâm.
Tôi lao như bay xuống đồi theo anh, nhưng lúc tôi tới chân đồi thì đã thấy anh ngồi dậy giữa những thân cây rung rinh.
“Anh không sao chứ?” Tôi hỏi, dù có thể thấy là anh vẫn ổn.
“Chắc vậy.” Anh choáng váng đưa tay lên trán, vuốt lại tóc. “Anh bị vấp vào cái gì thế?”
Cái này.” Tôi giơ lên một hộp cá mòi bị một vị khách của buổi sớm vứt ở đó. “Một trong những mối đe dọa của nền văn minh.”
“A.” Anh đón lấy nó từ tay tôi, nhòm vào bên trong, rồi ném nó qua vai. “Tiếc là nó rỗng không. Anh thấy hơi đói. Chúng ta về xem bà Baird có gì cho bữa sáng muộn nhé?”
“Vâng,” tôi nói, vén nốt những sợi tóc còn lòa xòa trên trán anh. “Nhưng chúng ta cũng có thể biến nó thành bữa trưa sớm.” Ánh mắt tôi giao với mắt anh.
“À,” anh lại nói với tông giọng khác hẳn. Bàn tay anh chầm chậm lướt lên cánh tay và cần cổ tôi, ngón cái nhẹ nhàng mơn trớn thùy tai tôi. “Đúng là chúng ta có thể.”
“Nếu anh không quá đói,” tôi nói. Bàn tay kia của anh lần lên sau lưng tôi. Lòng bàn tay mở ra, nhẹ nhàng ấn tôi vào người anh, các ngón tay nhích xuống thấp dần, thấp dần. Miệng anh hé mở và hơi thở ấm áp của anh khẽ phả dọc theo cổ váy tôi.
Anh nhẹ nhàng đặt tôi xuống cỏ, những bông nga sâm mượt tựa lông tơ như đang bồng bềnh quanh đầu anh. Anh cúi xuống, dịu dàng hôn tôi, vừa hôn vừa cởi từng chiếc cúc váy với vẻ khiêu khích.
Bàn tay đang vuốt ve lưng tôi cứ trượt xuống thấp dần, thấp dần, rồi đột ngột dừng lại trong nỗi kinh ngạc. Nó lại lần mò một hồi nữa, rồi Frank ngẩng đầu lên và nhìn tôi, cười toe.
“Cái gì thế này?” Anh hỏi, nhái giọng một viên cảnh sát làng. “Hay đúng hơn là, sao lại không có gì?”
“Chỉ là chuẩn bị sẵn sàng thôi mà,” tôi nghiêm trang nói. “Các y tá được dạy rằng phải phòng trước những chuyện bất ngờ.”
“Thực tình, Claire,” anh lẩm bẩm. “Em là người có đầu óc thực tế khủng khiếp nhất mà anh từng biết.”
•••
Vào buổi tối hôm đó, tôi đang ngồi trong phòng khách với một quyển sách lớn trải ra trên lòng thì Frank đi tới sau lưng.
Em đang làm gì đấy?” Anh hỏi, nhẹ nhàng đặt tay lên vai tôi.
“Tìm kiếm loài cây đó,” tôi đáp, kẹp ngón tay vào giữa các trang sách để đánh dấu. “Loài cây mà em nhìn thấy chỗ vòng tròn đá. Nhìn này…” Tôi mở cuốn sách ra. “Nó có thể thuộc họ hoa chuông hoặc long đởm, lá thang, mồ hôi - em nghĩ có khả năng nhất là lưu ly - nhưng nó cũng có thể thuộc loài này, Anemone patens.” Tôi chỉ vào hình minh họa đầy màu sắc của một cây ngân liên hoa. “Em không nghĩ nó thuộc họ long đởm; cánh của nó không thực sự tròn, nhưng…”
“Chà, sao em không trở lại đó và hái nó nhỉ?” Anh gợi ý. “Có lẽ ông Crook sẽ cho em mượn “cỗ pháo nổ” cũ kĩ của ông ấy hoặc - không, anh có một ý hay hơn. Hãy mượn xe của bà Baird, như thế an toàn hơn. Từ đường cái tới chân đồi chỉ phải đi bộ một đoạn ngắn thôi mà.”
“Và rồi sau đó phải leo thêm một nghìn thước nữa,” tôi nói. “Tại sao anh lại hứng thú với loài cây đó như thế?” Tôi xoay người lại để ngước nhìn anh. Ánh đèn phòng khách viền quanh đầu anh một vành mỏng màu vàng kim, khiến anh trông giống như một vị thánh trong một bản in khắc thời Trung cổ.
“Thứ anh quan tâm không phải là loài cây đó. Nếu em định quay lại nơi ấy, anh muốn em xem qua một lượt bên ngoài vòng tròn đá luôn.”
“Được thôi,” tôi đồng ý. “Để tìm cái gì vậy?”
“Dấu vết của lửa,” anh nói. “Tất cả các tài liệu anh đã đọc về lễ Beltane đều nhắc đến lửa trong các nghi lễ, nhưng những người phụ nữ chúng ta nhìn thấy sáng nay không hề dùng đến nó. Phải chăng họ đã đốt lửa vào đêm hôm trước, rồi sáng hôm sau mới quay lại để nhảy múa? Mặc dù theo lịch sử thì những người chăn bò mới có nhiệm vụ nhóm lửa. Chẳng hề có dấu vết của lửa bên trong vòng tròn đá.” Anh nói thêm. “Nhưng anh chưa kịp kiểm tra ở bên ngoài.”
“Được thôi,” tôi lặp lại và ngáp. Đây chính là tác hại của việc dậy sớm hai hôm liên tiếp. Tôi gấp sách lại và đứng dậy. “Miễn là em không phải dậy trước chín giờ.”
Thực tế thì gần mười một giờ tôi mới tới vòng tròn đá. Trời mưa lún phún khiến tôi ướt hết cả người vì không nghĩ tới chuyện mang theo áo mưa. Tôi kiểm tra nhanh bên ngoài vòng tròn, nhưng nếu ở đó từng có một ngọn lửa, hẳn là đã có người bỏ công bỏ sức xóa sạch mọi dấu vết rồi.
Loài cây tôi quan tâm thì dễ tìm hơn. Nó vẫn ở đúng chỗ tôi nhớ, gần chân cột đá cao nhất. Tôi cắt lấy vài cây và gói tạm vào chiếc khăn tay, định bụng sẽ cất nó cẩn thận hơn khi nào tôi về chỗ chiếc xe nhỏ xíu của bà Baird, vì tôi đã để lại những cái khuôn ép hoa cỏ nặng nề ở đó.
Cột đá cao nhất của vòng tròn bị nứt một đường thẳng đứng, chia cột đá thành hai nửa đồ sộ. Lạ một điều là hai nửa khối đá như bị kéo doãng ra. Mặc dù bề mặt của chúng khớp với nhau, nhưng chúng cách nhau một khoảng chừng hơn nửa mét.
Quanh quẩn đâu đây có tiếng vo vo trầm thấp. Tôi đoán trong khe nứt có thể có một tổ ong, nên chống tay lên cột đá để ngó vào.
Cột đá rít lên.
Tôi lùi phắt lại, nhanh đến nỗi vấp phải một búi cỏ và ngã phịch xuống. Tôi nhìn chằm chằm vào cột đá, toát mồ hôi hột.
Tôi chưa bao giờ nghe thấy âm thanh nào như thế từ bất kỳ sinh vật sống nào. Chẳng có cách nào để miêu tả nó, chỉ biết nói rằng đó là tiếng rít có thể phát ra từ một tảng đá. Nó thật khủng khiếp.
Những cột đá khác bắt đầu rít lên. Có tiếng chiến trận cùng tiếng kêu rên của những người đàn ông đang hấp hối và những con ngựa bị kiệt sức.
Tôi lắc đầu thật mạnh để xua tan âm thanh ấy, nhưng nó vẫn vang vọng. Tôi lảo đảo đứng dậy và loạng choạng đi về phía mép của vòng tròn. Những tiếng động vang lên khắp nơi, khiến răng tôi đau buốt và đầu tôi quay cuồng. Mắt tôi bắt đầu nhòa đi.
Tôi không biết liệu tôi chủ đích đi về phía khe nứt của cột đá chính hay màn âm thanh hỗn loạn đã đẩy tôi về phía đó.
Một lần, khi đang đi xe vào ban đêm, tôi đã ngủ thiếp đi vì bị tiếng động cơ rù rì và sự chuyển động êm ái ru vào một ảo giác lâng lâng đầy yên bình. Thế rồi người tài xế phóng xe lên một cây cầu quá nhanh nên bị mất lái, khiến tôi giật mình tỉnh dậy từ giấc mơ bồng bềnh, đối mặt với ánh đèn pha sáng lóa và cảm giác nôn nao kinh hoàng khi bị rơi xuống với tốc độ cao. Sự chuyển biến đột ngột đó gần giống như cảm giác mà tôi đang trải qua lúc này, dù vẫn chưa thể mô tả trọn vẹn được.
Có thể nói tầm nhìn của tôi co cụm lại thành một chấm đen duy nhất rồi biến mất, để lại một khoảng trống chói lòa. Có thể nói tôi cảm thấy mình như đang xoay tròn, hoặc bị lộn từ trong ra ngoài. Nhưng như thế vẫn chưa lột tả được hết cảm giác của tôi về sự vỡ vụn hoàn toàn, về việc bị ném rất mạnh vào một thứ gì đấy vô hình.
Thật ra thì chẳng có gì chuyển động, chẳng có gì thay đổi, chẳng có gì xảy ra, nhưng cảm giác sợ hãi quá mãnh liệt đến nỗi tôi chẳng còn biết mình là ai, là cái gì, hay đang ở đâu. Tôi đang ở trong tâm của sự hỗn loạn, cả sức mạnh trí óc lẫn sức mạnh cơ thể đều trở nên vô tác dụng.
Không phải là tôi bị mất ý thức, nhưng chắc chắn là tôi không nhận thức được về bản thân mình suốt một lúc lâu. Tôi “tỉnh lại” - nếu nói một cách chính xác - khi vấp phải một hòn đá gần chân đồi, rồi gần như trượt xuống cả mét dốc còn lại và ngã vào một búi cỏ dày.
Buồn nôn và chóng mặt, tôi bò tới một rặng sồi non và tựa vào một thân cây. Có tiếng la hét văng vẳng đâu đây, nhắc tôi nhớ đến những tiếng rít mà tôi đã nghe thấy và cảm thấy trong vòng tròn đá. Nhưng đây chỉ là âm thanh bình thường của một cuộc xung đột giữa người với người, và tôi quay về phía đó.
[1] Địa danh ở Salisbury, miền Nam nước Anh, bao gồm hai vòng tròn đồng tâm được tạo nên từ những cột đá, được dựng lên khoảng năm 2800 - 1500 trước Công nguyên, được coi là trung tâm tôn giáo và dùng làm đài quan trắc thiên văn.
[2] Người ở khu Đông London.
[3] Thuật ngữ trong kiến trúc chỉ rầm đỡ của cửa sổ hay cửa ra vào.
[4] Tức eo biển Manche, nằm giữa miền Tây nước Pháp và miền Nam nước Anh, nối Bắc Hải với Đại Tây Dương.
[5] Cửa có thể mở ra từ cả hai phía và tự động đóng lại khi buông ra.
[6] Theo truyền thuyết, khi phát hiện ra Donald Donn ăn trộm gia súc của mình, Lãnh chúa Grant đã thề rằng: “Nếu Donald Donn không bị treo cổ thì quỷ sứ sẽ đến bắt ta đi.”