Lúc đầu, vì còn mê mải gặm nhấm niềm hạnh phúc khi được ở bên nhau và rời xa Leoch nên chúng tôi không trò chuyện nhiều. Bãi hoang vốn bằng phẳng, do đó Donas có thể dễ dàng chở cả hai chúng tôi mà không cần gồng sức. Tôi vòng tay quanh eo Jamie, hân hoan cảm nhận từng thớ cơ bắp thịt được ánh mặt trời sưởi ấm chuyển động nhịp nhàng bên dưới má tôi. Cho dù phải đối mặt với những vấn đề gì - tôi biết trước mắt chúng tôi vẫn còn rất nhiều khó khăn - nhưng chúng tôi đã được ở bên nhau. Mãi mãi. Thế là đủ!
Khi những giây phút lâng lâng ban đầu đã qua đi, chúng tôi liền trò chuyện trở lại. Lúc đầu là nói về vùng đất mà chúng tôi đang đi qua. Sau đó, một cách dè dặt hơn, là nói về tôi và nơi tôi từng ở. Anh thích mê những mô tả của tôi về cuộc sống hiện đại, dù phần lớn những chuyện tôi kể có vẻ giống như những câu chuyện thần tiên. Anh đặc biệt yêu thích những mô tả về ô tô, xe tăng, máy bay và bắt tôi tả đi tả lại về chúng một cách chi tiết nhất có thể. Bằng một thỏa thuận ngầm, chúng tôi tránh nhắc đến Frank.
Khi chúng tôi đi được một lúc nữa, cuộc trò chuyện trở về với hiện tại; Colum, lâu đài, cuộc săn hươu và Công tước.
“Ông ta có vẻ là một gã thú vị,” Jamie nhận xét. Khi đường sá trở nên khó đi, anh đã xuống ngựa và bước đi bên cạnh nó, khiến cuộc trò chuyện dễ dàng hơn.
“Em cũng đã nghĩ như vậy,” tôi đáp. “Nhưng...”
“Ồ, đúng vậy, vào thời buổi này, ta không nên quá tin tưởng vào những gì mà một người đàn ông thể hiện ở bên ngoài,” anh đồng ý. “Tuy nhiên, ông ta và anh khá hợp nhau. Bọn anh thường ngồi trò chuyện quanh ngọn lửa trong lán trại của khu săn bắn vào mỗi buổi tối. Ông ta thông minh hơn vẻ ngoài nhiều. Anh nghĩ ông ta biết giọng nói của mình mắc cười thế nào và cố tình dùng nó để làm cho mình trông hơi giống một gã ngốc, nhưng thực ra đôi mắt ông ta luôn để ý quan sát xung quanh và đầu óc liên tục tính toán.”
“Ừm. Đó là điều em lo sợ. Anh đã... kể với ông ta chưa?”
Anh nhún vai. “Một chút. Dĩ nhiên là ông ta biết tên anh từ lần gặp trước ở lâu đài.”
Tôi bật cười khi nghĩ lại câu chuyện anh kể về thời điểm đó. “Anh có, ờ, nhắc lại những chuyện cũ không?”
Anh cười toe, mái tóc bồng bềnh bay quanh mặt trong làn gió thu.
“Ồ, một chút thôi. Ông ta có hỏi liệu anh còn hay bị đau bụng không. Anh đã nghiêm mặt và trả lời rằng bình thường thì không nhưng khi ông ta hỏi đến thì anh có cảm giác bụng mình đột nhiên đau quặn. Ông ta cười và nói rằng ông ta hy vọng chứng bệnh này sẽ không làm người vợ xinh đẹp của anh cảm thấy khó chịu.”
Tôi lại cười. Bây giờ, những gì Công tước có thể hoặc không thể làm không còn quá quan trọng nữa. Tuy nhiên, một ngày nào đó ông ta có thể có ích.
“Anh đã kể cho ông ta nghe một chút,” Jamie tiếp tục, “rằng anh là kẻ sống ngoài vòng pháp luật, nhưng anh không phạm cái tội mà anh bị kết án, dù anh có rất ít cơ hội để chứng minh. Ông ta tỏ vẻ thông cảm, nhưng anh thận trọng không kể cho ông ta nghe về hoàn cảnh dẫn đến việc đó - và cái lệnh truy nã treo trên đầu anh. Anh còn chưa quyết định có nên hoàn toàn tin cậy ông ta không thì... ờ, thì già Alec đến, đâm bổ vào lán trại như thể đang bị quỷ sứ đuổi theo sát gót. Sau đó, Murtagh và anh lập tức rời khỏi khu săn bắn trong tình trạng cuống quýt y như vậy.”
Tôi sực nhớ ra. “Murtagh đâu?” Tôi hỏi. “Ông ấy về Leoch cùng anh à?” Tôi hy vọng người tộc viên nhỏ bé ấy không chạm trán Colum hoặc đám dân làng Cranesmuir.
“Ông ấy về cùng anh, nhưng con ngựa của ông ấy không chạy nhanh bằng Donas. Ừ, mày cừ lắm, Donas mo buidheag[1]”! Anh vỗ yêu cái cổ màu nâu đỏ đang ánh lên trong nắng. Donas thở phì phì và xù bờm lên. Jamie liếc nhìn tôi, mỉm cười.
“Đừng lo cho Murtagh. Con chim nhỏ vui vẻ ấy có thể tự lo cho mình.”
“Vui vẻ? Murtagh ư?” Tôi biết “vui vẻ” có nghĩa là gì, nhưng trong chừng mực nào đó, nó có vẻ không thích hợp khi được dùng để miêu tả Murtagh. “Hình như em chưa từng thấy ông ấy cười. Còn anh thì sao?”
“Ồ, có chứ. Ít nhất hai lần.”
“Anh quen biết ông ấy bao lâu rồi?”
“Hai mươi ba năm. Ông ấy là cha đỡ đầu của anh.”
“Ồ. Thảo nào. Em không nghĩ ông ấy quan tâm đến em.”
Jamie vỗ vỗ vào chân tôi. “Dĩ nhiên là có chứ! Ông ấy mến em mà.”
“Em sẽ tạm tin lời anh.”
Sau khi đã chạm đến chủ đề những sự kiện vừa mới xảy ra, tôi hít sâu một hơi và hỏi một điều mà tôi vô cùng nóng lòng muốn biết.
“Jamie?”
“Ơi?”
“Geillis Duncan. Họ sẽ... họ sẽ thực sự thiêu cô ta sao?”
Anh ngước nhìn tôi, hơi cau mày và gật đầu.
“Anh nghĩ vậy. Nhưng phải đợi cho đến khi đứa trẻ ra đời đã. Đó chính là điều làm em băn khoăn lo lắng ư?”
“Đó là một trong những mối bận tâm của em. Jamie, nhìn này!” Tôi cố xắn cái tay áo thùng thình lên nhưng không được, vì vậy đành phải kéo trễ cổ áo xuống vai để phô ra vết sẹo tiêm chủng của mình.
“Chúa ơi,” anh chậm rãi nói sau khi đã nghe tôi giải thích, và nhìn tôi với ánh mắt sắc sảo. “Vậy ra... cô ta cũng đến từ thời đại của em sao?”
Tôi nhún vai vẻ bất lực. “Em không biết. Em chỉ có thể nói rằng cô ta ắt hẳn sinh ra vào một thời điểm nào đó sau năm 1920; đó là khi tiêm chủng xuất hiện.” Tôi ngoảnh nhìn qua vai, nhưng những đám mây thấp đã che phủ các núi đá dốc ngăn cách chúng tôi với Leoch. “Giờ thì em nghĩ mình sẽ không bao giờ biết được nữa.”
Jamie cầm lấy dây cương của Donas và dẫn nó rẽ sang một lùm thông trên bờ một con suối nhỏ. Anh choàng tay quanh eo tôi và nhấc tôi xuống.
“Đừng thương tiếc cô ta,” anh cứng rắn nói, ôm lấy tôi. “Cô ta là một người đàn bà độc ác; một kẻ sát nhân, cho dù không phải là phù thủy. Cô ta đã giết chồng mình, đúng không?”
“Vâng,” tôi nói, nhún vai, nhớ lại đôi mắt đờ đẫn của Arthur Duncan.
“Nhưng anh vẫn không hiểu tại sao cô ta lại giết ông ấy,” anh nói, lắc đầu vẻ khó hiểu. “Ông ấy có tiền, có địa vị. Và anh không nghĩ ông ấy đánh vợ mình.”
Tôi kinh ngạc nhìn anh.
“Đó là định nghĩa của anh về một ông chồng tốt sao?”
“Ừ,” anh nói, cau mày. “Cô ta còn mong gì nữa chứ?”
“Gì nữa ư?” Quá đỗi sửng sốt, tôi chỉ nhìn anh trong giây lát rồi ngồi phịch xuống bãi cỏ và cười phá lên.
“Có gì đáng cười vậy? Chúng ta đang nói đến chuyện giết người mà.” Tuy nhiên, anh cũng mỉm cười và choàng cánh tay quanh người tôi.
“Em chỉ đang nghĩ,” tôi nói, vẫn còn cười khùng khục, “nếu định nghĩa của anh về một ông chồng tốt là một người có tiền và địa vị, không đánh vợ... Vậy thì, anh là ông chồng kiểu gì?”
“Ồ,” anh nói, cười toe. “Chà, Sassenach, anh chưa bao giờ nói mình là một ông chồng tốt. Em cũng vậy. Anh nghĩ em đã gọi anh là “kẻ bạo dâm” và một vài danh từ khác mà anh không tiện nhắc lại, nhưng em chưa bao giờ nói anh là một ông chồng tốt.”
“Tốt quá! Vậy thì em sẽ không cần phải đầu độc anh bằng xyanua.”
“Xyanua?” Anh tò mò nhìn tôi. “Đó là cái gì thế?”
“Thứ đã giết chết Arthur Duncan. Đó là một chất kịch độc gớm ghiếc khá phổ biến ở thời đại của em, nhưng ở đây thì không.” Tôi trầm ngâm liếm môi. “Em đã nếm phải nó trên môi ông ta, và chỉ một lượng nhỏ xíu đó thôi cũng đủ khiến cả mặt em tê liệt. Nó có tác dụng gần như ngay lập tức, như anh đã thấy đấy. Đáng lẽ em phải biết ngay lúc đó... ý em là về thân thế của Geilie. Em cho là cô ta chế nó từ hột đào hoặc hột anh đào giã nát, một việc vô cùng tốn công sức.”
“Vậy cô ta có nói với em tại sao cô ta làm thế không?”
Tôi thở dài và xoa xoa bàn chân. Giày của tôi đã bị mất trong cuộc vật lộn ở hồ, và trong lúc di chuyển, tôi thường giẫm phải gai và quả ké đầu ngựa, mà chân tôi thì không được chai cứng như chân của Jamie.
“Có, và nhiều chuyện khác nữa. Nếu trong cái túi đeo ở yên ngựa có gì đó để ăn, tại sao anh không đi lấy nó đi, sau đó em sẽ kể cho anh nghe toàn bộ.”
•••
Ngày hôm sau, chúng tôi tiến vào thung lũng Broch Tuarach. Khi đang trên đường xuống khỏi rặng đồi thấp, tôi trông thấy ở phía xa xa có một người cưỡi ngựa độc hành đang đi ngược chiều với chúng tôi. Đó là người đầu tiên tôi nhìn thấy kể từ khi chúng tôi rời khỏi Cranesmuir.
Anh ta trông có vẻ béo tốt và khá giả, cổ đeo khăn trắng như tuyết, mình mặc áo khoác vải xẹc màu xám, đuôi áo dài quá cạp quần chừng bốn, năm phân.
Chúng tôi đã đi đường già nửa tuần, ngủ ngoài trời, tắm nước suối lạnh, ăn thịt thỏ hoặc cá mà Jamie bắt được, và những loại rau hoặc quả mọng có thể ăn được mà tôi tìm thấy. Nhờ nỗ lực của mình mà chế độ ăn uống của chúng tôi còn tốt hơn lúc ở lâu đài, thức ăn tươi hơn và chắc chắn là đa dạng hơn, dẫu không thể đoán trước được.
Tuy cuộc sống ngoài trời cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho chúng tôi nhưng ngoại hình lại là vấn đề khác, vì thế tôi vội vã kiểm tra vẻ ngoài của mình và Jamie khi quý ông trên lưng ngựa ngập ngừng, nhíu mày rồi chầm chậm đi nước kiệu về phía chúng tôi để thăm dò.
Jamie đã khăng khăng đi bộ phần lớn quãng đường để giảm bớt gánh nặng cho con ngựa, vì thế trông anh hết sức nhếch nhác. Đôi tất dài nhuốm màu bụi đỏ, chiếc áo sơ mi bị những bụi gai cào rách tơi tả và những sợi râu một tuần chưa cạo chĩa lên tua tủa ở má và quai hàm.
Trong mấy tháng qua, tóc anh đã dài đến vai. Thường thì nó được thắt bím hoặc buộc túm ra sau, nhưng giờ nó được buông xõa, trông dày dặn và phóng túng, với những mẩu lá và que nhỏ mắc vào các lọn tóc rối màu đồng. Khuôn mặt sạm màu đồng hun, đôi giày nứt toác vì đi bộ, thêm con dao găm và thanh kiếm giắt trên thắt lưng, trông anh đích thị là một người cao nguyên hoang dã.
Tôi cũng chẳng khá hơn là mấy. Trùm chiếc áo sơ mi tốt nhất của Jamie lên chiếc váy lót rách rưới, đi chân trần và quấn cái áo choàng len của anh quanh người, trông tôi chẳng khác nào một kẻ lang thang. Vì thời tiết ẩm ướt, sương giá, lại chẳng có lược hay bàn chải tóc nên tóc tôi trở nên rối tung. Nó cũng đã mọc dài ra trong thời gian tôi ở lâu đài, xù lên như những đám mây bồng bềnh quanh vai và bay vào mắt tôi mỗi khi có gió lùa đến từ đằng sau, giống như lúc này đây.
Gạt những lọn tóc bướng bỉnh ra khỏi mắt, tôi thấy người đàn ông mặc đồ màu xám thận trọng tiến lại gần. Jamie dừng ngựa lại, đợi anh ta đến.
“Đó là Jock Graham,” anh nói với tôi, “ở Murch Nardagh.”
Còn cách chúng tôi vài thước, người đàn ông dừng cương và săm soi chúng tôi từ đầu đến chân. Đôi mắt mọng mỡ của anh ta nheo lại nhìn Jamie với vẻ nghi ngờ, rồi đột nhiên mở to ra.
“Lallybroch?” Anh ta kinh ngạc nói.
Jamie hòa nhã gật đầu, rồi đặt tay lên đùi tôi và nói với vẻ kiêu hãnh của người sở hữu: “Và phu nhân của tôi.”
Miệng Jock Graham há hốc rồi vội vã khép lại, vẻ mặt kính trọng, bối rối.
“À... phu... nhân,” anh ta nói, chậm trễ bỏ mũ và cúi đầu chào tôi. “Vậy là ngài đang, ờ, về nhà?” Anh ta hỏi, cố gắng dời ánh mắt khỏi chân tôi, vốn bị lộ đến đầu gối vì chiếc váy rách.
“Ừ.” Jamie nhìn qua vai Jock Graham, hướng về phía cái khe đồi mà anh đã nói với tôi là lối vào của Broch Tuarach. “Anh vừa mới ở đó, đúng không Jock?”
Graham dời ánh mắt khỏi tôi và nhìn Jamie. “Hử? Ồ, vâng. Vâng, tôi vừa ở đó. Họ đều khỏe. Tôi nghĩ họ sẽ vui mừng khi gặp ngài. Vậy chúc ngài đi tốt lành nhé, Fraser!” Với một cú thúc vội vã vào sườn con ngựa, anh ta quay sang bên và tiến về phía thung lũng.
Chúng tôi dõi theo anh ta. Đột nhiên, đi được một trăm thước, anh ta dừng lại, xoay người, đứng trên cái bàn đạp ngựa và đưa tay bắc loa miệng để hét lớn. Gió đưa tiếng hét ấy đến chỗ chúng tôi, mỏng manh nhưng rõ ràng.
“Mừng ngài về nhà!”
Rồi anh ta biến mất trên một mỏm đồi.
•••
Broch Tuarach có nghĩa là “tòa tháp quay về phía bắc”. Từ sườn ngọn núi bên trên, tòa tháp đã cho điền trang nhỏ mượn tên trông chỉ như một ụ đá, rất giống những ụ đá nằm ở chân các ngọn đồi mà chúng tôi vừa đi qua.
Chúng tôi đi xuống qua một cái khe hẹp lởm chởm khó đi nằm giữa hai vách đá dựng đứng, khéo léo dẫn con ngựa len lỏi quanh các tảng đá mòn. Sau đó, việc đi lại dễ dàng hơn, mặt đất trở nên thoai thoải khi ngang qua những cánh đồng và các túp nhà nằm rải rác cho đến khi chúng tôi tới một con đường nhỏ quanh co dẫn tới nhà của Jamie.
Nó lớn hơn tôi tưởng; đó là một tòa nhà cao ba tầng xinh đẹp được xây bằng đá trắng và quét vôi cẩn thận, với những ô cửa sổ viền đá xám tự nhiên và mái nhà cao lợp ngói đen lô nhô vô số ống khói. Xung quanh nó còn có mấy tòa nhà nhỏ quét vôi trắng trông như đàn gà con quây quần bên gà mẹ. Tòa tháp cổ bằng đá nằm trên một mỏm đồi nhỏ đằng sau nhà, cao chừng mười tám mét, với cái đỉnh hình nón trông như mũ đội đầu của phù thủy. Trên tường có ba dãy lỗ châu mai nhỏ xíu.
Khi chúng tôi tới gần, từ phía những tòa nhà phụ bỗng vang lên tiếng chó sủa inh ỏi, khiến Donas khựng lại rồi chồm lên. Vì không quen cưỡi ngựa nên tôi lập tức bị hất ngã. Jamie lập tức nhảy vọt tới, nắm lấy dây cương con ngựa, để mặc tôi tự mình xoay xở.
Lúc tôi lồm côm bò dậy, lũ chó đã sắp lao xổ vào tôi, gầm gừ và sủa vang. Trước đôi mắt kinh hoàng của tôi, dường như có tới hơn chục con chó, tất cả đều nhe răng đầy dữ dằn. Jamie quát lên:
“Bran! Luke! Sheas[2]!”
Lũ chó dừng phắt lại cách tôi vài bước chân, tỏ vẻ bối rối. Chúng đi quanh quẩn, gầm gà gầm gừ đầy ngập ngừng, cho đến khi anh lại lên tiếng.
“Sheas, mo maise! Đứng im, lũ ngu xuẩn!” Chúng liền đứng lại, và con chó to nhất bắt đầu vẫy đuôi, một lần, rồi hai lần, vẻ hoài nghi.
“Claire! Tới dắt con ngựa đi! Nó sẽ không để cho lũ chó lại gần, và người chúng đang để ý là anh. Đi chậm thôi; chúng sẽ không cắn em đâu.” Anh điềm tĩnh nói để không làm cả con ngựa lẫn lũ chó kích động hơn nữa. Tôi không lạc quan được như thế, nhưng vẫn cẩn thận nhích từng bước về phía anh. Donas hất đầu và đảo mắt khi tôi cầm lấy dây cương, nhưng tôi không có tâm trạng để xoa dịu nó. Tôi giật mạnh dây cương xuống và tóm lấy cái dây buộc quanh đầu ngựa.
Cặp môi dày vén lên, phô ra hàm răng to tướng, nhưng tôi càng kéo mạnh hơn. Tôi ghé sát mặt vào con mắt to màu vàng kim đang trừng trừng nhìn mình, gườm gườm nhìn lại nó.
“Đừng có thử!” Tôi cảnh cáo, “nếu không mày sẽ làm mồi cho chó đấy, và tao sẽ không cứu mày đâu!”
Trong lúc đó, Jamie từ từ đi về phía lũ chó, giơ nắm đấm ra. Hóa ra bầy chó mà tôi tưởng tượng là đông lắm chỉ có bốn con: một con chó sục chuột nhỏ màu nâu, hai con chó chăn cừu khoang đốm và một con vật to lớn màu đen pha nâu vàng hoàn toàn có thể đóng vai con chó của dòng họ Baskerville[3] mà không ai thắc mắc gì.
Sinh vật đang chảy nước dãi ấy vươn cao cái cổ dày hơn cả eo tôi và nhẹ nhàng hít ngửi khớp ngón tay anh. Cái đuôi giống như dây neo đưa qua đưa lại càng lúc càng nhanh. Rồi nó ngửa cái đầu khổng lồ, tru lên vui sướng, nhảy lên người ông chủ của mình, làm anh ngã lăn ra đất.
“Odysseus[4] trở về từ cuộc chiến thành Troy và được con chó trung thành của mình nhận ra,” tôi lẩm bẩm với Donas, và nó thở phì một cái, chẳng biết là để bày tỏ ý kiến về Homer[5] hay về màn thể hiện cảm xúc vụng về đang diễn ra trên đường.
Jamie cười to, xoa đầu và kéo tai lũ chó. Chúng đều đang cố liếm mặt chủ cùng một lúc. Cuối cùng, anh xua chúng lùi lại để đứng dậy, gắng gượng giữ thăng bằng trước sự cuồng nhiệt của chúng.
“Chà, dù sao đi nữa, cũng có ai đó vui mừng khi thấy anh,” anh nói, cười toe, vỗ vỗ đầu con chó to nhất. “Đó là Luke…” anh chỉ vào con chó sục chuột, “Elphin và Mars. Chúng là anh em, và là những con chó chăn cừu xinh đẹp. Còn đây,” anh trìu mến đặt bàn tay lên cái đầu đen khổng lồ đang rớt dãi, “là Bran.”
“Em sẽ ghi nhớ,” tôi nói, thận trọng giơ một khớp ngón tay ra cho chúng ngửi hơi. “Nó là chó gì vậy?”
“Một con chó săn hươu.” Anh gãi gãi hai cái tai đang vểnh lên của nó, ngâm nga:
“Vậy là Fingal chọn con chó săn của mình:
Mắt như quả mận gai, tai như lá,
Ngực như ngựa, bắp chân như lưỡi liềm,
Và cái đuôi nằm cách xa cái đầu[6].”
“Nó có vẻ phù hợp với những tiêu chuẩn đó,” tôi nói, quan sát Bran. “Nếu đuôi của nó cách xa đầu hơn nữa, anh có thể cưỡi nó đấy.”
“Anh từng làm thế, hồi còn nhỏ - không phải với Bran, mà là ông của nó, Nairn.”
Anh vỗ con chó lần cuối và đứng thẳng dậy, nhìn về phía ngôi nhà, rồi cầm lấy dây cương của Donas bất kham và dẫn nó xuống đồi.
“Odysseus trở về nhà, cải trang thành một người hành khất...” Anh trích dẫn bằng tiếng Hy Lạp, sau khi nghe được lời thì thầm của tôi với con ngựa lúc nãy. “Và bây giờ,” anh nói, dựng thẳng cổ áo vẻ nghiêm túc, “anh cho là đã đến lúc để đối mặt với Penelope[7] và những người cầu hôn cô ấy.”
Khi chúng tôi tới cánh cửa đôi, với lũ chó thở hổn hển bám theo sát gót, Jamie tỏ vẻ chần chừ.
“Chúng ta có nên gõ cửa không?” Tôi hỏi, có chút căng thẳng. Anh ngạc nhiên nhìn tôi.
“Đây là nhà anh mà,” anh nói và đẩy cửa ra.
Anh dẫn tôi đi thẳng vào nhà, lờ đi một vài người hầu đang tỏ vẻ sửng sốt, băng qua tiền sảnh và phòng giữ súng để vào phòng khách. Trong phòng có một cái lò sưởi rộng, bề mặt bóng loáng, trên đó bày những món đồ bạc và thủy tinh lấp lánh trong ánh chiều tà. Trong một thoáng, tôi nghĩ căn phòng không có ai. Rồi tôi nhìn thấy một bóng hình khẽ cử động ở một góc gần lò sưởi.
Chị nhỏ bé hơn tôi tưởng. Với một người em trai như Jamie, tôi cứ hình dung chị ít nhất cũng cao bằng tôi hoặc thậm chí là cao hơn, nhưng người phụ nữ đứng bên lò sưởi chỉ cao chưa tới mét rưỡi. Chị đang quay lưng về phía chúng tôi, vươn tay lấy thứ gì đó trên cái giá của tủ đựng đồ sứ, hai đầu chiếc đai thắt váy của chị gần chạm xuống sàn nhà.
Jamie sững lại khi nhìn thấy chị.
“Jenny,” anh gọi.
Người phụ nữ quay lại. Tôi chỉ kịp nhìn thấy cặp lông mày đen nhánh và đôi mắt to màu xanh dương trên khuôn mặt trắng trẻo trước khi chị lao về phía em trai mình.
“Jamie!” Dù vóc dáng bé nhỏ, cú ôm chầm của chị vẫn làm anh chấn động. Hai cánh tay anh choàng quanh vai chị theo phản xạ và họ cứ ôm nhau như thế một lúc, khuôn mặt chị áp vào ngực áo anh, còn bàn tay anh dịu dàng đặt trên gáy chị. Vẻ mặt anh mừng mừng tủi tủi khiến tôi có cảm giác mình giống như một kẻ không mời mà đến.
Rồi chị ghì chặt anh hơn, thì thầm gì đó bằng tiếng Gaelic khiến anh tỏ vẻ sửng sốt. Anh nắm lấy hai tay chị, đẩy chị ra khỏi người anh rồi nhìn xuống.
Khuôn mặt họ rất giống nhau; họ đều có đôi mắt xếch màu xanh sẫm, gò má rộng cùng sống mũi như lưỡi dao, thanh mảnh và hơi dài. Nhưng trong khi anh có mái tóc sáng màu thì tóc chị lại xoăn đen, được buộc lại bằng sợi ruy băng màu xanh lá.
Chị thật xinh đẹp, nét nào ra nét đấy, làn da trắng như thạch cao tuyết hoa, và có thể thấy rõ chị đang mang thai khá lớn.
Môi Jamie trắng bệch. “Jenny,” anh thì thầm, lắc đầu. “Ôi, Jenny. Mo cridh[8].”
Sự chú ý của chị bị phân tán bởi sự xuất hiện của một đứa bé ở ngưỡng cửa, vì vậy chị rời khỏi em trai mà chẳng nhận thấy vẻ hoang mang của anh. Chị cầm tay thằng bé, dẫn nó vào trong phòng, thì thầm khuyến khích. Nó lùi lại một chút, cho ngón cái vào miệng, nấp sau váy mẹ mà nhìn lên những người lạ.
Vì rõ ràng chị là mẹ của nó. Nó có mái tóc đen xoăn dày và bờ vai vuông vức của chị, dù khuôn mặt không giống chị.
“Đây là nhóc Jamie,” chị nói, nhìn xuống thằng bé với vẻ tự hào. “Còn đây là cậu của con, Jamie, mo cridh. Mẹ đã lấy tên của cậu để đặt tên cho con đấy.”
“Tên em? Chị lấy tên em đặt cho nó?” Jamie trông như một dũng sĩ vừa lĩnh trọn một cú đấm trời giáng vào bụng. Anh lùi lại khỏi hai mẹ con cho đến khi va vào một cái ghế, và ngồi xuống đó như thể hai chân đã cạn kiệt sức lực. Rồi anh vùi mặt vào hai bàn tay.
Lúc này, chị gái anh mới nhận thấy có điều gì đó không ổn. Chị ngập ngừng chạm vào vai anh.
“Jamie? Có chuyện gì vậy, em yêu quý? Em ốm à?”
Anh ngước lên nhìn chị, hai mắt mọng nước.
“Chị có cần phải làm thế không, Jenny? Chị nghĩ em chưa chịu đựng đủ những gì đã xảy ra - những gì em đã gây ra - đến nỗi chị phải lấy tên em để đặt cho đứa con hoang của Randall, để khiến em phải dằn vặt suốt đời ư?”
Khuôn mặt vốn xanh xao của Jenny giờ trở nên thất sắc.
“Đứa con hoang của Randall?” Chị ngơ ngác nói. “Ý em là, John Randall? Gã Đại úy Áo đỏ?”
“Vâng, gã Đại úy Áo đỏ. Còn là ai nữa chứ, vì Chúa! Chị vẫn nhớ hắn đấy chứ?” Jamie mỉa mai.
Jenny chăm chú nhìn em trai, một bên lông mày nhướng lên nghi ngờ.
“Em mất trí rồi sao, em trai?” Chị hỏi. “Hay trên đường đi em đã uống quá chén?”
“Đáng lẽ em không nên trở về,” anh lẩm bẩm, rồi đứng dậy, hơi lảo đảo, cố gắng đi qua mà không chạm vào chị. Tuy nhiên, chị vẫn đứng yên và nắm lấy cánh tay anh.
“Nếu chị không lầm,” Jenny chậm rãi nói, “thì em đang ám chỉ chị ăn nằm với Đại úy Randall, và chị tự hỏi em đã nhét vào đầu mình những ý nghĩ quái gở gì mà lại nói như vậy?”
“Những ý nghĩ quái gở ư?” Jamie quay sang chị, miệng nhếch lên đầy cay đắng. “Em ước gì đó chỉ là những ý nghĩ quái gở; em thà chết còn hơn nhìn thấy chuyện này xảy ra với chị mình.” Anh nắm lấy hai vai chị, khẽ lắc lắc, thét lên: “Tại sao, Jenny, tại sao? Khiến chị phải hủy hoại bản thân mình vì em đã khiến em nhục nhã muốn chết rồi. Còn điều này...” Anh buông tay xuống, chỉ vào cái bụng đang nhô ra của chị với vẻ tuyệt vọng. Trông nó như đang buộc tội anh vậy.
Anh đột ngột quay về phía cửa, khiến một người phụ nữ lớn tuổi đang chăm chú đứng nghe giật mình lùi lại. Thằng bé đã chạy tới bám vào váy bà ta tự lúc nào.
“Đáng lẽ em không nên trở về. Em đi đây!”
“Em không được đi, Jamie Fraser,” chị gái anh kiên quyết nói. “Em không được đi trước khi nghe chị nói. Nếu em muốn biết, hãy ngồi xuống, chị sẽ kể em nghe về Đại úy Randall.”
“Em không muốn biết! Em không muốn nghe!” Khi Jenny tiến về phía anh, anh quay ngoắt về phía cửa sổ trông ra sân. Chị vừa đi theo anh vừa nói: “Jamie...” nhưng anh gạt chị ra bằng một cử chỉ thô bạo.
“Không! Đừng kể với em! Em đã nói em không thể chịu nổi chuyện đó!”
“Ồ, thật sao?” Em trai chị đang đứng ở cửa sổ, đôi chân dang rộng, tay đặt trên bậu cửa và quay lưng về phía chị vẻ bướng bỉnh. Chị nhìn anh, cắn môi, trên mặt hiện lên vẻ toan tính. Thế rồi, nhanh như chớp, chị khom người xuống và luồn tay vào dưới váy anh như một con rắn đang tấn công.
Jamie phẫn nộ hét toáng lên và đứng thẳng dậy vì sốc. Anh cố gắng quay lại, rồi cứng người khi chị siết chặt.
“Có những người đàn ông biết suy nghĩ,” chị nói với tôi, nở nụ cười tinh quái, “và có những con vật dễ bảo. Còn với những đối tượng khác, cô sẽ chẳng làm gì được trừ phi cô tóm được điểm yếu của họ... Nào, giờ thì em có thể ngoan ngoãn nghe chị nói chưa,” chị nói với em trai, “nếu không chị có thể siết chặt thêm chút nữa. Nào?”
Anh đứng yên, mặt đỏ bừng, răng nghiến chặt và thở hồng hộc. “Em sẽ nghe chị,” anh nói, “rồi sau đó em sẽ vặn cổ chị, Janet! Thả em ra!”
Chị vừa thả ra, anh lập tức xoay người về phía chị.
“Chị đang làm cái quái gì vậy?” Anh hỏi. “Chị đang cố làm nhục em trước mặt vợ em đấy à?”
Jenny vẫn thản nhiên trước cơn thịnh nộ của anh. Chị ngả người ra sau, nhìn em trai và tôi với vẻ châm biếm.
“Chà, nếu cô ấy là vợ em, chị hy vọng cô ấy quen với “điểm yếu” của em hơn chị. Chị đã không còn trông thấy chúng từ lúc em đủ lớn để tự tắm một mình. Chúng đã phát triển hơn một chút, đúng không?”
Nét mặt Jamie biến đổi vài lần trông rất đáng sợ khi tiếng gọi của cách hành xử văn minh giằng co với bản tính hoang dã nguyên thủy của một cậu em trai muốn thụi vào đầu chị mình. Cuối cùng, cách hành xử văn minh đã chiến thắng, và anh nghiến răng nói với vẻ nghiêm nghị nhất có thể: “Đừng có nhắc đến “điểm yếu” của em nữa! Và vì chị sẽ không để yên cho đến khi bắt em nghe bằng được câu chuyện đó, vậy hãy kể em nghe về Randall đi! Kể em nghe tại sao chị không nghe lời em và tự làm bẽ mặt chính chị và gia đình chị.”
Jenny chống nạnh, đứng thẳng người, sẵn sàng chiến đấu. Tuy chị giữ được điềm tĩnh lâu hơn em trai nhưng rõ ràng chị cũng nóng nảy không kém gì anh.
“Ồ, không nghe lời em ư? Đó là điều khiến em bực mình sao, Jamie? Hẳn rồi! Em là người hiểu biết nhất nên bọn chị phải làm theo những gì em nói, nếu không, bọn chị sẽ đi đời hết.” Chị giận dữ khoa tay múa chân. “Và nếu hôm đó chị làm theo những gì em nói, em đã chết ngay ở ngoài sân, còn cha thì bị treo cổ hoặc bị tống vào tù vì tội giết Randall, và mảnh đất này sẽ bị triều đình tước mất. Chưa kể chị sẽ phải đi ăn xin ở ven đường để sống cho qua ngày đoạn tháng khi nhà cửa và gia đình tan nát.”
Khuôn mặt Jamie không còn tái nhợt nữa mà đỏ gay vì giận dữ.
“Vâng, vì vậy chị chọn cách bán thân thay vì ăn xin! Em thà chết và nhìn cha với mảnh đất này đi xuống địa ngục cùng em còn hơn, chị biết rõ điều đó mà!”
“Ừ, chị biết! Em là một thằng ngốc, Jamie, từ trước đến giờ vẫn vậy!” Chị anh đáp trả trong cơn phẫn nộ.
“Chị nói hay lắm! Chị chưa thỏa mãn với việc hủy hoại thanh danh của chính mình và cả của em nữa, vì thế chị phải tiếp tục kéo dài vụ bê bối này và khoe khoang nỗi nhục nhã của chị cho cả vùng biết!”
“Em không được ăn nói với chị kiểu đó, James Fraser, dù em là em trai chị! Em nói “nỗi nhục nhã của chị” là có ý gì? Đồ xuẩn ngốc, đồ…”
“Ý em còn là gì nữa? Khi chị đi khắp nơi với cái bụng ễnh ra như một con cóc?” Anh khinh khỉnh vung tay minh họa lại cái bụng của chị.
Chị lùi lại một bước, thu tay lấy đà và dồn hết sức bình sinh tát anh một cái, khiến đầu anh ngửa ra sau và để lại dấu tay trắng bệch in hằn trên má anh. Anh chậm rãi giơ tay chạm vào dấu vết đó, nhìn chị mình chằm chằm. Đôi mắt chị ánh lên giận dữ, ngực chị phập phồng dữ dội. Những lời lẽ tuôn trào như dòng nước lũ giữa hai hàm răng trắng tinh đang nghiến chặt.
“Con cóc ư? Thằng hèn thối tha - mày thì có can đảm gì hơn khi để mặc tao ở đây, nghĩ rằng mày đã chết hoặc bị tống giam vì chẳng có tin tức gì về mày suốt ngày này qua ngày khác, thế rồi vào một ngày đẹp trời, mày trở về nhà - với một cô vợ - và ngồi trong phòng khách của tao, gọi tao là con cóc, con điếm và...
“Em không gọi chị là con điếm, nhưng có gọi thế cũng chẳng sai! Sao chị có thể…”
Bất chấp sự chênh lệch về chiều cao, hai chị em gần như mũi đối mũi và rít lên với nhau, cố gắng không để cho giọng mình vang vọng khắp tòa nhà cũ. Nhưng nỗ lực ấy hoàn toàn vô ích, vì tôi bắt gặp vô số ánh mắt tò mò đang len lén nhòm trộm từ bếp, hành lang và ngoài cửa sổ. Lãnh chúa của Broch Tuarach đang có một cuộc hồi hương thú vị.
Tôi nghĩ mình nên tránh mặt để họ thoải mái trút bỏ những khúc mắc trong lòng, vì vậy tôi lặng lẽ bước ra ngoài hành lang, ngại ngùng gật đầu chào người phụ nữ đứng tuổi và tiếp tục đi ra sân. Tôi ngồi xuống cái ghế băng bên dưới một giàn cây nhỏ, hứng thú nhìn quanh.
Bên cạnh giàn cây là một khu vườn nhỏ có tường bao với những nụ hồng cuối cùng của mùa hè đang bung nở. Xa hơn nữa là thứ mà Jamie gọi là “chuồng chim bồ câu”; tôi đoán vậy vì thấy những con bồ câu đủ loại đang vỗ cánh phành phạch, bay ra bay vào qua lỗ hổng được khoét ở trên nóc của nó.
Ở phía bên kia của tòa nhà hẳn phải có chuồng gia súc, xi lô[9], kho thóc, sân nuôi gà, vườn rau và nhà nguyện bị bỏ không. Ở phía bên này còn có một tòa nhà nhỏ bằng đá không biết để làm gì. Làn gió nhẹ mùa thu thổi đến từ hướng đó; lùa vào mũi tôi mùi hoa bia và men bia đậm đặc. Vậy ra nó chính là nhà ủ bia của điền trang.
Con đường đi ngang qua cổng dẫn lên một ngọn đồi nhỏ. Trên đỉnh đồi có một nhóm người in bóng trong ánh chiều tà. Họ nán lại một lát như thể tạm biệt nhau, rồi một người xuống đồi, đi về phía ngôi nhà, trong khi những người còn lại sải bước qua những cánh đồng về phía một khóm nhà ở phía xa xa.
Người đàn ông xuống đồi với bước đi khập khiễng. Lúc anh ta đi qua cổng, tôi liền hiểu rõ lý do. Chân phải của anh ta bị cụt đến dưới đầu gối, khiến anh ta phải mang một cái chân giả bằng gỗ.
Tuy khập khiễng như vậy nhưng anh ta di chuyển khá nhanh nhẹn. Lúc anh ta lại gần giàn cây, tôi thấy anh ta mới chỉ ngoài hai mươi tuổi. Anh ta cao gần bằng Jamie nhưng bờ vai hẹp hơn nhiều, có thể nói là gần như gầy giơ xương.
Anh ta dừng lại trước giàn cây, nặng nề dựa vào tấm lưới mắt cáo và nhìn tôi chăm chú. Mái tóc nâu dày xòa xuống vầng trán cao, đôi mắt nâu sâu thẳm ẩn chứa vẻ hài hước kìm nén.
Jamie và chị gái đã to tiếng hơn trong lúc tôi đợi ở bên ngoài. Thời tiết ấm áp nên những ô cửa sổ đều để mở, và giọng nói của những người đang tranh cãi vọng ra tới tận giàn cây, dù không rõ ràng lắm.
“Đồ con chồn tọc mạch, phiền phức!” Giọng Jamie oang oang trong không khí êm dịu của buổi chiều tà.
“Mày không có tư cách để…” Câu đáp trả của chị gái anh bị chìm mất trong một cơn gió bất ngờ.
Người mới tới vui vẻ hất đầu về phía ngôi nhà.
“A, Jamie về nhà rồi đấy!”
Tôi gật đầu, không biết mình có nên tự giới thiệu không, nhưng chàng trai trẻ đã mỉm cười và cúi đầu với tôi.
“Tôi là Ian Murray, chồng của Jenny. Và tôi đoán cô là... ờ...”
“Cô nàng Sassenach mà Jamie đã kết hôn,” tôi nói nốt thay anh ta. “Tôi là Claire. Vậy là anh đã biết chuyện của chúng tôi?” Tôi hỏi khi anh ta cười. Đầu óc tôi xoay mòng mòng. Chồng của Jenny?
“Ồ, vâng. Joe Orr đã nghe tin từ một người lang thang ở Ardraigh và báo cho chúng tôi biết. Cho dù mới cưới chưa đầy một tháng nhưng cô nên biết rằng ở vùng cao nguyên này, cô không thể giữ được bí mật nào lâu. Jenny đã băn khoăn hàng tuần lễ rằng không biết trông cô như thế nào.”
“Đàng điếm!” Jamie gầm lên từ trong nhà. Chồng của Jenny vẫn tỏ vẻ thản nhiên, tiếp tục ngắm nghía tôi với sự tò mò thân thiện.
“Cô thật xinh đẹp,” anh ta nói, nhìn tôi từ đầu đến chân không chút giấu giếm. “Cô thích Jamie chứ?”
“Ồ... Vâng. Vâng, tôi thích anh ấy,” tôi trả lời, có chút ngạc nhiên. Tôi đang dần quen với sự thẳng thắn - vốn là tính cách đặc trưng của hầu hết người cao nguyên - nhưng thi thoảng nó vẫn làm tôi giật mình.
Anh ta bặm môi, gật đầu như thể đã thỏa mãn, và ngồi xuống cạnh tôi trên băng ghế.
“Tốt hơn là cứ để mặc họ thêm vài phút nữa,” anh ta nói, phẩy tay về phía ngôi nhà. Cuộc cãi cọ giờ đã chuyển sang tiếng Gaelic. Anh ta có vẻ chẳng hề bận tâm đến nguyên nhân gây ra cuộc khẩu chiến. “Người nhà Fraser chẳng chịu lắng nghe bất cứ điều gì khi nổi cơn thịnh nộ. Lúc họ đã la hét xong, thi thoảng cô có thể khiến họ hiểu được lý lẽ, nhưng trước đó thì không.”
“Vâng, tôi cũng đã nhận ra,” tôi hóm hỉnh nói, và anh ta phì cười.
“Vậy là cô đã chung sống với Jamie đủ lâu để nhận ra điều đó? Chúng tôi đã nghe chuyện Dougal bắt Jamie cưới cô như thế nào,” anh ta nói, lờ đi cuộc khẩu chiến và tập trung chú ý vào tôi. “Nhưng Jenny nói Dougal MacKenzie không thể ép Jamie làm một việc gì đó mà cậu ấy không thích. Bây giờ khi đã gặp cô, tôi có thể hiểu tại sao cậu ấy lại đồng ý.” Anh ta nhướng mày, gợi ý tôi giải thích thêm, nhưng không ép buộc tôi.
“Tôi nghĩ anh ấy có lý do riêng,” tôi nói, vừa trò chuyện với anh ta vừa để ý đến ngôi nhà, nơi vẫn đang phát ra những tiếng cãi cọ. “Tôi không muốn... ý tôi là, tôi hy vọng...”
Ian hiểu được sự ngập ngừng và cái liếc mắt của tôi về phía những ô cửa sổ phòng khách.
“Ồ, tôi cho là cô cũng có chút liên quan. Nhưng cô ấy vẫn sẽ làm vậy với Jamie cho dù cô có ở đây hay không. Cô ấy yêu Jamie vô cùng và rất lo lắng khi cậu ấy biệt tăm, đặc biệt là khi cha cô ấy ra đi quá đột ngột như thế. Cô biết chuyện đó chứ?” Cặp mắt màu nâu toát lên vẻ sắc bén và tinh tường, như thể đang đo lường mức độ tin tưởng giữa tôi và Jamie.
“Vâng, Jamie đã kể với tôi.”
“À.” Anh ta hất đầu về phía ngôi nhà. “Hơn nữa, cô ấy đang mang thai.”
“Vâng, tôi cũng đã nhận ra điều đó,” tôi nói.
“Khó mà không để ý thấy, đúng không?” Ian nói, và cả hai chúng tôi đều cười phá lên. “Điều đó khiến cô ấy bẳn tính,” anh ta giải thích, “nhưng tôi không trách móc gì cô ấy cả. Tôi không có đủ dũng cảm để cãi nhau với một người phụ nữ đang mang thai ở tháng thứ chín.” Anh ta ngả người ra sau, duỗi cái chân gỗ ra trước mặt.
“Tôi đã bị mất chân ở Daumier khi đang phục vụ dưới trướng Fergus nic Leodhas,” anh ta giải thích. “Bị trúng đạn chùm của đại bác. Hơi nhức vào cuối ngày.” Anh ta xoa xoa phần da thịt ngay bên trên chỗ nối giữa cái chân gỗ với cái chân cụt.
“Anh đã thử xoa chân bằng dầu làm từ cây dương nhựa thơm chưa?” Tôi hỏi. “Rau nghể hoặc cửu lý hương cũng có thể có tác dụng.”
“Tôi chưa thử rau nghể,” anh ta đáp, tỏ vẻ quan tâm. “Tôi sẽ hỏi xem Jenny có biết chế thuốc từ nó không.”
“Ồ, tôi sẵn lòng giúp anh,” tôi nói, cảm thấy khá mến anh ta. Rồi tôi lại nhìn về phía ngôi nhà. “Nếu chúng tôi ở lại đây đủ lâu,” tôi nghi ngại nói thêm. Chúng tôi tán gẫu thêm một lúc nữa, tai vẫn dỏng lên nghe cuộc xung đột đang diễn ra bên trong cửa sổ, cho đến khi Ian cẩn thận dồn trọng lượng cơ thể vào cái chân giả, đứng dậy và tập tễnh tiến về phía trước.
“Tôi cho là bây giờ chúng ta nên vào nhà. Nếu một trong hai người họ ngừng la hét và nghe thấy người kia nói gì, họ sẽ làm tổn thương cảm xúc của nhau mất.”
“Tôi hy vọng cảm xúc là thứ duy nhất mà họ bị tổn thương.”
Ian cười khùng khục. “Ồ, tôi không nghĩ là Jamie sẽ đánh cô ấy. Cậu ấy đã quen chịu đựng sự khiêu khích. Còn về Jenny, cô ấy có thể tát Jamie, nhưng chỉ thế thôi.”
“Chị ấy đã làm thế rồi.”
“Chà, tất cả các khẩu súng đều đã được khóa nòng, dao rựa thì ở nhà bếp hết cả, trừ mấy món vũ khí mà Jamie đeo trên người. Tôi không nghĩ cậu ấy sẽ để Jenny lại gần và giật lấy con dao găm của cậu ấy. Không, họ rất an toàn.” Anh ta dừng lại ở cửa. “Bây giờ, về phần cô và tôi...” Anh ta nháy mắt nghiêm nghị. “Đó lại là một vấn đề khác.”
•••
Những người hầu gái giật mình và len lét lỉnh đi khi thấy Ian tiến đến, nhưng bà quản gia vẫn quanh quẩn ở cửa phòng khách, say sưa theo dõi cuộc cãi cọ bên trong. Đứa bé trùng tên với Jamie nép vào bộ ngực rộng của bà. Bà mải mê đến nỗi khi Ian cất tiếng, bà giật nẩy người như thể anh ta đã đâm cái ghim cài mũ vào người bà, và đưa tay lên ôm trái tim đang đập thình thịch.
Ian gật đầu lịch sự với bà quản gia, bế cậu bé lên và bước vào phòng khách. Chúng tôi dừng lại ngay bên trong cửa để quan sát tình hình. Hai chị em Jamie đã dừng lại để thở, nhưng vẫn xù lông nhím và trừng mắt nhìn nhau như một cặp mèo đang giận dữ.
Nhìn thấy mẹ mình, nhóc Jamie liền vùng vẫy tuột xuống khỏi tay Ian và lao đến chỗ Jenny như một con bồ câu đưa thư. “Mẹ!” Nó hét toáng lên. “Bế! Bế Jamie!” Jenny xoay người bế cậu nhóc lên và áp nó vào vai như một món vũ khí.
“Con có thể nói cho cậu con biết con mấy tuổi không, con yêu?” Chị thủ thỉ hỏi thằng bé, nhưng vẫn có thể nghe ra sự đanh thép ẩn bên dưới. Thằng bé nghe thấy, liền quay sang vùi mặt vào cổ mẹ. Chị vỗ vỗ lưng nó một cách máy móc, mắt vẫn trừng trừng nhìn em trai.
“Vì nó không chịu nói nên chị sẽ nói. Tháng Tám vừa rồi nó tròn hai tuổi. Nếu em biết tính toán - mà chị ngờ rằng em không thông minh đến thế - em sẽ thấy nó được thụ thai sáu tháng sau thời điểm chị nhìn thấy cái gã Randall kia lần cuối, khi hắn đứng ở sân nhà chúng ta, dùng thanh kiếm lưỡi cong đánh em trai chị xây xẩm mặt mày.”
“Thế ư?” Jamie quắc mắt nhìn chị gái. “Những gì em nghe thấy lại hơi khác. Nghe nói chị đã lên giường cùng gã đó; không phải chỉ một lần ấy, mà chị đã coi hắn như người tình của chị. Thằng bé là con của hắn.” Anh khinh khỉnh hất đầu về phía cậu bé trùng tên với mình, nó đang len lén nhòm lên người lạ to lớn, ồn ào này từ bên dưới cằm của mẹ nó. “Em tin chị khi chị nói cái hoang thai mà chị đang mang không phải con của hắn; Randall đã ở Pháp cho đến tháng Ba vừa rồi. Vì vậy chị không chỉ đàng điếm mà còn dễ dãi nữa. Ai là cha của mầm mống quỷ quái này vậy?”
Người đàn ông trẻ tuổi cao ráo bên cạnh tôi ngần ngại ho một tiếng, phá vỡ sự căng thẳng trong phòng.
“Là tôi,” anh ta ôn tồn nói. “Cả đứa kia nữa.” Anh ta bước cà nhắc về phía trước, đón lấy đứa bé từ tay người vợ đang sôi sục tức giận. “Vài người nói trông nó khá giống tôi.”
Khi ở cạnh nhau, khuôn mặt của người đàn ông và cậu bé gần như giống y hệt, từ hai gò má tròn, cái mũi khoằm, vầng trán cao, cặp môi mỏng đến hàng lông mày rậm rạp cong cong trên đôi mắt sâu thẳm màu nâu nhạt. Jamie nhìn chằm chằm hai bố con, vẻ mặt như của một người vừa bị một cái bao cát đập vào eo lưng. Anh khép miệng và nuốt khan, rõ ràng không biết phải làm gì.
“Ian,” anh nói, giọng hơi yếu ớt. “Vậy là anh đã kết hôn?”
“Ừ,” anh rể anh vui vẻ nói. “Nếu không thì làm sao có con được, đúng không?”
“Tôi hiểu rồi,” Jamie lẩm bẩm, hắng giọng và gật đầu trước người anh rể mới phát hiện này. “Anh thật, ờ, thật tốt bụng, Ian, vì đã chấp nhận chị ấy. Thật sự rất tốt bụng.”
Cảm thấy rằng lúc này Jamie có thể cần tới sự trợ giúp về tinh thần, tôi bước tới bên cạnh và chạm vào cánh tay anh. Đôi mắt chị gái anh nán lại trên người tôi vẻ tư lự, nhưng chị không nói gì. Jamie ngoảnh lại nhìn và có vẻ giật mình khi thấy tôi, như thể anh đã quên mất sự tồn tại của tôi. Tôi cũng chẳng ngạc nhiên nếu anh quên thật. Nhưng ít ra anh có vẻ nhẹ nhõm trước sự gián đoạn này. Anh giơ tay kéo tôi về phía trước.
“Vợ em,” anh đột ngột nói, rồi hất đầu về phía Jenny và Ian. “Chị gái anh và, ờ...” Giọng anh nhỏ dần khi Ian và tôi mỉm cười lịch thiệp với nhau.
Jenny chẳng hề đoái hoài đến phép xã giao.
“Em nói anh ấy thật tốt bụng khi chấp nhận chị là có ý gì?” Chị hỏi, lờ đi màn giới thiệu vừa rồi. “Em tưởng chị không hiểu sao!” Ian nhìn chị vẻ dò hỏi, và chị khinh khỉnh phẩy bàn tay về phía Jamie. “Cậu ấy nói anh thật tốt bụng vì cưới em khi em đã nhơ bẩn!” Chị cất một tiếng cười khẩy vốn chỉ phù hợp với người nào có vóc dáng to gấp đôi chị. “Đồ ba hoa rỗng tuếch!”
“Nhơ bẩn?” Ian có vẻ kinh ngạc, và Jamie đột nhiên chúi người về phía trước, nắm chặt bắp tay chị gái.
“Chị chưa kể với anh ấy về Randall ư?” Anh có vẻ bàng hoàng. “Jenny, sao chị có thể làm vậy?”
Ian nắm lấy cánh tay kia của Jenny để ngăn chị chộp lấy cổ họng của Jamie và kéo mạnh chị ra sau mình, rồi xoay người lại, đặt nhóc Jamie vào tay chị, khiến chị phải ôm lấy nó để cho nó khỏi ngã. Sau đó, Ian choàng tay quanh vai Jamie, khéo léo đẩy anh tới một khoảng cách an toàn.
“Đây không phải là vấn đề có thể nói ở phòng khách,” anh nói nhỏ, giọng khẩn nài, “nhưng chắc cậu rất muốn biết rằng chị gái cậu vẫn còn là trinh nữ vào đêm tân hôn của cô ấy. Dù sao đi nữa, tôi cũng là người có đủ tư cách để khẳng định điều đó.”
Cơn phẫn nộ của Jenny giờ hướng sang cả chồng mình.
“Sao anh dám nói những chuyện như thế khi có mặt em, Ian Murray!” Chị bừng bừng lửa giận. “Hoặc kể cả khi em không có mặt! Đêm tân hôn của em không liên quan đến ai khác ngoài em và anh - và chắc chắn là không liên quan đến nó! Tiếp theo anh định phô ra cho nó xem mấy tấm ga trải giường trong đêm tân hôn của em đấy hẳn!”
“Chà, nếu anh làm thế, chẳng phải anh sẽ bịt được miệng cậu ta sao?” Ian dịu dàng nói. “Nào, mi dhu[10], em đừng căng thẳng nữa, không tốt cho con chúng ta đâu. Tiếng quát tháo cũng ảnh hưởng đến nhóc Jamie đấy.” Anh giơ tay đón cậu con trai đang khóc thút thít, rồi hất đầu về phía tôi và đảo mắt về phía Jamie.
Hiểu được tín hiệu, tôi nắm lấy cánh tay Jamie, kéo anh tới một cái ghế bành trong góc phòng. Ian cũng ấn Jenny ngồi xuống chiếc ghế đôi, choàng tay qua vai chị để giữ chị yên vị.
“Nào.” Dù mang thái độ khiêm tốn nhưng rõ ràng Ian Murray có một uy quyền không thể chối cãi. Tôi đặt tay lên vai Jamie, cảm thấy sự căng thẳng ở anh đã bắt đầu vơi bớt.
Căn phòng trông hơi giống một võ đài quyền anh, với các võ sĩ bồn chồn vặn vẹo ở các góc dưới bàn tay trấn an của ông bầu, chờ đợi hiệu lệnh thi đấu.
Ian gật đầu với em vợ và mỉm cười. “Jamie. Thật tuyệt khi được gặp lại cậu. Chúng tôi rất mừng vì cậu đã về nhà, lại còn dẫn vợ cậu đi cùng nữa. Phải không, mi dhu?” Anh hỏi Jenny, những ngón tay siết chặt vai chị.
Chị không phải là người chịu làm theo những gì người khác ép buộc. Đôi môi chị mím lại thành một đường mỏng dính như một dấu niêm phong, rồi miễn cưỡng mở ra để thốt lên một từ.
“Tùy,” chị nói, và lại mím chặt miệng.
Jamie xoa xoa mặt, rồi ngẩng đầu lên, sẵn sàng cho một vòng đấu mới.
“Em đã thấy chị đi vào nhà với Randall,” anh bướng bỉnh nói. “Và từ những gì hắn nói với em sau đó - làm sao hắn biết chị có một nốt ruồi trên ngực chứ?”
Chị hừ mũi. “Em có nhớ tất cả những chuyện xảy ra ngày hôm đó không, hay thanh kiếm của gã Đại úy đã đánh bay trí nhớ của em rồi?”
“Dĩ nhiên là em nhớ! Em không thể quên được!”
“Vậy thì có lẽ em sẽ nhớ rằng chị đã thúc đầu gối vào háng hắn một cú đau điếng?”
Jamie khom vai, thận trọng nói. “Vâng, em nhớ.”
Jenny mỉm cười hợm hĩnh.
“Ái chà, nếu vợ em - ít ra em phải cho chị biết tên cô ấy chứ, Jamie, em chẳng có phép lịch sự gì cả - dù sao đi nữa, nếu cô ấy thúc cho em một cú như vậy - và em đáng bị như thế lắm - em nghĩ em có thể thực hiện bổn phận của một người chồng với cô ấy chỉ sau đó vài phút không?”
Jamie định mở miệng nói gì đó song lại thôi. Anh nhìn chị mình một lúc lâu, rồi một bên khóe miệng khẽ nhếch lên.
“Còn tùy,” anh nói, khóe miệng lại nhếch lên. Anh thoải mái ngả người vào lưng ghế, nhìn Jenny với vẻ mặt có chút hoài nghi như một cậu em trai đang lắng nghe chị gái kể những câu chuyện thần tiên, tuy cảm thấy bản thân đã lớn đến mức không thể bị làm cho sửng sốt nhưng vẫn nửa tin nửa ngờ bất chấp lý trí của mình.
“Thật ư?” Anh nói.
Jenny quay sang Ian. “Đi lấy mấy tấm ga trải giường lại đây, Ian,” chị ra lệnh.
Jamie giơ cả hai tay lên đầu hàng. “Không, không, em tin chị. Chỉ là, cái cách hắn thể hiện sau đó...”
Jenny ngồi ngả ra sau, thoải mái dựa vào cánh tay Ian, vẻ hân hoan đắc thắng, cậu con trai nép sát vào cái bụng to của chị.
“Chà, sau tất cả những gì hắn đã huênh hoang nói ở bên ngoài, sao hắn có thể thừa nhận trước mặt người của mình là hắn bất lực chứ, đúng không? Hắn phải giả vờ như hắn đã làm đúng như những gì mình nói, không phải sao? Và,” chị thừa nhận, “hắn rất khó chịu về chuyện đó; hắn đã đánh chị và xé váy chị. Thực tế, hắn đã đánh chị đến mức gần như bất tỉnh. Lúc chị tỉnh táo lại và mặc lại váy áo, lũ quân Anh đã mang em đi rồi.”
Jamie cất tiếng thở dài và thoáng nhắm mắt lại. Tôi khẽ siết bàn tay to lớn đang đặt trên đầu gối anh. Anh nắm lấy tay tôi, mở mắt ra, nở nụ cười nhẹ nhàng đầy cảm kích trước khi lại quay về phía chị gái.
“Được rồi,” anh nói. “Nhưng em muốn biết, Jenny, lúc chị đi với hắn, chị có biết rằng hắn sẽ không thể làm hại chị không?”
Chị im lặng trong giây lát, nhưng ánh mắt vẫn điềm tĩnh nán lại trên khuôn mặt em trai. Cuối cùng, chị lắc đầu, nở nụ cười nhẹ.
Chị giơ tay ngăn lời phản đối của Jamie, đôi lông mày như cánh mòng biển duyên dáng nhướng lên dò hỏi. “Nếu em sẵn sàng từ bỏ sinh mạng của mình để đổi lấy danh dự của chị, vậy thì tại sao chị không thể từ bỏ danh dự của mình để đổi lấy tính mạng của em?” Cặp lông mày nhíu lại, giống hệt cái nhíu mày trên mặt em trai chị. “Hay chị không thể yêu em như em yêu chị? Nếu em nghĩ vậy thì em đã nhầm to rồi, Jamie Fraser!”
Trước khi chị nói hết, Jamie đã định mở miệng để đáp lại, nhưng anh đột nhiên bối rối trước lời kết luận này. Anh khép miệng lại khi chị anh tiếp tục.
“Bởi vì chị yêu em, dù em là một thằng ngốc đần độn, đầu óc bã đậu, không có não. Và chị sẽ không để em chết ngay dưới chân chị chỉ vì em quá cứng đầu, không thể ngậm miệng lại dù chỉ một lần trong đời!”
Hai cặp mắt xanh trừng trừng nhìn nhau, như thể bắn ra những tia lửa điện. Jamie gắng gượng nuốt lại những lời xúc phạm để tìm một câu đáp có lý lẽ. Có vẻ anh đang quyết định một điều gì đó. Cuối cùng, anh nhún vai, nhượng bộ.
“Thôi được rồi, em xin lỗi,” anh nói. “Em sai rồi, xin chị tha thứ cho em.”
Anh và chị gái ngồi nhìn nhau một lúc lâu, nhưng lời tha thứ anh mong nhận được từ chị không xuất hiện. Chị cắn môi, nhìn anh chăm chú nhưng không nói gì. Cuối cùng, anh trở nên mất kiên nhân.
“Em đã xin lỗi rồi! Chị còn muốn gì ở em nữa?” Anh hỏi. “Chị muốn em quỳ xuống dưới chân chị à? Nếu buộc phải làm vậy thì em sẽ làm, nhưng chị hãy nói với em đi!”
Chị chậm rãi lắc đầu, vẫn cắn môi.
“Không,” cuối cùng chị nói, “chị sẽ không bắt em phải quỳ gối trong chính ngôi nhà của em. Đứng lên đi!”
Jamie đứng dậy. Jenny đặt đứa bé xuống ghế, băng ngang căn phòng để tới đứng trước mặt anh.
“Cởi áo ra,” chị yêu cầu.
“Không!”
Chị giật đuôi áo ra khỏi váy của anh và vươn tay tới các nút áo. Anh không phản kháng, rõ ràng anh sẽ làm theo lời chị. Anh đĩnh đạc lùi lại khỏi chị, mím môi, cởi áo.
Chị đi vòng ra đằng sau để kiểm tra lưng anh, vẻ mặt không chút biểu cảm giống như vẻ mặt của Jamie lúc anh muốn che giấu cảm xúc mãnh liệt nào đó. Chị gật đầu, như thể đang xác nhận một mối nghi ngờ từ rất lâu.
“Chà, có vẻ như em đã phải trả giá cho sự ngốc nghếch của mình, Jamie.” Chị nhẹ nhàng đặt tay lên phần lưng sứt sẹo nhất. “Trông có vẻ đau lắm nhỉ!”
“Đúng vậy.”
“Lúc đó em có khóc không?”
Hai bàn tay anh ở hai bên sườn vô thức siết chặt. “Có!”
Jenny lại đi vòng ra trước mặt anh, cái cằm nhọn hếch lên, đôi mắt xếch mở to, sáng lấp lánh. “Chị cũng vậy,” chị khẽ nói. “Từ lúc chúng mang em đi, ngày nào chị cũng khóc.”
Biểu cảm trên hai khuôn mặt giống hệt nhau ấy khiến tôi đứng lên và lặng lẽ bước qua cửa nhà bếp, để họ được ở riêng bên nhau. Trước khi cánh cửa đóng lại, tôi thấy Jamie nắm tay chị gái và khàn khàn nói gì đó bằng tiếng Gaelic. Chị bước vào vòng tay anh, mái đầu đỏ xù xì cúi xuống mái đầu đen.
[1] Tiếng Gaelic: Bạn của ta.
[2] Tiếng Gaelic: Dừng lại.
[3] Con chó của dòng họ Baskerville: Tên một tập truyện về nhân vật thám tử lừng danh Sherlock Holmes của tác giả Conan Doyle.
[4] Nhân vật chính trong tác phẩm Odyssey của Homer.
[5] Một trong những nhà thơ Hy Lạp cổ đại xuất sắc nhất, tác giả của hai tác phẩm nổi tiếng là Iliad và Odyssey.
[6] Trích trong bài thơ The Hounds of Fingal.
[7] Vợ của Odysseus.
[8] Tiếng Gaelic: nghĩa đen là “trái tim của tôi”, đây là một cách gọi âu yếm.
[9] Tháp cao hoặc hầm ủ tươi thức ăn hoặc cỏ cho gia súc trong trang trại.
[10] Tiếng Gaelic: Cô gái tóc đen của anh.