Vòng Tròn Đá Thiêng

Lượt đọc: 101 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
12
Người chỉ huy quân đồn trú

❊ ❊ ❊

Chúng tôi càng ngày càng tới gần pháo đài William, và tôi bắt đầu nghiêm túc suy ngẫm về kế hoạch hành động khi nào chúng tôi tới nơi.

Tôi nghĩ điều này cũng còn tùy vào người chỉ huy quân đồn trú. Nếu ông ta tin rằng tôi là một quý cô đang lâm vào cảnh khó khăn, ông ta có thể cho người hộ tống tôi tới bờ biển để lên chuyến tàu về Pháp.

Nhưng ông ta cũng có thể nghi ngờ tôi khi tôi xuất hiện với nhóm người của thị tộc MacKenzie. Tuy nhiên, tôi rành rành không phải là người Scot; chắc ông ta không nghĩ tôi là một gián điệp đâu nhỉ? Colum và Dougal thì đang nghĩ như thế đấy - họ nghi ngờ tôi là gián điệp của quân Anh.

Điều đó làm tôi thắc mắc, họ cho rằng tôi định dò xét cái gì? Có lẽ là các hoạt động phản quốc; trong số đó, nhất định có việc quyên tiền để ủng hộ cho Hoàng tử Charles Edward Stuart, kẻ đang có ý định giành lấy ngai vàng.

Nhưng nếu vậy, tại sao Dougal lại để tôi nhìn thấy ông ta làm việc đó? Ông ta có thể dễ dàng tống cổ tôi ra ngoài trước khi hoạt động quyên tiền diễn ra. Đương nhiên, bọn họ đều nói tiếng Gaelic trong suốt quá trình ấy, tôi lý luận.

Có lẽ đó chính là nguyên nhân. Tôi nhớ đến ánh mắt kỳ quặc và câu hỏi của ông ta: “Ta tưởng cô không biết tiếng Gaelic?” Có lẽ đó là một phép thử, để xem có phải tôi thực sự không biết tiếng của họ không. Vì hiếm có gián điệp người Anh nào được cử đến vùng cao nguyên mà lại không thể nói chuyện được với hơn một nửa số người ở đó.

Không đúng, cuộc trò chuyện giữa Jamie và Dougal mà tôi nghe lỏm được đã chỉ ra rằng Dougal thực sự là một Jacobite, mặc dù Colum thì hình như không phải - hay đúng ra là chưa phải.

Đầu tôi bắt đầu ong ong vì tất cả những giả thiết này, và tôi mừng rỡ khi thấy rằng chúng tôi đang đến gần một ngôi làng khá lớn. Bởi vì ở đó có thể có một quán trọ tốt và một bữa tối tử tế.

Quán trọ quả thực rộng rãi theo cái tiêu chuẩn mà tôi đã trở nên quen thuộc. Dù cái giường như được thiết kế cho những người lùn - lại còn có bọ chét nữa - nhưng ít ra nó cũng nằm trong một căn buồng riêng. Trong những quán trọ nhỏ hơn, tôi đã phải ngủ trên một chiếc ghế tủ, xung quanh là tiếng ngáy o o và những bóng người quấn áo choàng len nằm ngồi ngả ngốn.

Thường thì tôi ngủ thiếp đi ngay lập tức, bất kể tình trạng chỗ ngủ thế nào, vì đã kiệt sức sau một ngày dài trên yên ngựa và một buổi tối nghe Dougal làm chính trị. Nhưng đêm đầu tiên trong một quán trọ, tôi vẫn thức đúng nửa tiếng vì bị thu hút bởi những âm thanh ấn tượng mà bộ máy hô hấp của cánh đàn ông có thể tạo ra. Giống như trong một phòng ngủ tập thể đầy học viên mà các y tá không thể đến gần.

Khi nghe “dàn đồng ca” ấy, tôi chợt nhớ rằng những người đàn ông trong một phòng bệnh hiếm khi ngáy mà chỉ thở nặng nề. Họ thở hổn hển, thi thoảng rên rỉ, đôi lúc nức nở hoặc òa khóc trong giấc ngủ. Nhưng không gì giống với thứ âm thanh khỏe khoắn này. Có lẽ những người đàn ông bị ốm hay bị thương đó không thể ngủ sâu đến mức có thể tạo ra tiếng động như thế.

Nếu tôi không nhìn lầm, những người bạn đồng hành của tôi đang có thể trạng tráng kiện nhất. Trông họ thực sự rất khỏe mạnh, tay chân dang rộng, khuôn mặt thư thái hồng hào trong ánh lửa. Họ ngủ trên những tấm ván cứng một cách ngon lành giống như lúc họ ăn tối vậy. Thứ âm thanh hỗn tạp ấy khiến tôi mơ hồ cảm thấy dễ chịu, và tôi siết chặt cái áo choàng hơn quanh mình rồi ngủ thiếp đi.

Còn bây giờ, tôi thấy mình khá cô đơn trong căn phòng áp mái nhỏ xíu hôi hám này. Mặc dù đã lột bỏ ga trải giường và đập vỗ tấm đệm để ngăn chặn những “bạn cùng giường” không mong muốn, tôi vẫn hơi khó ngủ, vì căn phòng có vẻ quá tĩnh lặng và tăm tối sau khi tôi đã thổi tắt nến.

Có một vài tiếng vọng văng vẳng dội lên từ căn phòng chung bên dưới cách đây hai tầng, và loáng thoáng có tiếng chuyển động, nhưng chúng chỉ càng nhấn mạnh thêm sự cô độc của tôi. Đây là lần đầu tiên tôi hoàn toàn chỉ có một mình kể từ lúc đến lâu đài, và tôi không nghĩ là mình thích điều này.

Đang chập chờn ngủ, tôi bỗng nghe tiếng ván lót sàn ngoài hành lang vang lên cọt kẹt đầy đáng ngại. Bước chân chầm chậm và ngập ngừng, như thể kẻ xâm nhập đang do dự, lựa chọn những tấm ván lát có vẻ chắc chắn nhất để đặt bước tiếp theo. Tôi ngồi bật dậy, sờ soạng tìm nến và hộp mồi lửa bên cạnh giường.

Bàn tay quờ quạng của tôi va phải hộp mồi lửa khiến nó rơi xuống sàn đánh cạch một tiếng. Tôi như đông cứng người lại, và những bước chân bên ngoài cũng vậy.

Có tiếng sàn sạt khe khẽ ở cửa, như thể ai đó đang mò mẫm tìm then cài. Tôi biết cánh cửa không cài chốt; dù nó được lắp một bộ chốt cửa, nhưng trước khi đi ngủ tôi đã tìm cái then cài mãi mà không thấy. Tôi chộp lấy cái giá đỡ nến, giật chân nến ra, nắm chặt món đồ gốm nặng trịch ấy trong tay và trườn khỏi giường hết sức khẽ khàng.

Cánh cửa kêu kin kít. Ô cửa sổ duy nhất của căn phòng đang được đóng chặt, chặn lại cả gió và ánh sáng; tuy nhiên, tôi vẫn có thể nhìn thấy lờ mờ hình dáng của khe cửa khi cánh cửa được mở ra. Khe cửa lớn dần, rồi trước sự ngạc nhiên của tôi, nó thu hẹp lại và biến mất khi cánh cửa đóng lại. Vạn vật lại chìm vào tĩnh lặng.

Tôi áp người vào tường ngỡ như hàng thế kỷ, nín thở và cố gắng lắng nghe qua tiếng trái tim đập thình thịch. Cuối cùng, tôi nhích dần về phía cửa, cẩn thận men theo các bức tường vì nghĩ rằng ván lót sàn ở đấy rắn chắc hơn. Tôi rón rén hạ từng bước chân, dần dần dồn cả trọng lượng cơ thể xuống, rồi ngừng lại và dò dẫm các ngón chân trần để tìm đường nối giữa hai tấm ván trước khi đặt bàn chân còn lại vững vàng hết mức có thể.

Khi đã tới cửa, tôi ngừng lại, áp tai vào những tấm ván ốp tường mỏng manh, hai bàn tay bám vào khung cửa, đề phòng có kẻ xộc vào bất ngờ. Tôi nghĩ mình nghe thấy những tiếng động khe khẽ, nhưng không chắc chắn. Đó chỉ là âm thanh của những hoạt động bên dưới nhà, hay là tiếng thở kìm nén của ai đó phía bên kia vách tường?

Chất adrenaline[1] tiết ra liên tục khiến tôi hơi nôn nao. Cuối cùng, khi đã mệt mỏi với chuyện vớ vẩn này, tôi nắm chặt giá đỡ nến, giật mở cánh cửa và lao thẳng ra ngoài hành lang.

Nói là “lao thẳng” nhưng thực ra mới được hai bước tôi đã giẫm mạnh lên một vật gì đó mềm mềm và ngã chúi xuống, làm các khớp ngón tay bị trầy xước và đầu đập bộp vào thứ gì đó rắn đanh.

Tôi lồm cồm ngồi dậy, hai tay ôm trán, chẳng buồn đoái hoài đến việc mình có thể bị ám sát vào bất cứ giây phút nào.

Người bị tôi giẫm lên đang hổn hển chửi thề. Trong cơn đau, tôi lờ mờ nhận ra rằng anh ta (từ vóc dáng và mùi mồ hôi, tôi đoán được vị khách của mình là đàn ông) đã đứng dậy và đang mò mẫm tìm cái chốt của cánh cửa chớp phía bên trên chúng tôi.

Một luồng không khí trong lành bất ngờ ập vào khiến tôi nhăn mặt và nhắm mắt. Khi tôi mở mắt ra, ánh sáng từ bầu trời đêm giúp tôi nhìn rõ kẻ xâm nhập.

“Anh đang làm gì ở đây vậy?” Tôi hỏi với vẻ trách cứ.

Cùng lúc đó, Jamie cũng hỏi với giọng điệu tương tự. “Cô nặng bao nhiêu cân thế Sassenach?”

Vẫn còn hơi rối trí, tôi thực thà đáp: “Năm mươi bảy cân rưỡi,” trước khi nghĩ đến việc hỏi: “Sao nào?”

“Cô suýt thì nghiền nát gan tôi,” anh ta đáp, rón rén ấn vào chỗ bị giẫm lên. “Chưa kể còn dọa tôi sợ chết khiếp.” Anh ta giơ tay kéo tôi đứng dậy. “Cô ổn chứ?”

“Không ổn tí nào, tôi bị đập đầu…” Tôi xoa xoa chỗ bị đau, sửng sốt nhìn khắp hành lang trống trơn. “Mà cái gì tôi đập đầu vào ấy nhỉ?” Tôi hỏi sai cả ngữ pháp.

“Đầu tôi,” anh ta càu nhàu.

“Đáng đời anh lắm,” tôi cấm cảu nói. “Anh lén lén lút lút ngoài cửa phòng tôi để làm cái trò gì vậy?”

Anh ta cáu kỉnh nhìn tôi.

“Tôi không “lén lút” làm gì cả, Chúa ơi. Tôi đang ngủ - hay đúng hơn là đang cố ngủ.” Anh ta xoa xoa thứ có vẻ là một cục u trên thái dương.

“Ngủ á? Ở đây sao?” Tôi nhìn ngang nhìn dọc cái hành lang trống trơn, lạnh lẽo, bẩn thỉu với vẻ kinh ngạc cường điệu. “Anh toàn chọn những nơi kỳ quặc nhất; đầu tiên là chuồng ngựa, giờ lại là chỗ này.”

“Có thể cô muốn biết điều này, có một nhóm nhỏ kỵ binh Anh dừng chân ở tiệm rượu bên dưới,” anh ta lạnh lùng thông báo. “Chúng hơi quá chén, và nô đùa có phần táo bạo với hai phụ nữ đến từ thị trấn. Vì chỉ có hai người phụ nữ mà có tới tận năm gã đàn ông, nên vài gã lính có vẻ định mò lên gác để tìm kiếm… ờ, bạn đôi. Tôi không nghĩ sự quan tâm của tôi lại làm cô lo lắng quá mức như thế.” Anh ta choàng lại cái áo choàng len lên vai và quay về phía cầu thang. “Nếu tôi khiến cô hiểu lầm thì tôi xin lỗi. Tôi không có ý định quấy rầy cô nghỉ ngơi. Chúc ngủ ngon.”

“Khoan đã.”

Anh ta dừng bước, nhưng không quay người lại, buộc tôi phải bước tới trước mặt anh ta. Anh ta nhìn tôi, vẻ lịch sự nhưng xa cách.

“Cảm ơn anh,” tôi nói. “Anh thật chu đáo. Tôi xin lỗi vì đã giẫm lên người anh.”

Anh ta mỉm cười, cái mặt nạ lạnh lùng rụng xuống, trả lại biểu cảm vui vẻ quen thuộc.

“Tôi không sao, Sassenach,” anh ta nói. “Ngay khi đầu hết đau và cái xương sườn bị gãy liền lại, tôi sẽ khỏe khoắn như thường.”

Anh ta quay lại và đẩy cửa phòng tôi - lúc nãy nó đã tự động sập lại sau khi tôi lao vội ra ngoài, nguyên nhân là vì khi xây quán trọ này, rõ ràng người ta đã không dùng đến dây dọi[2]. Ở nơi này chẳng có góc tường nào vuông vắn cả.

“Cô về lại giường đi,” anh ta đề nghị. “Tôi sẽ nằm ở đây.”

Tôi nhìn xuống sàn. Ngoài sự cứng rắn và lạnh lẽo vốn có, những tấm ván gỗ sồi còn vương đầy đờm dãi, các chất lỏng bị đánh đổ và các loại chất bẩn khác mà tôi thậm chí còn chẳng muốn nghĩ xem chúng là gì. Trên lanh tô ở cửa có đề 1732, và rõ ràng đó là lần cuối cùng các tấm ván được lau chùi.

“Anh không thể ngủ ngoài này,” tôi nói. “Vào đi, ít nhất thì sàn nhà trong phòng cũng không tệ đến mức này.”

Jamie sững người, đặt tay lên khung cửa.

“Ngủ cùng phòng với cô?” Anh ta có vẻ thực sự bị sốc. ”Tôi không thể làm vậy! Thanh danh của cô sẽ bị hủy hoại!”

Anh ta thực sự nghiêm túc. Tôi suýt thì bật cười, nhưng đã khéo léo biến nó thành một cơn ho. Vì những nhu cầu cấp bách trong lúc đi đường, tình trạng đông đúc, chật chội của các quán trọ và sự thô sơ, thiếu thốn nhà tắm hoặc nhà vệ sinh, tôi đã buộc phải chia sẻ sự riêng tư với những người đàn ông này, bao gồm cả Jamie, vì vậy tôi thấy chuyện giữ kẽ của anh ta thật đáng buồn cười.

“Anh đã ngủ chung phòng với tôi rồi mà,” tôi chỉ ra, khi đã điềm tĩnh lại đôi chút. “Anh và hai mươi người đàn ông khác.”

Anh ta hơi lắp bắp. “Việc đó hoàn toàn không giống vơi việc này! Ý tôi là, đó là một căn phòng chung và…” Anh ta ngừng lại khi một ý nghĩ gớm ghiếc bỗng nảy ra trong đầu. “Cô không nghĩ là tôi có ý nói cô đang khơi gợi chuyện gì thiếu đứng đắn đấy chứ?” Anh ta lo lắng hỏi. “Tôi quả quyết với cô rằng tôi…”

“Không, không. Không hề.” Tôi vội vàng trấn an anh ta rằng tôi không hề có cảm giác bị xúc phạm.

Thấy không thể thuyết phục được anh ta, tôi đành bắt anh ta lấy mấy cái chăn ở giường tôi để làm nệm. Anh ta miễn cưỡng đồng ý sau khi tôi quả quyết đi quả quyết lại với anh ta rằng dù sao đi nữa tôi cũng sẽ không dùng đến chúng mà sẽ quấn mình trong chiếc áo choàng dày cộp để ngủ như thường lệ.

Tôi cố gắng cảm ơn anh ta lần nữa khi dừng lại bên chiếc giường tự chế tạm bợ của anh ta trước khi quay về với cái ổ hôi hám của mình, nhưng anh ta phẩy tay gạt đi sự cảm kích của tôi.

“Tôi làm thế này cũng không hẳn vì tốt bụng, vô tư gì đâu,” anh ta nói. “Tôi cũng muốn tránh sự chú ý mà.”

Tôi đã quên mất rằng anh ta có lý do riêng để lánh mặt đám lính Anh. Tuy nhiên, tôi cũng không bỏ sót cái thực tế là nếu anh ta ngủ trong chuồng ngựa ấm áp và thoáng đãng thì sẽ kín đáo và thoải mái hơn so với sàn hành lang trước cửa phòng tôi.

“Nhưng nếu có ai đó lên đây,” tôi phản đối, “họ sẽ thấy anh.”

Anh ta vươn cánh tay dài đóng cánh cửa chớp lại. Hành lang chìm vào bóng tối, và Jamie chỉ còn là một khối không rõ hình dạng.

“Họ không thể nhìn thấy mặt tôi,” anh ta chỉ ra. “Và trong tình trạng hiện tại của họ, cho dù tôi có nói tên thật thì họ cũng sẽ chẳng để ý, mà đương nhiên là tôi không có ý định làm thế rồi.”

“Đúng vậy,” tôi ngờ vực nói. “Nhưng họ sẽ không thắc mắc anh đang làm gì ở cái chỗ tối mò mò này hay sao?” Tôi không thể nhìn thấy mặt anh ta, nhưng giọng nói của anh ta mách bảo tôi rằng anh ta đang cười.

“Không đâu, Sassenach. Họ sẽ chỉ nghĩ tôi đang chờ đến lượt mình.”

Tôi phì cười, đi vào trong, cuộn tròn mình trên giường và nhắm mắt ngủ, lấy làm lạ khi một bộ óc có thể nghĩ ra những câu nói đùa thô tục như thế lại chùn bước trước ý nghĩ ngủ cùng một phòng với tôi.

•••

Khi tôi tỉnh dậy, Jamie đã đi rồi. Lúc xuống nhà để ăn sáng, tôi gặp Dougal đang đợi ở chân cầu thang.

“Ăn nhanh lên nhé,” ông ta nói. “Cô và ta sẽ cưỡi ngựa tới Brockton.”

Ông ta không chịu nói thêm điều gì, nhưng tôi nghĩ ông ta có vẻ hơi bồn chồn. Tôi ăn vội ăn vàng, và chẳng mấy chốc chúng tôi đã phi ngựa nước kiệu qua màn sương buổi sớm. Chim chóc ríu rít trong những bụi cây và không khí báo hiệu một ngày hè ấm áp sắp đến.

“Chúng ta đang đi gặp ai vậy?” Tôi hỏi. “Ông nên nói cho tôi biết, vì nếu tôi không biết, tôi sẽ ngạc nhiên, còn nếu tôi biết thì dù sao đi nữa tôi cũng đủ thông minh để tỏ ra ngạc nhiên.”

Dougal liếc xéo tôi, cân nhắc, nhưng cuối cùng cũng quyết định rằng tôi nói có lý.

“Chỉ huy quân đồn trú ở pháo đài William,” ông ta nói.

Tôi cảm thấy hơi sốc. Tôi chưa sẵn sàng cho việc này lắm vì cứ nghĩ còn ba ngày nữa chúng tôi mới tới pháo đài.

“Nhưng chúng ta đâu có ở gần pháo đài William!” Tôi thốt lên.

“Ừm.”

Rõ ràng vị chỉ huy này là một người năng nổ. Không bằng lòng với việc ở nhà trông nom đơn vị đồn trú của mình, ông ta đã dẫn một nhóm kỵ binh ra ngoài để thanh tra vùng đồng quê. Mấy gã lính tới quán trọ của chúng tôi tối qua cũng thuộc nhóm này, và họ đã kể với Dougal rằng chỉ huy của họ hiện đang ở trong một quán trọ tại Brockton.

Điều này đã gây ra một rắc rối, và tôi im lặng suốt chặng đường còn lại để suy ngẫm về nó. Tôi đã tính toán rằng mình có thể thoát khỏi Dougal khi đến pháo đài William, nơi tôi nghĩ chỉ cách ngọn đồi Craigh na Dun một ngày đường. Cho dù chưa chuẩn bị sẵn sàng cho việc ngủ lại ngoài trời, không có lương thực, tiền bạc và các vật dụng khác, tôi nghĩ một mình tôi vẫn có thể đi được đến đó và tìm ra vòng tròn đá. Còn chuyện gì xảy ra sau đó - chà, chẳng thể nào nói trước được trừ phi đã tới nơi.

Nhưng diễn biến này đã phá hỏng các kế hoạch của tôi. Nếu tôi tách khỏi Dougal ở đây, tôi sẽ còn cách ngọn đồi những bốn ngày đường. Và tôi không đủ tin tưởng vào khả năng định hướng cũng như sức bền của mình để mạo hiểm đi bộ một mình giữa các vách đá cheo leo và các bãi hoang rộng lớn. Chuyến đi vất vả kéo dài hàng tuần lễ vừa rồi đã khiến tôi dè chừng những khối núi đá lởm chởm và những con suối chảy xiết của vùng cao nguyên, chưa kể thi thoảng còn gặp thú hoang nữa. Tôi hoàn toàn không mong muốn mình sẽ chạm trán một con lợn lòi trong một thung lũng hẹp hoang vu.

Chúng tôi tới Brockton vào giữa buổi sáng. Sương mù đã tan, bầu trời chan hòa ánh nắng giúp tôi có cảm giác lạc quan. Biết đâu đấy, tôi sẽ dễ dàng thuyết phục được vị chỉ huy quân đồn trú cho tôi mượn một người dẫn tôi tới ngọn đồi.

Tôi có thể hiểu lý do tại sao viên chỉ huy lại chọn Brockton làm tổng hành dinh tạm thời. Ngôi làng lớn đến mức có tới hai quán rượu, trong đó có một quán cao ba tầng trông rất bề thế với chuồng ngựa liền kề. Chúng tôi dừng lại ở đây, giao lũ ngựa cho một người coi chuồng ngựa đi đứng lề mề, chậm chạp như thể chân tay bị hóa đá. Lúc chúng tôi đã vào trong quán và Dougal gọi đồ uống từ chủ quán, anh ta còn chưa tới cửa chuồng ngựa.

Khi Dougal leo lên gác tới phòng của viên chỉ huy, tôi bị bỏ lại ở dưới nhà, trầm ngâm bên đĩa bánh yến mạch trông có vẻ khá cũ. Nhìn ông ta đi, trong lòng tôi có cảm giác hơi lạ. Trong quán có ba, bốn gã lính Anh, họ cứ dán mắt vào tôi với vẻ suy đoán và rì rầm bàn tán với nhau. Sau một tháng sống giữa những người Scot của thị tộc MacKenzie, sự hiện diện của đám kỵ binh Anh khiến tôi căng thẳng không thể lý giải nổi. Tôi tự nhủ mình thật ngớ ngẩn. Suy cho cùng, họ chính là đồng hương của tôi, dù không cùng chung thời đại.

Tuy nhiên, tôi thấy nhớ sự bầu bạn thoải mái của ông Gowan và sự thân thuộc đến dễ chịu của Jamie bất-kể-họ-của-anh-ta-là-gì. Tôi đang cảm thấy tiếc nuối vì mình không có cơ hội để từ biệt ai trước khi rời đi vào buổi sáng hôm đó thì bỗng nghe thấy tiếng gọi của Dougal. Ông ta đang đứng ở đầu cầu thang đằng sau tôi, ra hiệu cho tôi đi lên.

Trông ông ta nghiêm nghị hơn bình thường khi ông ta lẳng lặng đứng tránh sang một bên và ra hiệu cho tôi vào trong phòng. Viên chỉ huy quân đồn trú đứng bên ô cửa sổ để mở, vóc dáng thanh mảnh, thẳng băng in bóng trong ánh nắng. Ông ta cất một tiếng cười ngắn khi nhìn thấy tôi.

“Đúng như tôi nghĩ. Người mà MacKenzie miêu tả hẳn là cô.” Cánh cửa đóng lại sau lưng tôi, và tôi chỉ còn lại một mình với Đại úy Jonathan Randall của Đội kỵ binh Hoàng gia số 8.

Hắn mặc một bộ quân phục sạch sẽ màu đỏ và nâu vàng với cổ cồn viền đăng ten và đội một bộ tóc xoăn giả gọn gàng được rắc phấn. Nhưng khuôn mặt hắn thì vẫn vậy - khuôn mặt của Frank. Hơi thở nghẹn lại trong họng tôi. Nhưng lần này, tôi để ý thấy nét tàn nhẫn quanh miệng hắn và vẻ ngạo mạn ở bờ vai hắn. Tuy nhiên, hắn mỉm cười nhã nhặn và mời tôi ngồi xuống.

Căn phòng được trang bị sơ sài, chẳng có gì hơn ngoài một cái bàn giấy, một cái ghế, một cái bàn gỗ thông dài và vài chiếc ghế đẩu. Đại úy Randall ra hiệu cho một viên hạ sĩ trẻ tuổi đang đứng nghiêm ở gần cửa, và một cốc bia rót vụng về được đặt xuống trước mặt tôi.

Đại úy phẩy tay cho viên hạ sĩ lui đi rồi tự rót bia cho mình, sau đó duyên dáng ngồi xuống một cái ghế đẩu đối diện với tôi qua bàn.

“Nào,” hắn nói với vẻ hòa nhã. “Tại sao cô không nói với tôi cô là ai, và làm thế nào mà cô lại có mặt ở đây nhỉ?”

Vì chẳng có mấy lựa chọn, tôi bèn kể với hắn câu chuyện mà tôi đã kể với Colum, chỉ loại bỏ những chi tiết thiếu tế nhị về hành vi của hắn mà dù gì hắn cũng đã biết. Tôi không rõ Dougal đã kể với hắn thế nào, và không muốn mạo hiểm để hắn tóm được chỗ hớ.

Đại úy tỏ vẻ lịch sự nhưng hoài nghi suốt lúc nghe tôi kể. Hắn không cố gắng che giấu điều đó như Colum. Hắn ngả người ra sau, ngẫm nghĩ.

“Cô nói là Oxfordshire? Tôi chẳng biết người nào có họ là Beauchamp ở Oxfordshire cả.”

“Làm sao ông biết được?” Tôi cấm cảu. “Ông là người Sussex mà?”

Đôi mắt hắn mở to đầy vẻ kinh ngạc. Đáng lẽ tôi phải cắn chặt lưỡi để ngăn mình nói hớ.

“Liệu tôi có thể hỏi làm sao cô biết điều đó không?” Hắn hỏi.

“Ờ, giọng ông. Phải đấy, chính vì giọng của ông,” tôi vội nói. “Rõ ràng là giọng Sussex.”

Đôi lông mày sẫm màu nhướng cao, gần như chạm vào những lọn tóc quăn của bộ tóc giả.

“Các gia sư và cha mẹ tôi đều sẽ không vui khi nghe rằng giọng tôi tiết lộ rõ nguyên quán của tôi, thưa cô,” hắn lạnh nhạt nói. “Họ đã mất bao công sức và tiền bạc để sửa nó. Nhưng vì cô có vẻ là một chuyên gia về tiếng địa phương” - hắn quay sang người đàn ông đang đứng cạnh tường - “nên ắt hẳn cô cũng có thể xác định được lính của tôi có gốc gác ở đâu nhỉ. Hạ sĩ Hawkins, làm ơn đọc mấy câu gì đó được không? Thứ gì cũng được,” hắn nói thêm khi nhìn thấy vẻ mặt bối rối của anh ta. “Vài câu thơ nổi tiếng chẳng hạn?”

Viên Hạ sĩ - một chàng trai trẻ với khuôn mặt phì nộn ngốc nghếch và bờ vai rộng - nhìn loạn quanh phòng để tìm cảm hứng, rồi đứng nghiêm và đọc:

“Nàng Meg đẫy đà giặt quần áo cho tôi,

Và mang hết chúng đi.

Để tôi chờ đợi trong nỗi giày vò,

Và rồi tôi bắt nàng phải trả giá.”

“Ờ, được đấy, Hạ sĩ, cảm ơn cậu." Randall ra hiệu cho anh ta lui, và viên Hạ sĩ trở về đứng bên bức tường, mồ hôi vã ra như tắm.

“Thế nào?” Randall quay sang tôi, hỏi.

“Ờ, Cheshire,” tôi đoán.

“Gần đúng. Lancashire.” Hắn nheo mắt nhìn tôi, rồi chắp hai tay sau lưng, lững thững bước tới cửa sổ và nhòm ra ngoài. Để kiểm tra xem liệu Dougal có mang theo người nào không chăng? Tôi tự hỏi.

Đột nhiên hắn xoay người lại, hỏi tôi: “Parlez-vous français[3]?"

“Très bien[4],” tôi đáp ngay lập tức. “Thì sao?”

Hắn nghiêng đầu sang một bên, nhìn tôi chăm chú.

“Có họa điên tôi mới nghĩ cô là người Pháp,” hắn nói, như thể đang độc thoại. “Có thể cô là người Pháp thật, nhưng tôi chưa từng gặp người Pháp nào phân biệt được một người Cockney[5] với một người xứ Cornwall[6].”

Những ngón tay có bộ móng được cắt tỉa gọn gàng gõ gõ lên mặt bàn gỗ. “Tên thời con gái của cô là gì, phu nhân Beauchamp?”

“Nghe này, Đại úy,” tôi nói, mỉm cười duyên dáng nhất có thể, “mặc dù chơi trò Hai Mươi Câu Hỏi với ông khá là thú vị, nhưng tôi thực sự muốn kết thúc màn dạo đầu này và tiếp tục cuộc hành trình của tôi. Tôi đã bị trễ một lúc rồi, và…”

“Cô chẳng giúp gì được cho cảnh ngộ của mình với cái thái độ ngớ ngẩn này đâu,” hắn ta ngắt lời tôi, nheo mắt. Tôi đã thấy Frank làm thế mỗi khi bất mãn về điều gì đó, và đầu gối tôi hơi bủn rủn. Tôi bèn đặt hai bàn tay lên đùi để trấn tĩnh lại.

“Tôi chẳng cần giúp gì cả,” tôi nói với vẻ trâng tráo nhất có thể. “Tôi không đòi hỏi gì ở ông, quân đồn trú hay thị tộc MacKenzie. Tất cả những gì tôi muốn là được phép tiếp tục hành trình của mình một cách yên ổn. Và tôi thấy ông chẳng có lý do gì để phản đối điều đó cả.”

Hắn trừng mắt nhìn tôi, đôi môi mím chặt giận dữ.

“Ồ, cô không thấy ư? Chà, cô hãy thử đặt mình vào vị trí của tôi một lát, có lẽ lý do khiến tôi phản đối sẽ trở nên rõ ràng hơn. Một tháng trước, tôi cùng với người của mình đang truy đuổi kịch liệt một toán cướp người Scot chưa rõ danh tính đã ăn trộm đàn gia súc nhỏ từ một điền trang gần biên giới thì…”

“Ồ, ra là họ đang làm việc đó?” Tôi thốt lên. “Tôi cứ thắc mắc mãi,” tôi yếu ớt nói thêm.

Đại úy Randall thở phì phò, rồi quyết định kìm lại điều hắn đang định nói để tiếp tục câu chuyện.

“Trong cuộc truy đuổi hợp pháp này,” hắn tiếp tục với giọng điệu nhịp nhàng, “tôi đã chạm trán một phụ nữ Anh ăn mặc hở hang - ở một nơi mà không một phụ nữ Anh nào nên có mặt, kể cả khi có người hộ tống - cô ta đã cự lại những câu hỏi của tôi, hành hung tôi…”

“Ông hành hung tôi trước!” Tôi giận dữ nói.

“Đồng bọn của cô ta đã đánh lén khiến tôi bất tỉnh, và sau đó cô ta đã bỏ trốn, rõ ràng là nhờ có sự trợ giúp. Tôi và người của tôi đã sục sạo kĩ lưỡng khu vực đó, và xin quả quyết với cô rằng không hề có vết tích của người hầu bị giết, hành lý bị cướp, váy áo bị vứt bỏ hay bất cứ dấu hiệu nào cho thấy câu chuyện của cô có tí gì là thật!”

“Ồ?” Tôi nói, hơi yếu ớt.

“Đúng thế đấy. Hơn nữa, trong vòng bốn tháng qua, không hề có báo cáo nào về các băng cướp trong khu vực đó. Và bây giờ, cô lại xuất hiện cùng viên thủ lĩnh quân sự của thị tộc MacKenzie, ông ta nói với tôi rằng anh trai Colum của ông ta tin cô là một gián điệp, có thể đang làm việc cho tôi!”

“Chà, không phải như vậy, đúng không?” Tôi cãi lý. “Ít nhất thì ông cũng biết điều đó.”

“Phải, tôi biết điều đó,” hắn nói với sự kiên nhẫn khoa trương. “Tôi chỉ không biết cô là kẻ quái quỷ nào! Nhưng tôi nhất định tìm ra bằng được. Tôi là chỉ huy của đơn vị đồn trú này. Vì vậy, tôi có quyền áp dụng một số biện pháp để bảo vệ khu vực này khỏi những kẻ phản bội, gián điệp, và bất cứ kẻ nào có hành vi mà tôi cho là đáng nghi. Và tôi đã sẵn sàng thực hiện các biện pháp đó.”

“Vậy các biện pháp đó có thể là gì?” Tôi hỏi. Tôi thực lòng muốn biết, nhưng giọng điệu tôi nghe có vẻ bỡn cợt.

Hắn đứng lên, trầm ngâm nhìn tôi trong một thoáng, rồi bước vòng quanh bàn, giơ tay kéo tôi dậy.

“Hạ sĩ Hawkins,” hắn nói, vẫn nhìn tôi chằm chằm, “ta cần cậu giúp một lát.”

Chàng trai trẻ bên bức tường trông có vẻ cực kỳ lo lắng, nhưng vẫn rụt rè tới chỗ chúng tôi.

“Hãy đứng đằng sau quý cô đây, Hạ sĩ,” Randall nói, giọng chán chường. “Và giữ chặt hai khuỷu tay của cô ta.”

Rồi hắn thu tay lấy đà và đấm vào giữa bụng tôi.

Tôi không thốt ra tiếng kêu nào vì không còn hơi sức. Tôi ngồi sụp xuống sàn, cúi gập người, gắng gượng hít không khí vào phổi. Tôi bị sốc không chỉ vì sự đau đớn và cảm giác nôn nao choáng váng do cú đấm gây ra. Trong cuộc đời khá sôi động của mình, chưa từng có ai cố tình đánh tôi như vậy.

Đại úy ngồi xổm xuống trước mặt tôi. Bộ tóc giả của hắn hơi xô lệch, nhưng ngoài điều đó và một chút ngời sáng trong mắt hắn, vẻ thanh lịch thường thấy mà hắn khéo léo gìn giữ vẫn không có gì thay đổi.

“Tôi hy vọng là cô không mang thai,” hắn nói với giọng thủ thỉ, “bởi vì nếu cô có thai thì cũng chẳng còn giữ được bao lâu nữa đâu.”

Tôi bắt đầu phát ra tiếng khò khè kỳ quặc khi những luồng ôxy đầu tiên tìm được đường vào cổ họng. Tôi bò dậy và lập cập mò mẫm tìm mép bàn. Viên Hạ sĩ, sau khi căng thẳng liếc nhìn gã Đại úy, đưa tay giúp tôi đứng lên.

Những làn sóng màu đen gợn lên khắp căn phòng. Tôi ngồi phịch xuống cái ghế đẩu và nhắm mắt lại.

“Nhìn tôi đi.” Giọng hắn nhẹ nhàng và điềm tĩnh như thể đang mời tôi uống trà. Tôi mở mắt và ngước nhìn hắn qua màn sương mỏng manh. Hắn đang chống hai bàn tay trên hông.

“Giờ thì cô có gì để nói với tôi không?” Hắn hỏi.

“Bộ tóc giả của ông bị lệch rồi,” tôi nói, và lại nhắm mắt lại.

[1] Một loại hormone được cơ thể sản xuất ra khi người ta căng thẳng, sợ hãi, tức giận hay thích thú.

[2] Một dụng cụ trong xây dựng dùng để kiểm tra xem tường có thẳng đứng hay không.

[3] Tiếng Pháp, có nghĩa là: Cô có biết nói tiếng Pháp không?

[4] Tiếng Pháp, có nghĩa là: Rất giỏi, rất tốt.

[5] Chỉ người ở khu đông London.

[6] Hạt ở cực tây nam nước Anh, ba mặt giáp biển.

Dịch giả: Khánh Vân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 20 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.