Chúng tôi tới Doonesbury khi trời đã tối mịt. May thay đó là một trạm dừng khá lớn và có một quán trọ. Dougal thoáng nhắm mắt vì đau lòng khi trả tiền trọ; sẽ phải tốn thêm một số bạc kha khá để đổi lấy sự im lặng của ông chủ quán về sự xuất hiện của chúng tôi.
Số bạc ấy cũng đảm bảo cho chúng tôi có một bữa ăn thịnh soạn với thật nhiều bia. Dù đồ ăn thức uống ngon lành nhưng bữa tối vẫn diễn ra trong không khí căng thẳng, hầu hết mọi người đều im lặng. Ngồi đó trong chiếc váy rách rưới được che bớt phần nào bởi cái áo sơ mi của Jamie, tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Trừ Jamie, cánh đàn ông cư xử như thể tôi hoàn toàn vô hình, ngay cả Jamie cũng chẳng làm gì hơn ngoài việc thi thoảng đẩy bánh mỳ và thịt về phía tôi. Tôi thực sự nhẹ nhõm khi cuối cùng chúng tôi cũng lên phòng, dù căn phòng nhỏ bé và hết sức chật chội.
Tôi thả phịch người xuống giường và thở dài, chẳng thèm đếm xỉa đến tình trạng của đống ga trải giường.
“Em mệt bã rồi. Hôm nay quả là một ngày dài.”
“Ừ, đúng vậy.” Jamie cởi cúc ở cổ áo, cổ tay áo và tháo thắt lưng đeo kiếm, nhưng không cởi thêm gì nữa. Anh rút bao kiếm ra và gập đôi cái thắt lưng bằng da, trầm ngâm vung vẩy nó.
“Lên giường đi, Jamie. Anh còn chờ gì nữa?”
Anh tới đứng bên giường, nhẹ nhàng vung vẩy cái thắt lưng.
“Chà, anh e là tối nay chúng ta vẫn còn phải giải quyết một vấn đề nữa trước khi đi ngủ.”
Tôi đột nhiên cảm thấy e sợ.
“Vấn đề gì vậy?”
Anh không trả lời ngay. Cố tình không ngồi xuống cạnh tôi trên giường, anh kéo một cái ghế đẩu và ngồi đối diện với tôi.
“Claire, em có nhận ra rằng,” anh khẽ nói, “chiều nay tất cả chúng ta suýt nữa đã bị giết chết không?”
Tôi nhìn xuống tấm chăn, đỏ mặt vì xấu hổ. “Có, em biết. Là lỗi của em. Em xin lỗi.”
“Ừ, vậy là em có nhận ra,” anh nói. “Em có biết rằng nếu một người trong chúng ta phạm phải một lỗi như vậy, đẩy những người còn lại vào nguy hiểm, anh ta có thể sẽ bị cắt tai hoặc quất roi hoặc thậm chí là bị giết ngay lập tức không?”
Mặt tôi tái nhợt trước thông tin này.
“Không, em không biết.”
“Chà, anh biết rằng em không rõ lề lối của bọn anh, và đó là một lý do để bào chữa. Tuy nhiên, anh đã bảo em náu mình. Nếu em làm vậy, chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra. Bây giờ, quân Anh đang tìm kiếm chúng ta khắp nơi; chúng ta sẽ phải ẩn núp lúc ban ngày và di chuyển vào ban đêm.”
Anh ngừng lại. “Còn về Đại úy Randall… ầy, lại còn chuyện đó nữa.”
“Ý anh là, hắn sẽ đặc biệt tìm kiếm anh, vì bây giờ hắn đã biết anh ở đây?”
Anh lơ đãng gật đầu, nhìn về phía ngọn lửa trong lò sưởi.
“Ừ. Hắn… với hắn, đó là chuyện cá nhân, em biết chứ?”
“Em rất xin lỗi, Jamie,” tôi nói.
Jamie phẩy tay gạt đi.
“Ờ, nếu chỉ có anh bị tổn thương vì việc em gây ra, anh sẽ không nhắc đến chuyện này nữa. Nhưng,” anh liếc tôi với ánh mắt sắc lẹm, “anh đau đớn tưởng chết khi chứng kiến tên súc sinh đó đặt tay lên người em.” Anh lại nhìn về phía ngọn lửa, vẻ mặt căng thẳng, như thể đang nhớ đến những sự kiện của buổi chiều.
Tôi định nói với anh về những… khó khăn của Randall, nhưng e là điều đó sẽ gây hại nhiều hơn lợi. Tôi tha thiết muốn ôm lấy Jamie và năn nỉ anh tha thứ cho tôi, nhưng lại không dám chạm vào anh. Sau một lúc lâu im lặng, anh thở dài và đứng dậy, khẽ đập cái dây lưng vào đùi.
“Chà,” anh nói. “Tốt nhất là làm cho xong chuyện này đi. Em đã gây rắc rối khá lớn vì làm trái lệnh anh, do đó anh sẽ trừng phạt em, Claire. Em còn nhớ những gì anh nói với em lúc anh chuẩn bị rời đi sáng nay chứ?” Tôi nhớ rất rõ, và vội vàng trèo lên giường để nép lưng vào tường.
“Ý anh là gì?”
“Em biết rõ ý anh là gì,” anh cứng rắn nói. “Hãy quỳ xuống bên cạnh giường và nhấc váy lên.”
“Em sẽ không làm thế đâu!” Tôi bám chặt vào cọc giường bằng cả hai tay và nép mình sâu hơn vào trong góc.
Jamie nheo mắt nhìn tôi trong một thoáng, cân nhắc xem nên làm gì tiếp theo. Tôi chợt nhận ra rằng chẳng thứ gì có thể ngăn anh làm điều anh muốn với tôi; anh nặng hơn tôi cả ba chục cân. Nhưng cuối cùng, anh quyết định nói chuyện thay vì hành động, và cẩn thận đặt cái thắt lưng da sang một bên trước khi bò qua đống chăn ga trên giường để đến ngồi cạnh tôi.
“Nào, Claire…” anh mở lời.
“Em đã nói là em xin lỗi rồi mà!” Tôi bật thốt. “Và em thực sự hối hận. Em sẽ không bao giờ làm một việc như thế nữa!”
“Chà, đó chính là vấn đề,” anh chậm rãi nói. “Em có thể tái phạm. Bởi vì em không hiểu được tính nghiêm trọng của mọi việc. Anh nghĩ em đến từ một nơi có cuộc sống yên bình hơn. Ở nơi ấy, việc bất tuân lệnh hoặc tự làm theo ý mình không hề mang tính sống còn. Cùng lắm, em chỉ có thể khiến cho ai đó khó chịu hoặc thấy phiền toái, nhưng không hại chết họ.” Những ngón tay anh gấp nếp chiếc váy kẻ ô màu nâu nhạt khi anh sắp xếp các ý nghĩ trong đầu.
“Nhưng ở những nơi và những thời điểm như thế này, có một sự thật phũ phàng rằng một hành động nhỏ cũng có thể gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng - đặc biệt là đối với một người đàn ông như anh.” Anh vỗ vỗ vai tôi khi thấy tôi sắp khóc.
“Anh biết em sẽ không bao giờ cố tình gây nguy hiểm cho anh hay bất cứ ai. Nhưng em có thể dễ dàng làm thế một cách vô tình, giống như hôm nay, bởi vì em không thực sự tin anh khi anh nói với em rằng một việc gì đó là nguy hiểm. Em quen tự quyết theo ý mình và anh biết rằng,” anh liếc xéo tôi, “em không quen nghe theo mệnh lệnh của một người đàn ông. Nhưng em phải tập làm vậy, vì tất cả chúng ta.”
“Được thôi,” tôi chậm rãi nói. “Em hiểu. Đương nhiên là anh nói đúng. Được thôi; em sẽ làm theo những mệnh lệnh của anh, ngay cả khi em không đồng ý với chúng.”
“Tốt.” Anh đứng lên, nhấc cái thắt lưng. “Giờ thì xuống giường đi, và chúng ta sẽ làm cho xong chuyện này.”
Miệng tôi há hoc trong nỗi phẫn nộ. “Cái gì cơ? Em đã nói là em sẽ làm theo những mệnh lệnh của anh mà!”
Anh thở dài bực tức, rồi lại ngồi xuống ghế, nhìn tôi chằm chằm.
“Nghe này. Em nói là em hiểu anh, và anh tin điều đó. Nhưng hiểu là một chuyện, còn biết lại là một chuyện khác.”
Tôi miễn cưỡng gật đầu.
“Được rồi. Bây giờ, anh sẽ phải trừng phạt em vì hai lý do: thứ nhất, đó là để dạy cho em biết.” Anh đột nhiên mỉm cười. “Từ chính kinh nghiệm của mình, anh có thể nói với em rằng một trận đòn đau sẽ khiến em hiểu rõ hơn tính nghiêm trọng của mọi việc.”
Tôi bám chặt cái cọc giường hơn.
“Lý do thứ hai,” anh tiếp tục, “là vì những người khác. Tối nay, em đã nhận thấy thái độ của họ thế nào rồi chứ?” Đúng vậy, không khí ở bữa tối căng thẳng đến nỗi tôi cảm thấy vui mừng khi thoát khỏi căn phòng đó.
“Có một thứ được gọi là công lý, Claire. Em có lỗi với tất cả bọn họ, và em sẽ phải chịu trừng phạt.” Anh hít sâu một hơi. “Anh là chồng em; bổn phận của anh là lo liệu việc đó, và anh đang định làm thế.”
Tôi cực lực phản đối. Cho dù trong hoàn cảnh này, phải thừa nhận rằng công lý đang nghiêng về phía anh, nhưng lòng tự trọng của tôi bị tổn thương sâu sắc trước ý nghĩ bị đánh bởi bất cứ ai và vì bất cứ lý do gì.
Tôi cảm thấy bị phản bội khi người đàn ông mà tôi coi là bạn, là người bảo vệ và là người tình lại có ý định làm một việc như thế với tôi. Và bản năng tự bảo vệ trong tôi thầm sợ hãi khi nghĩ đến việc chịu sự trừng phạt của một người có thể cầm thanh kiếm nặng gần bảy cân như thể nó là một cây chổi đuổi ruồi.
“Em sẽ không cho phép anh đánh em,” tôi kiên quyết nói, vẫn bám chặt cọc giường.
“Ồ, em không cho phép ư?” Anh nhướng đôi lông mày hung đỏ. “Chà, nghe này, anh nghĩ em không có quyền lên tiếng trong chuyện này. Em là vợ anh, dù em có thích hay không. Nếu anh muốn bẻ gãy tay em, hay không cho em ăn gì ngoài bánh mỳ và nước, hay nhốt em trong phòng nhiều ngày trời - đừng nghĩ anh sẽ không bao giờ có ý định ấy - anh có thể làm thế, huống hồ là quất roi vào mông em.”
“Em sẽ gào lên đấy!”
“Có thể. Nếu em không gào trước thì cũng gào trong lúc bị đánh thôi. Anh nghĩ là ở trang trại kế bên cũng sẽ nghe thấy tiếng la hét của em; em có hai lá phổi rất khỏe.” Anh cười nhăn nhở trông thật đáng ghét và leo lên giường tới chỗ tôi.
Anh loay hoay mãi mới cạy được những ngón tay tôi và lôi tôi tới mép giường. Tôi đá vào ống chân anh, nhưng vì không đi giày nên tôi chẳng thể làm anh đau đớn. Anh khẽ càu nhàu, ấn tôi nằm úp mặt xuống giường rồi vặn tay tôi ra sau để giữ tôi ở yên đó.
“Anh nghiêm túc đấy, Claire! Bây giờ, nếu em nằm im chịu trận, chúng ta sẽ giải quyết xong chuyện này với một tá roi.”
“Nếu em không chịu thì sao?” Tôi run rẩy hỏi.
Anh nhấc cái thắt lưng da lên và quất vào chân mình với một tiếng chát gớm ghiếc.
“Vậy thì anh sẽ chẹn đầu gối lên lưng em và đánh em cho đến khi cánh tay anh mỏi rã rời, và anh cảnh báo em, em sẽ kiệt sức trước khi anh thấm mệt đấy.”
Tôi nhảy khỏi giường và xoay người đối mặt với anh, hai nắm đấm siết chặt.
“Đồ man rợ! Đồ… đồ bạo dâm!” Tôi phẫn nộ rít lên. “Anh làm chuyện này vì niềm khoái lạc của chính anh! Em sẽ không bao giờ tha thứ cho anh!”
Jamie ngừng lại, xoắn cái dây lưng, rồi nói với giọng đều đều: “Anh không biết bạo dâm là cái gì. Và nếu anh tha thứ cho em vì chuyện chiều nay, anh nghĩ em cũng sẽ tha thứ cho anh ngay khi em có thể ngồi trở lại.”
“Còn về niềm khoái lạc của anh…” Môi anh nhếch lên. “Anh đã nói là anh sẽ phải trừng phạt em. Anh không nói là anh không thích việc này.”
Anh ngoắc ngón tay với tôi.
“Lại đây.”
•••
Sáng hôm sau, tôi không muốn rời khỏi căn phòng vốn là nơi ẩn náu của mình mà cứ nghịch vơ vẩn, hết buộc lại tháo những sợi ruy băng rồi lại chải tóc. Tôi đã không nói chuyện với Jamie từ đêm qua, nhưng khi nhận thấy sự chần chừ của tôi, anh liền giục tôi đi ăn sáng với anh.
“Em đừng sợ gặp những người khác, Claire. Họ có thể sẽ bỡn cợt em một chút, nhưng không đến nỗi nào đâu. Ngẩng đầu lên xem nào!” Anh day nhẹ cằm tôi và tôi cắn một phát mạnh nhưng không sâu vào tay anh.
“Ối!” Anh giật tay lại. “Cẩn thận đấy; em không biết những ngón tay anh đã để ở đâu đâu.” Anh cười khùng khục rồi rời khỏi tôi, đi ăn sáng.
Hẳn là anh đang có tâm trạng tốt, tôi cay đắng nghĩ. Nếu thứ mà anh muốn vào đêm qua là sự trả đũa thì anh đã làm được rồi.
Đó là một đêm vô cùng khó chịu. Tôi chỉ miễn cưỡng phục tùng cho đến khi ngọn roi da đầu tiên quất vào da thịt bỏng rát. Ngay sau đó là một cuộc giằng co ngắn nhưng dữ dội, để lại cho Jamie cái mũi đầm đìa máu, ba vết xước đáng yêu trên một bên má và một vết cắn sâu hoắm ở cổ tay. Đương nhiên, tôi cũng bị vùi mặt vào đống chăn nhầy nhụa với một cái đầu gối chẹn trên lưng, nếm một trận đòn thừa sống thiếu chết.
Hóa ra cái anh chàng Jamie xấu xa chết tiệt ấy đã đúng. Cánh đàn ông chào hỏi khá dè dặt nhưng thân thiện; vẻ thù địch và coi thường của tối qua đã biến mất.
Khi tôi đang đứng ở chỗ tủ búp phê để cho trứng vào đĩa, Dougal tiến tới choàng tay qua vai tôi như một người cha. Râu ông ta nhột nhạt cọ vào tai tôi khi ông ta nói với tôi bằng giọng ồm ồm vẻ bí mật.
“Ta hy vọng đêm qua Jamie đã không quá thô bạo với cô. Nghe như cô đang bị giết vậy.”
Tôi đỏ dừ mặt và quay đi để ông ta không nhìn thấy. Sau những lời lẽ đáng ghét của Jamie, tôi đã quyết tâm mím chặt môi trong suốt cuộc trừng phạt. Tuy nhiên, khi vào cuộc, tôi cam đoan ngay cả con nhân sư cũng không thể nín lặng nếu phải chịu ngọn roi của Jamie Fraser.
Dougal quay sang gọi Jamie lúc ấy đang ngồi ở bàn ăn bánh mỳ và pho mát. “Này, Jamie, không cần phải đánh cô ấy gần chết như vậy đâu. Một lời nhắc nhở nhẹ nhàng là đủ rồi mà.” Ông ta vỗ mạnh vào mông tôi để minh họa, khiến tôi nhăn nhó vì đau. Tôi trừng mắt với ông ta.
“Một cái mông bị phồng giộp không phải là thương tổn vĩnh viễn,” Murtagh vừa nhồm nhoàm nhai bánh mỳ vừa nói.
“Thực vậy,” Ned nói, nhe răng cười. “Tới đây ngồi đi, cô gái.”
“Tôi sẽ đứng, cảm ơn ông,” tôi kiêu hãnh nói, khiến tất cả bọn họ rú lên cười. Jamie tránh nhìn vào mắt tôi khi anh mải miết cắt một mẩu pho mát.
Thêm một vài lời trêu chọc vui vẻ nữa, và mỗi người đàn ông đều lấy cớ vỗ vào mông tôi với vẻ thông cảm giả tạo. Nhưng nhìn chung, tôi có thể chịu đựng được điều đó, và bắt đầu miễn cưỡng nghĩ rằng có thể Jamie đã đúng, dù tôi vẫn muốn bóp cổ anh.
Vì không thể ngồi được nên tôi tự làm mình bận rộn suốt buổi sáng với những việc vặt vãnh như viền váy và khâu khuy bên cửa sổ, với cái cớ là cần ánh sáng để nhìn cho rõ. Sau bữa trưa mà tôi phải đứng để ăn, chúng tôi về phòng mình nghỉ ngơi. Dougal đã quyết định chờ đến tối hẳn mới lên đường đi Bargrennan, điểm dừng chân tiếp theo trên hành trình của chúng tôi. Jamie theo tôi về phòng, nhưng tôi đóng sầm cánh cửa trước mặt anh. Cứ để cho anh ngủ ngoài sàn lần nữa.
Đêm qua, anh đã khá tế nhị khi lẳng lặng đeo lại thắt lưng và rời khỏi phòng ngay sau khi hoàn thành xong việc trừng phạt. Một tiếng sau, khi tôi đã tắt đèn và lên giường, anh mới quay lại, nhưng đủ khôn ngoan để không cố trèo lên nằm cùng tôi. Sau khi nhòm vào bóng tối chỗ tôi đang nằm im không động đậy, anh thở dài thườn thượt, quấn cái áo choàng len quanh người và nằm ngủ trên sàn nhà, ngay gần cửa.
Quá giận dữ, tức tối và khó chịu đến không ngủ nổi, tôi đã nằm thao thức gần như cả đêm, hết nghĩ đến những điều Jamie nói rồi lại muốn trở dậy và đá vào vị trí nhạy cảm của anh.
Nếu suy nghĩ một cách khách quan, dù tôi chẳng có tâm trạng đâu mà làm vậy, tôi có thể thừa nhận rằng anh đã đúng khi nói tôi không hiểu rõ tính nghiêm trọng của mọi việc. Nhưng anh đã sai khi nói rằng đó là vì ở chỗ tôi cuộc sống có vẻ yên bình hơn - cho dù là nơi nào chăng nữa. Thực tế, là ngược lại mới đúng.
Với tôi, thời đại này về nhiều mặt vẫn có chút hoang đường; nó giống như một vở kịch hoặc một hoạt cảnh lịch sử. So sánh với những cảnh tượng của cuộc chiến tranh cơ giới hóa quy mô lớn ở chỗ tôi, những trận đánh nhỏ lẻ mà tôi đã thấy ở đây - với một vài người đàn ông trang bị kiếm và súng hỏa mai - có vẻ thú vị hơn là đáng sợ.
Quy mô của mọi thứ chính là vấn đề đối với tôi. Bị giết bằng súng hỏa mai hay súng cối thì đều chết như nhau cả. Chỉ có điều súng cối thì giết hàng tá người một lúc, trong khi kẻ bắn súng hỏa mai lại có thể nhìn thấy đôi mắt của người mà anh ta giết, khiến tôi có cảm giác đó là giết người chứ không phải chiến tranh. Bao nhiêu người thì làm nên một cuộc chiến tranh? Có lẽ cần nhiều đến mức họ không phải thực sự nhìn thấy nhau? Tuy nhiên, đối với Dougal, Jamie, Rupert và Ned, đây rõ ràng là chiến tranh - hay ít nhất cũng là vấn đề hệ trọng. Ngay cả Murtagh mặt chuột nhỏ bé cũng có lý do để dùng đến bạo lực.
Những lý do đó là gì? Một vị vua này thay cho một vị vua khác? Nhà Hanover và nhà Stuart? Đối với tôi, đó chỉ là những cái tên trên một tấm biểu đồ treo trên tường phòng học. Họ có là gì khi so với một con quỷ không thể tưởng tượng nổi như Đức quốc xã của Hitler? Có lẽ chỉ những người sống dưới các triều vua ấy mới cảm nhận được sự khác biệt, dù những sự khác biệt ấy có vẻ quá tầm thường đối với tôi. Tuy nhiên, từ khi nào mà cái quyền được sống theo ý mình muốn lại bị coi là tầm thường vậy? Liệu một cuộc chiến để lựa chọn số phận của chính mình có kém quan trọng hơn sự cần thiết phải ngăn chặn một con quỷ lớn? Tôi giận dữ trở mình, rón rén xoa cái mông đau. Tôi quắc mắt nhìn Jamie đang cuộn tròn như một quả bóng bên cạnh cửa. Anh thở đều đều nhưng nhẹ nhàng; có lẽ anh cũng không ngủ được. Tôi hy vọng là vậy.
Ban đầu, tôi đã có xu hướng coi toàn bộ rủi ro này như một vở kịch mê lô; những chuyện như vậy không xảy ra trong cuộc đời thực. Tôi đã có quá nhiều cú sốc từ lúc bước qua tảng đá bị nứt, nhưng đến chiều nay tôi mới gặp cú sốc tồi tệ nhất.
Jack Randall rất giống mà cũng rất khác Frank. Sự đụng chạm của hắn trên ngực tôi đã đột nhiên tạo ra mối liên kết giữa cuộc đời cũ và cuộc đời này của tôi, nhập hai cái thực tại bị chia tách làm một với một cú đập nghe như tiếng sấm nổ. Còn có Jamie nữa: khuôn mặt anh cứng đờ vì sợ hãi nơi khung cửa sổ phòng Randall, méo mó vì thịnh nộ lúc ở ven đường, căng cứng vì đau đớn trước những lời xúc phạm của tôi.
Jamie. Jamie là thật, đúng vậy, thật hơn bất cứ thứ gì, kể cả Frank và cuộc đời tôi năm 1945. Jamie, người tình dịu dàng và kẻ đê tiện bội bạc.
Có lẽ đó là một phần của vấn đề. Jamie chiếm trọn tâm trí khiến tôi chẳng còn để ý đến những gì xung quanh anh. Nhưng tôi không thể phớt lờ chúng thêm nữa. Sự liều lĩnh của tôi vào chiều nay đã suýt giết chết anh, và ý nghĩ mất anh khiến lòng dạ tôi quặn thắt. Tôi chợt ngồi bật dậy, định bụng tới đánh thức anh để bảo anh lên giường với tôi, nhưng khi trọng lượng cơ thể dồn xuống cái kết quả do tay anh tạo ra, tôi lập tức đổi ý và giận dữ lật sấp người lại.
Cả đêm bị giằng xé giữa những cơn thịnh nộ và lý luận đã khiến tôi kiệt sức. Tôi ngủ suốt buổi chiều và lờ đờ đi xuống ăn một bữa tối nhẹ nhàng khi Rupert đánh thức tôi dậy ngay trước khi trời tối.
Dougal đã kiếm cho tôi một con ngựa khác và hẳn là đang tiếc đứt ruột vì chi phí phải bỏ ra. Đó là một con vật khỏe khoắn dù vóc dáng không được đẹp, với ánh mắt hiền lành và cái bờm ngắn lởm chởm; tôi lập tức đặt tên cho nó là Thistle[1].
Tôi đã không lường đến cái kết quả là mình sẽ phải cưỡi ngựa suốt một chặng đường dài khi mông vẫn còn ê ẩm sau trận đòn đau. Tôi nghi ngại nhìn cái yên cứng ngắc của Thistle, đột nhiên nhận ra mình đang vướng vào rắc rối gì. Bỗng nhiên một cái áo choàng dày dặn được vắt ngang qua yên ngựa và từ phía đối diện, con mắt màu đen trông như mắt chuột của Murtagh nháy với tôi một cái vẻ đồng lõa. Tôi quyết định rằng ít nhất mình sẽ chịu đựng trong sự im lặng đầy kiêu hãnh, và cắn chặt răng nhảy lên yên ngựa.
Dường như cánh đàn ông đã ngầm thông đồng với nhau; họ thường xuyên thay phiên nhau dừng lại để giải quyết nhu cầu, cho phép tôi xuống ngựa trong vài phút và lén xoa cái mông đau. Thi thoảng, một người sẽ gợi ý dừng lại để uống nước, và như thế thì tôi cũng phải dừng lại, bởi vì những chai nước được buộc trên người Thistle.
Chúng tôi cứ đi như vậy đã được vài tiếng, nhưng cơn đau càng lúc càng tồi tệ hơn, khiến tôi không ngừng nhúc nhích trên yên ngựa. Cuối cùng, tôi quyết định quẳng hết sự chịu đựng đầy kiêu hãnh của mình đi. Tôi cần phải xuống ngựa một lúc.
“Họ!” Tôi hô lên với Thistle và nhảy xuống, vờ kiểm tra cái chân trái đằng trước của nó khi những con ngựa khác dừng lại quanh chúng tôi.
“Nó bị mắc một hòn đá vào móng,” tôi nói dối. “Tôi đã lấy hòn đá ra, nhưng tốt hơn hết là tôi nên dẫn nó đi bộ một lúc; tôi không muốn nó bị què.”
“Ừ, không thể để nó bị què được,” Dougal nói. “Được rồi, vậy cô hãy đi bộ một lát, nhưng phải có ai đó ở lại với cô. Con đường này khá yên bình, nhưng ta không thể để cô đi bộ một mình.”
Jamie lập tức xuống ngựa.
“Cháu sẽ đi với cô ấy,” anh khẽ nói.
“Tốt Đừng lần lữa lâu quá nhé; chúng ta phải có mặt ở Bargrennan trước bình minh. Ta sẽ đợi ở chỗ biển hiệu của quán Lợn Lòi Đỏ; chủ quán là một người bạn.” Rồi ông ta vẫy tay, tập họp những người khác lại và tiếp tục lên đường, bỏ lại chúng tôi trong đám bụi mù.
•••
Vài tiếng đồng hồ bị cái yên ngựa hành hạ càng khiến tâm trạng tôi tồi tệ hơn. Cứ để mặc anh đi bộ với tôi. Tôi thà chết còn hơn là nói chuyện với anh, một gã cục súc bạo dâm.
Trông anh không có vẻ vũ phu lắm dưới ánh sáng của vầng trăng bán nguyệt đang nhô cao, nhưng tôi cố tỏ ra cứng rắn và tập tễnh bước đi, tránh nhìn vào anh.
Ban đầu, những bắp thịt bị hành hạ của tôi phản đối bài tập không quen thuộc này, nhưng sau khoảng nửa tiếng, tôi bắt đầu đi lại dễ dàng hơn.
“Đến mai em sẽ cảm thấy khá hơn,” Jamie bất chợt lên tiếng. “Mặc dù vậy, phải đến ngày kia em mới ngồi thoải mái được.”
“Sao anh lại tường tận như vậy?” Tôi nổi cáu. “Anh hay đánh người lắm à?”
“Ồ, không,” anh nói, chẳng hề phiền lòng bởi thái độ của tôi. “Đây là lần đầu tiên anh làm vậy. Nhưng anh bị đánh nhiều lần rồi.”
“Anh á?” Tôi há hốc miệng nhìn anh. Không thể tin nổi là có ai đó từng quất roi da vào khối cơ bắp đồ sộ sừng sững này.
Anh phì cười trước vẻ mặt của tôi. “Hồi anh nhỏ hơn bây giờ, Sassenach ạ. Trong khoảng thời gian từ tám đến mười ba tuổi, anh đã bị đánh vào mông nhiều đến nỗi không đếm xuể. Việc đó chỉ chấm dứt khi anh bắt đầu cao hơn cha anh và ông không tiện vắt anh lên hàng rào nữa.”
“Cha anh đánh anh?”
“Ừ, chủ yếu là vậy. Đương nhiên là cả thầy giáo và thi thoảng là Dougal hoặc một trong những ông cậu, ông chú hay ông bác khác, tùy vào nơi anh ở và việc anh đã làm.”
Tôi trở nên hứng thú, bất chấp quyết tâm lờ anh đi.
“Anh đã làm những gì vậy?”
Anh lại cười, tiếng cười khẽ khàng nhưng dễ lây lan trong màn đêm tĩnh lặng.
“Chà, anh không thể nhớ hết. Nhưng nhìn chung là anh đáng bị đòn. Ít nhất thì anh không nghĩ cha anh có lần nào đánh oan anh.” Anh sải bước mà không nói gì trong một phút vì còn mải suy nghĩ.
“Ừm. Xem nào, có một lần là vì ném đá vào lũ gà con, và một lần là vì cưỡi bò và khiến chúng kích động đến nỗi không thể tiết ra sữa, rồi còn chuyện ăn hết mứt phết trên những cái bánh rồi bỏ bánh lại. A, lại còn làm lũ ngựa xổng chuồng vì không gài chốt cổng, và làm cháy mái chuồng chim bồ câu - đó là một tai nạn, anh không cố tình làm thế - rồi thì làm mất sách vở - việc đó thì anh cố ý - và…” Anh ngừng lại, nhún vai, trong khi tôi không thể nín cười.
“Toàn là những chuyện thông thường. Nhưng lý do phổ biến nhất vẫn là anh hay nói những điều không nên nói.”
Anh phì cười trước một ký ức nào đó. “Có lần, anh đã chọc cho chị Jenny cáu điên lên và ném một cái bình vào anh, khiến cho nó vỡ tan. Khi cha anh vào nhà và hỏi ai đã gây ra việc này, chị ấy sợ đến nỗi không nói được gì và chỉ vào anh, đôi mắt mở to đầy đe dọa - chị ấy cũng có đôi mắt xanh giống anh nhưng đẹp hơn với hàng mi đen dày.” Jamie lại nhún vai. “Dù sao đi nữa, anh đã nói với cha anh rằng chính anh là thủ phạm.”
“Anh thật cao thượng,” tôi chế giễu. “Chị anh hẳn biết ơn lắm.”
“Ừ, chắc thế. Chỉ có điều cha anh đã đứng ngoài cửa, chứng kiến từ đầu đến cuối. Vì thế chị ấy bị đánh vì tội không giữ được bình tĩnh và làm vỡ cái bình, còn anh thì bị đánh gấp đôi; một là vì trêu chị ấy, hai là vì nói dối.”
“Thật bất công!” Tôi phẫn nộ nói.
“Cha anh không phải lúc nào cũng hiền lành nhưng thường rất công bằng,” Jamie điềm đạm giải thích. “Ông nói rằng sự thật là sự thật, và con người nên chịu trách nhiệm cho những hành động của mình. Đó là một điều đúng đắn.” Anh liếc nhìn tôi.
“Nhưng ông cũng nói anh thật tốt bụng khi nhận lỗi thay chị mình, vì vậy dù ông phải phạt anh song anh có thể chọn lựa giữa việc bị đánh hoặc đi ngủ mà không ăn tối.” Anh cười rầu rĩ, lắc lắc đầu. “Cha anh hiểu anh quá rõ. Anh đã chấp nhận bị đánh mà không thắc mắc gì.”
“Anh đúng là đồ ham ăn, Jamie,” tôi nói.
“Ừ,” anh đồng ý, không hề tỏ vẻ tức giận. “Anh luôn như vậy. Cả mày nữa, đồ háu ăn,” anh nói với con ngựa của mình. “Chờ đến lúc nghỉ đã nhé!” Anh giật dây cương, kéo cái mũi dòm dỏ của nó ra khỏi những búi cỏ quyến rũ dọc đường.
“Ầy, cha anh thật công bằng,” anh tiếp tục, “và để ý đến cảm xúc của anh, dù lúc ấy anh chắc chắn không hiểu được. Ông sẽ không để anh phải đợi lâu; nếu anh làm gì sai, anh bị trừng trị ngay lập tức - hoặc ngay khi ông phát hiện ra. Ông luôn giải thích cho anh biết mình sắp bị đòn vì điều gì, và anh có thể phản bác nếu muốn.”
Ồ, ra là vậy! Anh đang mưu tính làm tôi nguôi giận. Tôi không nghĩ anh có thể thuyết phục được tôi từ bỏ cái quyết tâm mổ bụng anh ngay khi có cơ hội, nhưng vẫn hoan nghênh sự cố gắng của anh.
“Anh có bao giờ phản bác thành công không?” Tôi hỏi.
“Không. Thường thì tội lỗi của anh quá rõ ràng, và anh buộc phải thừa nhận. Nhưng đôi khi anh được giảm nhẹ hình phạt một chút.” Anh xoa xoa mũi.
“Có lần, anh nói với ông rằng anh nghĩ việc dạy con cái bằng đòn roi là phương pháp vô cùng kém văn minh. Ông liền đáp anh có lý như cái cột bên cạnh anh vậy. Ông nói kính trọng người lớn là một trong những nền tảng của cách cư xử văn minh, và chừng nào còn chưa học được điều đó thì anh nên quen với việc nhìn xuống ngón chân mình trong lúc bị một người lớn man rợ đánh vào mông.”
Lần này thì tôi cười theo anh. Con đường vắng vẻ và tĩnh lặng, mang lại cảm giác thật bình yên. Sự tĩnh lặng kiểu này khó mà có được trong thời đại của tôi - một thời đại đông đúc hơn, khi con người phải chịu sự ảnh hưởng của các loại máy móc, do đó chỉ riêng một người cũng có thể tạo ra tiếng ồn như một đám đông. Ở đây, chỉ có tiếng lá cây xào xạc, thi thoảng là tiếng lích chích của một con chim ăn đêm, và tiếng vó ngựa lộp cộp khe khẽ.
Bây giờ, khi những bắp thịt căng cứng bắt đầu dãn ra, tôi đã bước đi dễ dàng hơn một chút. Cơn giận của tôi cũng bắt đầu dịu đi khi lắng nghe những câu chuyện hài hước và tự trào của Jamie.
“Đương nhiên, anh không thích bị đánh chút nào, nhưng nếu được lựa chọn, anh thà bị cha anh đánh còn hơn là bị thầy giáo đánh. Bọn anh thường bị thầy vụt roi da vào lòng bàn tay. Cha anh nói nếu ông đánh vào tay anh, anh sẽ không thể làm được việc gì, trong khi nếu ông đánh vào mông, ít nhất anh sẽ không thể ngồi lười một chỗ.”
“Thường thì mỗi năm bọn anh lại có một giáo viên khác; họ không ở lại lâu - họ thường trở thành nông dân hoặc chuyển đến những vùng trù phú hơn. Các giáo viên được trả lương quá bèo bọt, họ luôn gầy trơ xương và đói ngấu. Có lần, bọn anh có một ông thầy béo phị, và anh không bao giờ tin nổi ông ấy là thầy giáo thực sự; trông ông ấy giống một linh mục cải trang hơn.” Tôi nghĩ tới Cha Bain béo lùn và mỉm cười đồng tình.
“Có một người làm anh nhớ mãi không quên, bởi vì ông ta thường bắt bọn anh đứng chìa tay ra ở trước lớp, quở mắng tràng giang đại hải về tội lỗi của bọn anh trước khi đánh, rồi lại quở mắng thêm một hồi nữa giữa các cú vụt. Mỗi lần như vậy, anh chỉ mong ông ta ngừng lải nhải và đánh tiếp cho xong đi trước khi anh mất hết can đảm và òa khóc.”
“Em nghĩ mục đích của ông ta là làm cho anh khóc đấy,” tôi nói, có chút thương cảm.
“Ừ,” anh thản nhiên đáp. “Nhưng phải mất một thời gian anh mới nhận ra điều đó. Và như thường lệ, khi nhận ra, anh không thể giữ kín miệng.” Anh thở dài.
“Chuyện gì đã xảy ra?” Tôi gần như quên bẵng cơn giận của mình.
“Chà, một hôm, ông ta gọi anh lên. Anh thường bị phạt vì không chịu viết bằng tay phải mà cứ viết bằng tay trái. Ông ta đã đánh anh ba cái - mất gần năm phút - và mắng anh là một thằng lỏi ngu ngóc, lười biếng, cứng đầu trước khi tiếp tục đánh. Tay anh đau rát như phải bỏng bởi vì đó là lần thứ hai anh bị phạt trong ngày hôm đó, và anh thấy sợ hãi bởi vì anh biết mình sẽ bị một trận đòn khủng khiếp khi về nhà. Đó là quy tắc rồi: nếu anh bị đánh ở trường, anh sẽ bị một trận đòn nữa ngay khi về tới nhà, vì cha anh nghĩ việc học là quan trọng. Dù gì đi nữa, anh đã mất bình tĩnh.” Bàn tay trái của anh vô thức co lại, nắm chặt dây cương, như thể đang bảo vệ lòng bàn tay nhạy cảm.
Anh ngừng lại, nhìn tôi. “Anh hiếm khi mất bình tĩnh, Sassenach, và mỗi lần như thế, anh thường hối hận.” Tôi nghĩ câu nói đó gần giống như một lời xin lỗi đối với tôi vậy.
“Lúc đó anh có hối hận không?”
“Chà, anh đã siết chặt nắm đấm, trừng mắt nhìn ông ta - ông ta là một gã chừng hai mươi tuổi cao ráo, gầy nhằng, dù đối với anh thì trông ông ta khá già - và nói: “Em không sợ thầy, thầy không thể làm cho em khóc, bất kể thầy đánh em mạnh thế nào!”“ Anh hít sâu một hơi và chầm chậm thở ra. “Anh cho là anh hơi sai lầm khi nói với ông ta điều đó trong khi ông ta vẫn đang cầm ngọn roi da.”
“Để em đoán nhé,” tôi nói. “Ông ta đã cố chứng minh là anh sai?”
“Ồ, đúng vậy, ông ta đã cố làm điều đó.” Jamie gật đầu, mái đầu anh tối sẫm trên nền trời đầy mây. Giọng anh ẩn chứa vẻ thỏa mãn khi nói đến từ “cố”.
“Vậy là ông ta không thành công?”
Cái đầu bờm xờm lắc qua lắc lại. “Ít nhất ông ta không thể làm cho anh khóc. Nhưng chắc chắn ông ta đã làm cho anh hối hận vì cái tội không giữ im lặng.”
Anh ngừng lại trong một thoáng, quay mặt về phía tôi. Đám mây che phủ bầu trời thoáng tách ra và ánh sáng chiếu vào quai hàm và gò má anh, khiến anh như được mạ vàng giống một trong những tổng lãnh thiên thần của Donatello[2].
“Khi Dougal miêu tả tính cách của anh cho em nghe, trước lúc chúng ta cưới nhau, ông ấy có nhắc đến việc thi thoảng anh hơi ương ngạnh không?” Đôi mắt xếch lóe lên một tia sáng, trông giống Lucifer[3] hơn là Michael[4].
Tôi cười. “Nói thế còn nhẹ nhàng đấy. Em nhớ ông ấy nói tất cả người nhà Fraser đều cứng đầu như đá, và anh là người bướng nhất. Thực ra thì,” tôi nói, hơi giễu cợt, “chính em đã nhận ra điều đó.”
Anh mỉm cười khi dẫn con ngựa của mình đi vòng quanh một vũng nước sâu trên đường và nắm dây cương hàm con ngựa của tôi để dắt nó đi theo.
“Ừmmm, Dougal nói không sai,” anh nói sau khi đã vượt qua chướng ngại vật. “Anh cứng đầu là do di truyền. Cha anh cũng vậy. Cha con anh thi thoảng lại vướng vào những cuộc tranh luận ầm ĩ và không thể thoát ra được nếu không dùng đến bạo lực, thường thì anh sẽ bị vắt người qua hàng rào.”
Anh đột nhiên chìa tay ra nắm lấy dây cương con ngựa của tôi khi con vật chồm lên và thở phì phì. “Nào! Suỵt! Stad, mo dhu[5]!” Con ngựa của anh, ít sợ hãi hơn, chỉ lúc lắc đầu vẻ căng thẳng.
“Chuyện gì vậy?” Tôi chẳng nhìn thấy gì cả, dù vẫn có những dải ánh trăng vắt ngang trên con đường và cánh đồng. Phía trước có một lùm thông, và lũ ngựa có vẻ không muốn lại gần nó.
“Anh không biết. Cứ ở yên đây và giữ yên lặng! Leo lên con ngựa của em đi và nắm lấy dây cương con ngựa của anh. Nếu nghe thấy tiếng anh gọi, hãy thả nó ra và chạy hết tốc lực.” Giọng Jamie trầm thấp và bình thản, trấn tĩnh cả tôi và lũ ngựa. Sau khi lẩm bẩm một tiếng “Sguir[6]!” với con ngựa và vỗ vào cổ nó để giục nó lại gần tôi hơn, anh tiến vào bãi thạch nam, tay đặt trên con dao.
Tôi căng mắt và dỏng tai lên để xem thứ gì khiến lũ ngựa hoảng hốt đến vậy; chúng cứ bồn chồn giậm chân, vẫy tai và quẫy đuôi. Những đám mây đã tan ra và bị cuốn đi theo làn gió đêm, chỉ còn lại những vệt rải rác bay ngang qua vầng trăng bán nguyệt rực rỡ. Dù có ánh trăng, tôi vẫn chẳng thể nhìn thấy gì trên con đường phía trước hoặc trong lùm cây đầy đe dọa kia.
Giờ có vẻ đã rất muộn và con đường này chẳng phải là nơi kiếm chác béo bở cho lũ cướp đường (vốn dĩ hiếm hoi dù ở bất cứ đâu trên cao nguyên); có quá ít người qua lại để bõ công chúng mai phục.
Lùm thông tối om nhưng không tĩnh lặng. Những thân cây kẽo cà kẽo kẹt, hàng triệu chiếc lá kim xào xạc trong gió. Chúng đã rất già và trông thật kỳ quái trong bóng tối ảm đạm. Một nơi ở thích hợp cho những hồn ma và linh hồn quỷ dữ trong những câu chuyện của Rupert.
Chỉ có mình mới sợ chỗ nào có nhiều cây, tôi giận dữ nghĩ. Nhưng mà Jamie đâu rồi nhỉ?
Một bàn tay chợt nắm lấy đùi tôi khiến tôi kêu ré lên như một con dơi bị hoảng loạn; đó là hậu quả tự nhiên của việc cố gắng la hét khi trái tim như đang nhảy ra khỏi lồng ngực. Nổi điên lên vì nỗi sợ hãi vô lý ấy, tôi vung tay đấm anh và đá vào ngực anh.
“Đừng có chơi ú òa với em như thế!”
“Suỵt,” anh nói, “đi với anh nào!” Anh thô lỗ kéo tôi xuống ngựa và vội vàng cột lũ ngựa lại. Chúng hí lên vẻ khó chịu đằng sau chúng tôi khi anh dẫn tôi đi vào lùm cỏ cao.
“Chuyện gì vậy?” Tôi rít lên, loạng choạng bước qua các rễ cây và những hòn đá.
“Im nào! Đừng nói gì! Hãy nhìn xuống và để ý chân anh. Bước vào chỗ anh bước, và dừng lại khi anh chạm vào em.”
Chúng tôi âm thầm và chậm rãi len lỏi tới rìa của lùm thông. Dưới bóng cây tối om, chỉ có những vụn ánh sáng lấm chấm trên thảm lá kim. Ngay cả Jamie cũng không thể bước đi một cách lặng lẽ trên đó, nhưng tiếng sột soạt của đám lá khô giòn dưới chân đã bị chìm trong tiếng xào xạc của đám lá xanh trên đầu.
Giữa thảm lá có một khối đá hoa cương trồi lên. Jamie đẩy tôi tới trước mặt anh, hướng dẫn tôi trèo lên khối đá dốc. Ở trên đỉnh có đủ chỗ cho chúng tôi nằm sấp bên nhau. Jamie kề miệng sát tai tôi, thì thầm: “Trước mặt khoảng chín mét, phía bên phải. Ở khoảng đất trống. Nhìn thấy chúng không?”
Khi đã nhìn thấy chúng, tôi cũng có thể nghe thấy tiếng chúng. Đó là một đàn sói khoảng tám hoặc mười con. Chúng không hú. Trong bóng tối, con vật bị giết chỉ là một khối tròn tối thẫm, cái chân gầy như que củi nhô lên, rung giật dưới tác động của những hàm răng đang cắn xé. Thi thoảng có tiếng gầm gừ khe khẽ và tiếng ăng ẳng khi một con thú con bị gạt ra khỏi miếng ăn của một con trưởng thành, xen lẫn những tiếng nhai nuốt thỏa mãn cùng tiếng xương gãy răng rắc.
Khi mắt tôi đã quen hơn với cảnh tượng dưới ánh trăng rải rác, tôi có thể nhìn ra vài thân hình lông lá bờm xờm nằm duỗi dài bên dưới rặng cây, no nê và yên bình. Đây đó ánh lên những mảng lông màu xám, khi những con vẫn quanh quẩn ở chỗ cái xác sục sạo tìm những mẩu thịt bị những con ăn lúc trước bỏ sót.
Một cái đầu to lớn có đôi mắt màu vàng bất chợt nhô lên giữa một khoảng sáng, hai tai vểnh lên. Con sói nửa như rên rỉ nửa như gầm gừ, rồi một sự tĩnh lặng đột nhiên bao trùm rặng cây bên dưới.
Đôi mắt màu vàng nghệ như gắn chặt vào mắt tôi. Tư thế của con vật không có vẻ sợ hãi hay tò mò mà chỉ có sự thận trọng. Jamie đặt tay lên lưng tôi, cảnh báo tôi không được cử động, dù tôi không hề muốn bỏ chạy. Tôi nghĩ mình có thể đối mặt với con sói hàng tiếng đồng hồ, nhưng nó - không hiểu sao tôi tin chắc đó là một con sói cái - chỉ vẫy tai một lần, như thể quyết định lờ tôi đi, và lại cúi xuống bữa ăn của nó.
Chúng tôi quan sát bầy sói trong vài phút, khung cảnh thật yên bình dưới ánh trăng thưa. Cuối cùng, Jamie chạm vào cánh tay tôi, ra hiệu rằng đã đến lúc phải đi.
Anh dìu tôi băng qua rặng cây để trở về đường cái. Đây là lần đầu tiên tôi cho phép anh chạm vào mình kể từ khi anh cứu tôi khỏi pháo đài William, vẫn còn bị hình ảnh của đàn sói mê hoặc, chúng tôi không nói gì nhiều, nhưng bắt đầu cảm thấy thoải mái với nhau.
Trong lúc vừa đi vừa ngẫm nghĩ về những câu chuyện anh kể, tôi không thể không ngưỡng mộ việc anh đã làm. Không cần một lời giải thích hay xin lỗi trực tiếp, anh đã gửi cho tôi thông điệp mà anh muốn. Đó là: Anh đã cho em biết thế nào là lẽ phải, như anh từng được dạy. Và anh cũng đã khoan dung với em trong chừng mực có thể. Mặc dù anh không thể miễn cho em khỏi sự đau đớn và nỗi xấu hổ, nhưng anh đã tặng em món quà từ những nỗi đau đớn và xấu hổ của anh, giúp em dễ dàng chịu đựng hơn.
“Anh có khó chịu lắm không?” Tôi đột ngột nói. “Ý em là, đối với việc bị đánh ấy. Anh có dễ dàng quên nó đi không?”
Anh khẽ siết tay tôi trước khi buông ra.
“Anh hầu như quên ngay khi trận đòn kết thúc. Ngoại trừ lần cuối cùng; phải mất một thời gian.”
“Tại sao?”
“À. Thứ nhất, anh đã mười sáu tuổi, và nghĩ rằng… mình là người đàn ông trưởng thành. Thứ hai, trận đòn đó khiến anh đau đến chết đi được.”
“Anh không cần phải kể cho em nghe nếu anh không muốn,” tôi nói, cảm nhận được sự do dự của anh. “Nó là một câu chuyện đau lòng à?”
“Không đau bằng việc bị đánh,” anh cười nói. “Anh không ngại kể cho em nghe đâu. Chẳng qua nó là một câu chuyện dài, thế thôi.”
“Quãng đường tới Bargrennan khá dài mà.”
“Đúng vậy. Được rồi. Em có nhớ anh đã nói với em là anh ở lâu đài Leoch một năm hồi anh mười sáu tuổi không? Đó là một thỏa thuận giữa Colum và cha anh - để anh thân thiết hơn với thị tộc của mẹ anh. Anh ở với Dougal hai năm rồi đến lâu đài một năm để học các lề thói, tiếng Latin và những thứ tương tự.”
“Ồ. Em đã thắc mắc sao anh lại tới đó.”
“Ừ, lý do là thế đấy. Anh khá to lớn hay ít ra là cao ráo so với tuổi của mình; ngay từ hồi đó anh đã là một kiếm sĩ giỏi và cưỡi ngựa khá hơn hầu hết mọi người.”
“Khiêm tốn nữa,” tôi nói.
“Không khiêm tốn lắm. Kiêu ngạo như quỷ, thậm chí miệng lưỡi còn lém lỉnh hơn hẳn bây giờ.”
“Khó mà tin nổi,” tôi nói, cảm thấy thú vị.
“Thật đấy, Sassenach. Anh nhận thấy những câu nói của mình có thể làm cho mọi người cười, vì vậy anh cợt nhả thường xuyên hơn, chẳng để ý mấy đến việc mình nói gì hay nói với ai. Thi thoảng anh hơi ác miệng với những người khác, không phải cố ý đâu, chỉ là anh không thể kiềm chế nếu nghĩ ra thứ gì đó hay ho để nói.”
Anh ngước nhìn bầu trời để ước lượng thời gian. Trời trở nên tối đen hơn khi mặt trăng đã lặn. Tôi nhận ra chòm sao Thợ Săn lơ lửng gần chân trời, và được an ủi một cách lạ lùng bởi cảnh tượng thân quen ấy.
“Thế là, một hôm, anh đã đi quá trớn. Lúc ấy, anh đang đi trên hành lang cùng hai chàng trai khác thì nhìn thấy bà FitzGibbons ở đầu kia. Bà ấy đang khệ nệ bê một cái giỏ to gần bằng bà ấy, cả người lắc lư theo mỗi bước đi. Em biết trông bà ấy thế nào rồi đấy; hồi đó bà ấy cũng không nhỏ hơn bây giờ nhiều lắm.” Anh xoa xoa mũi, vẻ ngại ngùng.
“Chà, anh đã thốt ra vài câu nhận xét khiếm nhã về ngoại hình của bà ấy. Hài hước nhưng bất lịch sự. Chúng làm mấy người bạn đồng hành của anh vô cùng thích thú. Anh không nhận ra là bà ấy cũng có thể nghe thấy lời anh.”
Tôi nhớ đến bà quản gia đồ sộ của lâu đài Leoch. Mặc dù lúc nào tôi cũng thấy bà vui vẻ, nhưng bà không phải là mẫu người để yên cho kẻ dám xúc phạm mình.
“Bà ấy đã làm gì?”
“Lúc đó thì bà ấy chẳng làm gì cả. Anh không biết là bà ấy đã nghe thấy, cho đến khi bà ấy đứng dậy trong buổi tụ họp ở đại sảnh vào ngày hôm sau và mách Colum.”
“Ôi trời.” Tôi biết Colum tôn trọng bà Fitz thế nào, ông ta chắc chắn sẽ không nương tay với những kẻ bất kính với bà ấy. “Chuyện gì đã xảy ra?”
“Giống như chuyện xảy ra với Laoghaire - hoặc gần như vậy.” Anh cười khùng khục.
“Nhưng anh đã rất can đảm. Anh đứng dậy và nói mình chọn bị đấm. Anh đã cố tỏ ra điềm tĩnh và trưởng thành, dù tim đập thình thịch như những nhát búa của thợ rèn, và cảm thấy hơi nôn nao khi nhìn vào hai bàn tay của Angus; trông chúng cứ như những tảng đá vậy, mà là những tảng đá lớn nữa kìa. Có vài tiếng cười cất lên trong đám người tụ tập ở đại sảnh; hồi ấy anh chưa cao như bây giờ, và nặng chưa bằng một nửa. Cú đấm của Angus có thể làm bật tung đầu anh chứ chẳng chơi.”
“Cả Colum và Dougal đều cau mày với anh, dù anh nghĩ họ thực sự hơi vui mừng vì anh đã có dũng khí đề nghị hình phạt đó. Rồi Colum nói là không được, nếu anh cư xử như một đứa trẻ thì anh sẽ bị trừng phạt như một đứa trẻ. Ông ấy gật đầu một cái, và trước khi anh kịp nhúc nhích, Angus đã vắt người anh qua đầu gối ông ta, tốc váy anh lên và quất anh bằng roi da trước mặt cả đại sảnh.”
“Ôi, Jamie!”
“Ừmmmm. Hẳn là em đã biết Angus rất chuyên nghiệp? Ông ta quất anh mười lăm cái, và tới hôm nay anh vẫn có thể nói với em một cách chính xác mỗi ngọn roi hạ xuống chỗ nào.” Anh rùng mình khi hồi tưởng lại. “Anh đã phải mang những vết roi đó trong một tuần.”
Anh vươn tay bẻ gãy một chùm lá thông từ cái cây gần nhất, rồi xòe chúng ra như một cái quạt. Mùi nhựa thông đột nhiên trở nên rõ ràng hơn.
“Chà, anh cũng không được phép lặng lẽ rời đi để chăm sóc các vết thương. Khi Angus đánh anh xong, Dougal tóm lấy gáy anh và dẫn anh tới đầu kia của đại sảnh. Sau đó, anh bị bắt bò lê bằng đầu gối trên mặt đá để quay trở lại. Anh đã phải quỳ trước chỗ ngồi của Colum và cầu xin bà Fitz tha thứ, rồi xin lỗi Colum và tất cả mọi người trong đại sảnh vì sự lỗ mãng của mình, và cuối cùng, anh phải cảm ơn Angus vì đã đánh anh. Anh gần như tắc nghẹn không nói nên lời, nhưng ông ta rất rộng lượng, chìa tay đỡ anh dậy. Thế rồi anh bị ấn xuống một cái ghế đẩu cạnh Colum và buộc phải ngồi đó cho đến khi buổi tụ họp ở đại sảnh kết thúc.”
Anh so vai. “Đó là thời khắc tồi tệ nhất trong đời anh. Mặt anh đỏ như lửa, mông anh cũng vậy, đầu gối thì trầy xước và anh không thể nhìn đi đâu ngoài hai bàn chân mình, song điều khủng khiếp nhất là anh buồn tiểu muốn chết. Anh có cảm giác bụng dưới căng ra như sắp vỡ tung và nghĩ mình sắp tiểu ra tại chỗ đến nơi trước con mắt của tất cả mọi người, nhưng may là anh chỉ suýt bị như vậy thôi. Mồ hôi toát ra ướt nhẹp áo anh.”
Tôi nén cười. “Anh không nói với Colum về tình trạng của mình sao?” Tôi hỏi.
“Ông ấy biết thừa; tất cả những người khác trong đại sảnh cũng vậy, khi thấy anh bồn chồn vặn vẹo trên cái ghế đẩu đó. Người ta còn cá cược liệu anh có nhịn được hay không.” Anh nhún vai.
“Colum sẽ cho anh đi nếu anh xin ông ấy. Nhưng anh lại bướng bỉnh cố nhịn.” Anh cười toe, có vẻ hơi ngượng ngùng, hàm răng trắng lóa nổi bật trên khuôn mặt tối sẫm. “Anh nghĩ anh thà chết còn hơn là xin ông ấy, và đúng là anh đã suýt chết thật. Cuối cùng, khi Colum nói anh có thể đi, anh chỉ kịp chạy ra khỏi cánh cửa gần nhất rồi vội vàng vòng ra sau bức tường và tuôn trào như suối. Anh đã nghĩ mình sẽ không bao giờ ngừng lại được.
“Vậy đấy,” anh xòe hai bàn tay, thả nắm lá thông xuống, “giờ thì em biết điều tệ hại nhất từng xảy ra với anh rồi đấy.”
Tôi không thể nhịn được cười và phải ngồi xuống vệ đường. Jamie kiên nhẫn đợi trong một phút rồi cúi xuống, chống tay lên đầu gối.
“Em cười cái gì vậy?” Anh hỏi. “Chuyện này chẳng buồn cười chút nào.” Nhưng chính anh cũng đang tủm tỉm.
Tôi lắc đầu, vẫn cười rũ rượi. “Không, nó không buồn cười. Đó là một câu chuyện khủng khiếp. Chỉ là… em tưởng tượng ra hình ảnh anh đang ngồi đó, bướng bỉnh cắn răng chịu đựng, khói bốc ra từ hai lỗ tai.”
Jamie bật cười. “Ừ. Tuổi mười sáu đúng là dở dở ương ương nhỉ?”
“Vậy ra anh giúp cô nàng Laoghaire đó vì anh cảm thấy thương hại cô ta,” tôi nói, khi đã dứt cơn cười. “Anh đã biết hình phạt đó là như thế nào.”
Anh tỏ vẻ kinh ngạc. “Ừ, anh đã nói vậy mà. Bị đâm vào mặt ở tuổi hai mươi ba sẽ dễ chịu đựng hơn nhiều so với bị quất roi vào mông ở nơi công cộng khi mới mười sáu tuổi. Lòng kiêu hãnh bị tổn thương là điều đau đớn hơn bất cứ thứ gì, mà ở tuổi đó nó rất dễ bị tổn thương.”
“Lạ nhỉ! Em chưa bao giờ thấy ai cười lúc chờ bị đấm vào miệng.”
“Sau đó thì đâu thể cười được nữa.”
“Ừm.” Tôi gật đầu đồng tình. “Em cứ nghĩ…” Tôi nói rồi ngừng lại, bối rối.
“Em đã nghĩ gì vậy? Ồ, ý em là về anh và Laoghaire,” anh phỏng đoán. “Em, Alec và tất cả những người khác đều nghĩ vậy, bao gồm cả Laoghaire. Cho dù cô ấy có xấu xí cỡ nào thì anh vẫn sẽ làm như vậy thôi.” Anh huých vào mạng sườn tôi. “Mặc dù anh không ngờ là em lại tin rằng giữa anh và Laoghaire có chuyện gì đó.”
“Chà, em đã nhìn thấy hai người ở bên nhau chỗ hốc tường,” tôi bào chữa, “và chắc hẳn có ai đó đã dạy anh cách hôn.”
Jamie di di chân, ngại ngùng cúi đầu. “Chà, Sassenach, anh cũng giống như hầu hết cánh đàn ông thôi. Đôi khi anh cũng cố nhưng không phải lúc nào cũng làm được. Em biết Thánh Paul đã nói rằng thà kết hôn còn hơn để lửa lòng rực cháy chứ? Chà, lúc đó anh đang cháy rừng rực rồi.”
Tôi lại cười, cảm thấy vô tư lự như một cô gái mười sáu tuổi. “Vậy là anh đã cưới em,” tôi trêu chọc, “để tránh phạm phải tội lỗi?”
“Ừ. Đó là mặt tốt của hôn nhân; nó tạo ra một bí tích từ những việc mà nếu ở trong hoàn cảnh khác, em sẽ phải xưng tội.”
Tôi lại ôm bụng cười.
“Ôi, Jamie, em yêu anh!”
Lần này, đến lượt anh bật cười. Anh cúi gập người rồi ngồi xuống vệ đường, cười sặc sụa. Sau đó, anh từ từ nằm ngửa ra bãi cỏ dài, hơi thở khò khè, nghèn nghẹt.
“Anh bị làm sao vậy?” Tôi hỏi, trừng mắt nhìn anh. Mãi lâu sau, anh mới ngồi dậy, lau đôi mắt giàn giụa nước. Anh lắc đầu, thở hổn hển.
“Murtagh nói về phụ nữ đúng quá! Sassenach, vì em, anh đã mạo hiểm tính mạng, phạm tội trộm cắp, đốt phá, hành hung và giết người. Để đáp lại, em chửi rủa, xúc phạm danh dự, đá vào hạ bộ và cào mặt anh. Sau đó, anh đánh em một trận thừa sống thiếu chết và kể với em tất cả những việc đáng xấu hổ nhất từng xảy ra với anh, thế rồi em nói em yêu anh.” Anh gục đầu xuống đầu gối và lại cười thêm một chập. Cuối cùng, anh đứng dậy và chìa tay ra với tôi, tay còn lại lau mắt.
“Em chẳng khôn ngoan lắm, Sassenach ạ, nhưng anh vẫn thích em. Đi nào!”
•••
Trời khuya dần - hay sáng dần, tùy theo cách nhìn nhận của mỗi người. Đã đến lúc phải cưỡi ngựa nếu chúng tôi muốn tới Bargrennan vào lúc bình minh. Lúc này, tôi đã ngồi được trên yên ngựa, dù ảnh hưởng của trận đòn vẫn còn rõ rệt.
Chúng tôi im lặng cưỡi ngựa mất một lúc. Được thảnh thơi suy nghĩ, lần đầu tiên tôi ngẫm xem chuyện gì sẽ xảy ra nếu tôi tìm được đường tới vòng tròn đá. Sau khi bị buộc phải kết hôn và dựa dẫm vào Jamie, không ngờ tôi đã thực sự yêu mến anh.
Có lẽ quan trọng hơn cả là tình cảm anh dành cho tôi. Ban đầu gắn bó với nhau vì hoàn cảnh đưa đẩy, sau đó là vì tình bạn, và cuối cùng là niềm đam mê thể xác sâu sắc đến đáng kinh ngạc, vậy nhưng anh chưa bao giờ thổ lộ một lời về tình cảm của mình đối với tôi. Tuy nhiên…
Anh đã mạo hiểm tính mạng vì tôi. Có thể anh làm vậy vì lời thề hôn nhân; anh đã nói sẽ bảo vệ tôi tới giọt máu cuối cùng, và tôi tin anh nói thật.
Tôi càng cảm động hơn bởi những sự kiện trong hai mươi tư giờ qua, khi anh đột nhiên thú nhận với tôi những cảm xúc và chuyện đời tư của anh, kể cả những chuyện đáng xấu hổ. Nếu tình cảm anh dành cho tôi đúng như những gì tôi nghĩ, anh sẽ cảm thấy thế nào nếu tôi đột ngột biến mất? Nỗi đau đớn thể xác còn sót lại đã tiêu tan khi tôi trầm ngâm trong mớ suy nghĩ rối bời này.
Chúng tôi chỉ còn cách Bargrennan ba dặm thì Jamie bất chợt phá vỡ sự im lặng.
“Anh chưa kể với em cha anh mất như thế nào,” anh nói.
“Dougal nói ông ấy bị tai biến… ý em là bị đột quỵ,” tôi kinh ngạc nói. Tôi cho rằng Jamie đã nhớ về cha mình sau cuộc trò chuyện ban nãy của chúng tôi, nhưng tôi không thể hình dung được thứ gì dẫn dắt anh tới chủ đề đặc biệt này.
“Đúng vậy. Nhưng chuyện đó… ông ấy…” Anh ngừng lời để lựa chọn từ ngữ, rồi nhún vai, vứt bỏ sự thận trọng. Anh hít một hơi thật sâu và thở hắt ra. “Em nên biết về chuyện đó. Nó liên quan đến… nhiều thứ.” Con đường ở đây đủ rộng để dễ dàng cưỡi ngựa sóng đôi, miễn là chúng tôi để ý tới những hòn đá lô nhô trên mặt đất; cái cớ mà tôi nói với Dougal lúc nãy không phải là được bịa ra một cách tùy tiện.
“Chuyện xảy ra ở pháo đài,” Jamie nói, đi vòng qua một khoảnh đất gồ ghề, “chỗ chúng ta ở hôm qua. Randall và người của hắn đã dẫn anh từ Lallybroch đến đó để tra tấn. Sau trận quất roi đầu tiên hai ngày, Randall sai hai tên lính dẫn anh từ xà lim đến văn phòng của hắn - chính là nơi anh đã tìm thấy em; đó là lý do anh biết phải tới đâu để tìm em.”
“Bọn anh gặp cha anh ở ngoài sân. Ông đã tìm hiểu được chúng bắt anh đi đâu nên lặn lội tới để xem liệu ông có cách nào cứu được anh không - hay ít nhất cũng tận mắt thấy rằng anh vẫn ổn.”
Jamie thúc nhẹ gót chân vào mạng sườn con ngựa của mình, khẽ chậc lưỡi giục nó đi tiếp. Chưa có dấu hiệu gì của ánh sáng ban ngày nhưng màn đêm đã đổi sắc. Chắc chỉ còn chưa đầy một tiếng nữa là tới bình minh.
“Trước khi nhìn thấy ông, anh không nhận ra mình cảm thấy cô đơn hay sợ hãi đến thế nào. Đám lính không cho cha con anh được ở riêng bên nhau, nhưng chí ít chúng cũng để cho anh chào ông.” Anh nuốt khan và kể tiếp.
“Anh đã xin lỗi ông về chuyện của Jenny và toàn bộ mớ rắc rối đáng tiếc này, nhưng ông bảo anh im lặng và ôm anh thật chặt. Ông hỏi anh có đau lắm không - ông có biết về vụ quất roi - và anh nói anh sẽ ổn thôi. Tới lúc đó thì đám lính nói anh phải đi, vì vậy ông siết chặt hai cánh tay anh và dặn anh nhớ cầu nguyện. Ông nói ông sẽ luôn ở bên anh, bất kể chuyện gì xảy ra, anh phải ngẩng cao đầu và cố gắng đừng lo lắng. Rồi ông hôn lên má anh và đám lính dẫn anh đi. Đó là lần cuối cùng anh nhìn thấy ông.”
Giọng anh điềm tĩnh nhưng hơi khàn. Cổ họng tôi như bị thít chặt, và tôi sẽ chạm vào anh nếu có thể, tuy nhiên con đường đã hẹp lại khi đi qua một thung lũng nhỏ và tôi buộc phải tụt lại đằng sau anh trong một thoáng. Lúc tôi trở lại sóng đôi bên anh, anh đã trấn tĩnh lại.
“Thế là,” anh nói, hít sâu một hơi, “anh vào gặp Đại úy Randall. Hắn đuổi đám lính ra ngoài để trong phòng chỉ còn lại mình anh và hắn, và đề nghị anh ngồi xuống một cái ghế đẩu. Hắn nói cha anh đã xin bảo lãnh cho anh, nhưng vì tội của anh nghiêm trọng nên anh không thể được thả nếu không có lệnh thả bằng văn bản do Công tước Argyll ký, bởi bọn anh đang ở trong lãnh thổ của ông ta. Anh cho là sau đó cha anh đã lên đường tới gặp Argyll.”
“Randall nói tiếp rằng trong thời gian chờ đợi, anh vẫn còn phải đối mặt với trận đòn roi thứ hai.” Anh ngừng lại một phút, như thể không chắc chắn nên kể tiếp thế nào.
“Hắn… có thái độ rất kỳ lạ. Rất thân mật, nhưng ẩn chứa một điều gì đó mà anh không hiểu. Hắn cứ nhìn anh, như thể mong đợi anh làm gì đó, nhưng anh chỉ ngồi im.
Hắn xin lỗi anh và nói rằng hắn rất tiếc vì mối quan hệ giữa anh với hắn đã trở nên quá khó khăn, và hắn ước gì hoàn cảnh đổi khác, vân vân.” Jamie lắc đầu. “Anh không hiểu nổi hắn đang nói về cái gì; hai ngày trước, hắn đã cố hết sức đánh anh đến chết. Nhưng cuối cùng, hắn đã nói thẳng vào vấn đề.”
“Hắn muốn gì?” Tôi hỏi. Jamie liếc nhìn tôi, rồi lại nhìn đi chỗ khác. Bóng tối che giấu những đường nét trên gương mặt anh, nhưng tôi nghĩ anh có vẻ bối rối.
“Anh,” anh thẳng thừng nói.
Tôi giật nẩy mình khiến con ngựa hất đầu và hí lên vẻ trách cứ. Jamie lại nhún vai.
“Hắn đã nói rất rõ ràng. Nếu anh… ờ, để hắn tùy ý sử dụng cơ thể anh, hắn sẽ hủy trận đòn thứ hai. Nếu anh không đồng ý - vậy thì anh sẽ phải ước gì mình chưa bao giờ được sinh ra.”
Tôi cảm thấy buồn nôn.
“Lúc đó anh đã ước như vậy,” anh nói, có chút hài hước. “Anh có cảm giác mình đã nuốt thủy tinh vỡ vào bụng, và nếu anh không ngồi sẵn thì đầu gối anh đã va vào nhau rồi.”
“Nhưng anh…” Giọng tôi khàn khàn. Tôi hắng giọng và hỏi lại. “Nhưng anh đã làm gì?”
Anh thở dài. “Chà, anh sẽ không nói dối em, Sassenach. Anh đã đắn đo cân nhắc về lời đề nghị đó. Những cú roi đầu tiên trên lưng vẫn còn đau rát đến nỗi anh hầu như không thể mặc nổi áo, và anh cảm thấy hoa mắt chóng mặt mỗi lần đứng dậy. Ý nghĩ phải chịu đựng trận đòn đó lần nữa - bị trói và bất lực chờ đợi ngọn roi tiếp theo…” Anh vô thức rùng mình.
“Tuy chưa từng trải qua,” anh mỉa mai nói, “nhưng anh nghĩ bị xâm hại từ đằng sau ít ra cũng bớt đau đớn hơn. Đôi khi có người chết vì đòn roi, Sasenach ạ, và từ vẻ mặt hắn, anh nghĩ hắn có ý định đánh chết anh nếu anh lựa chọn nhận hình phạt đó.” Anh lại thở dài.
“Nhưng… anh vẫn còn cảm nhận được nụ hôn của cha anh trên má, và nhớ đến những lời ông nói, vì vậy… anh không thể đồng ý với hắn, thế thôi. Anh đã không nghĩ đến việc cha anh sẽ cảm thấy thế nào nếu anh chết.” Anh cười khì, như thể thấy có gì đó đáng cười. “Và rồi anh nghĩ gã này đã cưỡng hiếp chị gái anh - anh thà chết còn hơn để hắn lạm dụng cả anh nữa.”
Tôi chẳng thấy câu nói này buồn cười chút nào. Tôi lại được thấy Jack Randall trong một thứ ánh sáng mới mẻ và đáng ghê tởm. Jamie xoa xoa gáy rồi thả tay xuống núm yên ngựa.
“Vậy là anh đã dồn tất cả chút can đảm ít ỏi còn sót lại để từ chối hắn. Anh nói “không” thật to và dùng hết sức hét vào mặt hắn bất cứ tên gọi bẩn thỉu nào mà anh có thể nghĩ ra.”
Anh nhăn mặt. “Anh sợ mình sẽ đổi ý nếu suy nghĩ lại; vì vậy anh muốn đảm bảo mình không còn cơ hội để quay đầu nữa. Dù anh cho là,” anh trầm ngâm nói thêm, “chẳng có bất cứ cách nào đủ khéo léo để từ chối một lời đề nghị như thế.”
“Đúng vậy,” tôi đồng ý. “Em nghĩ dù anh nói gì chăng nữa, hắn cũng sẽ không hài lòng.”
“Hắn chẳng vui vẻ gì. Hắn vả vào miệng anh để ngăn anh chửi rủa. Lúc ấy, anh vẫn còn hơi yếu nên lập tức ngã xuống, và hắn đứng nhìn anh chằm chằm. Anh cảm thấy mình không nên cố gắng đứng dậy, vì vậy anh cứ nằm yên đó cho đến khi hắn gọi quân lính đến đưa anh về xà lim.” Anh lắc đầu. “Vẻ mặt hắn chẳng thay đổi chút nào; hắn chỉ nói khi anh rời đi: “Gặp lại cậu vào thứ Sáu”, như thể anh và hắn hẹn gặp để bàn chuyện công việc hay thứ gì đó tương tự.”
Bọn lính không đưa Jamie về xà lim nơi anh bị nhốt chung với ba tù nhân khác mà tống anh vào một căn phòng riêng nhỏ xíu để đợi cuộc trừng phạt vào hôm thứ Sáu. Ở đó chẳng có trò giải trí gì ngoài chuyến viếng thăm hằng ngày của bác sĩ quân đồn trú để băng bó lưng anh.
“Ông ta không hẳn là bác sĩ,” Jamie nói, “nhưng ông ta khá tử tế. Ngày thứ hai, ông ta mang mỡ ngỗng với than củi đến và đưa cho anh cuốn Kinh Thánh nhỏ của một tù nhân đã chết. Ông ta nói ông ta biết anh là người theo đạo Cơ Đốc, dù ông ta không rõ lời của Chúa có giúp an ủi được anh chút nào hay không nhưng ít nhất anh có thể so sánh những vấn đề của mình với những vấn đề của Job[7].” Anh cười.
“Lạ thay, nó đã giúp tinh thần anh thoải mái hơn chút. Chúa của chúng ta cũng từng phải chịu đựng những ngọn roi, và anh có thể tự an ủi rằng ít nhất anh sẽ không bị lôi ra ngoài và đóng đinh câu rút. Tuy nhiên,” anh cẩn trọng nói, “Chúa của chúng ta không buộc phải nghe những lời đề nghị khiếm nhã từ Pontius Pilate[8].”
Jamie vẫn giữ cuốn Kinh Thánh nhỏ. Anh lục tìm trong cái túi đeo bên yên ngựa và đưa nó cho tôi xem. Nó là một cuốn sách bìa da cũ nát, dài khoảng mười ba centimet, giấy mỏng đến nỗi chữ in ở mặt trước có thể được nhìn thấy rõ ở mặt sau. Trên trang gác có đề ALEXANDER WILLIAM RODERICK MACGREGOR, 1733. Màu mực đã nhạt và nhòe đi, bìa sách quăn queo như thể cuốn sách đã bị ướt hơn một lần.
Tôi tò mò giở cuốn sách. Dù nó nhỏ xíu nhưng hẳn là anh phải vất vả lắm mới có thể giữ được nó bên mình trong những chuyến đi và những cuộc phiêu lưu suốt bốn năm qua.
“Em chưa bao giờ thấy anh đọc nó.” Tôi trả cuốn sách lại cho anh.
“Đó không phải là lý do anh giữ nó,” anh nói, dùng ngón cái vuốt ve mép bìa tả tơi rồi cất nó đi. Anh vỗ vỗ cái túi đeo bên yên ngựa với vẻ lơ đãng. “Alex MacGregor còn một món nợ chưa đòi được, anh định làm điều đó giúp cậu ta khi có dịp.”
“Dù sao đi nữa,” anh trở lại câu chuyện của mình, “cuối cùng, thứ Sáu đã tới, và anh không biết liệu mình vui mừng hay hối tiếc. Anh có cảm giác việc chờ đợi và sự sợ hãi còn khủng khiếp hơn cả nỗi đau đớn. Nhưng khi trận đòn bắt đầu…” Anh nửa như nhún vai. “Em đã nhìn thấy các dấu vết và biết trận đòn đó như thế nào rồi đấy.”
“Dougal đã kể với em. Ông ấy nói ông ấy có mặt ở đó.”
Jamie gật đầu. “Ừ, ông ấy đã ở đó. Cả cha anh nữa, dù bây giờ anh không hề biết. Anh không có tâm trí để ý đến bất cứ thứ gì ngoài những vấn đề của chính mình.”
“Ồ,” tôi chậm rãi nói, “và cha anh…”
“Ừm. Chuyện xảy ra khi đó. Sau này, vài người nói với anh rằng họ nghĩ anh đã chết khi trận đòn mới diễn ra được nửa chừng. Hẳn là cha anh cũng nghĩ như vậy.” Anh ngập ngừng, giọng anh khản đặc khi anh nói tiếp. “Dougal kể rằng, khi anh gục xuống, cha anh đã kêu lên một tiếng và đưa tay ôm đầu. Rồi ông ngã quỵ và không còn đứng dậy nữa.”
Lũ chim đang bay nhảy trong bãi thạch nam, líu lo gọi bầy từ những tán lá vẫn còn tối thẫm. Jamie đang cúi đầu, khuôn mặt vẫn không thể nhìn rõ.
“Lúc đó, anh không biết là ông đã chết,” anh khẽ nói. “Mãi đến một tháng sau - khi họ nghĩ anh đã đủ mạnh mẽ để chịu đựng - họ mới nói với anh. Vì vậy, anh đã không đích thân chôn cất ông như một người con trai nên làm. Và anh cũng chưa bao giờ nhìn thấy mộ ông -bởi vì anh sợ về nhà.”
“Jamie,” tôi nói, “ôi, Jamie, anh yêu.”
Sau một hồi im lặng tưởng chừng dài đằng đẵng, tôi nói: “Nhưng anh không thể đổ lỗi cho mình về cái chết của ông. Jamie, anh đâu thể làm gì được, cũng đâu thể làm khác đi.”
“Không thể ư?” Anh nói. “Không, có lẽ là không; dù anh tự hỏi liệu chuyện ấy có xảy ra nếu anh lựa chọn cách còn lại? Nhưng biết được điều đó cũng chẳng giúp gì nhiều cho cảm giác của anh - anh có cảm giác mình đã tự tay gây ra cái chết của ông.”
“Jamie…” tôi nói rồi ngừng lại, cảm thấy bất lực. Anh lặng lẽ cưỡi ngựa một đoạn, sau đó vươn thẳng người và so vai.
“Anh chưa kể chuyện này với bất kỳ ai,” anh đột nhiên nói. “Nhưng anh nghĩ rằng em nên biết - ý anh là về Randall. Em có quyền biết mối khúc mắc giữa anh và hắn.”
Mối khúc mắc giữa anh và hắn. Sinh mạng của một người đàn ông tốt, danh dự của một cô gái, và thứ dục vọng hèn hạ chỉ được thỏa mãn bằng máu cùng nỗi sợ hãi. Lòng dạ tôi quặn thắt khi nghĩ đến việc hiện giờ còn có thêm một thứ nữa. Chính là tôi. Lần đầu tiên, tôi nhận ra Jamie đã cảm thấy thế nào khi khom người ở cửa sổ phòng Randall với khẩu súng rỗng trong tay. Và tôi bắt đầu tha thứ cho anh về những gì anh đã làm với tôi.
Như thể đọc được những suy nghĩ ấy, anh nói mà không nhìn sang tôi: “Em có biết… ý anh là, em có hiểu, tại sao anh cần phải đánh em không?”
Tôi chần chừ một thoáng trước khi trả lời. Tôi hiểu, nhưng thế vẫn chưa đủ.
“Em hiểu,” tôi nói. “Và em tha thứ cho anh chuyện đó. Điều mà em không thể tha thứ,” tôi nói, giọng vô thức khẽ cao lên, “là anh lại thích thú!”
Anh cúi người về đằng trước, tóm chặt núm yên ngựa và cười một lúc lâu. Khi đã dứt cơn cười, anh mới quay sang tôi. Bầu trời đã sáng hơn trước nhiều, vì thế tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt anh: mệt mỏi, căng thẳng nhưng vui vẻ. Những vết xước trên má anh đen thui trong ánh sáng lờ mờ.
“Thích thú ư! Sassenach,” anh nói, hổn hển, “em không biết anh thích thú thế nào đâu. Em đã quá… Chúa ơi, lúc ấy trông em thật đáng yêu. Anh đã rất giận dữ, và em chống trả hết sức quyết liệt. Anh không muốn làm em đau, nhưng vẫn muốn dạy cho em một bài học… Jesus ơi,” anh nói, ngừng lời và quệt mũi. “Phải. Phải, anh đã thích thú.”
“Tuy nhiên,” anh nói, “em nên khen anh một chút vì đã luyện được sự kiềm chế.”
Tôi lại trở nên cáu kỉnh. Má tôi đỏ bừng trước không khí mát mẻ lúc bình minh.
“Kiềm chế ư? Em có cảm giác anh đang luyện tập cánh tay trái lành lặn của anh thì đúng hơn. Anh đã gần như khiến em phải nằm liệt giường đấy, gã Scot hung hăng khốn kiếp!”
“Nếu anh muốn em phải nằm liệt giường, Sassenach, em đã không dậy nổi rồi,” anh nói với giọng chế giễu. “Ý anh là sau đó ấy. Anh đã ngủ trên sàn, nếu em còn nhớ.”
Tôi lườm anh, hừ mũi. “Ồ, vậy ra đó là kiềm chế đấy à?”
“Chà, anh nghĩ là giao cấu với em trong tình trạng đó thì không ổn lắm, cho dù anh ham muốn thế nào. Và lúc đó anh thực sự ham muốn khủng khiếp,” anh nói thêm, rồi lại bật cười. “Quả là một áp lực ghê gớm đối với bản năng tự nhiên của anh.”
“Giao cấu với em?” Tôi nói, như không tin nổi vào tai mình khi nghe thấy cụm từ này.
“Trong hoàn cảnh ấy thì khó mà gọi là “làm tình” được, em có nghĩ thế không?”
“Anh có thể gọi hành động đó là gì cũng được,” giọng tôi vang lên đều đều, “may là anh đã không cố làm, nếu không thì bây giờ anh đã thiếu một vài bộ phận quý giá rồi.”
“Anh cũng nghĩ thế.”
“Và nếu anh nghĩ mình xứng đáng được khen ngợi vì sự kiềm chế cao quý để khỏi phạm phải hành vi cưỡng hiếp sau khi tấn công…” Tôi tức nghẹn họng.
Chúng tôi đi tiếp nửa dặm nữa trong im lặng. Rồi anh thốt ra một tiếng thở dài. “Anh nghĩ mình không nên khơi mào cuộc trò chuyện này. Anh chỉ đang cố gắng hỏi em liệu em có cho phép anh tiếp tục ngủ chung giường với em khi chúng ta tới Bargrennan không.” Anh ngại ngùng ngừng lại. “Nằm trên sàn hơi lạnh.”
Tôi đi tiếp đúng năm phút nữa rồi mới trả lời. Khi đã quyết định mình sẽ nói gì, tôi ghì cương, quay ngựa chắn ngang đường để ép Jamie cũng dừng lại. Bargrennan đang ở trong tầm mắt, các mái nhà đã hiện rõ trong ánh bình minh.
Tôi thúc ngựa tới đứng sóng đôi với con ngựa của Jamie, do đó tôi chỉ cách anh không quá ba mươi centimet. Tôi nhìn thẳng vào mắt anh trong một phút trước khi cất tiếng.
“Ngài sẽ ban cho em vinh hạnh được nằm chung giường với ngài chứ, đức phu quân của em?” Tôi lịch sự hỏi.
Anh nghi ngờ cân nhắc trong một thoáng rồi trịnh trọng gật đầu. “Ta đồng ý. Cảm ơn em.” Anh giơ dây cương định giục ngựa đi thì tôi ngăn lại.
“Còn một điều nữa, thưa ngài,” tôi nói, vẫn lễ phép.
“Ừ?”
Tôi rút phắt bàn tay ra khỏi cái túi kín đáo ở váy tôi, và ánh bình minh lấp lánh trên lưỡi dao găm đang ấn vào ngực anh.
“Nếu,” tôi gằn giọng nói, “anh ra tay với em lần nữa, James Fraser, em sẽ móc tim anh ra rán để ăn sáng đấy!”
Sự im lặng lại bao trùm, chỉ còn nghe thấy tiếng lũ ngựa đổi chân và tiếng yên cương kêu loảng xoảng. Rồi anh giơ tay ra, lòng bàn tay ngửa lên.
“Đưa nó cho anh.”
Khi tôi còn chần chừ, anh nói với vẻ mất kiên nhẫn. “Anh sẽ không làm gì em đâu. Đưa nó cho anh!”
Anh cầm lưỡi dao, dựng đứng nó lên để vầng mặt trời đang mọc hắt ánh sáng vào viên đá mặt trăng ở chuôi, khiến nó ánh lên. Cầm con dao như một cây thập tự, anh ngâm nga gì đó bằng tiếng Gaelic. Tôi nhận ra đó là câu nói trong nghi lễ tuyên thệ ở đại sảnh của Colum, nhưng anh nói bằng tiếng Anh để cho tôi hiểu được.
“Anh thề trên cây thánh giá của Chúa Jesus, và trên lưỡi dao thiêng liêng mà anh đang cầm, rằng anh trao cho em lòng trung thành của anh. Nếu anh giơ tay đánh em dù để chống trả hay trong cơn giận dữ, lưỡi dao thiêng liêng này sẽ xuyên thủng trái tim anh.” Anh hôn vào chỗ nối giữa cán và lưỡi dao rồi trả nó lại cho tôi.
“Anh không đe dọa suông, Sassenach,” anh nói, nhướng một bên lông mày, “và anh cũng không thề hão. Nào, chúng ta có thể đi ngủ chứ?”
[1] Có nghĩa là cây kế.
[2] Donatello (1386 - 1466): nghệ sĩ, nhà điêu khắc nổi tiếng người Ý.
[3] Quỷ đầu đàn chống lại Chúa và cám dỗ con người.
[4] Một vị tổng lãnh thiên thần lãnh đạo đội quân của Thiên Chúa chống lại đội quân của Lucifer.
[5] Tiếng Gaelic: Yên nào, con ngựa đen của ta.
[6] Tiếng Gaelic: Yên nào!
[7] Một nhân vật trong Kinh Thánh.
[8] Pontius Pilate: tổng trấn thứ năm của tỉnh La Mã Judaea từ năm 26 đến năm 36 sau Công Nguyên, dưới thời Hoàng đế Tiberius, nổi tiếng về phiên tòa xử Chúa Jesus.