Hai ngày sau, chúng tôi cưỡi ngựa ra khỏi lâu đài Leoch ngay trước lúc bình minh ló dạng. Lũ ngựa đi thành hàng hai, hàng ba và hàng bốn, thận trọng đi qua cây cầu đá trong những tiếng hét chào tạm biệt và tiếng kêu của những con ngỗng trời đang bơi trên hổ. Chốc chốc tôi lại liếc nhìn ra sau, cho đến khi hình khối đồ sộ của tòa lâu đài biến mất đằng sau một màn sương mù mờ. Ý nghĩ sẽ không bao giờ còn nhìn thấy khối đá sừng sững ấy hay những cư dân trong đó khiến tôi có cảm giác tiếc nuối kỳ quặc.
Tiếng móng ngựa nghe có vẻ mơ hồ trong màn sương mù. Những giọng nói được truyền đi một cách kỳ lạ qua không khí ẩm thấp, do đó những tiếng gọi từ đầu này của đoàn người dài thi thoảng lại được nghe thấy dễ dàng ở đầu kia, trong khi tiếng trò chuyện ở gần bên lại trở thành những tiếng lầm rầm đứt quãng. Cứ như thể chúng tôi đang cưỡi ngựa xuyên qua một màn hơi nước đầy những bóng ma vậy. Những giọng nói trôi nổi trong không khí, phảng phất phía xa xa rồi lại kề sát gần bên.
Tôi đi ở giữa đoàn người, một bên là một chiến binh tôi không biết tên còn bên kia là Ned Gowan, viên thư ký nhỏ thó mà tôi đã nhìn thấy trong phiên tòa ở đại sảnh của Colum. Sau một hồi trò chuyện, tôi phát hiện ông ta không chỉ là một thư ký.
Là một luật sư sinh trưởng và học hành ở Edinburgh, Ned Gowan mang dáng vẻ hoàn toàn phù hợp với nghề nghiệp và xuất thân của mình. Người đàn ông đứng tuổi nhỏ bé ấy có vẻ gọn gàng, kĩ tính. Ông mặc một cái áo khoác bằng vải pôpơlin xịn, bít tất bằng len xịn, áo sơ mi vải lanh có cổ cồn chỉ đính chút diềm đăng ten và quần làm từ một loại vải vừa thuận tiện để đi lại vừa xứng với thân phận của ông. Một cặp kính gọng vàng nhỏ, một sợi ruy băng buộc tóc tinh xảo và một chiếc mũ nhọn hai đầu bằng nỉ màu xanh dương hoàn thiện cho bộ y phục. Ông là một luật sư điển hình hoàn hảo đến nỗi tôi không thể không mỉm cười khi nhìn ông.
Trên yên con ngựa trầm lặng của ông đeo hai cái túi da khổng lồ đã sờn. Ông giải thích rằng một túi đựng đồ nghề của mình: bao gồm bình mực, bút lông và giấy.
“Túi còn lại thì sao?” Tôi hỏi, nhìn vào nó. Trong khi cái túi thứ nhất căng phồng thì cái túi thứ hai lại xẹp lép.
“Ồ, nó được dành để đựng tiền tô của lãnh chúa,” ông luật sư đáp, vỗ vỗ vào cái túi mềm rũ.
“Hẳn là ngài ấy đang mong thu được nhiều tiền,” tôi đoán. Ông Gowan nhún vai vẻ hiền hậu.
“Không nhiều như cô nghĩ đâu, cưng ạ. vấn đề là phần lớn số tiền chúng tôi nhận được đều là những đồng xu, đồng trinh và những đồng tiền nhỏ khác. Và chúng, rủi thay, chiếm nhiều diện tích hơn những đồng tiền có mệnh giá lớn.” Ông mỉm cười, cặp môi mỏng và khô thoáng nhích lên. “Nhưng một khối lượng lớn tiền đồng và bạc nặng trình trịch vẫn còn dễ vận chuyển hơn là số lợi tức bằng hiện vật của lãnh chúa.”
Ông quay đầu lại, hướng ánh mắt sắc sảo vào hai cỗ xe lớn do la kéo đi kèm với đoàn người.
“Những túi ngũ cốc và những bó củ cải ít nhất cũng có ưu điểm là nằm im bất động. Gia cầm, nếu được trói và nhốt vào lồng đúng cách, cũng chẳng có gì phải bàn cãi. Lũ dê cũng vậy, dù thói quen ăn tạp của chúng cũng gây ra chút bất tiện; năm ngoái, có một con đã ăn mất cái khăn tay của tôi, dù tôi thừa nhận là mình có lỗi khi sơ suất để cho mảnh vải đó thòi ra khỏi túi áo khoác.” Đôi môi mỏng mím lại vẻ kiên quyết. “Nhưng năm nay tôi đã ra chỉ thị rất rõ ràng. Chúng tôi sẽ không chấp nhận lợn sống.”
Vì để bảo vệ những cái túi đeo trên yên ngựa của ông Gowan và hai cỗ xe la kéo nên đoàn người đi thu tô có khoảng hai mươi kỵ binh được trang bị vũ khí, ngoài ra còn có một số lượng lớn súc vật thồ chắc là chở lương thực của cả đoàn. Trong lúc tạm biệt và hô hào cổ vũ, bà Fitz đã nói với tôi rằng chỗ ngủ nghỉ sẽ hết sức thô sơ hoặc nhiều đêm còn phải dựng trại ở ven đường.
Tôi khá tò mò muốn biết điều gì đã khiến một người đàn ông có trình độ như ông Gowan lựa chọn cuộc sống ở vùng cao nguyên Scotland xa xôi hẻo lánh, cách xa những tiện nghi của cuộc sống văn minh mà ông hẳn đã quen thuộc.
“Chà, về chuyện đó,” ông trả lời câu hỏi của tôi, “hồi còn trẻ, tôi có một văn phòng nhỏ ở Edinburgh, với những ô cửa sổ treo rèm đáng ten và một tâm biến bằng đồng sáng bóng khắc tên tôi treo trên cửa ra vào. Nhưng rồi tôi bắt đầu chán ngấy với việc lập các di chúc, thảo các chứng thư chuyển nhượng và nhìn thấy những khuôn mặt quen thuộc trên phố hết ngày này qua ngày khác. Vì vậy, tôi đã ra đi,” ông đơn giản nói.
Ông đã mua một con ngựa và ít lương thực rồi lên đường khi trong đầu chẳng có chút ý niệm gì về nơi mình sẽ đến hoặc mình sẽ làm gì khi đến đó.
“Cô thấy đấy, tôi phải thú nhận,” ông nói, châm châm mũi bằng một cái khăn tay có thêu chữ viết lồng nhau, “là mình có chút máu… phiêu lưu. Tuy nhiên, cả vóc dáng lẫn hoàn cảnh gia đình của tôi đều không thích hợp để tôi có được cuộc sống của một tên cướp đường hay một chàng thủy thủ, những nghề phiêu lưu nhất mà tôi có thể mường tượng vào lúc đó. Để thay thế, tôi quyết định con đường đi tốt nhất của mình là hướng lên vùng cao nguyên. Tôi nghĩ rằng theo thời gian, tôi có thể thuyết phục một vị thủ lĩnh thị tộc nào đó, ờ, cho phép tôi phục vụ ông ấy theo một cách nào đó.”
Và trong chuyến đi của mình, ông đã gặp được một vị thủ lĩnh như thế.
“Đó chính là Jacob MacKenzie,” ông nói, mỉm cười trìu mến khi hồi tưởng lại. “Một lão côn đổ tóc đỏ tinh quái.” Ông hất đầu về phía trước hàng người, nơi mái tóc đỏ rực của Jamie MacTavish nổi bật hẳn lên trong màn sương mù. “Cháu trai của ông ấy rất giống ông ấy. Chúng tôi, tức Jacob và tôi, gặp nhau lần đầu tiên khi ông ấy chĩa súng vào tôi để cướp tài sản. Tôi ngoan ngoãn giao nộp con ngựa và những cái túi vì chẳng có nhiều lựa chọn. Nhưng tôi tin là ông ấy hơi ngạc nhiên khi tôi kiên trì đi theo ông ấy, thậm chí cả đi bộ nếu cần.”
“Jacob MacKenzie. Đó hẳn là cha của Colum và Dougal?” Tôi hỏi.
Vị luật sư lớn tuổi gật đầu. “Đúng vậy. Đương nhiên, lúc đó ông ấy chưa phải là lãnh chúa. Chuyện đó xảy ra một vài năm sau… với một chút trợ giúp từ tôi ông khiêm tốn nói thêm. “Hồi đó ít… văn minh hơn bây giờ,” ông hồi tưởng.
“Ồ, thế à?” Tôi lịch sự nói. “Và Colum, ờ, có thể nói là được “thừa kế” ông từ cha mình?”
“Đại loại thế,” ông Gowan nói. “Có một chút rối loạn khi Jacob qua đời. Colum là người thừa kế Leoch, chắc chắn rồi, nhưng ông ấy…” Viên luật sư ngừng lời, nhìn trước ngó sau để chắc chắn rằng không có ai ở gần đến mức có thể nghe thấy. Nhưng gã chiến binh đi bên cạnh tôi đã thúc ngựa lên phía trước để bắt kịp đồng bạn của mình, còn người điều khiển cỗ xe la kéo đằng sau thì ở cách chúng tôi một đoạn đúng bằng bốn lần chiều dài của thân xe.
“Colum là một người lành lặn cho đến năm mười tám tuổi,” ông tiếp tục câu chuyện, “và hứa hẹn sẽ là một vị thủ lĩnh tốt. Ông ấy lấy Letitia làm vợ để liên minh với thị tộc Cameron - chính tôi đã thảo ra hôn khế giữa họ,” ông nói thêm, như một lời chú thích, “nhưng ngay sau khi cưới vợ, ông ấy đã bị ngã một cú rất nặng trong một cuộc chiến, khiến xương ống ở đùi bị gãy và nó hồi phục rất chậm.”
Tôi gật đầu. Đương nhiên là vậy rồi.
“Sau đó,” ông Gowan thở dài, tiếp tục kể. “Ông ấy rời khỏi giường quá sớm và bị ngã cầu thang, làm gãy nốt cái chân còn lại. Ông ấy nằm liệt giường gần một năm, nhưng việc ông ấy trở thành một kẻ tàn tật vĩnh viễn đã sớm trở nên rõ ràng. Và rủi thay, Jacob mất đúng vào thời điểm đó.”
Người đàn ông nhỏ bé ngừng lại để sắp xếp những ý nghĩ trong đầu. Ông lại liếc về đằng trước, như thể đang tìm kiếm ai đó. Không tìm thấy, ông lại ngả người ra sau.
“Đó cũng là lúc xảy ra vụ lùm xùm về cuộc hôn nhân của chị gái ông ấy,” ông nói. “Và Dougal… Chà, tôi e là Dougal đã hành xử không tốt lắm trong vụ việc đó. Cô biết không, đáng lẽ bấy giờ Dougal có thể được chọn làm thủ lĩnh, nhưng mọi người cảm thấy ông ấy chưa đủ chín chắn để đảm nhiệm vị trí người đứng đầu thị tộc.” Ông lắc đầu. “Ôi, đã có một vụ tranh cãi ổn ào xoay quanh vấn đề này giữa những người chú bác, anh em họ và những người trương đất, vì thế họ đã phải tổ chức một buổi họp lớn để đưa ra quyết định.”
“Nhưng rốt cuộc họ đã chọn Colum?” Tôi nói. Một lần nữa, tôi lại lấy làm kinh ngạc vì uy tín của Colum MacKenzie. Liếc sang người đàn ông nhỏ bé quắt queo đang cưỡi ngựa bên cạnh, tôi nghĩ Colum cũng có chút may mắn trong việc lựa chọn các trợ thủ đắc lực.
“Đúng vậy, nhưng chỉ vì hai anh em họ đã sát cánh bên nhau. Lòng can đảm hoặc trí tuệ của Colum thì không còn gì để nghi ngờ, nhưng cơ thể ông ấy lại khiếm khuyết. Rõ ràng ông ấy sẽ không thể dẫn dắt người của mình đi đánh trận. Nhưng đã có Dougal, tráng kiện và lành lặn, dẫu có hơi hấp tấp và nóng nảy. Dougal đã đứng đằng sau ghế của anh trai mình, thề sẽ tuân theo lời của Colum và là đôi chân cũng như cánh tay phải của Colum trên chiến trường. Vì vậy, có ý kiến cho rằng Colum sẽ trở thành lãnh chúa, như lẽ thường, và Dougal sẽ là thủ lĩnh quân sự, dẫn dắt thị tộc trong thời chiến. Tình huống ấy không phải là chưa có tiền lệ,” ông ta nghiêm nghị nói thêm.
Sự khiêm tốn khi ông nói câu: “Có ý kiến cho rằng…” đã nói lên rõ ràng ai là chủ nhân của lời gợi ý đó.
“Và ông là người của ai?” Tôi hỏi. “Colum hay Dougal?”
“Lợi ích của tôi phải gắn liền với cả thị tộc MacKenzie,” ông Gowan thận trọng nói. “Nhưng về mặt hình thức, tôi đã làm lễ tuyên thệ với Colum.”
Hình thức cái khỉ gì chứ, tôi nghĩ. Tôi đã chứng kiến lễ tuyên thệ đó, dù không nhớ rõ hình dáng nhỏ thó của viên luật sư trong số biết bao người. Không ai có mặt ở nghi lễ đó mà không xúc động, kể cả là một luật sư bẩm sinh. Mà người đàn ông tháp bé cưỡi trên lưng con ngựa cái có bộ lông màu nâu đỏ này, theo lời thú nhận của chính ông, vẫn có một tâm hồn lãng mạn dù xương cốt ông có thể đã khô và tâm trí ông luôn đắm chìm trong luật pháp.
“Hẳn là ông ấy đã được ông trợ giúp rất nhiều,” tôi khéo léo nói.
“Ồ, thi thoảng tôi cũng giúp ông ấy một chút,” ông nói, “những việc nhỏ nhoi. Như đối với những người khác. Nếu cô cảm thấy cần lời khuyên, cưng à,” ông nói, cười rạng rõ, vẻ thân mật, “cứ thoải mái hỏi tôi. Tôi cam đoan với cô là sự sáng suốt của tôi rất đáng tin cậy.” Ông cúi đầu duyên dáng từ trên yên ngựa.
“Giống như lòng trung thành của ông với Colum MacKenzie?” Tôi nhướng mày, nói. Đôi mắt nhỏ màu nâu nhìn thẳng vào mắt tôi, và tôi nhìn thấy sự thông minh, hài hước lẩn khuất trong đáy mắt ông.
“À, chà,” ông nói mà không biện hộ gì. “Cũng đáng để thử mà.”
“Tôi cho là vậy,” tôi nói, buồn cười hơn là tức giận. “Nhưng tôi cam đoan với ông, ông Gowan, tôi không cần đến sự sáng suốt của ông, ít nhất là vào thời điểm này.” Thật dễ ảnh hưởng đến người khác, tôi nghĩ khi nghe thấy lời mình nói. Giọng điệu của tôi nghe hệt như giọng điệu của ông ta vậy.
“Tôi là một phụ nữ Anh,” tôi cứng rắn nói thêm, “chỉ thế thôi. Colum đang lãng phí thời gian của ông ấy - và của ông nữa - khi cố gắng moi ra những bí mật từ tôi trong khi chúng không hề tồn tại.” Đúng ra là chúng có tồn tại, nhưng không thể tiết lộ được, tôi nghĩ. Ông Gowan có thể vô cùng sáng suốt, nhưng chưa chắc đáng tin cậy.
“Không phải là ông ấy phái ông đi theo chỉ để dụ tôi nói ra những điều gây bất lợi cho tôi đây chứ?” Tôi hỏi, đột nhiên nảy ra ý nghĩ đó.
“Ồ, không.” Ông Gowan bật ra một tiếng cười ngắn trước câu hỏi đó. “Không phải thế đâu. Tôi có một nhiệm vụ quan trọng là quản lý việc ghi chép và lập giấy biên nhận cho Dougal, và thực hiện các thủ tục luật pháp nho nhỏ mà các tộc viên ở những vùng xa xôi có thể yêu cầu. Và tôi e là ngay cả khi đã ở độ tuổi này, tôi vẫn chưa hoàn toàn từ bỏ được ham muốn tìm kiếm một cuộc phiêu lưu. Hiện giờ cuộc sống đã bình yên hơn nhiều so với trước đây” - ông thở dài vẻ tiếc nuôi - “nhưng luôn có khả năng bị cướp dọc đường, hoặc bị tấn công gần biên giới.”
Ông vỗ vỗ vào cái túi thứ hai trên yên ngựa. “Cái túi này không hoàn toàn rỗng.” Ông mở nắp túi để cho tôi thấy những cái báng sáng bóng của một cặp súng lục được nhét khéo léo trong hai cái móc, có thể dễ dàng rút ra khi cần.
Ông nhìn tôi với ánh mắt soi xét, thu hết mọi chi tiết trên trang phục và diện mạo của tôi.
“Cô cũng cần được trang bị vũ khí, cưng à,” ông nói với giọng khiển trách nhẹ nhàng. “Dù tôi cho rằng Dougal nghĩ như thế là không phù hợp. Tôi sẽ nói chuyện với ông ấy về vấn đề này,” ông hứa hẹn.
Chúng tôi dành khoảng thời gian còn lại trong ngày để trò chuyện vui vẻ, lang thang giữa dòng hồi ức của ông về những ngày xưa yêu dấu, khi đàn ông đúng chất đàn ông và thứ cỏ dại độc hại mang tên là nền văn minh còn chưa lan tràn trên khuôn mặt hoang dã xinh đẹp của vùng cao nguyên.
Tối đến, chúng tôi dựng trại ở một khoảnh đất trống ven đường. Tôi có một cái chăn được cuộn tròn và cột đằng sau yên ngựa, và chuẩn bị dùng nó để trải qua đêm tự do đầu tiên ở bên ngoài lâu đài. Nhưng khi tôi rời khỏi chỗ đống lửa và đi ra đằng sau rặng cây, tôi nhận thấy có những ánh mắt đang dõi theo mình. Có vẻ như ngay cả ở không gian rộng mở này, sự tự do cũng có giới hạn nhất định.
•••
Chúng tôi tới điểm dừng chân đầu tiên vào gần trưa ngày thứ hai. Đó chỉ là một khóm ba, bốn nóc nhà tranh nằm nép mình bên vệ đường ở chân một thung lũng hẹp. Người trong nhà mang một cái ghế đẩu ra cho Dougal ngồi và hai cái ghế khác dùng để kê tấm ván mà đoàn chúng tôi chở theo trên cỗ xe la kéo nhằm làm bàn viết cho ông Gowan.
Ông rút từ trong cái túi ở đuôi áo khoác ra một vuông vải lanh lớn hồ cứng và gọn gàng trải nó lên một gốc cây vốn được dùng làm cái thớt nhưng giờ đã bị tạm thời hủy bỏ chức năng ấy. Ông ngồi xuống đó và bắt đầu bày ra nào bình mực, sổ cái và quyến biên lai, với dáng vẻ điềm tĩnh như thể mình vẫn đang ngồi đằng sau những bức rèm đăng ten ở Edinburgh.
Những người đàn ông từ các trại nhỏ kề bên lần lượt tới để thực hiện nghĩa vụ thường niên với người đại diện của lãnh chúa. Đây là một việc nhàn nhã và ít tính hình thức hơn nhiều so với trong đại sảnh ở lâu đài Leoch. Hầu hết bọn họ đều vừa rời khỏi các cánh đồng hoặc chuồng gia súc, người nào người nấy kéo một cái ghế trống và ngồi bên cạnh Dougal với vẻ bình đẳng rõ rệt, giải thích, phàn nàn hoặc chỉ đơn giản là tán gẫu.
Vài người đi cùng một, hai cậu con trai cường tráng, mang theo những bao ngũ cốc hoặc len. Vào cuối mỗi cuộc trò chuyện, Ned Gowan - con người không biết mệt mỏi ấy - lại viết một biên lai chứng nhận cho việc họ đã nộp địa tô của năm nay, rồi nắn nót ghi lại vào sổ cái và búng ngón tay ra hiệu cho một người lùa gia súc chất những gì thu được lên xe. Thi thoảng lại có một đống tiền nhỏ được ném vào trong cái túi da, phát ra tiếng kêu loảng xoảng. Trong khi đó, các chiến binh nằm ườn bên dưới những tán cây hoặc đi vào bìa rừng - chắc là để đi săn.
Cảnh tượng này được lặp đi lặp lại suốt mấy ngày sau. Có lúc tôi được mời vào một túp nhà tranh để uống rượu táo hoặc sữa, và toàn bộ phụ nữ sẽ tụ tập trong căn phòng đơn nhỏ bé để trò chuyện với tôi. Đôi khi chỗ chúng tôi đến có một quán rượu hay thậm chí là một quán trọ, và nó trở thành tổng hành dinh của Dougal trong ngày hôm đó.
Thi thoảng, đoàn chúng tôi còn thu được một con ngựa, một con cừu, hoặc một con gia súc sống nào đó. Chúng tôi thường đem đổi chúng cho người dân trong vùng để lấy thứ gì dễ vận chuyển hơn, hoặc nếu có con ngựa nào được Jamie chứng nhận là phù hợp để bổ sung vào chuồng ngựa của lâu đài, nó sẽ được gia nhập vào đoàn chúng tôi.
Tôi lấy làm thắc mắc về vai trò của Jamie trong đoàn. Mặc dù chàng trai trẻ rất am hiểu về ngựa, nhưng hầu hết đàn ông trong đoàn đều như vậy, kể cả Dougal. Vả lại, hiếm hoi lắm mới có người nộp ngựa, mà thường thì những con ngựa đó cũng chẳng thuộc giống gì đặc biệt, vậy nên tôi tự hỏi tại sao họ lại cần mang theo một chuyên gia? Phải đến sau khi khởi hành được một tuần, trong một ngôi làng có cái tên không thể phát âm nổi, tôi mới phát hiện ra lý do thực sự.
Ngôi làng dâu nhỏ nhưng vẫn có một quán rượu kê được hai, ba cái bàn và vài cái ghế đẩu ọp ẹp. Dougal trò chuyện với mọi người và thu tô ở đây. Sau một bữa trưa khá khó tiêu với thịt bò muôi và củ cải, ông ta bắt đầu công việc, rồi mua bia mời những tá điền và nông dân còn nán lại sau khi đã nộp tô xong, cùng với một vài dân làng ghé vào khi công việc thường nhật đã hoàn thành, trố mắt nhìn những người lạ và nghe những tin tức chúng tôi mang theo.
Tôi ngồi lặng lẽ trên một cái ghế tủ[1] ở trong góc, nhâm nháp bia chua và tận hưởng khoảng thời gian tạm thoát khỏi lưng ngựa. Tôi chẳng mấy chú ý đến những cuộc nói chuyện thay đi đổi lại giữa tiếng Gaelic và tiếng Anh của Dougal, từ những câu chuyện phiếm và chuyện nhà nông đến những câu chuyện cười thô tục, tầm phào.
Tôi đang vẩn vơ tự hỏi, với tốc độ này phải bao lâu nữa mới tới được pháo đài William? Và khi đã đến đó, làm thế nào để tôi có thể tách khỏi những người Scot ở lâu đài Leoch mà không dính vào đám quân đồn trú của Anh? Mải chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình, tôi không nhận ra rằng Dougal đã nói một mình được một lúc rồi, như thể đang diễn thuyết gì đó. Các khán giả của ông ta đang chăm chú dõi theo, thi thoảng lại xen vào một đôi câu và thốt lên những lời cảm thán. Dần dần để ý đến khung cảnh xung quanh, tôi nhận ra ông ta đang khéo léo khuấy động đám khán giả phân khích về một điều gì đó.
Tôi liếc nhìn quanh. Rupert mập và người luật sư bé nhỏ, Ned Gowan, đang ngồi tựa vào tường đằng sau Dougal, lắng nghe chăm chú đến nỗi bỏ quên cả những vại bia đặt bên cạnh họ trên băng ghế. Còn Jamie thì đang cau mày nhìn vại bia của mình, hai khuỷu tay chống trên bàn, người chúi về phía trước. Có vẻ như anh ta chẳng quan tâm Dougal đang nói gì.
Đột nhiên, không nói một lời, Dougal đứng lên, nắm lấy cổ áo Jamie và kéo soạt một cái. Chiếc áo vôn cũ kĩ và sờn mòn nên dễ dàng rách toạc theo những đường may. Jamie chết sững vì bất ngờ. Đôi mắt anh ta nhíu lại, quai hàm nghiến chặt, nhưng anh ta không hề cử động khi Dougal gạt những mảnh vải rách sang một bên để phô bày tấm lưng của anh ta trước mắt các khán giả.
Những tiếng xuýt xoa kinh ngạc đồng loạt cất lên trước tấm lưng chằng chịt vết sẹo rồi nhanh chóng biến thành tiếng xôn xao phân nộ. Tôi mở miệng định nói, nhưng khi nghe thấy từ “Sassenach” được thốt ra với ngữ điệu không hề thân thiện thì đành khép miệng lại.
Với khuôn mặt lạnh lùng và nặng nề như đá tảng, Jamie đứng lên và lùi lại khỏi đám đông đang tụ tập quanh mình. Anh ta cẩn thận cởi nốt chiếc áo, vo tròn lại. Một người phụ nữ đứng tuổi chỉ cao đến khuỷu tay anh ta lắc đầu và rón rén vỗ vỗ lưng anh ta, thốt ra những lời an ủi bằng tiếng Gaelic. Nhưng rõ ràng sự an ủi ấy không đạt được hiệu quả như họ mong muốn.
Anh ta cộc lốc đáp lại một vài câu hỏi từ những người đàn ông có mặt. Hai, ba cô gái trẻ vào quán để mua bia về cho bữa tối của gia đình đang túm tụm lại sát bức tường phía đôí diện, mê mải thì thầm với nhau, chốc chốc lại liếc sang bên kia căn phòng với cặp mắt mở to.
Ném cho Dougal ánh mắt có thể biến ông ta thành đá, Jamie vứt cái áo sơ mi vào một góc lò sưởi và rời khỏi căn phòng trong ba bước dài, bỏ lại sau lưng những lời lẩm bẩm thương cảm của đám đông.
Mất đi tâm điểm của sự chú ý, mọi người lại quay sang Dougal. Tôi không hiểu phần lớn những lời bình luận, nhưng qua những gì lõm bõm nghe được, tôi thấy họ phản đối người Anh rất dữ dội. Tôi phân vân không biết nên đi theo Jamie ra ngoài hay cứ lặng lẽ ngồi ở đây. Chắc anh ta cũng chẳng muốn bầu bạn với ai vào lúc này, vì vậy tôi co người lại trong góc của mình, giữ nguyên tư thế cúi đầu, ngắm nhìn cái bóng phản chiếu nhòe mờ của mình trong vại bia.
Tiếng kim loại loảng xoảng vang lên làm tôi ngẩng đầu nhìn. Một chủ trại nhỏ mặc quần da bó trông có vẻ lực lưỡng đã ném vài đồng tiền lên cái bàn trước mặt Dougal và có vẻ đang hô hào gì đó. Anh ta đứng lùi lại, hai ngón cái móc vào thắt lưng, như thể đang khiêu khích những người còn lại. Sau một thoáng do dự, một, hai người táo bạo làm theo, và rồi thêm một vài người nữa móc từ trong ví và túi da ra những đồng xu và đồng trinh bằng đồng. Dougal vui vẻ cảm ơn họ, vẫy tay ra hiệu cho chủ quán mang lại một chầu bia nữa. Nhìn thấy luật sư Ned Gowan nhét gọn những đồng tiền quyên góp này vào một cái túi riêng, tôi bỗng hiểu ra mục đích “cuộc trình diễn” của Dougal là gì.
Những cuộc nổi loạn, giống như hầu hết các công việc kinh doanh, đòi hỏi phải có tiền vốn. Việc gây dựng và nuôi dưỡng một đội quân cũng như cưu mang các lãnh đạo của nó thực sự tốn rất nhiều vàng. Từ những gì ít ỏi tôi còn nhớ được về Hoàng tử Charlie Xinh đẹp, Kẻ Đòi vị Trẻ tuổi, ông ta đã được Pháp ủng hộ phần nào, nhưng một phần nguồn tài chính cho cuộc nổi dậy thất bại của ông ta lại được góp nhặt từ những túi tiền nông choẹt, mòn xơ cả chỉ của những người mà ông ta định thông trị. Vì vậy, Colum, Dougal hoặc cả hai người họ chính là Jacobite, những người ủng hộ Kẻ Đòi vị Trẻ tuổi chống lại người sở hữu hợp pháp ngai vàng của nước Anh, Vua George II.
Cuối cùng, khi người sau rốt trong nhóm tá điền và nông dân đã về nhà ăn tối, Dougal đứng dậy, vươn vai thỏa mãn, giống như một con mèo đã được ăn kem hoặc chí ít là uống sữa. Ông ta ước lượng cái túi nhỏ rồi ném trở lại cho Ned Gowan cất giữ.
“Chà, thế là tốt rồi,” ông ta nhận xét. “Không thể mong đợi nhiều hơn từ một nơi chốn nhỏ bé như thế này. Tích tiểu rồi cũng thành đại, chỉ cần mỗi nơi thu được chừng này thôi, chúng ta sẽ có được một khoản đáng ngưỡng mộ đây.”
“Nếu là tôi thì tôi sẽ không dùng từ “đáng ngưỡng mộ” đâu,” tôi nói, đứng phắt dậy từ chỗ ẩn náu của mình.
Dougal quay lại, như thể bây giờ mới để ý đến tôi.
“Không ư?” Ông ta nói, miệng nhếch lên thích thú. “Tại sao lại không? Cô phản đối việc các thần dân trung thành đóng góp chút sức mọn đế ủng hộ quôc chủ của họ à?”
“Không,” tôi nói, nhìn thẳng vào mắt ông ta. “Chẳng cần biết quốc chủ đó là ai. Tôi không tán thành cái cách thức quyên tiền của ông.”
Dougal nhìn tôi chăm chú, như thể những đường nét trên mặt tôi có khả năng tiết lộ cho ông ta biết điều gì đó. “Chẳng cần biết quốc chủ đó là ai?” Ông ta khẽ lặp lại. “Tôi tưởng cô không biết tiếng Gaelic.”
“Tôi đâu có biết,” tôi nói cộc lốc. “Nhưng tôi có khả năng phán đoán bẩm sinh và đôi tai thính nhạy. Chẳng rõ từ “sức khỏe của Vua George” được nói thế nào trong tiếng Gaelic, nhưng chắc là nó không giống với từ Bragh Stuart[2] đâu nhỉ?”
Ông ta ngửa đẩu ra sau và cười. “Đúng vậy,” ông ta đồng ý. “Ta sẽ nói cho cô biết vị quân vương của cô được gọi thế nào trong tiếng Gaelic, nhưng đó không phải là từ thích hợp với đôi môi của một quý cô, dù có là Sassenach chăng nữa.”
Ông ta cúi xuống nhặt cái áo sơ mi bị vo tròn ở chỗ đống tro trong lò sưởi và giũ muội than bám trên nó.
“Cô không ưa cách thức quyên tiền của ta, vậy có lẽ cô muốn khâu lại cái áo này hơn,” ông ta nói, ấn cái áo rách vào tay tôi. “Mượn kim của bà chủ quán và khâu nó lại đi.”
“Ông đi mà khâu!” Tôi dúi trả nó vào tay ông ta và quay người rời đi.
“Tùy cô thôi,” Dougal vui vẻ nói với theo sau tôi. “Nếu cô không sẵn lòng giúp, cứ để Jamie tự khâu áo cho mình.”
Tôi dừng bước, rồi miễn cưỡng quay lại, chìa tay ra.
“Được rồi,” tôi mở miệng nói, nhưng một bàn tay to lớn đã trườn qua vai tôi và giật lấy cái áo từ tay Dougal. Nhìn cả hai chúng tôi với ánh mắt tăm tối, Jamie kẹp cái áo dưới cánh tay và lặng lẽ rời khỏi phòng như lúc anh ta bước vào.
•••
Chúng tôi tìm được chỗ ngủ qua đêm ở nhà của một chủ trại nhỏ. Thực ra chỉ mình tôi được ngủ trong đó, còn cánh đàn ông phải qua đêm ở bên ngoài, nằm la liệt trên các kiện cỏ khô, lòng xe la kéo và những trảng dương xỉ diều hâu. Không biết là nhờ vào giới tính hay vì thân phận “bán tù nhân” của mình, tôi được nằm trên một tấm phản kê gần lò sưởi.
Mặc dù tấm phản có vẻ thoải mái hơn nhiều so với cái giường đơn mà cả gia đình sáu người đang ngủ, tôi vẫn khá ghen tỵ với cánh đàn ông vì họ được ngủ ngoài trời. Ngọn lửa không bị dập tắt, chỉ bị rấm vào ban đêm, và không khí trong túp nhà tranh ngột ngạt vì hơi ấm, mùi mồ hôi, tiếng trở mình, xoay lật, rên rỉ, ngáy và xì hơi của những người khác.
Nằm được một lúc, tôi từ bỏ ý định ngủ trong bầu không khí ngột ngạt đó. Tôi nhổm dậy, len lén mang một cái chăn ra ngoài. Không khí ngoài trời thật tươi mát, trái ngược hẳn với sự bức bối bên trong, khiến tôi tựa người vào bức tường đá, hít đầy buồng phổi thứ không khí mát mẻ, trong lành.
Có một người làm nhiệm vụ canh gác ngồi lặng lẽ dưới gốc cây bên đường, nhưng anh ta chỉ liếc nhìn tôi một cái. Chắc là anh ta nghĩ tôi sẽ không đi đâu xa khi trên người chỉ mặc chiếc váy lót nên lại cúi xuống chuốt gọt một vật nhỏ bé trong tay. Vầng trăng sáng rực rỡ, và lưỡi con dao sgian dhu[3] nhỏ bé ánh lên trong bóng tối đậm đặc.
Tôi đi vòng ra đằng sau ngôi nhà rồi leo lên một ngọn đồi, cẩn thận tránh những thân hình đang nằm ngủ ngổn ngang trên cỏ. Tôi tìm thấy một địa điểm riêng tư giữa hai tảng đá lớn và tạo ra một cái ổ thoải mái cho mình. Nằm dài trên mặt đất, tôi ngắm nhìn vầng trăng tròn vành vạnh đang chậm chạp băng ngang qua bầu trời.
Nó giống hệt vầng trăng mà tôi đã từng ngắm qua cửa sổ của lâu đài Leoch vào cái đêm đầu tiên tôi trở thành vị khách bất đắc dĩ của Colum. Vậy là đã một tháng trôi qua kể từ khi tôi đi xuyên qua vòng tròn đá. Ít nhất thì giờ đây tôi đã biết tại sao những hòn đá lại được đặt ở đó.
Có thể chúng cũng chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt mà chỉ là vật đánh dấu. Giống như một tấm biển cảnh báo về đá lở dựng lên ở gần một vách đá, những cột đá ấy được dùng để đánh dấu một địa điểm nguy hiểm. Một địa điểm mà… phải nói thế nào nhỉ? Nơi lớp vỏ thời gian bị bào mỏng? Nơi một cánh cổng nào đó mở he hé? Thế nhưng điều đó không có nghĩa là những người tạo ra vòng tròn này biết họ đang đánh dấu cái gì. Với họ, địa điểm này là một bí ẩn khủng khiếp và có ma lực mạnh mẽ; là nơi người ta đột ngột biến mất. Hoặc bỗng dưng xuất hiện.
Đó là một giả thuyết. Tôi tự hỏi, chuyện gì sẽ xảy ra nếu ai đó có mặt trên ngọn đồi Craigh na Dun đúng vào lúc tôi thình lình xuất hiện? Chắc cũng còn tùy từng thời điểm. Ở đây, nếu một nông dân bắt gặp tôi trong hoàn cảnh như thế, tôi chắc chắn sẽ được coi là một phù thủy hoặc một nàng tiên. Với danh tiếng của ngọn đồi ấy thì khả năng tôi được coi là một nàng tiên sẽ nhiều hơn.
Có thể danh tiếng của nó cũng bắt nguồn từ đó. Nếu suốt bao nhiêu năm cứ có người đột nhiên biến mất hoặc xuất hiện ở một địa điểm cụ thể, nơi đó hoàn toàn xứng đáng được đặt tên theo sự thần bí ấy.
Tôi thò một chân ra khỏi tấm chăn và ngọ nguậy các ngón chân dài dưới ánh trăng. Chẳng giống một nàng tiên chút nào, tôi dè bỉu. Với chiều cao một mét sáu mươi tám, tôi khá cao so với những người phụ nữ trong thời kỳ này; thậm chí còn cao ngang với nhiều người đàn ông. Vì vậy, tôi khó có thể được coi là một nàng tiên vì những người thuộc tiên tộc vô cùng nhỏ bé, mà có khả năng bị coi là một phù thủy hay một linh hồn độc ác nào đó hơn. Từ những gì ít ỏi mà tôi biết được về cách xử lý những sự hiện hình như thế vào thời kỳ này, tôi chỉ có thể lấy làm biết ơn vì đã không bị ai bắt gặp lúc tôi xuất hiện.
Tôi vẩn vơ tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra trong trường hợp ngược lại, ai đó ở thời kỳ này biến mất và đột ngột xuất hiện ở thời đại của tôi? Suy cho cùng, đó chính là điều mà tôi đang tính làm, nếu có cách xoay xở. Một người Scot ở thời hiện đại, như bà Buchanan, Giám đốc sở bưu điện, sẽ phản ứng thế nào nếu một người, chẳng hạn như Murtagh, đột nhiên nhảy bật lên từ mặt đất bên dưới chân bà?
Tôi nghĩ phản ứng dễ xảy ra nhất là bỏ chạy để đi gọi cảnh sát hoặc có thể chẳng làm gì cả ngoài việc kể với bạn bè và hàng xóm về điều kỳ lạ xảy ra vào ngày hôm trước…
Còn về vị khách? Chà, anh ta có thể hòa nhập được với thời đại mới mà không khuấy động sự chú ý quá mức, nếu anh ta cẩn trọng và may mắn. Suy cho cùng, tôi cũng khá thành công trong việc giả vờ mình là một cư dân bình thường ở vùng cao nguyên này, thuộc thời đại này, dù ngoại hình và ngôn ngữ của tôi chắc chắn làm dấy lên nhiều nghi ngờ.
Nhưng sẽ thế nào nếu một người đi lạc thời đại lại quá khác biệt, hoặc đi loanh quanh lu loa về chuyện đã xảy ra với anh ta? Nếu lạc về thời nguyên thủy, ắt hẳn một người lạ mặt sẽ bị giết ngay tại chỗ mà không cần hỏi han gì thêm. Còn ở những thời đại văn minh hơn, họ hẳn sẽ bị coi là kẻ tâm thần và bị nhốt vào nhà thương điên nếu họ không giữ im lặng.
Chuyện này có thể đã xảy ra từ khi trái đất mới hình thành. Cho dù có người chứng kiến thì cũng chẳng có bằng chứng nào cả; chẳng thể biết được chuyện gì đã xảy ra, bởi vì người duy nhất biết rõ đã biến mất. Còn cái người đã biến mất ấy, họ ắt hẳn sẽ ngậm chặt miệng ở nơi họ đến.
Đang mải mê suy nghĩ, tôi không để ý đến những tiếng thì thầm mơ hồ hay tiếng bước chân xào xạc giẫm trên cỏ, và tôi giật mình khi bất chợt nghe thấy một giọng nói chỉ cách mình có vài thước.
“Quỷ tha ma bắt cậu đi, Dougal MacKenzie,” nó nói. “Dù là ruột thịt, cháu không có nghĩa vụ phải làm điều đó giúp cậu.” Giọng nói trầm thấp nhưng đầy giận dữ.
“Không ư?” Một giọng nói khác cất lên, hơi chế giễu. “Ta nhớ cháu đã thề phục tùng “chừng nào bàn chân còn đặt trên lãnh địa của thị tộc MacKenzie”.” Có một tiếng huỵch nhẹ, như thể tiếng chân giẫm trên nền đất cứng. “Và đây chính là lãnh địa của thị tộc MacKenzie.”
“Cháu thề với cậu Colum chứ không phải với cậu.” Hóa ra đó chính là anh chàng Jamie MacTavish và tôi có thể đoán ra ngay anh ta đang tức giận vì chuyện gì.
“Như nhau cả thôi, cháu biết rõ điều đó mà.” Có tiếng tát nhẹ vào má. “Cháu phải phục tùng thủ lĩnh của thị tộc, và ở bên ngoài Leoch, ta chính là cái đầu và tay chân của Colum.”
“Cháu chưa bao giờ thấy bàn tay phải không biết bàn tay trái đang mưu tính điều gì,” Jamie mau chóng đáp trả. Mặc dù giọng điệu chua chát nhưng vẫn ẩn chứa sự hóm hỉnh. “Cậu nghĩ bàn tay phải sẽ nói gì về việc bàn tay trái đi quyên tiền cho nhà Stuart?”
Dougal thoáng ngập ngừng trước khi trả lời: “Những người MacKenzie, MacBeolain và MacVinich đều là những người tự do. Không ai có thể ép họ làm điều gì trái với ý muốn của họ, cũng không ai có thể ngăn họ làm những gì họ muốn. Và biết đâu đấy? Biết đâu rốt cuộc Colum sẽ quyên tặng cho Hoàng tử Charles Edward nhiều hơn so với tất cả bọn họ cộng lại.”
“Có thể,” giọng nói trầm hơn đồng ý. “Cũng có thể ngày mai mưa sẽ phun từ dưới đất lên trời. Nhưng như thế không có nghĩa là cháu sẽ đứng đợi ở đầu cầu thang với cái xô úp ngược.”
“Không ư? Nếu nhà Stuart giành được ngai vàng thì sẽ đem lại nhiều lợi ích cho cháu hơn là cho ta đấy, nhóc ạ. Trong khi với người Anh thì cháu chẳng nhận được gì cả, trừ một chiếc thòng lọng. Nếu cháu không quan tâm đến chính cái cổ ngu ngốc của cháu…”
“Cổ của cháu là chuyện của cháu,” Jamie cáu kỉnh ngắt lời. “Và cái lưng của cháu cũng thế.”
“Sẽ không phải như vậy trong lúc cháu đi với ta,” giọng nói chế nhạo của cậu anh ta cất lên. “Nếu cháu muốn được nghe những tin tức mà Horrocks đem tới, cháu sẽ phải làm theo những gì được bảo. Hơn nữa, còn phải làm một cách ngoan ngoãn. Dù cháu giỏi khâu vá đến đâu nhưng cháu chỉ có một cái áo sơ mi sạch thôi đấy.”
Có tiếng ai đó đứng dậy và tiếng bước chân khẽ băng qua cỏ. Nhưng là tiếng bước chân của một người. Tôi rón rén ngồi dậy và cẩn trọng nhòm qua mép tảng đá đang che chắn cho tôi.
Jamie vẫn đang ngồi khom mình trên một tảng đá cách chỗ tôi chừng hơn một mét, khuỷu tay chống lên đầu gối, cằm tựa vào hai bàn tay đang đan vào nhau. Lưng anh ta quay về phía tôi. Tôi đang định nhẹ nhàng rụt lại, không muốn quấy rầy sự riêng tư của anh ta thì anh ta đột ngột lên tiếng.
“Tôi biết cô ở đó,” anh ta nói. “Hãy ra đây, nếu cô muốn.” Nghe giọng anh ta thì đó là vấn đề mà anh ta chẳng buồn bận tâm. Tôi đứng dậy, vừa dợm bước thì chợt nhận ra mình chỉ đang mặc độc một cái váy lót. Lòng anh ta đã đủ rối bời rồi, tôi không muốn anh ta còn phải đỏ mặt vì tôi nữa, vì vậy tôi khéo léo quấn chăn quanh mình trước khi bước ra.
Tôi ngồi xuống gần anh ta và tựa lưng vào một tảng đá, dè dặt quan sát anh ta. Anh ta chỉ gật đầu chào tôi một cái rồi lờ tôi đi, hoàn toàn chìm đắm trong những ý nghĩ có vẻ không dễ chịu lắm, vì tôi thấy anh ta đang nhíu mày cau có. Bàn chân anh ta liên tục gõ vào tảng đá mình đang ngồi, các ngón tay đan vào nhau, siết chặt rồi lại duỗi ra, mạnh đến nỗi các khớp ngón tay kêu răng rắc.
Tiếng động này gợi cho tôi nhớ đến Đại úy Manson. Là sĩ quan quân nhu của bệnh viện dã chiến nơi tôi từng làm việc, Đại úy Manson luôn phải chịu đựng sự thiếu thốn nhu yếu phẩm, việc giao hàng chậm trễ và những hành động ngu ngốc bất tận của bọn quan liêu trong quân đội. Vốn là người hiền hòa và ăn nói dễ nghe, mỗi khi sự phẫn nộ lên đến đỉnh điểm, ông sẽ mau chóng lui về văn phòng riêng của mình và dồn hết sức bình sinh đấm vào bức tường đằng sau cánh cửa. Các vị khách trong khu vực tiếp tân ở bên ngoài sẽ chăm chú dõi nhìn khi tấm vữa mỏng manh rung rinh dưới sức mạnh của những cú đấm. Một lát sau, Đại úy Manson sẽ đi ra để xử lý khủng hoảng, các khớp ngón tay thâm tím nhưng tinh thần đã điềm tĩnh trở lại. Lúc ông được điều chuyển sang đơn vị khác, bức tường đằng sau cánh cửa phòng ông thủng lỗ chỗ với hàng tá cái lỗ có kích cỡ bằng nắm đấm.
Nhìn chàng trai trẻ trên tảng đá đang cố làm trật khớp những ngón tay mình, tôi buộc phải nhớ tới những lần viên Đại úy ấy đối mặt với một vấn đề về quân nhu mà ông ta không thể giải quyết được.
“Anh cần đấm thứ gì đó,” tôi nói.
“Hử?” Anh ta ngạc nhiên ngẩng lên, rõ ràng đã quên mất sự hiện diện của tôi.
“Đấm thứ gì đó,” tôi khuyên. “Anh sẽ cảm thấy khá hơn.”
Miệng anh ta cong lên như thể định nói điều gì, nhưng thay vào đó anh ta lại đứng dậy, quả quyết bước thẳng tới một cây anh đào có vẻ vững chắc và đấm một cú thật lực vào thân cây. Dường như nhận thấy đây là liều thuốc giảm đau hữu hiệu có thể xoa dịu mớ cảm xúc trong lòng mình, anh ta đấm thêm vài cú nữa vào cái cây đang rung bần bật, khiến những cánh hoa màu hồng nhạt ào ạt trút xuống đầu anh ta như một cơn mưa rào.
Một lát sau, anh ta quay lại, mút chỗ da bị trầy xước trên khớp ngón tay.
“Cảm ơn cô,” anh ta nói, nở nụ cười méo mó. “Có lẽ tối nay tôi sẽ ngủ được.”
“Anh làm tay mình bị thương rồi à?” Tôi nhổm dậy để kiểm tra, nhưng anh ta lắc đầu, nhẹ nhàng xoa xoa các khớp ngón tay.
“Không, chẳng nhằm nhò gì đâu.”
Chúng tôi đứng một lát trong sự im lặng gượng gạo. Tôi không muốn nhắc đến những điều mà tôi đã nghe lỏm được, hoặc các sự kiện lúc tối. Cuối cùng, tôi phá vỡ sự im lặng: “Tôi không biết anh là một người tay trái đây.”
“Người tay trái? Ồ, ý cô là thuận tay trái hả? Vâng, tôi vốn như vậy mà. Thầy giáo thường buộc cánh tay trái của tôi lại để ép tôi viết bằng tay phải.”
“Anh có thể không? Ý tôi là, anh có thể viết bằng tay phải không?”
Anh ta gật đầu, lại đưa bàn tay bị thương lên miệng. “Có. Nhưng mỗi lần làm thế tôi lại đau đầu.”
“Khi đánh nhau anh cũng dùng tay trái chứ?” Tôi hỏi, muốn làm anh ta sao nhãng. “Ý tôi là, lúc cầm kiếm ấy?” Lúc này, anh ta không đeo món vũ khí nào ngoài con dao găm và thanh sgian dhu, nhưng vào lúc ban ngày, anh ta đeo cả kiếm và súng lục, giống như phần lớn đàn ông trong đoàn.
“Không, tôi có thể dùng kiếm thuần thục bằng cả hai tay. Nếu cầm một thanh kiếm nhỏ bằng tay trái thì sẽ gặp bất lợi, vì như thế khi đánh nhau cô sẽ phải quay nửa người bên trái về phía đối thủ, mà trái tim thì nằm ở bên đó, cô hiểu chứ?”
Anh ta có vẻ sốt ruột nên đã sải bước quanh khoảnh đất trống, làm các động tác minh họa với một thanh kiếm tưởng tượng. “Nếu là một thanh kiếm lớn thì chẳng mấy khác biệt,” anh ta nói, nắm hai bàn tay vào nhau, giơ thẳng ra đằng trước và quét chúng theo một đường cong duyên dáng, dứt khoát. “Thường thì cô dùng cả hai tay,” anh ta giải thích.
“Hoặc nếu cô ở gần đến mức chỉ cầm kiếm bằng một tay thì việc cô dùng tay nào cũng không quan trọng lắm, vì cô bổ kiếm từ trên xuống, hướng vào vai của địch thủ. Đừng nhắm vào đầu,” anh ta truyền thụ thêm, “vì lưỡi kiếm có thể dễ dàng bị trượt đi. Còn nếu nhắm trúng vào cạnh cổ” - anh ta chém cạnh bàn tay vào chỗ nối giữa cổ và vai - “hắn sẽ chết. Cho dù đó không phải là một vết chém sắc bén, hắn cũng sẽ không thể tiếp tục chiến đấu trong ngày hôm ấy - hoặc có thể là mãi mãi,” anh ta bổ sung.
Bàn tay trái của anh ta hạ xuống thắt lưng và rút con dao găm ra với động tác giống như hắt một cốc nước.
“Còn khi đánh nhau bằng cả kiếm và dao găm,” anh ta nói, “nếu cô không có cái khiên đeo tay để che chắn cho bàn tay cầm dao, vậy thì cô chủ yếu tấn công phía bên phải của đối thủ bằng bàn tay phải cầm kiếm, và đâm móc con dao găm lên nếu cô áp sát đối thủ. Nhưng nếu bàn tay cầm dao được che chắn cẩn thận, cô có thể tấn công từ cả hai phía, và xoay cơ thể mình” - anh ta cúi xuống và luồn lách người minh họa - “để né lưỡi kiếm của đối thủ, và chỉ sử dụng con dao khi cô làm mất thanh kiếm hoặc không dùng được cánh tay cầm kiếm.”
Anh ta khom người và lanh lẹ móc lưỡi dao lên, đâm một cú chí tử, nhưng dừng lại cách ngực tôi hai phân rưỡi. Tôi vô thức lùi lại, anh ta lập tức đứng thẳng lên, cất con dao đi với một nụ cười hối lỗi.
“Tôi xin lỗi. Tôi chỉ đang biểu diễn thôi. Tôi không có ý làm cô giật mình.”
“Anh giỏi quá,” tôi chân thành nói. “Ai dạy anh đánh nhau vậy?” Tôi hỏi. “Tôi nghĩ anh sẽ cần một dũng sĩ thuận tay trái dạy mình.”
“Vâng, đó là một dũng sĩ thuận tay trái. Người giỏi nhất mà tôi từng thấy.” Anh ta thoáng mỉm cười, nhưng nụ cười chẳng hề vui vẻ. “Dougal MacKenzie.”
Hầu hết những cánh anh đào trên đầu anh ta đã rơi xuống; chỉ còn sót lại vài cánh hoa màu hồng bám ở vai, và tôi giơ tay phủi chúng đi. Áo anh ta đã được khâu lại gọn gàng, dẫu không được đẹp mắt lắm. Thậm chí một vết rách còn được khâu theo mũi khâu kiểu hàng rào.
“Ông ta sẽ lại làm thế à?” Tôi buột miệng hỏi, không thể ngăn mình lại.
Anh ta ngập ngừng giây lát trước khi trả lời, nhưng không hề giả vờ rằng mình không hiểu ý tôi.
“Ừ,” cuối cùng anh ta gật đầu, nói. “Điều đó giúp ông ấy có được những gì ông ấy muốn, cô thấy đấy.”
“Và anh sẽ để cho ông ta làm vậy? Để ông ta lợi dụng anh như thế?”
Anh ta nhìn về phía quán rượu dưới chân đồi, nơi vẫn còn một ngọn đèn le lói qua khe hở của những thanh gỗ. Khuôn mặt anh ta đờ đẫn như một bức tường.
“Trong lúc này thôi.”
•••
Chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình, mỗi ngày đi không quá vài dặm và thường xuyên dừng lại ở một giao lộ hay một túp nhà tranh để Dougal thực hiện công việc của mình. Một vài tá điền sẽ kéo nhau đến để nộp những bao ngũ cốc và những món tiền được tích trữ cẩn thận. Ned Gowan sẽ ghi chép tất cả vào sổ cái bằng ngòi bút nhanh thoăn thoắt và phát các biên lai từ trong cái túi đựng giấy tờ.
Và mỗi khi chúng tôi tới một thôn xóm hay một ngôi làng có một quán trọ hay quán rượu, Dougal sẽ lại thết đãi bia rượu, kể chuyện, diễn thuyết và cuối cùng, nếu cảm thấy có nhiều triển vọng, ông ta sẽ bắt Jamie đứng dậy để phô bày những vết sẹo. Thế là cái túi đựng món tiền quyên góp cho nước Pháp và triều đình của Kẻ Đòi Vị sẽ lại có thêm một vài đồng tiền nữa.
Tôi cố gắng theo dõi cảnh tượng ấy và bước ra ngoài ngay trước khi nó lên đến cao trào. Tôi chưa bao giờ thích xem sự tra tấn nơi công cộng. Mặc dù phản ứng ban đầu của họ khi nhìn thấy tấm lưng của Jamie là sự xót xa bàng hoàng, kế đến là những tràng chửi rủa dành cho quân đội Anh và Vua George, nhưng thường thì vẫn phảng phất đôi chút sự khinh miệt mà ngay cả tôi cũng có thể nhận ra. Có lần, tôi nghe thấy một người đàn ông thì thầm nhận xét với bạn mình bằng tiếng Anh: “Kinh khủng quá, đúng không anh bạn? Chúa ơi, tôi thà chết còn hơn để cho một gã Sassenach mặt trắng bệch hành hạ mình như vậy.”
Jamie càng ngày càng trở nên khốn khổ. Anh ta sẽ mặc lại áo nhanh hết mức có thể, né tránh các câu hỏi và sự thương hại, tìm kiếm một cái cớ để rời đi và trốn tránh mọi người cho đến khi chúng tôi lên ngựa vào sáng hôm sau.
Sức chịu đựng của anh ta đạt đến giới hạn vào vài ngày sau đó, trong một ngôi làng nhỏ có tên là Tunnaig. Lần này, khi Dougal đang đặt tay lên bờ vai trần của Jamie và hô hào đám đông thì một người trẻ tuổi cục mịch với mái tóc nâu dài bẩn thỉu cất lên mấy lời nhận xét thiếu tế nhị về Jamie. Tôi không thể nghe ra hắn nói gì, nhưng Jamie lập tức vùng ra khỏi bàn tay của Dougal và xông tới đấm vào bụng gã đó, khiến hắn đo đất.
Tôi đang dần dần học cách ghép một vài từ Gaelic với nhau dù vẫn chưa thể hiểu được thứ ngôn ngữ này. Tuy nhiên, tôi để ý thấy mình thường nhận ra người ta đang nói gì từ thái độ của họ, cho dù tôi có hiểu được lời họ hay không.
“Đứng dậy và nói lại lần nữa xem nào,” thái độ khi nói ra câu này trông giống hệt nhau dù ở bất cứ sân trường, quán rượu hay con ngõ nào trên thế giới.
“Được lắm, anh bạn.” và “Tóm lấy hắn, tụi bay!” cũng vậy.
Jamie biến mất bên dưới một mớ quần áo lao động cáu bẩn khi cái bàn thu tiền tô gãy sụp xuống dưới sức nặng của gã tóc nâu và hai người bạn của hắn. Những người ngoài cuộc tựa lưng vào các bức tường của quán rượu, thưởng thức cảnh tượng hay ho. Tôi nhích tới gần Ned và Murtagh, bồn chồn nhìn những nắm đấm vung lên loạn xạ. Thi thoảng lại nhoáng thấy mái tóc đỏ đơn độc hiện ra giữa cả một biển tay chân đang quấn vào nhau.
“Ông không giúp anh ấy à?” Tôi mấp máy môi thì thầm với Murtagh. Ông ta có vẻ ngạc nhiên.
“Không, tại sao?”
“Cậu ấy sẽ gọi người giúp đỡ nếu cần,” Ned Gowan nói, bình thản theo dõi từ phía bên kia của tôi.
“Tùy các ông đấy.” Tôi ngồi phịch xuống vẻ ngờ vực.
Tôi không chắc Jamie có thể cầu cứu cho dù anh ta có cần chăng nữa; anh ta đang bị một gã vạm vỡ mặc đồ màu xanh lá cây bóp cổ. Tôi cứ ngỡ Dougal sẽ sớm nhúng tay vào, nhưng ông ta dường như không quan tâm. Thực ra thì, không một ai trong đám người đứng xem có vẻ lo ngại cho cuộc ẩu đả đang diễn ra trên sàn, ngay dưới chân họ. Vài nhóm người bắt đầu cá cược, nhưng bao trùm bầu không khí là sự phấn khích âm thầm trước “trò giải trí” này.
Tôi mừng rỡ khi thấy Rupert hờ hững đi về phía hai kẻ đang định tham gia vào cuộc chiến. Khi họ bước một bước về phía cuộc ẩu đả, ông ta vờ như lơ đãng ngáng đường họ, nhẹ nhàng đặt tay lên con dao của mình. Họ lùi lại, quyết định khoanh tay đứng nhìn.
Có vẻ như mọi người đều nghĩ ba chọi một là tỷ lệ hợp lý. Quả thế thật, bởi kẻ đơn thương độc mã kia là một dũng sĩ toàn thiện khá đô con và rõ ràng đang trong cơn thịnh nộ.
Cuộc chiến có vẻ rơi vào thế cân bằng khi gã to béo áo xanh đột ngột rút lui với cái mũi đầm đìa máu, kết quả của một cú thúc cùi chỏ đúng chỗ.
Nó diễn ra thêm vài phút nữa, nhưng kết cuộc ngày càng trở nên rõ ràng khi gã thứ hai trong nhóm ba người bị ngã lăn xuống dưới gầm bàn, ôm háng rên rỉ. Jamie và đối thủ ban đầu vẫn đang quần nhau kịch liệt giữa sàn nhà, nhưng những người đặt cược cho Jamie trong đám khán giả đã bắt đầu thu tiền thắng cuộc. Một cánh tay kẹp ngang khí quản, kèm theo một cú đấm thật lực vào thận, đã dạy cho gã tóc nâu bài học rằng liều lĩnh đúng chỗ thì mới đáng liều lĩnh.
Tôi thầm bổ sung thêm câu “Thế là đủ rồi, tôi xin hàng.” bằng tiếng Gaelic vào cuốn từ điển Gaelic/Anh đang được mở rộng trong đầu mình.
Jamie chậm rãi đứng lên khỏi thân thể đối thủ cuối cùng trong tiếng reo hò cổ vũ của đám đông. Anh ta hổn hển gật đầu đáp lại rồi lảo đảo đi tới một cái ghế băng không bị đổ và ngồi phịch xuống, nhận một vại bia từ chủ quán rượu, mồ hôi lẫn máu thi nhau chảy ròng ròng. Sau khi nốc cạn một hơi, anh ta đặt cái cốc rỗng lên ghế băng và chúi về đằng trước, chống hai khuỷu tay lên đầu gối, thở hồng hộc, những vết sẹo trên lưng được phô bày đầy thách thức.
Lần đầu tiên, anh ta không vội mặc lại áo; dù trong quán rượu lạnh căm căm nhưng anh ta vẫn ở trần, chỉ chịu mặc áo vào khi phải ra ngoài để kiếm chỗ ngủ qua đêm. Anh ta rời đi trong những lời chúc ngủ ngon được đồng thanh cất lên đầy kính cẩn, trông có vẻ thoải mái hơn nhiều so với những ngày vừa rồi, bất chấp sự đau đớn từ các vết xước, vết rách và vết bầm giập.
•••
“Một cẳng chân sây sát, một lông mày bị rách, môi nứt toác, mũi chảy máu, sáu khớp ngón tay bị vỡ, một ngón cái bị bong gân và hai cái răng lung lay. Chưa kể những vết bầm giập nhiều không đêm xuể.” Tôi thở dài tổng kết. “Anh cảm thấy thế nào?” Tôi đã đưa anh ta tới một cái nhà kho nhỏ đằng sau quán rượu để sơ cứu và hiện giờ ở đây chỉ có hai chúng tôi.
“Ổn,” anh ta nói, cười toe. Rồi anh ta đứng dậy, nhưng mới được nửa chừng thì bỗng khựng lại, nhăn nhó. “Ầy. Mạng sườn hơi đau.”
“Dĩ nhiên là đau rồi. Anh - một lần nữa - bị thâm tím khắp mình mẩy. Tại sao anh lại làm những việc như vậy? Anh nghĩ cơ thể anh là cái quái gì hả? Là sắt à?” Tôi giận dữ hỏi.
Anh ta cười rầu rĩ và chạm vào cái mũi sưng vù.
“Không. Tôi ước gì mình được như vậy.”
Tôi lại thở dài và nhẹ nhàng chọc chọc vào mạng sườn anh ta.
“Tôi không nghĩ xương sườn anh bị gãy; chỉ bị bầm tím thôi. Nhưng tôi sẽ băng chúng lại để phòng hờ. Đứng thẳng dậy, cuộn áo lên và dang hai tay ra.” Tôi bắt đầu xé cái khăn choàng cũ mà tôi xin được từ vợ chủ quán. Vừa thầm lẩm bẩm về băng dán và những tiện ích khác của cuộc sống văn minh, tôi vừa chế ra một cái băng quấn, thít nó thật chặt và buộc vào cái móc tròn trên chiếc áo choàng len của anh ta.
“Tôi không thở được,” anh ta than phiền.
“Nếu anh thở, mạng sườn sẽ đau. Đừng cử động. Anh học cách đánh nhau như thế từ đâu vậy? Lại là Dougal à?”
“Không.” Anh ta nhăn nhó khi tôi bôi giấm vào cái lông mày bị rách. “Cha tôi dạy tôi.”
“Thật à? Cha anh là nhà vô địch quyền anh trong vùng à?”
“Quyền anh là gì? Không, cha tôi là nông dân. Ông cũng nuôi ngựa nữa.” Jamie hít vào một hơi khi tôi tiếp tục bôi giấm lên ống chân trầy xước của anh ta.
“Hồi tôi lên chín hay mười gì đó, ông nói ông nghĩ tôi sẽ đô con như đằng nhà ngoại, vì vậy tôi phải học cách đánh nhau.” Giờ thì anh ta hít thở thoải mái hơn, và giơ tay ra để tôi xoa thuốc mỡ cúc vạn thọ vào các khớp ngón tay.
“Ông nói: “Nếu con cao lớn, một nửa những người đàn ông mà con gặp sẽ sợ con, và nửa còn lại sẽ muốn thử thách con. Chỉ cần hạ gục được một người, những người còn lại sẽ để con yên. Nhưng hãy học cách kết thúc nhanh gọn, nếu không con sẽ phải đánh nhau đến suốt đời đấy.” Thế là ông dẫn tôi đến chuồng gia súc và đánh tôi ngã vào đống rơm cho đến khi tôi học được cách đánh trả. Ối! Xót quá.”
“Vết móng tay cào là những vết thương gớm ghiếc,” tôi nói, mải miết lau cổ anh ta. “Nhất là khi kẻ cào anh không tắm rửa thường xuyên. Và tôi ngờ rằng cái gã có mái tóc bết ấy một năm chỉ tắm có một lần. Những gì anh làm tối nay tuy không thể gọi là “nhanh gọn” nhưng rất ấn tượng. Cha anh hẳn sẽ tự hào về anh.”
Tôi giễu cợt, và ngạc nhiên khi thấy mặt anh ta thoáng u ám.
“Cha tôi mất rồi,” anh ta nói với giọng đều đều.
“Tôi rất tiếc.” Tôi kết thúc việc lau rửa rồi nhẹ nhàng nói. “Nhưng tôi thực lòng đấy. Ông ấy hẳn sẽ tự hào về anh.”
Anh ta không trả lời, chỉ nở nụ cười nửa miệng đáp lại. Đột nhiên tôi cảm thấy anh ta còn rất trẻ, và băn khoăn không biết anh ta bao nhiêu tuổi. Tôi đang định hỏi thì một tiếng đằng hắng cất lên từ đằng sau thông báo có người đến.
Đó là người đàn ông gầy gò nhỏ bé tên là Murtagh. Ông ta có vẻ thích thú khi nhìn mạng sườn được quấn băng của Jamie, và ném cho anh ta một cái túi da sơn dương nhỏ. Jamie giơ bàn tay to lớn lên, dễ dàng bắt được nó, khiến nó phát ra tiếng lanh canh khe khẽ.
“Cái gì đây?” Anh ta hỏi.
Murtagh nhướng một bên lông mày chổi xể. “Phần của cháu trong cuộc đánh cược chứ còn gì nữa?”
Jamie lắc đầu và định ném trả cái túi.
“Cháu có cá cược gì đâu.”
Murtagh giơ tay ngăn Jamie lại. “Cháu đã có công đánh thắng mấy gã đó. Lúc này cháu đang rất được mến mộ, ít nhất là với những người ủng hộ cháu.”
“Nhưng với Dougal thì không, tôi nghĩ vậy,” tôi xen vào.
Murtagh luôn có vẻ hơi ngạc nhiên khi thấy phụ nữ cũng có giọng nói, nhưng ông ta gật đầu lịch sự.
“Ừ, đúng vậy. Nhưng điều đó cũng chẳng ảnh hưởng gì đến cháu,” ông ta nói với Jamie.
“Không ư?” Hai người đưa mắt nhìn nhau với một thông điệp mà tôi không tài nào hiểu nổi. Jamie khẽ xì một tiếng, chậm rãi gật đầu.
“Khi nào vậy?” Anh ta hỏi.
“Một tuần. Hoặc có lẽ là mười ngày. Gần một nơi gọi là Lag Cruime. Cháu biết nó chứ?”
Jamie lại gật đầu, trông hài lòng hơn bao giờ hết. “Cháu biết.”
Tôi hết nhìn người này lại nhìn sang người kia, khuôn mặt của cả hai bọn họ đều kín như bưng và đầy bí mật. Vậy là Murtagh đã tìm ra điều gì đó. Liên quan đến “Horrocks” bí ẩn chăng? Tôi nhún vai. Bất kể nguyên nhân là gì, có vẻ như những ngày phải làm vật trưng bày của Jamie đã kết thúc rồi.
“Tôi cho là từ giờ Dougal sẽ phải nhảy điệu clacket[4],” tôi nói.
“Hử?” Những ánh mắt từ vẻ giấu giếm bí mật biến thành kinh ngạc.
“Đừng bận tâm. Ngủ ngon nhé!” Tôi nhấc hộp thuốc của mình lên và đi tìm chỗ nghỉ ngơi cho riêng mình.
[1] Ghế dài bằng gỗ dành cho hai hoặc nhiều người ngồi, có lung dựa cao và tay vịn, chỗ ngồi thường là mặt trên cái tủ.
[2] Tiếng Gaelic, nghĩa là: nhà Stuart muôn năm.
[3] Tên một con dao găm của Scotland, thường được giắt ở cạp tất.
[4] Điệu nhảy dùng bàn chân gõ nhịp cầu kỳ. Ý Claire là vì Jamie không còn phải phô bày vết sẹo nữa nên Dougal sẽ phải nhảy điệu clacket để thu hút các khán giả.