Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
10
Lễ tuyên thệ

❊ ❊ ❊

Hai ngày sau, lâu đài vô cùng náo nhiệt bởi kẻ vào người ra và những sự chuẩn bị cho lễ tụ hội. Lượng công việc khám chữa bệnh của tôi đột ngột giảm sút; các nạn nhân bị ngộ độc thực phẩm đã bình phục trở lại, và mọi người có vẻ bận rộn đến nỗi không thể ngã bệnh được nữa. Ngoài những cậu bé chở gỗ về để nhóm lửa bị dằm đâm vào ngón tay và một đợt bùng nổ những ca bị bỏng rộp ở các cô hầu bếp bận rộn thì không còn tai nạn nào khác nữa.

Tôi cũng thấy phấn khích. Tối nay chính là thời điểm thích hợp. Bà Fitz đã nói với tôi rằng tối nay tất cả các chiến binh của thị tộc MacKenzie sẽ ở trong đại sảnh để tuyên thệ lòng trung thành với Colum. Khi một nghi lễ quan trọng như vậy diễn ra, sẽ không có ai canh gác ngoài chuồng ngựa.

Trong những lần phụ giúp ở nhà bếp và vườn cây ăn quả, tôi đã xoay xở lấy trộm được một ít thức ăn đảm bảo đủ dùng trong vài ngày. Tôi không có bình dẹt đựng nước, nhưng đã nghĩ ra phương án dùng bình thủy tinh ở phòng khám để thay thế. Tôi có đôi giày chắc chắn và nhờ sự ưu đãi của Colum mà còn có một cái áo choàng không tay ấm áp. Tôi sẽ có một con ngựa tốt; bởi vì trong chuyến đến thăm chuồng ngựa chiều nay, tôi đã nhắm sẵn được một con. Tôi không có tiền, nhưng các bệnh nhân của tôi đã cho tôi một nắm nữ trang rẻ tiền, ruy băng và những món đổ chạm khắc hay đồ trang sức. Tôi có thể dùng những thứ này để đổi lấy bất cứ thứ gì mà tôi cần.

Tôi cảm thấy áy náy vì đã lợi dụng lòng hiếu khách của Colum và tình bạn của các cư dân trong lâu đài rồi ra đi mà không nói năng gì hay để lại một lời nhắn giã biệt, nhưng suy cho cùng, tôi có thể nói gì được đây? Tôi đã suy ngẫm về vấn đề này trong một thời gian, nhưng cuối cùng quyết định chỉ lẳng lặng rời đi mà thôi. Vì một lẽ, tôi không có giấy viết, và cũng không sẵn sàng mạo hiểm đến phòng của Colum để tìm kiếm nó.

Một tiếng sau khi trời sẩm tối, tôi rón rén đến chuồng ngựa, dỏng tai nghe ngóng bất cứ dấu hiệu nào cho thấy có sự hiện diện của con người, nhưng dường như ai nấy đều đang ở trong đại sảnh, chuẩn bị sẵn sàng cho nghi lễ. Cửa đóng nhưng mở ra ngay chỉ với một cú đẩy nhẹ, vì bản lề bằng da nên không gây ra tiếng động nào.

Không gian bên trong ấm áp và tràn ngập tiếng thở khẽ của những con ngựa đang nghỉ ngơi. Nó cũng tối đen như mặt trong cái mũ của người làm dịch vụ tang lễ, như cách bác Lamb thường ví von. Mấy ô cửa sổ ít ỏi để làm thoáng khí chỉ là những cái khe hẹp, không đủ rộng để đón nhận ánh sao yếu ớt bên ngoài. Tôi vươn hai tay ra đằng trước, hai bàn chân lê từng bước chầm chậm trên đám rơm, tiến vào trong khu vực chính của chuồng ngựa.

Tôi cẩn thận sờ soạng trước mặt, tìm kiếm mép của một vách ngăn để lần theo đó mà đi. Tay tôi còn đang khua khoắng trong không khí thì chân đã va phải một chướng ngại vật rắn chắc nằm trên sàn, khiến tôi ngã chúi đầu xuống và hoảng hốt hét toáng lên, vang vọng đến tận những thanh rui xà của tòa nhà bằng đá cũ kĩ.

Chướng ngại vật giật mình cất tiếng chửi thề, lăn người lại và tóm chặt hai cánh tay tôi. Tôi thấy mình bị áp sát vào một cơ thể đàn ông to lớn, hơi thở của người đó phả đến làm tai tôi nhột nhạt.

“Anh là ai?” Tôi thở hổn hển, giật người lại. “Và anh đang làm gì ở đây?” Nghe thấy giọng tôi, kẻ tấn công mà tôi không thấy mặt nới lỏng cú siết.

“Chính tôi mới là người nên hỏi cô câu đó, Sassenach,” giọng nói mềm mại, trầm thấp của Jamie MacTavish cất lên, và tôi cảm thấy có chút nhẹ nhõm. Anh ta sột soạt ngồi dậy.

“Mặc dù tôi nghĩ tôi có thể đoán ra được,” anh ta mỉa mai nói. “Cô nghĩ cô sẽ đi được bao xa trên lưng một con ngựa lạ trong một đêm tối đen như mực, với một nửa thị tộc MacKenzie đuổi theo vào sáng mai?”

Tôi “xù lông nhím”.

“Họ sẽ không đuổi theo tôi. Họ đều đang ở đại sảnh, và nếu một phần năm trong số họ đủ tỉnh táo để đứng dậy được vào sáng mai, chưa nói đến chuyện cưỡi ngựa, tôi sẽ rất kinh ngạc.”

Anh ta bật cười, đứng lên và chìa tay giúp tôi đứng dậy Rồi anh ta phủi rơm trên mặt sau váy của tôi, hơi mạnh tay hơn mức cần thiết.

“Chà, lập luận của cô nghe chừng rất có lý, Sassenach,” anh ta nói, có vẻ ngạc nhiên. “Hoặc sẽ có lý,” anh ta nói thêm, “nếu Colum không cắt đặt lính gác xung quanh lâu đài và rải rác khắp các khu rừng. Ông ấy sao có thể để mặc lâu đài trong tình trạng không được bảo vệ khi mà hầu hết chiến binh của cả thị tộc đang ở bên trong nó chứ. Cứ cho là đá không cháy tốt như gỗ…”

Tôi đoán rằng anh ta đang nhắc đến cuộc thảm sát Glencoe khét tiếng, khi một gã John Campbell nào đó giết ba mươi tám thành viên của thị tộc MacDonald và đốt nhà của họ theo lệnh của chính phủ. Tôi tính toán nhanh chóng. Việc đó mới chỉ xảy ra khoảng năm mươi năm trước; vẫn còn khá mới mẻ đủ để khiên Colum cẩn trọng trong việc phòng thủ.

“Dù sao đi nữa, cô khó có thể chọn được đêm nào tệ hơn đêm nay để bỏ trốn,” MacTavish tiếp tục. Anh ta có vẻ chẳng màng đến việc tôi có ý định bỏ trốn, mà chỉ bận tâm tới những lý do tại sao việc đó sẽ không đạt kết quả, khiến tôi có chút cảm giác kỳ quặc. “Ngoài lính canh và cái thực tế là mọi kỵ sĩ giỏi trong vòng vài dặm quanh đây đều đang ở nơi này, đường đến lâu đài còn đông nghịt dân chúng đang kéo đến từ vùng đồng quê vì tynchal và các trò chơi.”

“Tynchal?”

“Một cuộc đi săn. Thường là săn hươu, nhưng có lẽ lần này là một con lợn lòi; một cậu chàng làm việc ở chuồng ngựa kể với già Alec là có một con lợn lòi to tướng trong khu rừng phía đông.” Anh ta đặt bàn tay to lớn giữa lưng tôi và xoay tôi về phía ô cửa hình chữ nhật mờ nhạt đang mở.

“Đi nào,” anh ta nói. “Tôi sẽ dẫn cô về lâu đài.”

Tôi giằng ra khỏi anh ta. “Đừng bận tâm,” tôi cấm cảu. “Tôi có thể tự tìm đường.”

Anh ta kiên quyết nắm lấy khuỷu tay tôi. “Tôi biết là cô có thể. Nhưng cô sẽ không muốn đụng độ bất cứ lính gác nào của Colum khi chỉ đi có một mình đâu.”

“Tại sao lại không?” Tôi gắt gỏng. “Tôi chẳng làm gì sai trái cả; chẳng có luật lệ nào cấm việc đi bộ bên ngoài lâu đài, đúng không?”

“Đúng là chẳng có luật lệ nào như vậy. Tôi không nghĩ họ có ý định làm hại cô,” anh ta nói, nhìn trân trân vào bóng tối với vẻ đăm chiêu. “Nhưng đàn ông thường mang theo bình rượu làm bầu bạn khi đứng gác. Rượu có thể là một người bạn tốt, nhưng lại xui khiến người ta có hành vi không đúng mực khi một cô gái nhỏ bé dễ thương một mình đi tới chỗ anh ta trong bóng tối.”

“Tôi đã đến chỗ anh trong bóng tối, một mình,” tôi trơ tráo nhắc anh ta. “Và tôi không nhỏ bé lắm, cũng không quá dễ thương, ít nhất là ở thời điểm hiện tại.”

“Ầy, nhưng lúc ấy tôi đang ngủ chứ không say,” anh ta đáp nhanh. “Và chưa kể đến tính khí của cô, cô hơi bé nhỏ so với hầu hết lính canh của Colum.”

Tôi gạt cuộc tranh luận không hiệu quả này qua một bên và thử một “chiến thuật” khác. “Tại sao anh lại ngủ trong chuồng ngựa?” Tôi hỏi. “Anh không có một cái giường ở chỗ nào đó à?” Lúc này chúng tôi đang ở bên rìa khu vườn rau, và tôi có thể nhìn thấy khuôn mặt anh ta dưới ánh sáng lờ mờ. Anh ta đang chăm chú kiểm tra những cái cổng tò vò bằng đá trên đường đi, nhưng khi nghe thấy câu hỏi này, anh ta liền liếc nhìn tôi với ánh mắt sắc bén.

“Ừ,” anh ta nói. Anh ta tiếp tục sải bước về phía trước, vẫn siết chặt khuỷu tay tôi, nhưng sau một thoáng lại nói tiếp: “Tôi nghĩ tốt hơn là tôi nên lánh mặt.”

“Bởi vì anh không định thề trung thành với Colum MacKenzie?” Tôi đoán. “Và anh không muốn gánh chịu hậu quả vì chuyện đó?”

Anh ta liếc nhìn tôi, buồn cười trước những lời nói của tôi. “Đại loại thế,” anh ta thừa nhận.

Một cánh cổng phụ đang mở he hé đầy vẻ chào đón, và chiếc đèn hiệu đặt trên đỉnh gờ đá bên cạnh cổng tỏa một quầng sáng màu vàng lên con đường. Chúng tôi đang gần tới chỗ chiếc đèn hiệu này thì một bàn tay thình lình bịt miệng tôi từ đằng sau và tôi bị nhấc lên khỏi mặt đất.

Tôi giãy giụa và cắn mạnh, nhưng kẻ bắt giữ tôi đeo găng tay dày và, như Jamie đã nói, hắn to lớn hơn tôi rất nhiều.

Jamie cũng đang gay go. Tiếng chửi rủa ú ớ của anh ta đột ngột im bặt với một tiếng huỵch và một từ chửi thề đậm chất Gaelic.

Cuộc vật lộn trong bóng tối chấm dứt, và một tiếng cười lạ lẫm cất lên.

“Chúa ơi, chẳng phải đây là cháu trai của Colum sao? Đến lễ tuyên thệ muộn hả, chàng trai? Và người đi cùng cậu là ai vậy?”

“Đó là một cô gái,” gã đàn ông đang giữ tôi đáp. “Và là một cô gái hấp dẫn, ngọt ngào, căn cứ vào trọng lượng của cô ta.” Bàn tay rời khỏi miệng tôi và siết một cú thật lực ở chỗ khác. Tôi kêu ré lên phẫn nộ, vươn tay qua vai, tóm lấy mũi hắn và véo. Hắn lập tức thả tôi xuống, chửi thề um lên. Tôi lùi lại khỏi luồng hơi thở toàn mùi whisky, đột nhiên thấy biết ơn sự có mặt của Jamie. Rốt cuộc việc anh ta đi kèm tôi là hoàn toàn sáng suốt.

Anh ta lại có vẻ nghĩ khác khi nỗ lực gõ bỏ sự kìm kẹp của hai gã chiến binh trong vô vọng. Hành động của họ chẳng có vẻ gì là thù địch nhung lại rất cứng rắn. Họ bắt đầu kéo tù nhân của mình về phía cánh cổng mở.

“Không, để tôi đi thay đồ đã, anh bạn,” anh ta phản đối. “Tôi ăn mặc không đủ tươm tất để tham gia lễ tuyên thệ.”

Nỗ lực trốn thoát của anh ta bị chặn đứng bởi sự xuất hiện đột ngột của Rupert, ông ta nhảy bật ra từ cánh cổng hẹp như một cái nút bần bật ra khỏi chai, béo ú và bảnh bao trong chiếc áo sơ mi có diềm xếp nếp và chiếc áo khoác viền đăng ten vàng.

“Đừng lo về chuyện đó, chàng trai,” ông ta nói, nhìn Jamie với con mắt sáng rực. “Chúng tôi sẽ mặc cho cậu bộ y phục thích hợp… ở trong kia.” Ông ta hất đầu về phía cổng, và Jamie bị cưỡng bách đi vào trong. Một bàn tay núng nính thịt siết chặt khuỷu tay tôi, và tôi buộc phải đi theo, dù muốn hay không.

Rupert có vẻ đang hưng phấn giống như những người đàn ông khác mà tôi thấy trong lâu đài. Có khoảng sáu, bảy mươi người đi đi lại lại trong cái sân gần lối vào đại sảnh nhất, họ đều ăn mặc hết sức bảnh bao, đeo dao găm, kiếm, súng lục và túi da. Rupert ra hiệu về phía một cánh cửa, và đám đàn ông đẩy Jamie vào một căn phòng nhỏ được thắp sáng. Nó có vẻ là nhà kho; bởi vì trên những cái bàn và giá kê trong phòng có vô số món đồ linh tinh.

Rupert săm soi Jamie kĩ lưỡng, nhìn chằm chằm vào những sợi rơm yến mạch bám trên tóc và những vết bẩn loang lổ trên áo anh ta. Thế rồi mắt ông ta thoáng liếc về phía những sợi rơm trên tóc tôi, trên mặt nở nụ cười nhạo báng.

“Thảo nào cậu tới muộn,” ông ta nói, huých vào mạng sườn Jamie. “Cũng chẳng trách cậu được.”

“Willie!” Ông ta gọi một trong những người ở bên ngoài. “Chúng tôi cần ít quần áo. Cậu đi kiếm cho tôi một bộ vừa vặn với cháu trai của lãnh chúa nhé! Nhanh lên đấy!”

Jamie mím môi, nhìn những người đàn ông xung quanh mình. Có tất cả sáu tộc viên đang cực kỳ hưng phấn trước lễ tuyên thệ và căng tràn lòng kiêu hãnh dữ dội của thị tộc MacKenzie. Rõ ràng cái thùng bia mà tôi thấy trong sân đã góp phần lớn vào việc này. Ánh mắt Jamie chiếu vào tôi, vẻ mặt vẫn căng thẳng. Nét mặt anh ta như muốn nói: “Đây là việc của tôi.”

Dĩ nhiên anh ta có thể tuyên bố rằng mình không có ý định cất lời tuyên thệ với Colum và quay lại chiếc giường ấm áp của mình trong chuồng ngựa, nếu anh ta muốn một trận đòn thật nặng hoặc bị cắt cổ. Anh ta nhướng một bên lông mày với tôi, nhún vai và miễn cưỡng quy thuận Willie, người vừa vội vàng ôm đến một chồng áo sơ mi vải lanh trắng như tuyết và một cái lược. Nằm trên đỉnh của chồng áo là một chiếc mũ bonnet phẳng bằng nhung màu xanh gắn tấm phù hiệu kim loại có đính một nhánh nhựa ruổi. Tôi nhấc cái mũ bonnet lên để kiểm tra, trong khi Jamie ních người vào cái áo sạch và hậm hực chải tóc.

Tâm phù hiệu có hình tròn và được chạm khắc rất đẹp. Ở tâm của nó là năm ngọn núi lửa đang phun lên những ngọn lửa chân thực nhất. Còn ở mép là một câu khẩu hiệu: Luceo non Uro.

“Tôi tỏa sáng, chứ không phải là cháy,” tôi dịch to.

“Đúng vậy; khẩu hiệu của thị tộc MacKenzie,” Willie nói, gật đầu tán thành. Anh ta giật lại cái mũ từ tay tôi và ấn nó vào tay Jamie trước khi chạy đi tìm thêm quần áo.

“Ơ… Tôi xin lỗi,” tôi thì thào nói, nhích lại gần hơn. “Tôi không cố ý…”

Đang nhìn tấm phù hiệu trên cái mũ với vẻ chán ghét, Jamie liền liếc nhìn tôi, cái miệng mím chặt lập tức nơi lỏng.

“À, đừng bận tâm, Sassenach. Chẳng chóng thì chầy chuyện này cũng sẽ xảy ra mà.” Anh ta giật tấm phù hiệu ra khỏi cái mũ và mỉm cười chua chát, tung hứng nó trên tay với vẻ đăm chiêu.

“Cô có biết khẩu hiệu của tôi không?” Anh ta hỏi. “Ý tôi là, khẩu hiệu của thị tộc tôi ấy?”

“Không,” tôi kinh ngạc trả lời. “Nó là gì?”

Anh ta tung cái phù hiệu lên cao, bắt lấy nó và gọn gàng thả nó vào trong cái túi da, rồi chán chường nhìn về phía cánh cửa tò vò để ngỏ, nơi các thành viên của thị tộc MacKenzie đang tập trung thành những hàng ngũ cong queo, lộn xộn.

“Je suit prest,” anh ta đáp bằng thứ tiếng Pháp chuẩn xác đến mức đáng kinh ngạc. Liếc ra sau, anh ta thấy Rupert và một người MacKenzie to lớn khác mà tôi không biết là ai đang quả quyết tiến tới, mặt đỏ bừng vì bia rượu và sự hưng phấn, trên tay Rupert là một tấm vải len kẻ ô khổng lồ của thị tộc MacKenzie.

Chẳng nói năng gì, người đàn ông kia thò tay tới cái khóa thắt lưng trên váy Jamie.

“Cô nên đi đi, Sassenach,” Jamie vội khuyên. “Đây không phải chỗ dành cho phụ nữ.”

“Tôi biết rồi,” tôi giễu cợt đáp, nhận được một nụ cười méo mó lúc hông anh ta được quấn cái váy mới trước khi cái váy cũ bị giật ra một cách khéo léo từ bên dưới, bảo vệ sự riêng tư của anh ta. Sau đó, Rupert và bạn tóm chặt hai cánh tay anh ta và đẩy anh ta về phía ô cửa tò vò.

Tôi lập tức xoay người đi về phía cầu thang dẫn tới bao lơn của đại sảnh, cẩn thận tránh con mắt của bất cứ tộc viên nào mà tôi đi ngang qua. Khi đã đến nơi, tôi dừng lại, áp lưng vào tường để tránh sự chú ý, cho đến khi hành lang tạm thời vắng bóng người mới lẻn qua cánh cửa dân lên bao lơn và nhanh chóng đóng cửa lại trước khi ai đó rẽ vào hành lang và nhìn thấy tôi. Các bậc thang sáng lờ mờ nhờ quầng sáng từ bên trên nên tôi dễ dàng bước trên những phiến đá mòn. Tôi leo về phía tiếng ổn và ánh sáng, nghĩ tới câu nói ngắn gọn cuối cùng của Jamie.

“Je suis prest.” Tôi sẵn sàng. Tôi hy vọng anh ta cũng giống như câu khẩu hiệu của thị tộc mình.

•••

Bao lơn được thắp sáng bởi đuốc thông, những ngọn lửa rực rỡ vươn thẳng lên cao, nổi bật trên nền bồ hóng đen tuyền mà những ngọn đuốc trước đó đã để lại trên các bức tường. Vài khuôn mặt quay lại, chớp chớp mắt nhìn tôi khi tôi bước ra từ những lớp rèm phía cuối bao lơn; nhìn qua thì tất cả phụ nữ trong lâu đài đều đang ở đây. Tôi nhận ra cô nàng Laoghaire, Magdalen, vài người phụ nữ mà tôi đã gặp ở khu bếp và đương nhiên là cả thân hình đổ sộ của bà FitzGibbons đang ngồi ở một vị trí danh giá gần lan can.

Nhìn thấy tôi, bà thân thiện vẫy tay ra hiệu, và những người phụ nữ nép sát vào nhau để nhường lối cho tôi đi qua. Khi tới phía trước, tôi có thể nhìn thấy toàn bộ đại sảnh trải ra bên dưới.

Các bức tường được tô điểm những nhành hương đào, thông đỏ và nhựa ruồi, hương thơm của những loài cây thường xanh quyện lẫn với mùi khói và mùi đàn ông nồng đậm, dâng lên tới tận bao lơn. Có hàng tá đàn ông ra ra vào vào, đứng nói chuyện thành từng nhóm nhỏ rải rác khắp đại sảnh, tất cả đều mặc y phục bằng vải len kẻ ô của thị tộc, dù có khi chỉ là một cái áo choàng len hay một cái mũ bonnet bên trên cái áo lao động thường ngày và cái quần tơi tả. Hoa văn trên y phục rất đa dạng nhưng màu sắc thì giống hệt nhau - màu xanh lục sẫm và trắng.

Hầu hết bọn họ đều đóng nguyên bộ y phục truyền thống như Jamie hiện giờ, gồm váy, áo choàng len, mũ bonnet và phù hiệu. Tôi bắt gặp Jamie đang đứng gần bức tường, trên mặt vẫn có vẻ căng thẳng. Rupert đã lấn vào trong đám đông, nhưng có hai người MacKenzie lực lưỡng khác, rõ ràng là lính canh, đứng ở hai bên sườn Jamie.

Sự hỗn loạn trong đại sảnh dần trở nên trật tự khi các cư dân của lâu đài dẫn những người mới tới về chỗ của mình ở đầu thấp hơn của gian phòng.

Đêm nay rõ ràng là một đêm đặc biệt; chàng trai trẻ chơi kèn túi ở phiên tòa lần trước đã có thêm hai người tiếp sức, trong đó có một người mang dáng vẻ của bậc thầy chơi kèn với những ống kèn có khớp nối bằng ngà voi. Người đàn ông này gật đầu với hai người còn lại, và chẳng mấy chốc cả đại sảnh đã vang rền tiếng kèn túi. Tuy những chiếc kèn này nhỏ hơn nhiều so với những chiếc kèn túi phương Bắc to lớn được dùng trong chiến trận, nhưng chúng vẫn khuấy động không khí rất hiệu quả.

Tiếng láy rền ngân vang khiến người ta ngứa ngáy. Những người phụ nữ xung quanh tôi nhún nhảy, làm tôi nghĩ đến một câu trong bài Maggie Lauder:

“Ồ, họ gọi tôi là Rab huênh hoang,

Và các cô gái đều phát điên lên,

Khi tôi thổi chiếc kèn của mình.”

Dẫu không phát điên lên nhưng những người phụ nữ xung quanh tôi đều vô cùng phấn khích, họ vươn hẳn người qua lan can, xuýt xoa ngưỡng mộ khi chỉ trỏ người này người kia đang sải bước quanh đại sảnh trong bộ đồ bảnh nhất. Một cô gái khẽ reo lên khi nhìn thấy Jamie và ra hiệu cho bạn bè nhìn theo. Mọi người lập tức bàn tán xôn xao vì sự xuất hiện của anh ta.

Có người ca ngợi ngoại hình của anh ta, nhưng mọi người chủ yếu phán đoán lý do anh ta có mặt trong lễ tuyên thệ. Tôi để ý thấy mặt Laoghaire đỏ bừng như một ngọn nến khi cô ta quan sát anh chàng, và tôi nhớ lại những gì Alec đã nói trong bãi giữ ngựa - Bây biết là cha cô ta sẽ không để cho cô ta cưới người bên ngoài thị tộc mà. Và Jamie chẳng phải là cháu của Colum sao? Thế thì chàng trai này có thể là một món bở. Đương nhiên là nếu không tính đến vấn đề ngoài vòng pháp luật chẳng đáng kể kia.

Tiếng kèn túi cất lên cao vút rồi đột ngột dừng lại. Trong sự im lặng tuyệt đối, Colum MacKenzie bước ra từ ô cửa tò vò ở phía cao hơn của đại sảnh, và quả quyết sải bước tới một cái bục nhỏ được dựng lên ở đầu căn phòng. Ông ta không nỗ lực che giấu sự tàn tật của mình, nhưng lúc này cũng không khoe khoang nó. Trông ông ta thật lộng lẫy trong cái áo khoác màu xanh da trời với viền đăng ten màu vàng, nút áo bằng bạc và cổ tay áo bằng lụa màu hoa hồng gập lên gần đến khuỷu tay. Một cái váy kẻ ô bằng len xịn dài đến đầu gối, che phủ hầu hết đôi chân và đôi tất kẻ ô. Chiếc mũ bonnet của ông ta có màu xanh dương, nhưng tấm phù hiệu bằng bạc gắn lông vũ chứ không phải là nhựa ruồi. Cả đại sảnh nín thở khi ông ta đứng vào tâm điểm. Cho dù là gì, Colum MacKenzie quả thực biết cách làm mình tỏa sáng.

Ông ta quay sang đối diện với đám đông tộc viên đang tụ tập, giơ cao hai cánh tay và chào họ bằng một tiếng hô sang sảng:

“Tulach Ard[1]!”

“Tulach Ard!” các tộc viên rền vang đáp trả. Người phụ nữ bên cạnh tôi run rẩy.

Tiếp đó là một bài diễn văn ngắn bằng tiếng Gaelic. Những tiếng reo hò ủng hộ vang lên từng chập, và rồi lễ tuyên thệ chính thức bắt đầu.

Dougal MacKenzie là người đầu tiên tiến về phía cái bục nơi Colum đang đứng. Cái bục nhỏ giúp Colum cao ngang tầm với em trai. Dougal cũng ăn mặc rất đẹp, nhưng chiếc áo khoác của ông ta là bằng nhung trơn màu hạt dẻ không có đăng ten vàng để không làm phân tán sự chú ý khỏi vẻ lộng lẫy của Colum.

Dougal rút con dao găm của mình ra bằng một cú vung tay mạnh mẽ và quỳ một chân xuống, giơ lưỡi dao thẳng đứng. Giọng ông ta không đầy nội lực bằng giọng Colum nhưng vẫn vang vọng khắp đại sảnh.

“Trước cây thánh giá của Đức Chúa Jesus và lưỡi dao thiêng liêng mà tôi cầm trong tay, tôi xin thề sẽ trung thành với ngài và thị tộc MacKenzie. Nếu tôi dám phản lại ngài, thanh sắt thiêng liêng này sẽ xuyên thủng trái tim tôi.”

Ông ta hạ con dao găm xuống, hôn vào chỗ nối giữa chuôi và lưỡi dao, rồi tra lại nó vào vỏ bằng một động tác chuẩn xác. Tiếp đó, vẫn còn đang quỳ, ông ta đưa hai bàn tay nắm chặt cho Colum. Colum cầm lấy chúng, đưa lên môi, tỏ ý chấp nhận lời thề. Rồi ông ta nâng Dougal đứng dậy.

Quay lại đằng sau, Colum dùng cả hai tay nhấc một cái cốc bạc hai quai nặng nề trên chiếc bàn phủ vải len kẻ ô lên uống rồi đưa cho Dougal. Dougal uống một ngụm lớn rồi trả lại chiếc cốc. Sau khi cúi đầu lần cuối với lãnh chúa của thị tộc MacKenzie, ông ta bước sang một bên, nhường chỗ cho người đàn ông tiếp theo trong hàng.

Nghi thức đó được lặp đi lặp lại. Nhìn số lượng đàn ông trong hàng, tôi lại một lần nữa ấn tượng với năng lực của Colum. Cứ cái đà này, khi buổi lễ kết thúc, không biết ông ta phải uống đến bao nhiêu lít rượu. Đang tính tính toán toán thì tôi chợt thấy Jamie tiên lên phía trước hàng người.

Sau khi tuyên thệ xong, Dougal đến đứng ngay đằng sau Colum. Ông ta nhìn thấy Jamie trước vì Colum còn đang bận làm lễ với một người đàn ông khác, và tôi thấy ông ta khẽ giật mình kinh ngạc. Ông ta bước lại gần anh trai, thì thầm gì đó. Colum vẫn nhìn thẳng vào người đàn ông trước mặt, nhưng tôi thấy ông ta hơi cứng người lại. Ông ta cũng ngạc nhiên và, tôi nghĩ, chẳng vui vẻ gì.

Mọi người trong đại sảnh càng lúc càng hưng phân. Nếu Jamie từ chối lời thề vào thời điểm này, tôi nghĩ anh ta rất dễ bị các tộc viên đang phấn khích xé xác thành từng mảnh nhỏ. Tôi lén chùi hai lòng bàn tay vào váy, cảm thấy tội lỗi vì đã đẩy anh ta vào một tình thế nguy hiểm như vậy.

Anh ta có vẻ điềm tĩnh. Dù không khí trong đại sảnh nóng hầm hập nhưng anh ta không hề đổ một giọt mồ hôi. Anh ta kiên nhẫn đứng đợi trong hàng, chẳng màng đến cái thực tế là mình đang bị vây quanh bởi một trăm người đàn ông trang bị vũ khí đến tận răng, sẵn sàng nổi cơn thịnh nộ trước bất cứ sự xúc phạm nào đối với Lãnh chúa MacKenzie và thị tộc. Đúng là Je suis prest! Hay anh ta đã quyết định nghe theo lời khuyên của Alec?

Móng tay tôi cắm sâu vào lòng bàn tay lúc đến lượt anh ta.

Anh ta duyên dáng quỳ một chân và cúi đầu thật sâu trước Colum. Nhưng thay vì rút con dao của mình ra để thề, anh ta lại đứng lên và nhìn vào mặt vị lãnh chúa. Khi đứng thẳng, anh ta cao hơn hẳn hầu hết những người đàn ông trong đại sảnh, và dù đã đứng trên bục nhung Colum vẫn thấp hơn anh ta đến vài phân. Tôi liếc nhìn cô nàng Laoghaire. Cô ta đã tái xanh mặt mày lúc anh ta đứng dậy, và tôi thấy rằng hai nắm tay của cô ta cũng đã siết chặt lại.

Mọi con mắt trong đại sảnh đều đổ dồn vào anh ta, nhưng anh ta nói cứ như chỉ cho mình Colum nghe vậy. Giọng anh ta trầm như giọng Colum, và mọi lời lẽ đều hết sức rõ ràng, dễ nghe.

“Colum MacKenzie, tôi đến chỗ ngài với tư cách một người họ hàng và đồng minh. Tôi không tuyên thệ với ngài, vì lời thề của tôi gắn liền với cái họ mà tôi mang.” Từ trong đám đông nổi lên những tiếng làu bàu trầm thấp đáng ngại, nhưng anh ta lờ chúng đi và tiếp tục lời mình. “Nhưng tôi sẵn sàng trao cho ngài tất cả những gì tôi có; bao gồm cả sự trợ giúp và thiện ý của tôi, bất cứ khi nào ngài cần đến chúng. Tôi trao cho ngài sự phục tùng, với tư cách bà con và lãnh chúa, và tôi sẽ buộc mình tuân theo mọi mệnh lệnh của ngài, chừng nào bàn chân tôi còn đặt trên lãnh địa của thị tộc MacKenzie.”

Dứt lời, anh ta đứng im đó, cao ráo và thẳng tắp, hai bàn tay thư thái buông thõng hai bên sườn. Quả bóng giờ đang ở bên sân của Colum. Chỉ cần một lời nói, một cử chỉ của ông ta, sáng mai họ sẽ phải lau chùi máu của chàng trai trẻ dính trên những phiến đá.

Colum đứng sững trong một thoáng, rồi mỉm cười và chìa tay ra. Sau giây lát do dự, Jamie nhẹ nhàng đặt hai bàn tay vào lòng bàn tay Colum.

“Chúng ta rất hân hạnh với lời ngỏ ý về tình hữu nghị và thiện ý của cậu,” Colum nói rõ ràng. “Chúng ta chấp nhận sự phục tùng của cậu và đồng ý coi cậu là một đồng minh của thị tộc MacKenzie.”

Sự căng thẳng ở đại sảnh lắng dịu phần nào, trên bao lơn vang lên tiếng thở phào nhẹ nhõm khi Colum uống ngụm rượu từ cái cốc hai quai rồi đưa nó cho Jamie. Chàng trai trẻ mỉm cười đón nhận. Tuy nhiên, thay vì uống một ngụm theo nghi thức, anh ta cẩn thận nâng cái cốc gần đầy lên, nghiêng nó và uống ừng ực. Anh ta cứ uống mãi. Một tiếng xuýt xoa kinh ngạc vừa khâm phục vừa thích thú cất lên từ đám khán giả khi các thớ cơ mạnh mẽ ở cổ anh ta chuyển động liên tục. Chẳng mấy chốc anh ta sẽ phải ngừng lại để thở thôi, tôi nghĩ, nhưng không, anh ta uống tới giọt cuối cùng trong cái cốc nặng trịch rồi hạ nó xuống, phà ra một tiếng thở dốc và trả nó lại cho Colum.

“Tôi rất vinh hạnh,” anh ta nói, giọng hơi khàn, “được làm đồng minh với một thị tộc có khẩu vị whisky tuyệt vời đến thế”.

Câu nói này gây nên một sự náo động, và anh la len lỏi về phía cửa tò vò giữa những cái bắt tay chúc mừng và những cú đấm thùm thụp lên lưng. Rõ ràng Colum MacKenzie không phải là thành viên duy nhất trong gia tộc có khiếu trình diễn.

Không khí trên bao lơn đang trở nên ngột ngạt, khói dâng lên khiến tôi đau đầu trước cả khi lễ tuyên thệ kết thúc với mấy lời lẽ đầy xúc động của Colum. Giọng nói khỏe khoắn của ông ta cất lên vang dội khắp các phiến đá của đại sảnh, chẳng hề bị ảnh hưởng bởi lượng rượu từ sáu cái cốc hai quai. Ít nhất thì tối nay ông ta sẽ không phải chịu sự hành hạ của đôi chân đau nhức, cho dù đã phải đứng cả buổi tối.

Tiếng hò hét vang lên từ bên dưới, tiếng kèn túi lại bùng nổ, và khung cảnh trang nghiêm lập tức trở nên huyên náo. Một tiếng reo hò thậm chí còn to hơn chào đón những thùng bia và whisky được đem đến trên những cái niễng, kèm theo những đĩa bánh yến mạch, dồi cừu[2] và thịt nóng hổi. Bà Fitz hẳn là người tổ chức bữa tiệc này, bà chới với nghiêng người qua hàng lan can, con mắt sắc sảo chăm chú để ý tới từng động tác của những người phục vụ - đó chủ yếu là các chàng trai còn quá trẻ, chưa đủ tuổi để được tham dự lễ tuyên thệ.

“Gà lôi đâu rồi?” Bà lẩm bẩm, quan sát những cái đĩa được đem tới. “Cả món lươn nhồi nữa? Cái gã Mungo Grant chết tiệt, ta sẽ lột da hắn nếu hắn làm cháy món lươn!” Sau khi quyết định, bà quay người đi và bắt đầu len về phía cuối bao lơn, rõ ràng không muốn phó mặc một yến tiệc quan trọng như tối nay cho đôi bàn tay thiếu kinh nghiệm của Mungo Grant.

Được bà mở đường, tôi nhân cơ hội len lỏi theo sau bà. Những người khác, rõ ràng mừng húm vì có lý do để rời đi, cũng nhập bọn với tôi trong “cuộc di tản” này.

Khi đã xuống dưới, bà Fitz quay lại, nhìn thấy đám phụ nữ ở đằng sau thì liền cau may dữ tợn.

“Các cô đi về phòng mình ngay,” bà ra lệnh. “Nếu các cô không thể ở trên đó, khuất khỏi tầm mắt của đám đàn ông thì tốt hơn hết là các cô nên chạy thật nhanh về phòng mình. Nhưng không được nấn ná ở các hành lang và nhòm trộm quanh các góc rẽ. Không gã đàn ông nào ở đây là không ngà ngà say, và họ sẽ còn say hơn nữa trong một tiếng đồng hồ tới. Tối nay nơi này không có chỗ cho đàn bà con gái đâu.”

Bà đẩy mở cánh cửa, thận trọng nhòm ra hành lang. Khi thấy hành lang vắng tanh, bà đẩy cánh phụ nữ ra khỏi cửa, từng người một, vội vã xua họ về phòng ngủ của mình trên các tầng lầu.

“Bà có cần giúp gì không?” Tôi hỏi khi bắt kịp bà. “Ý tôi là, ở trong bếp ấy?”

Bà lắc đầu, mỉm cười trước lời đề nghị ấy. “Không, không cần đâu, cô gái. Cô đi đi, cô không an toàn hơn những người còn lại đâu.” Và với một cú đẩy nhẹ nhàng vào eo lưng, tôi lao chúi ra hành lang lờ mờ tối.

Sau cuộc chạm trán lúc nãy với gã lính gác ở bên ngoài, tôi cũng muốn nghe theo lời khuyên của bà. Những người đàn ông trong đại sảnh đang say sưa chè chén và nhảy nhót ầm ĩ không kiểm soát. Tôi đồng ý rằng đây không phải là chỗ dành cho một người phụ nữ.

Thế nhưng tìm được đường về phòng mình lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Tôi không quen thuộc với khu vực này của lâu đài, và dù biết rằng tầng tiếp theo có một lối đi có mái che nối liền với hành lang dẫn về phòng tôi, nhưng tôi không thể tìm thấy cầu thang ở đâu cả.

Tôi rẽ ở một chỗ ngoặt và đâm sầm vào một nhóm đàn ông. Mấy gã lạ hoắc này có lẽ đến từ những vùng đất xa xôi hẻo lánh của thị tộc và không biết đến phép lịch sự của những người sống trong lâu đài. Tôi kết luận như thế khi chứng kiến một người trong số họ không buồn đi tìm nhà xí mà xả ngay ra một góc hành lang lúc tôi đụng độ họ.

Tôi lập tức quay đi, định trở lại con đường mà tôi vừa qua, dù nó có cầu thang hay không. Nhưng mấy bàn tay lập tức vươn ra ngăn tôi lại, ấn tôi vào bức tường của hành lang, và tôi thấy mình bị bao vây giữa những người cao nguyên râu ria xồm xoàm với hơi thở nồng nặc mùi whisky và trong đầu chỉ toàn nghĩ đến chuyện cưỡng hiếp.

Chẳng nói chẳng rằng, gã đàn ông trước mặt túm lấy eo tôi và thọc bàn tay còn lại vào trong áo chẽn của tôi. Hắn ta ghé lại gần, cọ cái má đầy râu vào tai tôi. “Cô có thể dành một nụ hôn ngọt ngào cho những chàng trai dũng cảm của thị tộc MacKenzie ngay bây giờ không? Tulach Ard!”

“Ái Nhĩ Lan muôn năm,” tôi xấc xược nói, dùng hết sức đẩy hắn ra. Chếnh choáng vì men rượu, hắn lảo đảo lùi lại, đụng vào một trong những người bạn đồng hành. Tôi né sang một bên và bỏ chạy, hất đôi giày vướng víu ra khỏi chân.

Một dáng hình khác hiện ra lờ mờ trước mặt tôi, và tôi chần chừ giây lát. Nhưng ở đó có vẻ chỉ có một người, trong khi đằng sau tôi có ít nhất mười gã đang chạy như bay đuổi theo, dù họ đã nốc không biết bao nhiêu bia rượu. Tôi cứ cắm mặt chạy về phía trước, định né qua người đàn ông kia. Nhưng ông ta bước thẳng tới trước mặt tôi, buộc tôi dừng phắt lại, gấp đến nỗi tôi phải đặt cả hai tay lên ngực đối phương để tránh đâm sầm vào ông ta. Đó là Dougal MacKenzie.

“Cái quái gì…?” Ông ta mở miệng nói, rồi nhìn thấy đám đàn ông đang đuổi theo tôi. Ông ta liền kéo tôi ra sau lưng mình và quát tháo mấy gã kia bằng tiếng Gaelic. Họ phản đối bằng thứ ngôn ngữ tương tự, nhưng sau một hồi lời qua tiếng lại nghe như tiếng gầm gừ của loài sói, họ bỏ cuộc và đi tìm trò tiêu khiến hay ho hơn.

“Cảm ơn ông,” tôi nói, hơi choáng váng. “Cảm ơn ông. Tôi… tôi đi đây. Tôi không nên ở dưới này.” Dougal liếc nhìn tôi rồi nắm lấy cánh tay tôi, kéo tôi tới đứng trước mặt ông ta. Ông ta có vẻ xộc xệch và rõ ràng đã tham gia cuộc chè chén om sòm trong đại sảnh.

“Đúng thế, cô gái,” ông ta nói. “Cô không nên ở đây. Nhưng vì cô đã ở đây rồi, cô sẽ phải trả giá cho điều đó,” ông ta lẩm bẩm, đôi mắt sáng lên trong bóng tối lờ mờ. Và rồi, không hề báo trước, ông ta kéo mạnh tôi lại và hôn ngấu nghiến. Mùi whisky nồng nặc lùa vào khoang miệng tôi. Hai bàn tay ông ta dịch xuống tóm chặt mông tôi, ấn tôi sát vào người ông ta, khiến tôi cảm nhận được sự cương cứng bên dưới cái váy của ông ta.

Sau đó, ông ta thả tôi ra đột ngột như lúc tóm lấy tôi, rồi hất đầu về phía cuối hành lang, thở hổn hển. Một lọn tóc màu nâu đỏ rủ xuống trán, ông ta gạt nó lên bằng một tay.

“Đi đi, cô gái,” ông ta nói. “Trước khi cô phải trả một cái giá lớn hơn.”

Tôi lập tức bỏ đi với đôi chân trần.

•••

Sau một đêm náo nhiệt, tôi cứ ngỡ sáng hôm sau các cư dân của lâu đài sẽ ngủ dậy muộn và loạng choạng đi tìm một cốc bia để giúp mình tỉnh táo khi mặt trời đã lên cao - dĩ nhiên là nếu vầng dương chịu ló ra. Nhưng những gã sơn binh người Scot của thị tộc MacKenzie dẻo dai hơn tôi tưởng, trời còn chưa rạng mà cả lâu đài đã giống như một tổ ong vo ve với những giọng nói om sòm gọi nhau xuôi ngược khắp các hành lang và tiếng vũ khí loảng xoảng cùng tiếng giày nện thình thịch khi cánh đàn ông chuẩn bị cho cuộc đi săn.

Trời lạnh và mù sương, nhưng trên đường đến đại sảnh tôi đã gặp Rupert ở trong sân và ông ta quả quyết với tôi rằng kiếu thời tiết này là phù hợp nhất để đi săn lợn lòi.

“Loài thú này có lớp lông dày nên chúng không sợ lạnh,” ông ta giải thích, hăng hái mài một mũi giáo vào cái máy mài thô sơ được điều khiển bằng chân, “và chúng cảm thấy an toàn khi có màn sương mù dày đặc bao phủ xung quanh - vì chúng không thể nhìn thấy cánh đàn ông đi về phía chúng.”

Tôi cố ngăn mình không chỉ ra rằng như thế đồng nghĩa với việc những người đi săn cũng không thể nhìn thấy con lợn lòi mà họ đang tiếp cận, cho đến khi họ đụng phải nó.

Khi những tia nắng mặt trời màu đỏ máu và vàng kim bắt đầu xuyên qua màn sương, nhóm đi săn đã tụ tập ở sân ngoài, cả người ẩm ướt và đôi mắt sáng rực vì háo hức. Phụ nữ không được tham gia nhưng vẫn vui vẻ mang bánh và bia đến cho những người hùng đang sửa soạn lên đường. Nhìn thấy hàng tá đàn ông chuẩn bị khởi hành về hướng khu rừng phía đông, trang bị nào giáo mác, rìu, cung tên, ống tên và dao găm, tôi cảm thấy có chút thương xót cho con lợn lòi.

Một tiếng sau, nỗi thương xót ấy biến thành sự kính sợ khi tôi được gọi vội đến bìa rừng để băng bó vết thương cho một người đàn ông bất thình lình vấp vào con thú trong màn sương mù như tôi đã phỏng đoán.

“Quỷ thần ơi!” Tôi nói, kiểm tra một vết thương nham nhở toang hoác kéo dài từ đầu gối tới mắt cá chân. “Một con thú đã gây ra việc này ư? Răng nó là thép không gỉ à?”

“Hử?” Nạn nhân tái nhợt vì sốc và run đến nỗi không thể trả lời nổi, nhưng một trong những người dìu anh ta ra khỏi khu rừng thì nhìn tôi với ánh mắt lạ lùng.

“Đừng bận tâm,” tôi nói và thắt chặt dải băng mà tôi đã quấn quanh phần bắp chân bị thương. “Hãy đưa anh ta về lâu đài và chúng ta sẽ nhờ bà Fitz mang cho anh ta ít xúp nóng và chăn ấm. Cần phải khâu lại vết thương, mà ở đây tôi chẳng có dụng cụ gì cả.”

Những tiếng hò hét trầm bổng của đám người xua thú săn vân văng vẳng trong màn sương mờ mịt ở sườn đồi. Đột nhiên một tiếng thét chói tai vang lên qua làn sương mù và đám cây côi, khiến một con gà lôi hoảng loạn đập cánh, nhảy bổ ra khỏi chỗ nấp gần đó.

“Lạy Chúa tôi, chuyện gì nữa đây?” Tôi chộp lấy một ôm băng vải, bỏ lại bệnh nhân của mình cho mấy người còn lại chăm sóc và chạy như bay vào trong rừng.

Sương mù dày đặc hơn bên dưới những nhánh cây, tôi không thế thấy gì hơn ngoài vài bàn chân ở phía trước, những tiếng la hét kích động và tiếng huỳnh huỵch ở những bụi cây thấp đã dẫn tôi đi đúng hướng.

Nó sượt qua tôi từ đằng sau. Mải chú tâm vào tiếng la hét, tôi đã không nghe thấy tiếng nó, và chỉ khi nó đã lướt qua, tôi mới nhìn thấy một khối đồ sộ đen thẫm di chuyển với tốc độ không thể tin nổi, những chiếc móng chẻ nhỏ xíu gần như không phát ra tiếng động khi giẫm trên đám lá ướt sũng.

Sự xuất hiện bất thình lình ấy khiến tôi sửng sốt đến quên cả sợ hãi. Tôi cứ nhìn chằm chằm vào màn sương nơi con vật màu đen có bộ lông cứng đó biến mất. Thế rối, khi giơ tay lên để gạt những lọn tóc xoăn đang dính bết vào mặt, tôi nhìn thấy trên mu bàn tay mình có một vệt đỏ. Nhìn xuống, tôi thấy trên váy tôi cũng có một vệt tương tự. Con thú bị thương. Phải chăng tiếng thét là của con lợn lòi?

Tôi nghĩ là không phải; rõ ràng đó là tiếng thét khi bị thương chí mạng. Mà con lợn lòi vẫn còn di chuyển rất lanh lẹ lúc đi lướt qua tôi. Tôi hít sâu một hơi và đi tiếp vào màn sương mù để tìm kiếm một người đàn ông bị thương.

Tôi tìm thấy anh ta ở chân một con dốc nhỏ với những người đàn ông mặc váy vây xung quanh. Họ đã đắp những chiếc áo choàng len lên người anh ta để giữ ấm, nhưng miếng vải che phủ hai chân anh ta bị ướt đến sẫm cả lại. Trên mặt bùn đen có một vết trượt rộng cho thấy đó là nơi anh ta đã ngã xuống con dốc, và một đám lá lấm bùn lộn xộn cùng với lớp đất bị khuấy tung chỉ ra rằng đó là chỗ anh ta đụng độ con lợn lòi. Tôi quỳ xuống bên cạnh người đàn ông đó, kéo tấm vải ra và bắt tay vào việc.

Tôi vừa mới bắt đầu thì đám đàn ông xung quanh bỗng la hét khiến tôi giật mình quay lại, trông thấy hình dáng ác mộng ấy hiện ra chổ rặng cây, lần này cũng không gây ra tiếng động nào.

Bây giờ tôi mới có thời gian để nhìn thấy cái cán dao thòi ra từ mạng sườn của con thú, có lẽ đây là tác phẩm của người đàn ông đang nằm trên mặt đất trước mặt tôi. Và cái răng nanh màu vàng gớm ghiếc nhuốm màu đỏ y như đôi mắt nhỏ tí ngợp đầy vẻ điên dại của nó.

Đám đàn ông xung quanh cũng sửng sốt như tôi, nhưng rồi họ bắt đầu nhúc nhích và lần tìm vũ khí. Một người đàn ông cao to phản ứng nhanh hơn những người còn lại, túm lấy thanh giáo chuyên dùng để đâm lợn lòi từ tay một người bạn đồng hành đang đứng chết trân và bước ra khoảng đất trống.

Đó chính là Dougal MacKenzie. Ông ta bước đi gần như hờ hững, hai tay lăm lăm ngọn giáo ở dưới tháp như thể chuẩn bị xúc một thuổng đất Ông ta chăm chú nhìn con thú, thì thầm với nó bằng tiếng Gaelic như để dụ dỗ nó ra khỏi chỗ ẩn náu.

Cú tấn công đầu tiên đột ngột như một vụ nổ. Con thú nhảy vọt tới, sượt qua người Dougal khiến chiếc váy đi săn màu nâu của ông ta bay phấp phới. Con lợn lòi lập tức xoay người và nhảy vọt trở lại thân hình nó như một cái bóng đổ sộ chứa đầy sự thịnh nộ. Dougal nhảy sang bên như một võ sĩ đâu bò, đâm cây giáo vào người nó. Lùi, tiến rồi lại lùi, tiến. Cuộc chiến này giống như một điệu nhảy, cả hai đấu thủ đều dựa vào sức lực của mình nhưng lanh lẹ đến mức họ tựa hồ đang bồng bềnh trên mặt đất.

Cảm giác có vẻ lâu nhưng toàn bộ chuyện này chỉ diễn ra chừng một phút. Cuộc chiến kết thúc khi Dougal xoay người sang một bên để tránh những chiếc răng nanh to tướng, rồi giơ cao mũi nhọn của ngọn giáo ngắn rắn chắc và xuyên thẳng vào giữa hai bờ vai dốc của con thú. Tiếng đâm của ngọn giáo và tiếng rống chói tai khiến lông tay tôi dựng đứng lên. Đôi mắt nhỏ tí của con lợn lòi đảo tới đảo lui, xoay chuyển điên loạn để tìm kiếm đối thủ, và những cái móng guốc xinh xắn cắm sâu trong bùn lúc con lợn lòi lảo đảo và lắc lư. Cuối cùng, một tiếng rống vang lên rợn người khi co thể nó nặng nề đổ nghiêng sang một bên, làm cho con dao đang cắm trên người nó ngập sâu đến tận cán trong lớp da thịt đầy lông lá. Những cái móng nhỏ xới tung mặt đất, hất lên những cục đất dày ẩm ướt.

Tiếng rống đột ngột dừng lại. Sau một thoáng im lặng, có tiếng ụt ịt khe khẽ và rồi vóc dáng đồ sộ nằm im bất động.

Dougal không đợi xem nó đã chết hẳn chưa mà đi vòng qua con vật đang co rúm để quay trở lại chỗ người đàn ông bị thương. Ông ta quỳ xuống, luồn cánh tay đằng sau vai nạn nhân, thế chỗ cho người đang đỡ anh ta. Một tia máu nhỏ đã bắn lên hai gò má cao lúc ông ta đâm con lợn lòi, và những giọt máu khô đang làm tóc ông ta bết sang một bên.

“Nào, Geordie,” ông ta nói, giọng nói thô ráp đột nhiên trở nên dịu dàng. “Nào. Ta đã giết nó rồi, anh bạn. Ổn cả rồi.”

“Dougal? Là ngài ư?” Người đàn ông bị thương xoay đầu về phía Dougal, cố gắng mở mắt.

Tôi kinh ngạc lắng nghe trong lúc nhanh chóng kiểm tra mạch đập và những dấu hiệu của sự sống ở nạn nhân. Dougal - kẻ hung dữ, Dougal - kẻ tàn nhẫn, đang nói chuyện với người đàn ông này bằng giọng nói nhỏ nhẹ, lặp đi lặp lại những lời an ủi, ôm anh ta thật chặt và vuốt ve mái tóc rối bù.

Tôi ngồi quỳ ở đó, với tay về phía chồng băng vải đặt bên cạnh. Có một vết thương sâu, dài ít nhất là hai mươi phân, chạy từ háng đến đùi đang không ngùng chảy máu. Nhưng máu không phun vọt ra; chúng tỏ động mạch ở đùi không bị rách, nghĩa là vẫn cầm máu được.

Nhưng không thể cầm máu vết thương ở bụng anh ta. Những chiếc răng nanh nhọn hoắt đã cắm vào đó, xé toạc da, bắp thịt, màng treo ruột và ruột. Không có mạch máu lớn nào bị đứt nhưng qua vết rách nham nhở trên da nạn nhân, tôi có thể thấy rõ ruột của anh ta đã bị thủng. Kiểu vết thương ở vùng bụng này thường dẫn đến cái chết, ngay cả khi bệnh nhân được đưa vào một phòng phẫu thuật hiện đại để khâu các vết thương với thuốc kháng sinh sẵn sàng trong tầm tay. Vì các chất chứa bên trong ruột sẽ tràn ra, gây nhiễm trùng cho cơ thể. Huống hồ chúng tôi đang ở đây, chẳng có gì để điều trị ngoài những nhánh tỏi và những bông cỏ thi…

Ánh mắt tôi gặp ánh mắt Dougal khi ông ta nhìn xuống vết thương gớm ghiếc. Môi ông ta mấp máy nhưng không phát ra thành tiếng phía trên đầu nạn nhân: “Anh ta có thể sống không?”

Tôi lặng lẽ lắc đầu. Ông ta khựng lại trong một thoáng, ôm Geordie, rồi vươn tay tháo cái ga rô mà tôi đã buộc quanh đùi anh ta. Ông ta nhìn tôi, thách thức tôi phản đối, nhưng tôi chỉ khẽ gật đầu. Tôi có thể cầm máu và để họ khiêng người đàn ông này về lại lâu đài. Ở đó, anh ta sẽ cầm cự từng giờ trong nỗi đau đớn ngày một tăng dần khi vết thương ở bụng thối rữa, cho đến khi sự thối rữa ấy lan xa đến mức giết chết anh ta. Có lẽ Dougal đang ban cho anh ta một cái chết dễ chịu hơn - một cái chết sạch sẽ dưới bầu trời cuối xuân, máu từ trái tim anh ta dần thâm xuống đám lá được nhuộm đỏ bởi máu của con thú đã giết anh ta. Tôi bò lê trên đám lá ướt sũng tới chỗ đầu của Geordie và nhắc nửa người anh ta lên cánh tay mình.

“Sẽ nhanh chóng đỡ hơn thôi,” tôi nói, giọng vững vàng như thường lệ, như đã được huấn luyện. “Chẳng mấy chốc anh sẽ không còn đau nữa.”

“Vâng. Bây giờ… đã đỡ hơn. Chân tôi không còn cảm giác gì… cả tay nữa… Dougal… ngài có ở đó không? Ngài có ở đó không?” Hai bàn tay tê liệt khua khoắng loạn xạ trước mặt người đàn ông. Dougal nắm chặt lấy chúng và ghé lại gần, lẩm bẩm vào tai anh ta.

Lưng Geordie bất chợt ưỡn cong lên và gót giày anh ta cắm sâu vào lớp đất bùn, cơ thể anh ta phản đối dữ dội điều mà tâm trí anh ta đã bắt đầu chấp nhận. Chốc chốc người đàn ông đang chảy máu đến chết ấy lại thở dốc để hớp lấy không khí thèm khát thứ oxy mà cơ thể anh ta đang thiếu hụt trầm trọng.

Khu rừng rất tĩnh lặng. Không có lấy một tiếng chim hót, và những người đàn ông đang ngồi chồm hỗm dưới bóng cây, kiên nhẫn chờ đợi, cũng lặng lẽ như chính đám cây cối trong rừng. Dougal và tôi ghé lại gần nhau phía trên cơ thể đang giãy giụa, thì thầm an ủi, cùng nhau chia sẻ công việc bẩn thỉu, thương tâm và cần thiết này, đó là giúp một người đàn ông được chết.

Chúng tôi trở về lâu đài trong im lặng. Tôi bước đi bên cạnh thi thể người đàn ông đã chết, được khiêng trên một cái cáng tự chế làm từ những cành thông. Đằng sau chúng tôi là xác kẻ thù của anh ta, cũng được khiêng theo cách tương tự. Dougal thì đi một mình ở đằng trước.

Khi chúng tôi bước vào cánh cổng dẫn tới sân chính, tôi bắt gặp thân hình béo lùn của Cha Bain, linh mục của làng, đang tất tả tới trợ giúp người giáo dân đã lìa khỏi cõi đời.

Dougal dừng bước, giơ tay ngăn tôi lại khi tôi định rẽ về phía cầu thang dẫn tới phòng khám. Những người khiêng cái cáng chở thi thể được phủ áo choàng len của Geordie thì tiếp tục hướng về phía nhà nguyện, để mặc chúng tôi ở lại trong hành lang vắng ngắt. Dougal nắm lấy cổ tay tôi, nhìn tôi chăm chú.

“Cô đã từng chứng kiến người ta chết,” ông ta thẳng thừng nói. “Bởi bạo lực.” Đây không phải một câu hỏi, mà gần như là một lời cáo buộc.

“Nhiều lắm,” tôi nói, cũng thẳng thừng như thế. Rồi tôi giật tay ra, bỏ mặc ông ta đứng đó để đi chăm sóc bệnh nhân đang còn sống của mình.

•••

Cái chết của Geordie thật khủng khiếp nhưng cũng chỉ gây ra một sự gián đoạn tạm thời cho các hoạt động vui chơi. Chiều hôm đó anh ta được làm lễ cầu siêu trong nhà nguyện của lâu đài, và đến sáng hôm sau thì các trò chơi chính thức bắt đầu.

Tôi chỉ xem được một vài trò vì còn bận bịu với việc chữa trị cho những người tham gia. Tất cả những gì tôi có thể đúc kết về các trò chơi của vùng cao nguyên là chúng được chơi rất nghiêm túc. Tôi phải băng bó cho một bàn chân lóng ngóng tự làm mình bị thương khi cố gắng nhảy nhót giữa những lưỡi kiếm, tôi phải nắn lại cái chân gãy của một nạn nhân xui xẻo đi lọt vào đường bay của một cái búa bị ném bất cấn, và còn phải phân phát dầu thầu dầu và si rô sen cạn cho vô số đứa trẻ ăn quá nhiều kẹo ngọt. Đến xế chiều, tôi gần như kiệt sức.

Tôi leo lên bàn khám bệnh, thò đầu qua cái cửa sổ bé xíu để hít thở chút không khí. Không còn nghe thấy những tiếng hò hét, cười đùa và nhạc nhẽo từ phía cánh đồng nơi tổ chức các trò chơi nữa. Tốt quá! ít nhất thì từ giờ cho đến sáng mai sẽ không có thêm bệnh nhân nào mới. Rupert nói họ sẽ chơi trò gì tiếp theo nhỉ? Bắn cung ư? Hừm. Tôi kiểm tra số lượng băng vải còn lại rồi đi ra ngoài, thận trọng đóng cửa phòng khám.

Rời khỏi lâu đài, tôi lê bước xuống đồi, đi về phía chuồng ngựa. Tôi rất cần bầu bạn với một sinh vật không phải là con người, không biết nói và không chảy máu. Tôi cũng muôn tìm gặp Jamie - mặc kệ họ của anh ta là gì - và cố gắng xin lỗi anh ta lần nữa vì đã đẩy anh ta đến lễ tuyên thệ. Tuy anh ta đã xoay xở rất tốt nhưng rõ ràng anh ta không hề có ý định tới đó. Còn về lời đồn mà chắc lúc này Rupert đã tưng ra khắp nơi liên quan đến chuyện yêu đương của tôi với Jamie, tôi chẳng buồn nghĩ tới.

Tôi cũng chẳng muốn nghĩ đến tình cảnh khốn khổ của mình, nhưng sớm muộn gì cũng sẽ phải nghĩ đến thôi. Kếhoạch bỏ trốn khi lễ tụ hội bắt đầu đã thất bại thảm hại, chẳng biết đến khi nó kết thúc, tôi có còn cơ hội nào tốt hơn không. Đúng vậy, các vị khách ra về sẽ đem theo hầu hết lũ ngựa. Nhưng vân còn những con ngựa của lâu đài. Nếu may mắn, khi thấy thiếu một con ngựa, họ sẽ chỉ cho rằng đó là do lũ trộm cắp gây ra; có vô khối kẻ du thủ du thực trông rõ là vô lại quanh quẩn ở phiên chợ tạm và chỗ tổ chức các trò chơi mà. Và trong sự hỗn loạn lúc khách khứa rời đi, có thể phải mất một thời gian mới có người phát hiện ra rằng tôi đã biến mất.

Tôi lê bước dọc theo hàng rào của bãi giữ ngựa, ngẫm nghĩ về các lộ trình bỏ trốn. Khổ một nỗi tôi chỉ có khái niệm mơ hồ nhất về nơi tôi đang ở và nơi tôi muốn đi. Và vì bây giờ gần như mọi thành viên của thị tộc MacKenzie từ lâu đài Leoch cho đến biên giới đều đã biết tôi, nhờ việc chữa trị cho những bệnh nhân tham gia các trò chơi, nên tôi sẽ không thể hỏi đường.

Tôi đột nhiên băn khoăn liệu Jamie có kể cho Colum hay Dougal nghe về nỗ lực bỏ trốn của tôi vào cái đêm diễn ra lễ tuyên thệ không. Chắc là không đâu, vì chẳng thấy hai người họ đả động gì đến chuyện đó cả.

Trong bãi giữ ngựa không có con ngựa nào. Tôi đây cửa chuồng ngựa, và tim tôi hẫng một nhịp khi thấy Jamie và Dougal đang ngồi cạnh nhau trên một kiện cỏ khô. Họ có vẻ giật mình khi thấy tôi, cũng như tôi giật mình khi thấy họ vậy, nhưng rồi họ hào hiệp đứng dậy và mời tôi ngồi xuống.

“Không cần đâu,” tôi nói, lùi lại phía cửa. “Tôi không định xen ngang cuộc trò chuyện của hai vị.”

“Không sao,” Dougal nói, “chuyện ta đang nói với Jamie cũng có liên quan đến cô.”

Tôi liếc nhanh sang Jamie, anh ta đáp lại bằng một cái lắc đầu. Vậy là anh ta chưa kể cho Dougal nghe về nỗ lực bỏ trốn của tôi.

Tôi ngồi xuống, hơi cảnh giác với Dougal. Tôi vẫn còn nhớ pha đụng độ của tôi và ông ta ở hành lang vào cái đêm diễn ra lễ tuyên thệ, mặc dù từ đó đến giờ ông ta không hề nhắc gì đến chuyện đó, kể cả bằng lời nói hay hành động.

“Hai hôm nữa ta sẽ rời khỏi lâu đài,” ông ta đột ngột nói. “Và sẽ mang Jamie với cô theo.”

“Mang chúng tôi đi đâu?” Tôi giật mình hỏi. Tim tôi bắt đầu đập nhanh hơn.

“Khắp lãnh địa của thị tộc MacKenzie. Colum không đi xa được, vì vậy ta phải đến thăm những người trương đất và tá điền không thể đến lễ tụ hội. Và lo liệu vài việc lặt vặt…” Ông ta phẩy tay, như thể coi đó là những chuyện không quan trọng.

“Nhưng sao lại mang tôi theo? Ý tôi là, sao lại mang chúng tôi theo?” Tôi hỏi.

Ông ta cân nhắc trong một thoáng trước khi trả lời. “Tại sao ư, vì Jamie rất giỏi điều khiển ngựa. Còn cô, cô gái, Colum nghĩ ta nên đưa cô đến pháo đài William. Người chỉ huy ở đó có thể… giúp cô tìm gia đình của mình ở Pháp.” Hay là giúp ông, tôi nghĩ, xác định tôi thực sự là ai? Và còn bao nhiêu điều khác ông không nói với tôi? Dougal nhìn tôi chằm chằm, rõ ràng đang tự hỏi tôi sẽ đón nhận tin tức này thế nào.

“Được thôi,” tôi bình thản nói. “Ý kiến ấy có vẻ hay đấy!” Bề ngoài thì điềm tĩnh thế thôi, nhưng trong lòng tôi đang mừng húm. May mắn làm sao! Giờ thì tôi sẽ không phải cố gắng bỏ trốn khỏi lâu đài nữa. Dougal sẽ đích thân dẫn tôi đi hầu hết quãng đường. Và từ pháo đài William, tôi nghĩ tôi sẽ không gặp may khó khăn trong việc tìm đường tới Craigh na Dun. Tới vòng tròn đá. Và nếu may mắn, tôi sẽ được trở về nhà.

[1] Nghĩa đen là: ngọn núi cao. Đây là tiếng hô khi xung trận của thị tộc McKenzie hoặc khi các tộc viên muốn nâng cao tinh thần và khí thế.

[2] Món đặc sản nổi tiếng của Scotland.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.