Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7
Căn phòng của Davie Bealon

❊ ❊ ❊

Lúc quay lại lâu đài, tôi vô cùng ngạc nhiên khi thấy một chiến binh mặc váy đang đợi tôi ở gần cổng. Anh ta nói với tôi rằng Lãnh chúa muốn tôi đến phòng của ông ta.

Những ô cửa sổ dài trong thánh địa riêng tư của Lãnh chúa đang mở, gió xào xạc lùa qua những nhành cây trong lồng chim, tạo cảm giác như đang ở ngoài trời.

Khi tôi bước vào, Lãnh chúa đang ngồi ở bàn viết gì đó, nhưng ông ta dừng lại ngay và đứng dậy đón tôi. Sau vài lời hỏi thăm sức khỏe, ông ta dẫn tôi tới chỗ lồng chim ở sát tường. Tôi say mê ngắm nhìn các “cư dân” nhỏ xíu kêu chiêm chiếp và nhảy lóc chóc qua các tán lá, thích thú trước cơn gió ùa đến.

“Cả Dougal và bà Fitz đều nói cô có tài trị thương,” Colum nói, thò ngón tay qua mắt lưới của cái lồng. Rõ ràng đã quá quen với cử chỉ này, một con chim sẻ đất nhỏ màu xám sà xuống và hạ cánh gọn ghẽ, những cái móng nhỏ xíu quắp lấy ngón tay ông ta và đôi cánh khẽ sải ra để giữ thăng bằng. Ông ta nhẹ nhàng vuốt ve đầu nó bằng ngón trỏ chai sần của bàn tay kia. Tôi nhìn lớp da dày quanh móng tay và lấy làm kinh ngạc; ông ta không thể là người lao động chân tay nhiều được.

Tôi nhún vai. “Cũng chẳng cần tài cán gì lắm mới băng bó được một vết thương nông.”

Ông ta mỉm cười. “Có thể, nhưng cũng cần một chút kỹ năng để làm việc đó trong màn đêm đen như mực bên vệ đường, đúng không? Và bà Fitz nói cô đã bó những ngón tay gãy cho một cậu bé phụ việc và băng bó cánh tay bị bỏng của một cô hầu bếp vào sáng nay.”

“Mấy việc đó cũng không quá khó,” tôi đáp, tự hỏi ông ta đang định dẫn dắt đến điều gì. Ông ta ra hiệu cho một người hầu cận và người này nhanh chóng đi lấy một cái bát nhỏ từ trong ngăn kéo bàn giấy. Colum mở nắp ra, vốc một nắm hạt thóc và rắc qua mắt lưới của cái lồng. Những con chim nhỏ xíu nhảy xuống từ những nhành cây giống như vô số quả bóng cricket nẩy lên trên đường ném bóng, và con chim sẻ đất bay xuống để nhập bọn với các bạn của nó.

“Cô không liên quan gì đến thị tộc Beaton đấy chứ?” Ông ta hỏi. Tôi nhớ bà FitzGibbons đã hỏi tôi lúc chúng tôi mới gặp lần đầu: “Ra cô là thầy pháp à? Một người Beaton?”

“Không. Thị tộc Beaton thì có liên quan gì đến việc chữa bệnh chứ?”

Colum kinh ngạc nhìn tôi. “Cô chưa từng nghe nói tới họ à? Thị tộc Beaton nổi tiếng khắp vùng cao nguyên này mà. Nhiều người trong số họ là thầy lang dạo. Thực ra từng có một thầy lang người Beaton ở đây trong một thời gian.”

“Từng có một thầy lang người Beaton ở đây ư? Chuyện gì đã xảy ra với ông ta vậy?” Tôi hỏi.

“Ông ta chết rồi,” Colum thản nhiên đáp. “Bị sốt và chết trong vòng một tuần. Từ đó chúng tôi không có thầy thuốc nào cả, trừ bà Fitz.”

“Bà ấy có vẻ rất giỏi,” tôi nói, nghĩ về phương pháp điều trị hiệu quả của bà đối với những vết thương của anh chàng Jamie. Nghĩ đến đây, tôi bỗng nhớ đến nguyên nhân gây ra chúng và cảm thấy trong lòng dâng lên một làn sóng căm phẫn đối với Colum. Căm phẫn, và cả thận trọng nữa. Tôi tự nhắc nhở mình rằng người đàn ông này là luật pháp, bồi thẩm và quan tòa đối với những người trong lãnh địa của ông ta - và rõ ràng đã quen với việc muốn gì được nấy.

Ông ta gật đầu, vẫn chú tâm vào lũ chim. Ông ta rắc nốt chỗ thóc còn lại, ưu ái dành nắm thóc cuối cùng cho một con chim chích màu xanh xám đến muộn.

“Ồ, đúng vậy. Bà ấy rất mát tay, nhưng bà ấy có quá nhiều việc phải lo rồi, vì phải trông nom cả lâu đài và mọi người trong đó - bao gồm cả ta,” ông ta nói, chợt nở một nụ cười duyên dáng.

“Ta đang nghĩ,” ông ta nói, khi tôi mỉm cười đáp lễ, “vì hiện giờ cô không có việc gì để làm, sao cô không đến xem xét những thứ Davie Beaton để lại? Cô có thể biết cách sử dụng một vài loại thuốc của ông ta cũng chưa biết chừng.”

“Ồ… cũng được. Tại sao lại không nhỉ?” Thực ra, tôi bắt đầu thấy hơi chán khi chỉ quanh đi quẩn lại giữa khu vườn, kho thực phẩm và bếp. Tôi tò mò muốn thấy những vật dụng mà ông Beaton quá cố đã coi là hữu ích.

“Angus hoặc tôi có thể dẫn quý cô đây xuống đó, thưa ngài,” người hầu kính cẩn đề nghị.

“Đừng bận tâm, John,” Colum nói, lịch sự ra hiệu cho người đàn ông đó lui ra. “Ta sẽ đích thân dẫn quý cô Beauchamp đi.”

Ông ta bước xuống cầu thang một cách chậm chạp và đau đớn, nhưng rõ ràng ông ta không muốn được giúp đỡ nên tôi cũng chẳng dám tự tiện.

Phòng khám bệnh của ông Beaton quá cố nằm ở một góc xa xôi hẻo lánh của lâu đài, ẩn mình đằng sau khu bếp. Nó nằm gần nghĩa địa, nơi người chủ quá cố của nó đang yên nghỉ. Vì kề sát bức tường bao bên ngoài của lâu đài nên căn phòng tối và hẹp chỉ có một ô cửa sổ bé xíu ở tít trên cao, chỉ đủ cho một vạt nắng xuyên qua, ngăn cách bóng tối của cái trần uốn vòm cao vút với sự âm u của sàn nhà bên dưới.

Nhòm qua người Colum vào các ngóc ngách của căn phòng ảm đạm, tôi nhìn thấy một cái tủ cao với hàng tá ngăn kéo nhỏ được dán nhãn bằng thứ chữ viết bay bướm. Vô số bình, hộp và lọ đủ hình dạng và kích cỡ được sắp xếp gọn gàng trên những cái giá phía trên một cái quầy. Nhìn những vết ố và một cái cối cáu bẩn nằm chỏng chơ ở trên quầy, có thể thấy rõ đây là nơi ông Beaton quá cố dùng để làm chỗ pha trộn các loại thuốc.

Colum đi vào phòng trước tôi. Bước chân của ông ta làm khuấy động những hạt bụi sáng lấp lánh, khiến chúng cuộn lên trong vạt nắng như bụi bốc lên từ một ngôi mộ bị phá. Ông ta đứng lại một thoáng, để cho hai mắt quen với bóng tối lờ mờ, rồi chầm chậm tiến về phía trước, nhìn ngó hết bên này đến bên kia. Có lẽ đây là lần đầu tiên ông ta vào căn phòng này.

Nhìn ông ta tập tễnh bước đi ngang qua căn phòng hẹp, tôi nói: “Ông biết không, mát xa có thể giúp ích đôi chút. Ý tôi là, nó có thể giúp ông bớt đau đớn.” Một tia sáng lóe lên trong đôi mắt màu xám khiến tôi ước rằng mình đã không nói gì, nhưng tia sáng biến mất gần như ngay lập tức và được thay thế bằng vẻ chăm chú lịch sự thường thấy.

“Cần phải xoa bóp mạnh,” tôi nói, “đặc biệt là ở phần thắt lưng.”

“Ta biết,” ông ta nói. “Angus Mhor[1] vẫn xoa bóp cho ta vào ban đêm.” Ông ta ngừng lại, mân mê một cái lọ. “Có vẻ như cô thực sự hiểu biết đôi chút về y thuật.”

“Một chút thôi.” Tôi thận trọng, hy vọng ông ta không có ý định thử tài tôi bằng cách hỏi xem những loại thuốc này được dùng để chữa bệnh gì. Trên cái lọ mà ông ta đang cầm có dán nhãn PURLES OVIS. Ai mà đoán được đó là cái gì chứ! May thay, ông ta đặt cái lọ xuống trở lại và rón rén quệt ngón tay vào lớp bụi trên một cái rương lớn gần tường.

“Cũng đã lâu không có ai ở trong này rồi,” ông ta nói. “Ta sẽ bảo bà Fitz sai người tới lau dọn một chút, có nên chăng?”

Tôi mở một cái cửa tủ và ho khù khụ trước đám mây bụi bay ra từ đó. “Có lẽ ông nên làm vậy,” tôi đồng ý. Ở ngăn tủ phía dưới có một cuốn sách to tướng được đóng bằng da màu xanh nước biển. Tôi nhấc nó lên, phát hiện ra bên dưới còn có một cuốn sách nhỏ hơn được đóng bằng vải đen rẻ tiền, đã bị sờn mòn ở các mép.

Hóa ra cuốn sách thứ hai này là nhật ký của Beaton, trong đó ông ta ghi lại tên của các bệnh nhân, những chi tiết về bệnh tật của họ và tiến trình điều trị. Quả là một người đàn ông cẩn thận, tôi thầm tán thưởng. Một bài viết có ghi: “Mồng 2 tháng 2 năm 1741 sau Công nguyên. Sarah Graham MacKenzie bị thương ở ngón tay cái vì bị mép của guồng quay sợi cứa phải. Đã sơ cứu bằng bạc hà hăng luộc, sau đó là một loại thuốc đắp gồm các thành phần: cỏ thi, ban Âu, slater nghiền nhỏ và tai chuột, được trộn lẫn với đất sét mịn.” Slater? Tai chuột? Chắc chắn đó là mấy loại thảo mộc trên những cái giá kia.

“Ngón tay cái của Sarah MacKenzie có lành lại không?” Tôi gấp sách lại, hỏi Colum.

“Sarah ư? À,” ông ta trầm ngâm nói. “Không, ta nghĩ là không.”

“Thật ư? Sao lại thế được?” Tôi hỏi. “Có lẽ lát nữa tôi sẽ xem lại vết thương cho cô ấy.”

Ông ta lắc đầu, dường như đôi môi cong đầy đặn của ông ta khẽ nhếch lên thích thú.

“Tại sao lại không được?” Tôi hỏi. “Cô ấy đã rời khỏi lâu đài rồi à?”

“Cô có thể nói như vậy,” ông ta đáp. Sự thích thú giờ đã hiển hiện rõ ràng. “Cô ấy chết rồi.”

Tôi nhìn ông ta chằm chằm khi ông ta chậm chạp lê bước trên sàn đá bụi bặm để đi về phía cửa.

“Hy vọng cô sẽ làm tốt hơn Davie Beaton quá cố cô Beauchamp,” ông ta nói, dừng bước ở cửa và quay người lại, nhìn tôi với vẻ nhạo báng. Chùm nắng rọi vào ông ta như đèn chiếu điểm.

“Cô không thể làm tệ hơn,” ông ta nói và biến mất vào trong bóng tối.

•••

Tôi đi đi lại lại khắp căn phòng nhỏ hẹp, xem xét tất cả mọi thứ. Có vẻ như phần lớn đều là rác rưởi, chỉ có vài món hữu ích tận dụng được. Tôi mở một ngăn kéo nhỏ xíu trong cái tủ của người thầy thuốc quá cố, làm bốc lên mùi long não. Chà, thứ đó hữu ích đấy! Tôi lại đẩy ngăn kéo vào và chùi những ngón tay bụi bặm lên váy. Có lẽ tôi nên đợi những cô hầu gái vui vẻ của bà Fitz lau dọn sạch sẽ nơi này rồi mới tiếp tục cuộc điều tra của mình.

Tôi nhòm ra hành lang, vắng tanh. Cũng chẳng có tiếng động nào. Nhưng tôi không ngây thơ đến mức cho rằng không có ai ở gần đây. Chẳng biết là do mệnh lệnh hay vì sự tế nhị, họ làm chuyện này khá kín đáo, nhưng tôi biết mình đang bị theo dõi. Khi tôi đi vào vườn, luôn có ai đó đi cùng tôi. Khi tôi leo cầu thang về phòng mình, tôi sẽ thấy ai đó vô tình liếc lên từ chân cầu thang để xem tôi rẽ sang hướng nào. Và ngay từ lúc chúng tôi cưỡi ngựa vào lâu đài, tôi đã để ý thấy các lính canh có trang bị vũ khí núp bên dưới mái đua để tránh mưa. Không, ngay cả việc bước chân ra khỏi đây tôi còn chẳng được phép, nói gì đến việc được cung cấp phương tiện để rời đi.

Tôi thở dài. Ít nhất lúc này tôi chỉ có một mình. Và tôi đang cần sự riêng tư hơn bao giờ hết, dù chỉ trong một thời gian ngắn.

Tôi đã liên tục cố gắng nghĩ về mọi thứ xảy ra với mình từ lúc bước qua khe nứt của cột đá, nhưng mọi chuyện ở nơi này diễn biến quá nhanh khiến tôi khó lòng có được một giây phút cho riêng mình trừ những lúc ngủ.

Nhưng rõ ràng bây giờ tôi đã có. Tôi kéo cái rương bụi bặm ra khỏi tường và ngồi xuống, dựa lưng vào những khối đá. Chúng rất rắn chắc. Tôi áp lòng bàn tay vào chúng, nghĩ về vòng tròn đá, cố gắng nhớ lại từng chi tiết nhỏ của sự việc đã xảy ra.

Điều cuối cùng tôi còn nhớ được là tiếng gào rít của những cột đá. Nhưng ngay cả điều đó cũng khiến tôi nghi ngờ. Tiếng gào rít kéo dài suốt quá trình đó. Có lẽ nó không phải phát ra từ những cột đá, mà là từ… bất cứ thứ gì… mà tôi đã bước vào. Phải chăng những cột đá là một loại cánh cửa? Và nó dẫn vào cái gì? Chẳng có từ ngữ nào để gọi thứ đó cả. Một lỗ hổng thời gian chăng, vì rõ ràng lúc bấy giờ tôi đã ở đó, còn bây giờ tôi lại ở đây, và những cột đá là mối liên hệ duy nhất.

Lại còn những tiếng động nữa. Chúng vang lên khắp nơi, giờ đây khi nghĩ lại, tôi thấy chúng rất giống tiếng đánh trận. Bệnh viện dã chiến nơi tôi công tác từng bị nã pháo ba lần. Cho dù biết rằng những bức tường mỏng manh của các công trình tạm thời không thể bảo vệ được chúng tôi, nhưng các bác sĩ, y tá và hộ lý đều lao vào trong nhà ngay từ tiếng còi báo động đầu tiên, túm tụm lại một chỗ để tiếp thêm can đảm cho nhau. Can đảm là thứ rất hiếm hoi khi những viên đạn súng cối gào rít trên đầu và những quả bom nổ ngay bên cạnh. Và nỗi sợ hãi của tôi lúc đó là thứ gần giống nhất với cảm giác của tôi khi ở trong vòng tròn đá.

Giờ đây tôi mới nhận ra mình còn nhớ được vài điều về quá trình đi xuyên qua cột đá. Những điều rất nhỏ nhặt. Tôi nhớ mình đã vùng vẫy như thể tôi bị mắc kẹt vào một luồng chảy nào đó. Phải, tôi đã cố chống trả nó, mặc dù chẳng biết nó là cái gì. Trong luồng chảy đó có cả những hình ảnh, không hẳn rõ nét như những bức tranh mà giống những ý nghĩ chưa hoàn thiện hơn. Vài hình ảnh rất đáng sợ và tôi đã cố hết sức để thoát khỏi chúng trong lúc tôi… chà, trong lúc tôi “trôi đi”. Vậy tôi có cố gắng hướng tới những hình ảnh khác không? Tôi nhớ mình đã chới với cố bám vào bề mặt của một thứ gì đó. Phải chăng tôi đã chọn lựa đi tới thời điểm này bởi vì nó là một nơi trú ẩn an toàn giúp tôi thoát khỏi dòng xoáy cuồn cuộn kia?

Tôi lắc đầu. Chỉ nghĩ ngợi thôi thì không thể tìm ra đáp án. Tôi chỉ còn một cách là phải quay lại vòng tròn đá.

“Thưa cô?” Một giọng Scot nhẹ nhàng phát ra từ ngưỡng cửa khiến tôi ngẩng lên nhìn. Hai cô gái tuổi chừng mười sáu, mười bảy đang bẽn lẽn đứng ngoài hành lang. Họ ăn mặc thật thô sơ với đôi chân đi guốc và đầu trùm khăn vải thô. Người vừa nói mang một cái bàn chải và vài mảnh vải được gấp gọn, trong khi người bạn đồng hành của cô ta xách một cái xô bốc khói. Các cô hầu gái của bà Fitz đã tới để lau dọn phòng khám.

“Chúng tôi không làm phiền cô chứ, thưa cô?” Một người lo lắng hỏi.

“Không, không,” tôi trấn an họ. “Tôi đang định đi đây.”

“Cô đã bỏ lỡ bữa trưa,” người kia báo cho tôi biết. “Nhưng bà Fitz dặn chúng tôi nói với cô là thức ăn phần cô để ở trong bếp, lúc nào muốn ăn thì cô hãy đến đó.”

Tôi nhìn qua ô cửa sổ phía cuối hành lang. Mặt trời đã lên quá thiên đỉnh, và tôi bắt đầu thấy đói. Tôi mỉm cười với hai cô gái.

“Vâng. Cảm ơn.”

•••

Tôi lại mang bữa trưa tới cánh đồng vì sợ rằng Jamie không có gì để ăn và có thể phải nhịn đói cho đến bữa tối. Ngồi trên cỏ nhìn anh ta ngốn ngấu thức ăn, tôi hỏi tại sao anh ta lại từng sống gian khổ, ăn trộm gia súc và cướp bóc ở vùng biên giới như vậy. Đến giờ tôi đã nhìn thấy rất nhiều cư dân của lâu đài và cả những người đến từ ngôi làng kế bên, đủ để rút ra kết luận rằng Jamie có nguồn gốc cao quý và được giáo dục tốt hơn hầu hết bọn họ. Dựa vào lời miêu tả qua loa của anh ta về trang trại nhà mình, có thể thấy anh ta xuất thân từ một gia đình khá giả. Tại sao anh ta phải xa nhà như thế?

“Tôi là một kẻ sống ngoài vòng pháp luật,” anh ta nói, như thể ngạc nhiên vì tôi không biết điều đó. “Người Anh đã treo thưởng mười bảng cho ai bắt được tôi. Không đến mức một tên cướp đường,” anh ta tỏ ý phản đối, “nhưng cũng hơn một tên móc túi đôi chút.”

“Chỉ vì tội phá rối ư?” Tôi nghi ngờ hỏi. Mười bảng là bằng thu nhập nửa năm của một nông trại nhỏ rồi; tôi không thể tưởng tượng một tù nhân trốn ngục đơn độc lại có giá trị đến thế đối với chính phủ Anh.

“Ồ, không. Là tội giết người.”

Tôi mắc nghẹn miếng bánh mỳ kèm dưa góp. Jamie vỗ vỗ lưng tôi cho đến khi tôi có thể nói lại được.

Tôi hỏi, hai mắt giàn giụa nước: “A-anh đã g-giết ai?”

Anh ta nhún vai. “Chà, chuyện đó hơi kỳ quặc. Tôi thực sự không giết gã đó. Tuy nhiên trên đường đi tôi đã “xử lý” vài gã Áo đỏ khác, vì vậy tôi cho rằng mình cũng không oan ức gì.”

Anh ta ngừng lại và nhúc nhích vai, như thể đang cọ vào một bức tường vô hình. Tôi đã để ý thấy anh ta làm thế vào buổi sáng đầu tiên tôi đến lâu đài, khi tôi chăm sóc anh ta và nhìn thấy các vết thương trên lưng anh ta.

“Chuyện xảy ra ở pháo đài William. Tôi hầu như không thể động đậy trong một, hai ngày sau khi bị quất roi lần thứ hai, và rồi tôi bị lên cơn sốt vì những vết thương ấy. Nhưng khi tôi có thể đứng lên được, một vài… người bạn đã xoay xở đưa tôi ra khỏi trại giam bằng những phương cách mà tôi tốt nhất không nên nói rõ chi tiết. Dù sao đi nữa, đã có một trận náo động khi chúng tôi rời đi, và một viên thượng sĩ người Anh bị bắn - thật trùng hợp, đó chính là thằng cha đã quất roi tôi lần đầu tiên. Nhưng tôi không bắn hắn; tôi chẳng nuôi oán thù cá nhân gì với hắn hết, với lại, lúc đó tôi yếu đến nỗi chẳng thể làm gì nổi ngoài việc bám vào lưng ngựa.” Cái miệng rộng mím chặt lại. “Nhưng nếu đó là gã Đại úy Randall thì tôi nghĩ tôi sẽ gắng hết sức để giết hắn.” Anh ta nhún vai.

“Chuyện là thế đấy. Đó là lý do tôi không đi quá xa lâu đài nếu chỉ có một mình. Ở sâu trong vùng cao nguyên như thế này, rất ít khả năng đụng độ với quân Anh, nhưng chúng băng qua biên giới khá thường xuyên. Ngoài ra còn có đội tuần phòng nữa, dù họ cũng sẽ không tới gần lâu đài. Colum không cần nhờ đến họ vì ông ấy đã có người của mình.” Anh ta mỉm cười, gãi gãi mái tóc ngắn sáng màu cho đến khi nó xù lên như lông nhím.

“Ngoại hình của tôi khá nổi bật, cô thấy đấy. Tôi không nghĩ trong lâu đài có nội gián, nhưng đây đó quanh vùng này có thể có vài kẻ sẵn lòng báo cho quân Anh biết tôi đang ở đâu để kiếm vài xu tiền thưởng nếu họ biết tôi bị truy nã.” Anh ta mỉm cười với tôi. “Cô đã đoán ra họ của tôi không phải là MacTavish, đúng không?”

“Lãnh chúa có biết không?”

“Chuyện tôi là một kẻ ngoài vòng pháp luật ấy hả? Ồ, có chứ, Colum có biết. Hầu hết mọi người khắp vùng này đều biết; chuyện xảy ra ở pháo đài William đã gây ra chút náo động vào thời điểm đó, mà ở đây thì tin tức lan truyền rất nhanh. Chỉ có điều họ không biết Jamie MacTavish chính là người đàn ông bị truy nã; chừng nào những người biết tên thật của tôi không nhìn thấy tôi.” Tóc anh ta vẫn đang xù lên trông đến là buồn cười. Tôi chợt có thôi thúc vuốt lại nó giúp anh ta, nhưng cố kìm nén lại.

“Tại sao anh lại cắt tóc ngắn?” Tôi đột nhiên hỏi, rồi đỏ bừng mặt. “Tôi xin lỗi, đó nào phải là chuyện của tôi chứ. Tôi chỉ thấy lạ thôi, vì hầu hết những người đàn ông khác mà tôi gặp ở đây đều để tóc dài…”

Anh ta vuốt tóc, trông hơi e dè.

“Trước kia tôi cũng để tóc dài. Bây giờ nó ngắn ngủn như vậy là vì các thầy tu phải cạo phía sau đầu tôi và mất đến vài tháng tóc tôi mới mọc lại.” Anh ta cúi xuống, mời tôi kiểm tra phía sau đầu anh ta.

“Cô nhìn thấy rồi chứ?”

Tôi đương nhiên có thể sờ thấy và cả nhìn thấy nó khi rẽ mớ tóc dày; đó là một vết sẹo mới lành, dài khoảng mười lăm phân, vẫn còn hồng và hơi phồng lên. Tôi ấn nhẹ dọc theo chiều dài của nó. Vết thương này hẳn đã há hoác và chảy máu rất nhiều, nhưng nó đã được khâu rất khéo.

“Anh có bị đau đầu không?” Tôi hỏi vì “bệnh nghề nghiệp”. Anh ta ngồi dậy, vuốt lại mái tóc phủ lên vết thương rồi gật đầu.

“Thi thoảng, dù không bằng trước đây. Sau khi chuyện xảy ra, tôi đã bị mù khoảng một tháng và đầu lúc nào cũng đau dữ dội. Chứng đau đầu dần biến mất khi thị lực của tôi hồi phục.” Anh ta chớp chớp mắt vài lần như để kiểm tra sức nhìn.

“Đôi khi mắt tôi hơi mờ,” anh ta giải thích, “nếu tôi quá mệt mỏi. Mọi thứ trở nên nhòe đi.”

“Quả là kỳ diệu khi anh không chết,” tôi nói. “Hẳn là anh có cái sọ cực kỳ dày dặn.”

“Đúng vậy. Chị tôi nói tôi là một kẻ cứng đầu.”

Cả hai chúng tôi đều cười phá lên.

“Chuyện xảy ra thế nào?” Tôi hỏi. Anh ta cau mày, trên mặt lộ vẻ do dự.

“Chà, đó vẫn còn là một câu hỏi chưa có lời đáp,” anh ta chậm rãi trả lời. “Tôi chẳng nhớ gì hết trơn. Tôi đang ở gần đèo Carryarick với một vài gã đến từ hồ Laggan. Điều cuối cùng mà tôi biết là tôi đang len lỏi qua một bụi cây để lên đồi, bị quệt tay vào một bụi nhựa ruồi và nghĩ những giọt máu trông giống như những quả mọng. Thế rồi tôi thấy mình tỉnh dậy trong tu viện Sainte Anne de Beaupré ở Pháp với cái đầu giần giật như gõ trống và ai đó mà tôi không thể nhìn thấy đưa cho tôi một thứ đồ uống man mát.”

Anh ta xoa xoa sau gáy như thể bị đau.

“Thi thoảng tôi nghĩ tôi nhớ được những mẩu vụn vặt - một chiếc đèn trên đầu đu đưa qua lại, vị dầu ngọt ngào trên môi, người ta nói gì đó với tôi - nhưng tôi không biết liệu những điều đó có phải là thật không. Tôi biết các thầy tu đã cho tôi dùng thuốc phiện, và tôi mơ màng gần như suốt thời gian ấy.” Anh ta ấn những ngón tay vào hai mí mắt đang nhắm.

“Tôi có một giấc mơ lặp đi lặp lại. Trong đầu tôi mọc lên những cái rễ cây gồ ghề to đùng, chúng cứ lớn lên và phình to rồi thòi ra qua mắt tôi, thọc xuống họng khiến tôi bị nghẹn. Quá trình đó cứ diễn ra mãi, những cái rễ xoắn xít cứ lớn lên không ngừng cho đến khi làm xương sọ tôi vỡ tung. Thế là tôi thức giấc, vẫn còn nghe thấy tiếng xương vỡ.” Anh ta nhăn nhó. “Âm thanh ấy giống như tiếng súng bắn dưới nước vậy.”

“Ối!”

Đột nhiên có một bóng người phủ xuống đầu chúng tôi và một cái giày to tướng vung ra đá vào mạng sườn Jamie.

“Thằng lỏi lười biếng kia,” người mới tới nói, nhưng không hề có vẻ tức giận, “chỉ biết ngồi đây mà tọng đầy họng mình trong khi lũ ngựa chạy lung tung. Khi nào thì bây mới thuần phục được con ngựa cái non đó vậy hả, thằng lỏi?”

“Cháu phải “thuần phục” cơn đói của cháu trước đã, già Alec,” Jamie đáp. “Tiện đây, già ăn một chút đi; đồ ăn nhiều lắm.” Anh ta đưa một tảng pho mát cho bàn tay co quắp vì chứng viêm khớp của người mới tới. Những ngón tay, trông như đang siết lại nửa chừng, chậm chạp cầm lấy miếng pho mát. Rồi ông ta ngồi xuống cỏ.

Với dáng vẻ lịch thiệp đến không ngờ, Jamie giới thiệu vị khách; đó là Alec McMahon MacKenzie, người nài ngựa của lâu đài Leoch.

Với thân hình to bè đóng bộ trong chiếc quần ống túm bằng da và cái áo xù xì, ở người đàn ông này toát lên một vẻ uy quyền đủ để trấn áp con ngựa cứng đầu nhất. Trong đầu tôi lập tức bật ra một câu trích dẫn: “Con mắt giống của thần Chiến Tranh, có thể đe dọa hay sai khiến người khác[2].” Ông ta bị chột, con mắt còn lại bị che phủ bằng một miếng vải đen. Như để bù đắp cho sự mất mát đó, lông mày ông ta mọc rậm rạp với những sợi lông dài màu xám chĩa lên tua tủa như râu côn trùng đang ngoe nguẩy.

Sau khi gật đầu tỏ ý chào hỏi, già Alec (Jamie gọi ông ta như vậy, chắc là để phân biệt ông ta với nhóc Alec, cậu bé đã dẫn đường cho tôi) lờ tôi đi, chỉ chú ý vào thức ăn và ba con ngựa non đang ve vẩy đuôi trên đồng cỏ bên dưới. Tôi sớm mất hứng với cuộc bàn luận dài lê thê về nguồn gốc của vài con ngựa ưu tú không có mặt ở đây, các chi tiết trong những ghi chép về việc phối giống của cả chuồng ngựa trong vài năm qua, và một loạt những bộ phận cơ thể của lũ ngựa mà tôi không tài nào hiểu nổi như khuỷu chân sau, u vai, vai, vân vân… Vì tôi chỉ để ý đến mũi, đuôi và tai của một con ngựa nên những danh từ chuyên môn ấy tôi nghe mà cứ như vịt nghe sấm.

Tôi nằm chống khuỷu tay, phơi mình trong ánh mặt trời mùa xuân ấm áp. Ngày hôm nay bình yên đến lạ, có cảm giác như vạn vật đều lặng lẽ hoạt động, chẳng màng đến những mối bận tâm của con người. Có lẽ đó là sự bình yên mà người ta luôn tìm thấy khi ở nơi hoang dã, cách xa những tòa cao ốc và những âm thanh huyên náo. Có lẽ đó là kết quả của quá trình làm vườn, với cảm giác vui sướng âm thầm khi chạm vào những thứ đang lớn lên và niềm thỏa mãn khi giúp chúng sinh sôi nảy nở. Có lẽ đó chỉ là sự nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng tìm ra việc để làm thay vì đi lang thang quanh lâu đài và cảm thấy mình lạc lõng, thừa thãi như một vết mực trên tấm giấy da.

Mặc dù không hề tham gia vào cuộc bàn luận về ngựa này nhưng ở đây tôi lại chẳng cảm thấy lạc lõng chút nào. Già Alec làm như tôi chỉ là một phần của khung cảnh xung quanh, còn Jamie thi thoảng vẫn liếc về phía tôi nhưng anh ta cũng dần dần lờ tôi đi khi cuộc trò chuyện của họ chuyển sang tiếng Gaelic, dấu hiệu cho thấy một người Scot đã chú tâm vào chủ đề nào đó. Vì không hiểu họ đang nói gì nên cuộc trò chuyện vang lên êm ái bên tai tôi như thể tôi đang lắng nghe tiếng ong vo ve trong những khóm hoa thạch nam. Cảm giác buồn ngủ và thoải mái lạ lùng, tôi gạt hết mọi ý nghĩ về nỗi nghi ngờ của Colum, tình cảnh khó khăn của mình và những phiền phức khác ra khỏi đầu. “Đủ cho ngày hôm nay rồi,” tôi mơ màng nghĩ, nhặt câu trích dẫn trong Kinh Thánh từ một ngóc ngách nào đó của ký ức.

Một lát sau, tôi thức tỉnh, chẳng biết là vì cơn ớn lạnh do một đám mây bay ngang qua hay vì cuộc trò chuyện đã đổi sang tông giọng khác. Già Alec và Jamie đã lại nói tiếng Anh với giọng điệu nghiêm túc, không còn là cuộc tán gẫu vu vơ của những kẻ mê ngựa nữa.

“Chỉ còn một tuần nữa là đến lễ tụ hội rồi,” Alec nói. “Bây đã quyết định sẽ làm gì chưa?”

Jamie thở dài thườn thượt. “Cháu chưa quyết định được, già Alec ạ. Có lúc cháu nghĩ thế này, có lúc cháu lại nghĩ thế khác. Mặc dù ở đây với già và lũ ngựa thì rất là tuyệt.” Trong giọng nói của chàng trai trẻ ẩn chứa ý cười nhưng nó biến mất khi anh ta tiếp tục. “Và Colum đã hứa với cháu là sẽ… chà, già không nên biết thì hơn. Nhưng bắt cháu phải hôn lưỡi dao và đổi họ của cháu thành MacKenzie, đồng thời thề từ bỏ tất cả những gì cháu có từ khi được sinh ra ư? Không, cháu không thể làm điều đó.”

“Bây cứng đầu hệt như cha bây vậy,” Alec thốt lên, dù giọng ông có vẻ miễn cưỡng đồng tình. “Thi thoảng nhìn bây mà cứ như nhìn thấy ông ấy, dù bây cao và có mái tóc cùng làn da sáng màu như nhà ngoại bây.”

“Già biết ông ấy ư?” Jamie có vẻ hứng thú.

“Ồ, một chút. Ta nghe nói về ông ấy nhiều hơn. Ta đã ở lâu đài Leoch này từ trước khi cha mẹ bây cưới nhau mà. Khi nghe Dougal và Colum nói về Brian Đen, bây sẽ nghĩ ông ấy là quỷ sứ, thậm chí còn tệ hơn, và mẹ bây là Đức Mẹ Đồng Trinh, bị ông ấy dụ dỗ nên sa ngã.”

Jamie bật cười to. “Và cháu giống ông ấy, đúng không?”

“Đúng vậy. Ầy, ta hiểu tại sao bây không chịu trở thanh người của Colum. Nhưng vẫn có những điều đáng để cân nhắc, không phải sao? Chẳng hạn như, nếu Dougal đạt được mục đích và cuộc chiến đấu vì nhà Stuart thành công, đứng ở phe chiến thắng, bây sẽ lấy lại được đất đai của mình và nhiều thứ hơn nữa, bất kể Colum làm gì.”

Jamie đáp lời bằng thứ “âm thanh kiểu Scot” ậm ờ phát ra khò khè trong cổ họng vốn được dùng để biểu đạt bất cứ điều gì. Có vẻ như anh ta đang nghi ngờ khả năng có được một kết quả đáng thèm muốn như thế.

“Vâng,” anh ta nói, “nhưng nếu Dougal không đạt được mục đích thì sao? Hoặc nếu cuộc chiến thất bại?”

Alec cũng phát ra một âm thanh trong cổ họng. “Vậy thì bây ở lại đây, làm người nài ngựa thay ta; ta cũng không còn sống được lâu nữa, và ta chưa từng thấy kẻ nào điều khiển ngựa khá hơn bây.”

Tiếng ậm ờ khe khẽ của Jamie biểu lộ sự cảm kích vì lời khen này.

Ông già tiếp tục nói, chẳng thèm đếm xỉa đến những gì ngắt ngang lời mình. “Thị tộc Mackenzie cũng là họ ngoại của bây; như vậy không thể coi là bây từ bỏ dòng giống của mình. Ngoài ra còn có những điều đáng cân nhắc khác nữa” - ông ta giở giọng trêu chọc -“như cô Laoghaire chẳng hạn?”

Jamie lại phát ra một âm thanh kiểu Scot, lần này là để bày tỏ sự xấu hổ và phản bác.

“Này này, một chàng trai trẻ sẽ không chịu đòn thay cho một cô gái mà anh ta không quan tâm. Và bây biết là cha cô ta sẽ không cho cô ta cưới người bên ngoài thị tộc mà.”

“Cô ấy còn rất trẻ, Alec, và cháu cảm thấy thương hại cô ấy,” Jamie chống chế. “Chỉ thế thôi.” Lần này, đến lượt Alec phát ra “âm thanh kiểu Scot”, một tiếng xì đầy vẻ ngờ vực và nhạo báng.

“Đi mà nói điều đó với cánh cửa chuồng gia súc ấy, thằng lỏi; nó không có não nên mới tin bây. Chà, cho dù không phải là Laoghaire - và ta cam đoan là bây có thể vớ phải những cô vợ tệ hơn nhiều - bây sẽ có triển vọng hơn trong hôn nhân nếu bây có chút tiền bạc và một tương lai; chẳng hạn như làm người nài ngựa tiếp theo. Bây có thể lựa chọn các cô gái - nếu không có ai chọn bây trước!” Alec phì cười với sự vui vẻ có chút kìm nén của một người hiếm khi cười. “Gái bu quanh bây còn nhiều hơn ruồi bu quanh một hũ mật! Cho dù hiện giờ bây chỉ là kẻ không xu dính túi và vô danh tiểu tốt, lũ con gái vẫn mê tít bây - chính mắt ta đã trông thấy!” Ông ta cười to hơn. “Ngay cả cái cô Sassenach này cũng không thể rời khỏi bây, mà cô ta vừa mới trở thành góa phụ thôi đấy!”

Để ngăn chặn cả chuỗi những lời bình phẩm càng lúc càng chối tai, tôi quyết định dậy hẳn. Tôi vươn vai ngáp rồi ngồi dậy, vờ dụi mắt để tránh phải nhìn vào hai người họ.

“Ưmmm. Hình như tôi ngủ quên mất,” tôi nói, nháy mắt duyên dáng với họ. Jamie đỏ dừ cả hai tai, giả bộ thu dọn những gì còn lại của bữa trưa. Già Alec nhìn tôi chằm chằm, dường như bây giờ ông ta mới để ý đến tôi.

“Cô có thích ngựa không, cô gái?” Ông ta hỏi. Tôi khó có thể nói không trong hoàn cảnh này. Sau khi đồng ý rằng ngựa là loài động vật rất thú vị, tôi được “thết đãi” một bài bình luận chi tiết về con ngựa cái non hiện đang đứng mơ màng trong bãi giữ ngựa, cái đuôi thi thoảng lại ve vẩy để xua đuổi một con ruồi vo ve lại gần.

“Cô cứ tự nhiên tới xem chúng vào bất cứ lúc nào, cô gái,” Alec kết thúc bài giảng của mình, “miễn là cô đừng tới quá gần khiến chúng phân tâm. Chúng cần phải làm việc.” Đây rõ ràng là lời đuổi khéo, nhưng tôi vẫn đứng yên, nhớ lại mục đích ban đầu của mình khi đến đây.

“Vâng, lần sau tôi sẽ cẩn thận,” tôi hứa. “Nhưng trước khi quay lại lâu đài, tôi muốn kiểm tra vai của Jamie và tháo băng cho anh ấy.”

Alec chậm rãi gật đầu, nhưng chính Jamie lại từ chối khiến tôi ngạc nhiên vô hạn. Anh ta dợm quay trở lại bãi giữ ngựa.

“À, việc đó để sau đi,” anh ta nói, nhìn đi chỗ khác. “Hôm nay có nhiều việc phải làm lắm; có lẽ sau bữa tối, nhé?” Thật kỳ cục; lúc nãy anh ta đâu tỏ vẻ gì là vội vã quay lại với công việc. Nhưng tôi không thể ép anh ta nhận sự chăm sóc của tôi nếu anh ta không muốn. Tôi nhún vai, đồng ý gặp anh ta sau bữa tối, và quay lên đồi để trở về lâu đài.

Trên đường đi, tôi nghĩ về hình dáng vết sẹo trên đầu Jamie. Nó không thẳng như vết kiếm chém mà cong cong như thể bị một lưỡi dao uốn cong gây ra. Như lưỡi rìu Lochaber? Nhưng theo những gì tôi biết, chỉ có thành viên của các thị tộc mới mang loại vũ khí giết người đó thôi.

Bỗng tôi chợt nghĩ tới một điều. Một chàng trai trẻ đang chạy trốn những kẻ thù không biết mặt sao lại tin cậy một người lạ đến thế!

•••

Bỏ cái giỏ đựng đồ ăn trong bếp, tôi quay lại phòng khám bệnh của ông Beaton quá cố. Căn phòng hiện đã sạch như lau như li sau “chuyến viếng thăm” của mấy người phụ tá năng nổ dưới quyền bà Fitz. Thậm chí đám chai lọ trong tủ thuốc còn sáng bóng dưới ánh nắng nhàn nhạt hắt vào từ cửa sổ.

Tủ thuốc có vẻ là nơi phù hợp để bắt đầu kiểm kê vì nó chứa vô số các loại thảo mộc và dược phẩm. Đêm qua tôi đã dành vài phút trước khi ngủ để xem qua cuốn sách bìa da màu xanh mà tôi lấy từ phòng khám. Hóa ra nó là Cẩm nang của thầy thuốc, liệt kê một loạt các công thức chữa trị những triệu chứng và bệnh tật, các nguyên liệu của chúng đang bày ra rõ ràng trước mắt tôi.

Cuốn sách được chia thành mấy phần: “Thảo dược thuộc loại long đờm, thuốc mửa, và kẹo thảo dược,” “thuốc viên”, “thuốc cao hỗn hợp và công dụng của chúng”, “thuốc sắc và si rô” và một phần khá dày có cái tiêu đề đáng ngại chỉ có hai từ “thuốc xổ”.

Đọc qua vài công thức, tôi đã tỏ tường lý do ông Davie Beaton quá cố thất bại với các bệnh nhân của mình. “Đối với đau đầu”, một bài viết ghi, “lấy một viên phân ngựa, phơi khô kĩ càng, nghiền thành bột, khuấy vào trong bia nóng và uống hết.” Một vài trang sau đó thì viết, “thuốc sắc từ các loại rễ của cây bạch tiền, nghệ và nước ép từ hai trăm slater có tác dụng lớn trong việc chữa bệnh vàng da.” Tôi gấp cuốn sách lại, lấy làm kinh ngạc trước số lượng lớn bệnh nhân của ông thầy thuốc quá cố - theo cuốn nhật ký tỉ mỉ của ông ta - không những vẫn còn sống sau khi áp dụng các phương pháp điều trị ấy mà còn thực sự khỏi bệnh.

Có một lọ thủy tinh lớn màu nâu chứa vài viên trông có vẻ đáng ngờ, và căn cứ vào các công thức của Beaton, tôi có thể đoán được nó là gì. Tôi xoay xoay cái lọ, đắc ý đọc cái nhãn được viết bằng tay: PHÂN NGỰA. Thầm nghĩ đây không phải là thứ càng để lâu càng chất lượng, tôi rón rén đặt cái lọ sang một bên mà không mở nó ra.

Tìm hiểu tiếp, tôi thấy PURLES OVIS là tên bằng tiếng Latin của một thứ tương tự, nhưng là từ cừu. TAI CHUỘT hóa ra là tai của con chuột thật chứ không phải là loại thảo mộc có tên như vậy; tôi khẽ rùng mình, gạt sang bên cái lọ đựng những cái tai màu hồng nhỏ xíu khô quắt.

Tôi đã thắc mắc về “slater”, được viết theo nhiều kiểu khác nhau như “slatter”, “sclater”“slatear”, nó có vẻ là nguyên liệu quan trọng trong một số loại thuốc, vì vậy tôi vui mừng khi thấy một cái lọ nút bần trong suốt có cái tên này trên nhãn. Cái lọ đựng đầy đến một nửa những viên thuốc nhỏ màu xám có đường kính không quá nửa phân và tròn trĩnh đến nỗi khiến tôi kinh ngạc về khả năng bào chế của ông Beaton. Tôi nâng cái lọ lên sát mặt, ngạc nhiên vì nó nhẹ bẫng. Rồi tôi nhìn thấy những đường kẻ sọc trên mỗi “viên thuốc” và những cái chân bé xíu. Tôi vội vàng đặt cái lọ xuống, chùi tay vào tạp dề, và ghi thêm một mục vào cái danh sách mà tôi đã biên soạn trong đầu. “Slater” tức là “con mối”.

Có những cái lọ đựng những thứ ít nhiều vô hại, thậm chí có cả các chiết xuất hoặc thảo mộc khô thực sự hữu ích. Tôi tìm thấy ít giấm thơm và bột làm từ rễ irit thơm mà bà Fitz đã dùng để chữa trị các vết thương của Jamie MacTavish. Còn có cả bạch chỉ, ngải đắng hương thảo, và một thứ gì đó dán nhãn STINKING ARAG. Tôi thận trọng mở nắp cái chai này, và một mùi hương thơm ngát dễ chịu bồng bềnh bay ra, hóa ra nó chỉ là phần ngọn mềm mại của những nhánh linh sam. Tôi đặt cái chai lên bàn mà không đóng nắp lại để nhuộm thơm không khí trong căn phòng nhỏ tối tăm khi tôi tiếp tục công việc kiểm kê của mình.

Tôi vứt bỏ mấy cái lọ đựng ốc sên khô; dầu giun đất - có vẻ nó làm từ giun đất thật; vinum millepedatum - những con cuốn chiếu bị nghiền nhỏ, ngâm trong rượu; bột eygyptiane mumme[3] - trông như một loại bùn lấy từ bờ suối lầy lội hơn là tro cốt của xác ướp trong một ngôi mộ pharaoh[4]; máu bồ câu, trứng kiến, mấy con cóc khô được bọc cẩn thận trong rêu, và sọ người đã nghiền thành bột. Của ai? Tôi tự hỏi.

Mất gần cả buổi chiều tôi mới kiểm tra xong tủ thuốc và cái tủ nhiều ngăn kéo. Khi tôi đã xong việc, ngoài cửa phòng khám có một đống lớn nào chai, lọ, hộp và bình bị loại bỏ, chuẩn bị đem vứt đi, và chỉ còn ít thứ hữu ích được giữ lại, đem xếp gọn ghẽ trong tủ thuốc.

Tôi đã xem xét một gói mạng nhện lớn một lúc lâu, phân vân không biết nên bỏ đi hay giữ lại. Cả cuốn Cẩm nang của Beaton và trí nhớ mơ hồ của tôi về y học dân gian đều nói rằng mạng nhện rất có ích trong việc băng bó vết thương. Mặc dù khuynh hướng của tôi là phải cân nhắc kĩ càng hết mức khi sử dụng những thứ mất vệ sinh như thế nhưng kinh nghiệm băng bó bằng vải lanh ở bên đường đã cho tôi thấy sự cần thiết của một thứ vừa dính vừa thấm nước. Cuối cùng, tôi cất mớ mạng nhện trở lại tủ thuốc, suy nghĩ xem liệu có cách nào để khử trùng chúng không. Luộc thì không ổn. Có thể hấp sẽ tẩy sạch được chúng mà không hủy hoại tính kết dính?

Tôi chùi hai tay vào tạp dề, cân nhắc. Hiện giờ tôi đã kiểm tra gần như tất cả mọi thứ - chỉ còn cái rương gỗ kê sát tường. Tôi lật cái nắp lên, và lập tức bật ngửa vì mùi hôi thối xộc ra.

Cái rương là kho chứa dụng cụ phẫu thuật của Beaton, trong đó có những cái dao, đục, cưa trông đến là gớm ghiếc và những dụng cụ khác trông phù hợp với việc xây dựng hơn là dùng cho các lớp mô mảnh mai của con người. Mùi hôi thối rõ ràng bắt nguồn từ cái thực tế rằng Davie Beaton không thấy được lợi ích của việc lau rửa các dụng cụ ấy giữa những lần sử dụng. Tôi nhăn mặt ghê tởm trước những vết sẫm màu trên vài lưỡi dao và đóng sập cái nắp rương lại.

Tôi kéo lê cái rương ra cửa, định bụng sẽ nói với bà Fitz rằng sau khi đem luộc sạch các dụng cụ này thì nên phát cho thợ mộc của lâu đài, nếu ở đây có một thợ mộc.

Tiếng bước chân ở đằng sau làm tôi giật mình dừng lại kịp thời, suýt chút nữa thì đâm sầm phải người vừa bước vào. Tôi quay lại và thấy hai chàng trai trẻ, người nọ dìu người kia vì một người phải nhảy lò cò. Cái chân bị thương được quấn tạm một mớ giẻ lấm chấm máu tươi.

Tôi nhìn quanh rồi chỉ về phía cái rương vì trong phòng chẳng còn thứ gì khác. “Ngồi xuống đi,” tôi nói. Vậy là thầy thuốc mới của lâu đài Leoch đã bắt đầu hành nghề.

[1] Trong tiếng Gaelic, Mhor có nghĩa là “To lớn”.

[2] Trích trong vở kịch Hamlet của William Shakespeare.

[3] Nghĩa là xác ướp Ai Cập.

[4] Vua Ai Cập cổ.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.