Cuộc sống của tôi có vẻ đang đi vào quỹ đạo, dẫu vẫn chưa hẳn thành nền nếp. Thức dậy từ lúc rạng đông với các cư dân còn lại của lâu đài, tôi ăn sáng trong đại sảnh, sau đó, nếu bà Fitz không có bệnh nhân nào cho tôi thăm khám, tôi sẽ tới làm việc trong những khu vườn rộng lớn của lâu đài. Có vài người phụ nữ chuyên làm việc ở đó cùng với một đội ngũ phục vụ gồm những chàng trai có vóc dáng khác nhau, thường xuyên đến rồi lại đi, mang theo rác rưởi, dụng cụ và hàng tải phân bón. Tôi thường làm việc ở đó cho đến hết ngày, thi thoảng tới khu bếp giúp so chế các loại rau củ mới hái để các đầu bếp nấu nướng hoặc bảo quản, trừ phi có trường hợp khẩn cấp nào đó cần chữa trị buộc tôi trở lại Skulkery - cách tôi gọi căn phòng kinh hoàng của ông Beaton quá cố.
Thảng hoặc, tôi sẽ nhận lời mời của Alec và đến thăm khu chuồng ngựa hoặc bãi giữ ngựa, thưởng thức cảnh tượng lũ ngựa trút bỏ những tấm áo choàng mùa đông xù xì thành từng đống, trở nên khỏe khoắn và bóng mượt nhờ đám cỏ mùa xuân. Có những hôm tôi sẽ đi ngủ ngay sau bữa tối vì kiệt sức với những công việc trong ngày. Còn hôm nào mắt không díp lại sớm, tôi sẽ tới đại sảnh để tiêu khiển bằng những câu chuyện kể, tiếng ca hát hoặc đàn sáo. Tôi có thể say mê lắng nghe Gwyllyn - thi sĩ xứ Wales - hàng tiếng đồng hồ, mặc dù hoàn toàn không hiểu ông ta nói gì.
Khi các cư dân của lâu đài đã quen với sự hiện diện của tôi, và tôi cũng quen thuộc với họ, vài người phụ nữ bắt đầu e dè kết bạn và trò chuyện với tôi. Rõ ràng họ rất tò mò về tôi, nhưng tôi trả lời tất cả những câu hỏi thăm dò của họ bằng những biến thể khác nhau của câu chuyện mà tôi đã kể cho Colum nghe, và sau một thời gian, họ không còn hỏi han gì về thân thế của tôi nữa. Tuy nhiên, khi phát hiện ra tôi có đôi chút hiểu biết về y thuật, họ lại càng quan tâm đến tôi, và bắt đầu hỏi tôi những câu hỏi liên quan đến bệnh tình của con cái, chồng và lũ gia súc của họ, trong hầu hết trường hợp, họ còn chẳng phân biệt nổi mức độ quan trọng giữa hai đối tượng được nhắc đến ở cuối.
Bên cạnh những câu hỏi và những lời chuyện gẫu bình thường, mọi người bàn tán khá nhiều về lễ tụ hội sắp tới mà tôi đã nghe già Alec nhắc đến lúc ở bãi giữ ngựa. Tôi kết luận rằng đây là một dịp quan trọng, và càng tin chắc vào điều đó bởi quy mô của sự chuẩn bị dành cho nó. Một dòng suối thực phẩm bất tận đổ vào các căn bếp lớn, hơn hai mươi thân súc vật đã được lột da treo trong lò mổ, đằng sau một màn khói thơm ngăn lũ ruồi lại gần. Hàng tá thùng bia lớn được xe ngựa chở đến và đem xuống tầng hầm, những túi bột mịn được chuyển về từ xưởng xay xát trong làng để chuẩn bị làm bánh, và anh đào với mơ được hái hằng ngày từ các vườn cây bên ngoài bức tường bao của lâu đài.
Vài người phụ nữ trẻ trong lâu đài rủ tôi đi hái quả cùng họ, và tôi sốt sắng nhận lời, nóng lòng muốn được thoát khỏi cái bóng gớm ghiếc của những bức tường đá.
Vườn cây ăn quả thật đẹp, tôi thích thú dạo bước qua màn sương mù buổi sáng lành lạnh của xứ Scotland, lần tay qua các khóm lá ẩm ướt để tìm những quả anh đào sáng bóng và những quả mơ mập mạp, nhẵn nhụi, nhẹ nhàng sờ nắn để đánh giá độ chín của chúng. Chúng tôi chỉ hái những quả ngon nhất, bỏ vào giỏ, sau khi ăn thỏa thích thì mang số còn lại về để làm bánh tạc và bánh nướng. Những kệ thực phẩm khổng lồ gần như chật kín nào bột nhồi, rượu mùi, giăm bông và đủ loại cao lương mỹ vị khác.
“Thường thì có bao nhiêu người tới tham dự một lễ tụ hội vậy?” Tôi hỏi Magdalen, một cô gái đã trở nên thân thiết với tôi.
Cô ta nhăn cái mũi hếch lâm tấm tàn nhang ra chiều suy nghĩ. “Tôi không biết chắc. Lễ tụ hội lớn ở Leoch gần đây nhất là từ hơn hai mươi năm trước rồi, hồi đó có khoảng, ờ, chừng hai trăm người tới - đó là khi cụ Jacob mất và ngài Colum được tôn lên làm lãnh chúa. Có thể năm nay sẽ đông hơn; vì năm nay là một năm được mùa và người dân sẽ có thêm chút tiền dành dụm, do đó nhiều người sẽ mang vợ con theo.”
Các vị khách đã bắt đầu đến lâu đài, nhưng tôi nghe nói phải vài ngày nữa những phần chính thức của lễ tụ hội như lễ tuyên thệ cuộc đi săn và các trò chơi mới diễn ra. Những người trương đất và tá điền được trọng vọng trọ luôn trong lâu đài, còn các chiến binh và nông dân nghèo khổ thì dựng trại trên một cánh đồng hoang phía dưới con suối đổ vào cái hồ của lâu đài. Những kẻ lang thang, dân Di gan và những người bán hàng dạo đã dựng lên một phiên chợ tạm gần cây cầu. Cư dân của lâu đài và ngôi làng gần đó đã bắt đầu lui tới địa điểm này vào các buổi tối, khi đã hoàn thành hết các công việc trong ngày, để mua sắm dụng cụ và những vật trang trí lộng lẫy, xem xiếc tung hứng và nắm bắt mẩu tin đồn mới nhất.
Tôi dán mắt nhìn kẻ đến người đi, thường xuyên đến thăm chuồng ngựa và bãi giữ ngựa. Hiện ở đó có rất nhiều ngựa của các vị khách tạm trú trong lâu đài. Giữa sự hỗn loạn và náo động của lễ tụ hội, tôi nghĩ, tôi sẽ không gặp khó khăn gì trong việc tìm cơ hội để trốn thoát.
•••
Tôi gặp Geillis Duncan lần đầu tiên trong một buổi đi hái quả. Sau khi phát hiện ra một khoảnh nhỏ Ascaria[1] bên dưới đám rễ của một cây tông quán sủi, tôi liền lùng tìm thêm ít nữa. Những cây nấm màu đỏ tươi mọc thành từng cụm nhỏ chỉ khoảng bốn, năm cây, nhưng có đến mấy cụm như thế nằm rải rác khắp bãi cỏ dài ở phía bên này của vườn cây. Giọng nói của những người phụ nữ đang hái quả càng lúc càng trở nên nhỏ đi khi tôi len lỏi về phía rìa khu vườn, khom người rồi bò bằng cả tay và đầu gối để hái những cây nấm mỏng manh.
“Loại đó độc đây,” một giọng nói cất lên từ sau lưng khi tôi đang cúi nhìn một khoảnh Ascaria, khiến tôi vội vàng đứng thẳng dậy và va mạnh đầu vào một nhánh thông ở bên trên.
Khi đã nhìn được rõ ràng, tôi thấy trước mắt mình là một người phụ nữ trẻ cao ráo đang cười giòn tan. Cô ta lớn hơn tôi chừng vài tuổi, có mái tóc và làn da sáng màu, với đôi mắt màu xanh lục đáng yêu nhất mà tôi từng thấy.
“Tôi xin lỗi vì đã cười nhạo cô,” cô ta nói để lộ lúm đồng tiền khi bước xuống khoảng trũng mà tôi đang đứng. “Tôi không thể kìm được.”
“Chắc là trông tôi ngớ ngẩn lắm tôi xấc xược nói, xoa xoa chỗ đau trên đỉnh đầu. “Và cảm ơn chị vì lời cảnh báo, nhung tôi biết chúng là nấm độc.
“Ồ, cô biết ư? Vậy thì cô tính dùng nó để thủ tiêu ai vậy? Chồng cô chăng? Nói cho tôi biết liệu nó có tác dụng không nhé, để tôi thử với chồng tôi.” Nụ cười của cô ta thật dễ lây lan, và tôi thấy mình đang mỉm cười đáp lại.
Tôi giải thích rằng mặc dù những cây nấm tươi thực sự có độc, nhưng nấm khô nghiền nhỏ lại rất hiệu nghiệm trong việc cầm máu khi rịt lên vết thương. Bà Fitz đã nói vậy; tôi tin tưởng bà ấy hơn là cuốn Cẩm nang thầy thuốc của ông Davie Beaton.
“Lạ nhỉ!” Cô ta nói, vẫn mỉm cười. “Và cô có biết rằng những thứ này” - cô ta cúi xuống, hái một nắm hoa nhỏ xíu màu xanh lam có lá hình trái tim - “sẽ gây chảy máu không?”
“Không,” tôi nói, sửng sốt. “Tại sao lại có người muốn gây chảy máu chứ?”
Cô ta nhìn tôi với vẻ kiên nhẫn bực bội. “Ý tôi là, để bỏ đi một đứa bé mà cô không muốn. Nó gây sẩy thai, nhưng chỉ khi cô dùng nó sớm thôi. Nếu dùng quá muộn, nó có thể giết chết cả cô lẫn đứa trẻ.”
“Chị có vẻ hiểu rõ về nó nhỉ,” tôi nhận xét, vẫn có cảm giác mất mặt vì đã tỏ ra ngu ngốc.
“Một chút. Thi thoảng các cô gái trong làng lại tới chỗ tôi vì những chuyện như vậy, đôi khi có cả những người phụ nữ đã có gia đình. Họ nói tôi là phù thủy,” cô ta nói, đôi mắt sáng rực mở to vẻ kinh ngạc vờ vịt, rồi nhe răng cười. “Nhưng chồng tôi là biện lý, vì vậy họ chỉ thì thầm to nhỏ với nhau thôi.”
“Chàng trai trẻ hay đi cùng cô,” cô ta tiếp tục, gật đầu, “có mấy người đã mua bùa yêu vì anh ta rồi đấy. Anh ta có phải là của cô không?”
“Của tôi ư? Ai cơ? Ý chị là, ờ, Jamie?” Tôi sửng sốt.
Người thiếu phụ tỏ vẻ thích thú. Cô ta ngồi xuống một khúc gỗ, xoắn một lọn tóc quanh ngón trỏ.
“Ồ, đúng vậy. Có vài người sẵn sàng chấp nhận một chàng trai với đôi mắt và mái tóc như thế, chẳng màng đến cái lệnh truy nã treo trên đầu anh ta hay liệu anh ta có tí tiền bạc nào không. Dĩ nhiên là cha họ sẽ nghĩ khác rồi.”
“Còn tôi,” cô ta tiếp tục, nhìn ra xa xăm, “tôi là kiểu người thực tế. Tôi đã lấy một người đàn ông có một ngôi nhà đẹp, một ít tiền để dành và một địa vị tốt. Tóc ông ta chẳng có lấy một cọng, còn mắt thì tôi chưa để ý bao giờ, nhưng ông ta không khiến tôi phiền lòng mấy.” Cô ta giơ cái giỏ mình mang theo ra cho tôi kiểm tra. Trong giỏ có bốn cái rễ hình củ.
“Rễ cây cẩm quỳ,” cô ta giải thích. “Chồng tôi thi thoảng bị lạnh bụng. Xì hơi như một con bò vậy.”
Tôi nghĩ nên ngừng chuỗi hội thoại này lại trước khi mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát. “Tôi vẫn chưa giới thiệu về mình,” tôi nói, chìa tay ra để giúp cô ta đứng dậy. “Tên tôi là Claire. Claire Beauchamp.”
Bàn tay cầm lấy tay tôi trông thật mảnh mai với các ngón tay thon dài trắng trẻo, dù tôi nhận thấy các đầu móng tay đều bị cáu bẩn, có lẽ vì dính phải nhựa của các loài cây và quả mọng đang nằm dọc theo mấy cái rễ cẩm quỳ trong giỏ của cô ta.
“Tôi biết cô là ai,” cô ta nói. “Cả ngôi làng đã xì xầm về cô từ lúc cô đến lâu đài. Tên tôi là Geillis, Geillis Duncan.” Cô ta nhòm vào giỏ của tôi. “Nếu cô đang tìm kiếm balgan-buachrach, tôi có thể chỉ cho cô chỗ chúng mọc nhiều nhất.”
Tôi nhận lời và chúng tôi tha thẩn một lúc qua những thung lũng nhỏ hẹp gần vườn cây ăn quả, cời bên dưới những khúc gỗ mục và bò quanh mép những cái hồ nhỏ trên núi, nơi có khá nhiều những cây nấm nhỏ xíu hình cái ô. Geillis rất am hiểu về các loài thực vật địa phương và công dụng của chúng, tuy nhiên trong số những công dụng mà cô ta nêu ra, có vài cái còn khá đáng ngờ. Chẳng hạn, tôi nghĩ cỏ thì không thể làm cho những cái mụn cóc mọc trên mũi của một đối thủ, và tôi cực kỳ nghi ngờ việc cỏ sắt có thể biến những con cóc thành chim bồ câu. Cô ta nháy mắt ranh mãnh, giải thích rằng cô ta chỉ đang kiểm tra vốn kiến thức hoặc có lẽ là sự nghi ngờ về yêu thuật của tôi mà thôi.
Bất chấp những sự trêu chọc ấy, tôi thấy cô ta là một người bạn đồng hành thú vị, với tài ăn nói dí dỏm và con mắt nhìn đời vui vẻ, dẫu có hơi nhạo báng. Cô ta có vẻ biết mọi điều cần biết về dân làng, vùng đồng quê và lâu đài. Chuyến khám phá của chúng tôi thi thoáng lại bị ngắt quãng bởi những lần nghỉ ngơi, trong đó cô ta “thết đãi” tôi những lời phàn nàn về vấn đề bụng dạ của ông chồng và những câu chuyện đồn đại thú vị dù có phần ác độc.
“Người ta nói cậu nhóc Hamish không phải là con của cha cậu ấy” có một lúc, cô ta nhắc đến đứa con duy nhất của Colum, cậu bé tóc đỏ khoảng tám tuổi mà tôi đã gặp trong bữa tối ở đại sảnh.
Lời đồn này không làm tôi ngạc nhiên lắm, vì chính tôi cũng đã rút ra kết luận tương tự. Tôi chỉ ngạc nhiên vì Letitia chỉ có một đứa con hoang, chắc là bà ta quá may mắn hoặc đã khôn ngoan tìm đến một người giống như Geilie đúng lúc. Tôi đã ngốc nghếch nói với Geilie như vậy.
Cô ta hất mái tóc dài sáng màu và cười. “Không, không phải tôi. Letitia xinh đẹp không cần sự trợ giúp nào trong những vấn đề như vậy, tin tôi đi. Nếu người ta tìm kiếm một phù thủy trong vùng này, họ nên tìm kiếm ngay trong lâu đài thay vì ngôi làng.”
Nóng lòng muốn thay đổi sang một chủ đề an toàn hơn, tôi chộp lấy ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong đầu.
“Nếu cậu nhóc Hamish không phải là con của Colum, vậy thì cậu ta là con của ai?” Tôi hỏi, trèo qua một đống đá cuội.
“Ồ, đương nhiên là của anh chàng ấy.” Cô ta quay sang đối diện với tôi, khuôn miệng nhỏ đầy vẻ giễu cợt và đôi mắt xanh ngời lên với vẻ tinh quái. “Anh chàng Jamie.”
•••
Một mình trở lại vườn cây, tôi gặp Magdalen với mái tóc xổ tung khỏi tấm khăn trùm đầu và đôi mắt mở to lo lắng.
“Ồ, cô đây rồi,” cô ta nói, thốt ra một tiếng thở dài nhẹ nhõm. “Chúng tôi đang định quay về lâu đài thì tôi mới nhớ ra cô.”
“Cô thật tốt bụng vì đã quay lại tìm tôi,” tôi nói, nhấc giỏ anh đào mà tôi đã bỏ lại trên bãi cỏ lên. “Nhưng tôi biết đường mà.”
Cô ta lắc đầu. “Cô nên cẩn thận, cưng à, không nên đi bộ một mình trong rừng vào thời điểm có đủ loại người đến tham dự lễ tụ hội như thế này. Colum đã ra lệnh…” Cô ta đột ngột dừng lại, đưa tay lên bịt miệng.
“Rằng cần phải theo dõi tôi?” Tôi nhẹ nhàng tiếp lời. Cô ta miễn cưỡng gật đầu, rõ ràng sợ tôi sẽ phật ý. Tôi nhún vai và cố gắng mỉm cười trấn an cô ta.
“Chà, tôi cho đó là lẽ đương nhiên thôi,” tôi nói. “Suy cho cùng, ông ấy chẳng được nghe ai ngoài chính tôi nói về việc tôi là ai, hay tôi đến đây bằng cách nào.” Trí tò mò đã lấn át óc suy xét của tôi. “Ông ấy nghĩ tôi là ai?” Tôi hỏi. Nhưng cô gái chỉ có thể lắc đầu.
“Cô là người Anh” là tất cả những gì cô ta nói.
Ngày hôm sau, tôi không quay lại vườn cây. Không phải vì tôi bị cấm túc trong lâu đài, mà là vì đột nhiên xảy ra một vụ ngộ độc thực phẩm cần tôi đứng ra xử lý. Sau khi đã làm những gì có thể cho các nạn nhân, tôi bắt đầu lần tìm nguyên nhân gây ra ngộ độc.
Hóa ra nguyên nhân là thịt bò trong lò mổ bị ôi. Hôm sau, tôi đến lò mổ, đang tức giận trách mắng người thợ hun khói chính về sai sót trong việc bảo quản thịt thì cánh cửa đằng sau bỗng mở toang, phả đến một làn khói dày đặc khiến tôi nghẹt thở.
Tôi quay lại, hai mắt nhòe nước, và thấy Dougal MacKenzie hiện ra lờ mờ qua màn mây khói gỗ sồi.
“Bây giờ cô còn quản lý cả việc giết mổ nữa ư?” Ông ta mỉa mai hỏi. “Chẳng mấy chốc cô sẽ cai quản cả lâu đài, và bà Fitz sẽ phải đi tìm việc ở nơi khác.”
“Tôi chẳng muốn dính dáng gì đến tòa lâu đài bẩn thỉu của ông,” tôi cấm cảu, lau đôi mắt giàn giụa nước khiến chiếc khăn tay lấm lem vệt than. “Tôi chỉ mong thoát khỏi nơi này càng nhanh càng tốt.”
Ông ta gật đầu lịch sự, vẫn cười toe. “Chà, ta có thể đáp ứng mong ước đó của cô đấy,” ông ta nói. “ít nhất là trong một thời gian ngắn.”
Tôi bỏ cái khăn tay xuống và chằm chằm nhìn ông ta. “Ý ông là gì?”
Ông ta ho và phẩy tay trước làn khói đang lùa về phía mình. Rồi ông ta kéo tôi ra khỏi lò mổ và quay về hướng chuồng ngựa.
“Hôm qua, cô nói với Colum là cô cần hoắc hương và một vài loại thảo mộc kỳ quặc khác?”
“Phải, để chế vài loại thuốc cho những người bị ngộ độc thực phẩm. Thế thì sao?” Tôi hỏi, vẫn còn nghi ngờ.
Ông ta nhún vai vẻ hiền hậu. “Chỉ là ta đang định dẫn ba con ngựa đến xưởng rèn trong làng để đóng móng. Vợ của viên biện lý là người bán dược thảo. Chắc chắn cô ấy có những cây thuốc mà cô đang cần. Nếu muốn, cô có thể cưỡi một trong những con ngựa để đi vào làng với ta.”
“Vợ của viên biện lý? Phu nhân Duncan?” Tôi lập tức cảm thấy vui vẻ hơn. Viễn cảnh hoàn toàn thoát khỏi lâu đài, dù chỉ trong một thời gian ngắn, đúng là không thể cưỡng lại nổi.
Tôi vội vã lau mặt và nhét chiếc khăn bẩn vào thắt lưng.
“Đi thôi,” tôi nói.
•••
Tôi thích thú với chuyến đi ngắn ngủi xuống đồi để tới ngôi làng Cranesmuir, cho dù ngày hôm nay trời đầy mây và u ám. Dougal cũng đang có tâm trạng phấn khởi, ông ta tán gẫu và đùa cợt vui vẻ suốt chặng đường.
Trước tiên, chúng tôi ghé vào xưởng thợ rèn, Dougal để lại ba con ngựa cần đóng móng ở đó rồi đỡ tôi lên ngồi sau yên ông ta để đi ngược lên con lộ chính tới nhà của vợ chồng Duncan. Đây là một tòa nhà hoành tráng có tường bằng khung gỗ cao bốn tầng, hai tầng dưới có cửa sổ bằng kính viền chì thanh lịch; những ô kính hình thoi mang màu tía và xanh lá cây nhạt.
Geilie vui vẻ chào đón chúng tôi, mừng rỡ vì có người bầu bạn vào một ngày ảm đạm như thế này.
“Tuyệt quá!” Cô ta thốt lên. “Tôi đang muốn có một cái cớ để đi khắp phòng chế biến thuốc và sắp xếp vài thứ. Anne!”
Một bà người hầu trung niên thấp bé với khuôn mặt như quả táo mùa đông ló ra từ một cánh cửa mà tôi không để ý, vì nó bị khuất sau lò sưởi.
“Đưa cô Claire lên phòng chế biến thuốc,” Geilie ra lệnh, “sau đó thì đi lấy cho chúng tôi một xô nước suối. Nhớ là lấy nước từ suối chứ không phải là từ cái giếng trong quảng trường đâu nhé!” Cô ta quay sang Dougal. “Tôi có để dành ít thuốc bổ cho anh trai ông như đã hứa. Ông vào bếp với tôi một lát nhé?”
Tôi đi lên một dãy cầu thang hẹp bằng gỗ theo sau thân hình giống như quả bí ngô của bà người hầu, bất ngờ bước vào một căn gác xép dài và thoáng đãng. Không như phần còn lại của ngôi nhà, căn phòng này có những ô cửa sổ hai cánh, hiện đang đóng để tránh không khí ẩm thấp ngoài trời, nhưng vẫn mang lại nhiều ánh sáng hơn căn phòng khách tù mù kiểu cách ở dưới nhà.
Geilie đúng là chuyên gia về thảo mộc. Căn phòng được trang bị những cái khung dài căng lưới bằng sa mỏng dùng để phơi khô, những cái móc treo bên trên lò sưởi nhỏ để sấy bằng hơi nóng, và những cái kệ kê dọc theo các bức tường được khoan lỗ để lưu thông không khí. Không gian sực nức mùi thơm của húng quế, hương thảo và oải hương khô. Dọc theo một mặt của căn phòng có một cái quầy dài hiện đại đến đáng kinh ngạc, bày nào cối giã, nào chày, nào bát trộn và thìa, tất cả đều sạch như li như lau.
Một lúc sau, Geilie mới xuất hiện, mặt đỏ bừng vì leo cầu thang, nhưng vẫn mỉm cười trước viễn cảnh có một buổi chiều dài để tán gẫu và giã thảo mộc.
Trời bắt đầu lất phất mưa, những hạt mưa gõ lộp độp lên những ô cửa sổ dài, nhưng căn phòng vẫn rất ấm cúng nhờ một ngọn lửa nhỏ đang cháy trên nền lò sưởi. Tôi cực kỳ thích bầu bạn với Geilie; cô ta có cái miệng lưỡi châm biếm và con mắt nhìn đời nhạo báng, quả là một sự đối lập dễ chịu so với những nữ tộc viên nhút nhát, dịu dàng ở lâu đài, và dù chỉ sống trong một ngôi làng nhỏ nhưng rõ ràng cô ta là người có học thức.
Cô ta cũng biết từng vụ bê bối xảy ra ở ngôi làng hoặc lâu đài trong mười năm trở lại đây, và kể cho tôi nghe vô vàn câu chuyện thú vị. Lạ một điều là cô ta bỗng hỏi tôi vài câu về bản thân tôi. Tôi nghĩ điều đó không đúng với tính cách của cô ta lắm; bởi vì cô ta sẽ tìm hiểu được những gì mà mình muốn biết về tôi từ những người khác.
Một lúc sau, ngoài đường bỗng trở nên ồn ào, nhưng tôi chỉ cho rằng đó là tiếng dân làng trở về từ buổi lễ Mixa Chủ nhật; nhà thờ nằm ở cuối đường, bên cạnh cái giếng, và con lộ chính chạy từ nhà thờ tới quảng trường rồi xòe ra như một cái quạt, tách thành những con đường mòn nhỏ xíu.
Thực ra, trên đường đến xưởng thợ rèn, tôi đã giải khuây bằng cách tưởng tượng rằng ngôi làng nhìn từ trên cao trông sẽ giống như xương cánh tay và bàn tay; con lộ chính là xương quay, dọc theo nó là các cửa hàng và dinh thự của những người giàu có. Một con đường hẹp hơn chạy song song với con lộ chính có tên St. Margaret là xương trụ, nơi tọa lạc của xưởng rèn, xưởng thuộc da và những xưởng thủ công bình dân hơn. Quảng trường[2] của ngôi làng (giống như quảng trường của những ngôi làng khác mà tôi từng thấy, nó không mang hình vuông mà nhang nhác hình chữ nhật) hình thành nên khối xương cổ tay và xương bàn tay, còn các khớp đốt ngón tay được tạo nên từ vài con đường mòn lác đác những túp nhà tranh.
Nhà của Duncan nằm trên quảng trường, một vị trí phù hợp với dinh cơ của các viên biện lý, không chỉ vì địa vị của ông ta mà còn vì sự tiện lợi; quảng trường có thể được dùng để xét xử những vụ án không thể diễn ra trong không gian hạn hẹp nơi thư phòng của Arthur Duncan vì sự hứng thú của công chúng hoặc sự cần thiết về mặt luật pháp. Và, như Dougal giải thích, nó nằm gần giàn gông, một dụng cụ bằng gỗ thô kệch dựng đứng trên một bệ đá nhỏ giữa quảng trường, liền kề với cây cọc gỗ được dùng với nhiều mục đích vì lý do tiết kiệm như làm cột trói nạn nhân bị quất roi, cây nêu ngày mồng Một tháng Năm, cột cờ và cọc buộc ngựa, tùy theo nhu cầu.
Tiếng ồn bên ngoài giờ đã lớn hơn nhiều và hỗn loạn hơn hẳn so với tiếng những con người đứng đắn rời khỏi nhà thờ sau buổi lễ để về nhà ăn tối. Geilie kêu lên một tiếng đầy vẻ sốt ruột, đặt những cái lọ sang một bên và mở toang cửa sổ để xem thứ gì đã gây ra sự náo động ấy.
Tới đứng cạnh cô ta bên cửa sổ, tôi nhìn thấy một đám đông dân chúng mặc đồ đi lễ nhà thờ đang rồng rắn bám theo sau thân hình to bè của Cha Bain, viên linh mục của ngôi làng và lâu đài. Ông ta đang giữ một cậu bé chừng mười hai tuổi, chiếc quần bó sát bằng vải len sọc vuông rách rưới và chiếc áo sơ mi nặng mùi của cậu ta cho thấy cậu ta làm ở xưởng thuộc da. Viên linh mục có bộ mặt đầy hăm dọa nắm gáy cậu bé với vẻ lóng ngóng bởi cậu ta cao hơn ông ta một chút. Đám đông đi sau họ một đoạn, rào rào cất lời chỉ trích như một đám mây dông đang kéo theo sau một tia chớp.
Chúng tôi đang theo dõi họ từ ô cửa sổ bên trên thì Cha Bain và cậu bé đi vào trong nhà, biến mất khỏi tầm mắt. Đám đông vẫn ở bên ngoài, rì rầm và chen lấn xô đẩy. Một vài người táo bạo hon tì cằm lên ngưỡng cửa sổ, cố gắng nhòm vào trong.
Geilie đóng sầm cửa sổ, chặn lại sự náo động bên dưới.
“Chắc là ăn cắp,” cô ta nói ngắn gọn, quay lại bàn. “May thằng nhóc ở xưởng thuộc da thường phạm tội đấy.”
“Chuyện gì sẽ xảy ra với nó?” Tôi tò mò hỏi. Cô ta nhún vai, bóp vụn hương thảo khô vào trong cái cối giã.
“Còn tùy vào việc sáng nay Arthur có mắc chứng khó tiêu không. Nếu bụng dạ ông ấy yên ốn, thằng bé có thể được thả sau một trận đòn roi. Nhưng nếu chẳng may ông ấy bị táo bón hay đầy hơi” - cô ta bĩu môi vẻ ghê tởm - “thằng bé có thể mất một cái tai hoặc một bàn tay.”
Tôi kinh hãi, nhưng không dám can thiệp trực tiếp vào vấn đề này. Tôi là một kẻ ngoại tộc, một phụ nữ Anh từ đầu đến chân, và mặc dù tôi nghĩ tôi sẽ được đối xử tôn trọng vì là khách của lâu đài, nhưng tôi đã thấy nhiều dân làng lén làm dấu trừ tà khi tôi đi ngang qua. Sự can thiệp của tôi có thể làm cho mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn.
“Chị không thể làm gì sao?” Tôi hỏi Geilie. “Ý tôi là, nói chuyện với chồng chị chẳng hạn; đề nghị ông ấy, ờ, giơ cao đánh khẽ?”
Geilie ngẩng lên khỏi công việc đang làm, tỏ vẻ ngạc nhiên. Rõ ràng trong đầu cô ta chưa bao giờ nảy ra ý nghĩ can thiệp vào công việc của chồng.
“Tại sao cô lại quan tâm chuyện gì xảy ra với thằng bé như vậy?” Cô ta hỏi, nhưng là vì tò mò chứ không có ý gì.
“Dĩ nhiên là tôi quan tâm rồi!” Tôi nói. “Nó chỉ là một đứa trẻ; cho dù nó có làm gì thì cũng không đáng phải chịu tổn thương suốt đòi!”
Geilie nhướng hàng lông mày nhạt màu; rõ ràng lý lẽ này không có sức thuyết phục. Tuy nhiên, cô ta nhún vai và đưa cho tôi cái cối giã với cái chày.
“Tôi sẽ làm bất cứ điều gì để giúp đỡ một người bạn,” cô ta nói, đảo tròn mắt. Rồi cô ta nhìn lướt qua những cái kệ và chọn một lọ đựng thứ gì đó màu lục nhạt, có dán nhãn bằng lối viết thảo, CHIẾT XUẤT TỪ BẠC HÀ.
“Tôi sẽ cho Arthur uống thuốc và xem xem có thể làm gì cho thằng bé. Nhưng mong cô nhớ cho là có thể đã quá muộn rồi,” cô ta báo trước. “Và nếu lão linh mục hãm tài kia nhúng tay vào, thằng bé sẽ phải nhận hình phạt nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, tôi sẽ cố gắng. Cô giã nốt hộ tôi nhé; giã hương thảo mất nhiều thời gian lắm.”
Khi cô ấy ra khỏi phòng, tôi cầm cái chày lên để giã và nghiền một cách máy móc, chẳng chú ý mấy đến kết quả. Cánh cửa sổ đóng kín đã chặn lại cả tiếng mưa lẫn tiếng ồn của đám đông bên dưới; hai âm thanh ấy hòa thành một tiếng lầm rầm khe khẽ đầy vẻ đe dọa. Giống như bất cứ người học trò nào, tôi đã đọc truyện của Dickens[3] và các tác giả trước ông, với những mô tả về thứ công lý tàn nhẫn của thời kỳ này, áp dụng với mọi đối tượng phạm pháp, bất kể tuổi tác hay hoàn cảnh. Nhưng ngồi ở một nơi ấm cúng để đọc về việc treo cổ và cắt xẻo một đứa trẻ theo luật pháp từ một, hai trăm năm trước là điều hoàn toàn khác xa so với việc lặng lẽ ngồi giã thảo mộc khi một sự kiện như thế đang diễn ra ở ngay bên dưới mình chừng một mét.
Liệu tôi có dám đứng ra can thiệp nếu hình phạt dành cho đứa bé quá nặng không? Tôi mang cái cối tới bên cửa sổ và nhòm ra ngoài. Đám đông đã thu hút thêm các lái buôn và các bà nội trợ. Những người mới tới ghé sát lại khi những kẻ đứng xem phân khích thuật lại các chi tiết, rồi nhập vào nhóm người, thêm nhiều khuôn mặt háo hức hướng về phía cánh cửa của ngôi nhà.
Nhìn xuống đám đông đang kiên nhẫn tụ tập trong cơn mưa phùn để chờ đợi một lời phán quyết, tôi đột nhiên hiểu rõ một điều. Giống như nhiều người, tôi đã bàng hoàng khi nghe các báo cáo rò rỉ ra từ nước Đức thời hậu chiến; các câu chuyện về trục xuất và giết người hàng loạt, về những trại tập trung và lò thiêu người. Và như quá nhiều những người khác đã và sẽ làm trong những năm sắp tới, tôi đã tự hỏi mình: “Làm sao mà người ta có thể để cho việc đó xảy ra? Họ hẳn phải biết, hẳn phải nhìn thấy những chiếc xe tải, những người đến và đi, những hàng rào và khói. Làm sao họ có thế đứng im và chẳng làm gì chứ?” Chà, giờ thì tôi đã biết rồi.
Thậm chí trong trường hợp này, tôi còn không có nguy cơ bị đe dọa đến tính mạng. Sự bảo trợ của Colum có thể ngăn chặn bất cứ cuộc tấn công vũ lực nào nhắm vào tôi. Nhưng hai tay tôi trở nên lạnh giá và toát mồ hôi khi nghĩ đến cảnh mình bước ra ngoài, một mình và yếu đuối, để đương đầu với đám đông đồng lòng nhất trí và tự cho mình là có đạo đức kia, những con người đang khao khát cảm giác phấn khích của việc chứng kiến sự trừng phạt và đổ máu để xua bớt sự tẻ nhạt trong cuộc sống của mình.
Con người sống thành bầy đàn bởi vì đó là điều cần thiết. Từ thuở còn sống trong hang động, con người - không có lớp lông bao bọc, yếu ớt và không có gì bảo vệ ngoại trừ sự tinh khôn - đã sống sót bằng cách tụ tập thành từng nhóm. Giống như rất nhiều loài sinh vật ăn thịt khác đã nhận ra, họ biết rằng đám đông tạo nên sức mạnh. Kiến thức đó đã ăn sâu tận trong cốt tủy, là thứ ẩn sau quy tắc đám đông. Bởi vì suốt hàng nghìn năm nay, sinh vật nào dám bước ra khỏi bầy đàn, chưa kể dám chống lại nó, ắt hẳn sẽ nhận lấy cái chết. Việc chống lại một đám đông đòi hỏi phải có thứ gì đó lớn hơn lòng can đảm bình thường; thứ gì đó nằm ngoài bản năng của con người. Và tôi e là mình không có thứ đó, thật đáng xấu hổ!
Khoảng thời gian chờ đợi như kéo dài bất tận cho đến khi cánh cửa mở ra và Geilie bước vào, trông điềm tĩnh và bình thản như thường lệ, trong tay cô ta là một thỏi than nhỏ.
“Chúng ta cần lọc nó sau khi đun lên,” cô ta nói như thể tiếp tục cuộc trò chuyện lúc nãy. “Tôi nghĩ chúng ta sẽ bọc nó trong vải muslin và lăn qua than; như thế là tốt nhất.”
“Geilie,” tôi nôn nóng nói. “Đừng thử thách lòng kiên nhẫn của tôi. Thằng bé ở xưởng thuộc da thế nào rồi?”
“Ồ, chuyện đó.” Cô ta nhún vai, nhưng khóe môi lẩn khuất một nụ cười tinh quái. Rồi cô ta buông rơi vẻ giả tạo bề ngoài và bật cười.
“Giá mà cô nhìn thấy tôi lúc đó,” cô ta nói, cười khúc khích. “Tôi phải tự khen rằng mình quá giỏi. Sự quan tâm của người vợ, sự tốt bụng của người phụ nữ, với một chút lòng trắc ẩn của người mẹ, tất cả hòa trộn với nhau. “Ôi, Arthur” cô ta làm bộ, “hãy tích phúc cho cuộc hôn nhân của chúng ta” - nếu buộc lòng phải nói thì không có khả năng đó đâu,” cô ta nói, thoáng lột bỏ cái mặt nạ đầy biểu cảm, nghiêng đầu về phía các kệ thảo mộc - ““Ôi, ông chồng yêu dấu của em, anh sẽ cảm thấy thế nào nếu chính con trai anh bị trùng phạt như vậy? Chắc vì đói quá nên thằng bé mới phải ăn cắp. Ôi, Arthur, anh chính là linh hồn của công lý, vậy mà trái tim anh không có chỗ cho lòng khoan dung hay sao”“ Cô ta ngồi phịch xuống một cái ghế đẩu, cười và đâm đấm đùi. “Tiếc là ở đây không có chỗ để diễn!”
Tiếng ồn bên ngoài đã thay đổi, tôi lờ đi trò tự khen mình của Geilie và đi tới cửa sổ để xem chuyện gì đang diễn ra.
Đám đông tự động tách làm đôi, cậu bé ở xưởng thuộc da chậm rãi bước ra giữa viên linh mục và quan tòa. Arthur Duncan đầy vẻ nhân từ, cúi chào và gật đầu với những người có địa vị cao trong đám người tụ tập. Cha Bain, trái lại, giống y một củ khoai tây héo, khuôn mặt sạm nâu sưng sỉa vì căm tức.
Khi đoàn người tiến tới trung tâm quảng trường, ông cai làng[4] tên là John MacRae liền bước ra từ trong đám đông. Người này ăn mặc phù hợp với chức vụ, sự đứng đắn, thanh lịch toát ra từ cái quần sẫm màu, cái áo khoác và cái mũ nhung màu xám (lúc này ông ta đã bỏ mũ và che chắn cẩn thận dưới đuôi áo khoác để khỏi bị dính mưa). Ông ta không phải là người canh cổng làng như tôi đoán lúc đầu, mặc dù trong những lúc cần thiết, ông ta vẫn thực hiện vai trò đó. Bổn phận của ông ta chủ yếu giống như một cảnh sát, thanh tra thuế và khi cần thì làm cả đao phủ nữa; chức danh của ông ta bắt nguồn từ cái “khóa” gỗ hoặc cái muỗng treo ở thắt lưng mà ông ta dùng đế xúc lấy một tỷ lệ phần trăm nào đó từ môi bao ngũ cốc bán ở phiên chợ ngày thứ Năm. Ông ta được quyền làm vậy vì đó là thù lao cho chức vụ của ông ta.
Tôi tìm hiểu được những thông tin này từ chính miệng ông ta. Mấy hôm trước, ông ta đã tới lâu đài để xem liệu tôi có thể chữa trị chứng chín mé[5] dai dẳng trên ngón tay cái của ông ta không. Tôi đã nhể nó bằng một cái kim vô trùng, bôi thuốc mỡ làm từ chổi cây dương và băng nó lại. Trong mắt tôi, MacRae là một người nhút nhát, ăn nói nhẹ nhàng và có nụ cười đáng mến.
Nhưng bây giờ chẳng còn thấy dấu vết của nụ cười đó nữa; khuôn mặt MacRae đầy vẻ nghiêm khắc, phù hợp với hoàn cảnh này. Cũng đúng thôi; chẳng ai muốn nhìn thấy một đao phủ tươi cười cả.
Kẻ phạm tội được dẫn đến đứng dưới chân giàn gông ở trung tâm quảng trường. Thằng bé trông tái nhợt và sợ hãi nhưng không hề cử động khi Arthur Duncan, biện lý của giáo xứ Cranesmuir, ưỡn thẳng thân hình tròn trĩnh để tạo nên vẻ nghiêm trang, chuẩn bị công bố hình phạt.
“Thằng ngốc này đã thú nhận tội lối lúc tôi bước vào,” một giọng nói vang lên bên tai tôi. Geilie nhòm qua vai tôi. “Tôi không thế cứu nó thoát khỏi sự trừng phạt. Nhưng tôi đã tác động để giúp nó nhận được hình phạt nhẹ nhất; chỉ bị gông một giờ đồng hồ và bị đóng đinh một cái tai.”
“Bị đóng đinh một cái tai! Đóng đinh vào cái gì?”
“Ồ, đương nhiên là cái gông.” Cô ta nhìn tôi với ánh mắt kỳ lạ rồi lại quay mặt về phía cửa sổ để xem việc thi hành cái hình phạt nhẹ nhàng có được nhờ sự can thiệp đầy lòng trắc ẩn của mình.
Vô số thân người bu kín quanh cái gông đến nỗi chỉ còn nhìn thấy một phần nhỏ của kẻ phạm tội, nhưng rồi đám đông lùi lại một chút để không gây trở ngại cho ông cai làng khi ông ta đóng đinh cái tai của thằng bé. Thằng bé nhắm tịt mắt lại, run rẫy vì sợ hãi. Tiếng thét the thé của nó khi cái đinh ghim vào tai vọng đến rõ ràng qua ô cửa sổ đã đóng kín, khiến tôi khẽ rùng mình.
Chúng tôi quay lại với công việc đang làm dở giống như phần lớn các khán giả trong quảng trường, nhưng tôi không kìm được choc choc lại đứng dậy để nhìn ra ngoài. Một vài kẻ rỗi việc đi ngang qua dừng lại để chế nhạo và ném bùn vào nạn nhân, thi thoảng một công dân đứng đắn hơn lại dành chút thời gian ít ỏi để rao giảng đạo đức cho kẻ phạm tội bằng vài lời khiến trách và khuyên răn.
Còn một tiếng nữa mới tới hoàng hôn, chúng tôi đang ngồi uống trà dưới phòng khách thì có tiếng gõ cửa vang lên. Cơn mưa khiến bầu trời u ám đến mức khó có thế nhận thấy vị trí của mặt trời. Tuy nhiên, cái đồng hồ xinh đẹp được làm từ gỗ hồ đào với con lắc bằng đồng và mặt trang trí hình tiểu thiên sứ trong nhà Duncan hiện đang chỉ sáu giờ rưỡi.
Người hầu gái mở cửa phòng khách và cộc lốc nói: “Trong này Jamie MacTavish tự động cúi xuống khi đi qua cửa, mái tóc sâm lại vì mưa, biến thành màu đồng cổ. Anh ta mặc một cái áo khoác lỗi thời, nhơ nhuốc và kẹp dưới cánh tay một cái áo choàng cưỡi ngựa không tay bằng nhung màu lục sẫm.
Anh ta gật đầu chào hỏi khi tôi đứng dậy và giới thiệu anh ta với Geilie.
“Phu nhân Duncan, cô Beauchamp.” Anh ta phẩy tay về phía cửa sổ. “Tôi thấy là cô có chút công chuyện vào chiều nay.”
“Nó vẫn ở đó à?” Tôi hỏi, nhòm ra ngoài. Thằng bé chỉ là một hình dáng tối thẫm khi nhìn qua những ô kính cửa sổ phòng khách nhòe mờ. “Hẳn là nó ướt sũng rồi.”
“Đúng vậy.” Jamie giũ cái áo choàng và giơ lên cho tôi. “Colum nghĩ cô cũng sẽ như thế. Tôi có công chuyện trong làng, vì vậy ông ấy gửi tôi mang áo choàng tới cho cô. Cô sẽ cưỡi ngựa về cùng tôi.”
“Ông ấy thật chu đáo.” Tôi lơ đãng nói, vì tâm trí vẫn nghĩ tới thằng bé ở xưởng thuộc da.
“Nó phải ở đó bao lâu?” Tôi hỏi Geilie. “Thằng bé đeo gông ấy,” tôi sốt ruột nói thêm khi thấy vẻ mặt ngơ ngác của cô ta.
“Ồ, thằng bé đó à,” cô ta nói, hơi cau mày trước một chủ đề không quan trọng như vậy. “Một tiếng, tôi đã nói với cô rồi còn gì. Giờ này ông cai làng phải tháo gông cho nó rồi chứ nhỉ.”
“Ông ấy đã tháo rồi,” Jamie khẳng định. “Tôi đã nhìn thấy lúc đi ngang qua bãi cỏ. Có điều thằng bé chưa có đủ dũng khí để giật cái của nợ đó ra khỏi tai.”
Miệng tôi há hốc. “Ý anh là ông ta sẽ không tháo cái đinh ra khỏi tai thằng bé? Nó sẽ phải tự giật ra?”
“Ồ, đúng vậy.” Jamie vui vẻ nói. “Nó vẫn còn hơi căng thẳng, nhưng chắc là sẽ nhanh chóng lấy được quyết tâm thôi. Trời đang ướt nhẹp và tối dần. Chúng ta phải về thôi, nếu không sẽ chẳng còn gì để ăn ngoài cơm thừa canh cặn.” Anh ta cúi chào Geilie và quay người bước đi.
“Chờ chút”, cô ta nói với tôi. “Vì có một chàng trai to lớn, khỏe mạnh như thế kia hộ tống cô nên hai người mang về hộ tôi hòm cải bắp đầm lầy[6] khô và những cây thuốc khác mà tôi đã hứa với bà FitzGibbons nhé! Có lẽ anh MacTavish sẽ vui lòng đồng ý chứ?”
Khi Jamie nhận lời, cô ta giao cho một người hầu nam cái chìa khóa bằng sắt rèn to tướng và sai anh ta đi lấy cái hòm từ phòng làm việc của mình. Trong lúc người hầu đi lấy cái hòm, Geilie hí hoáy một lùc ờ chổ cái bàn viết nhỏ trong góc phòng. Lúc cái hòm gỗ khá lớn có nẹp bằng đồng được mang đến, cô ta đã viết xong, vội vã phủ cát lên tờ giấy, gấp lại và dán bằng một mẩu sáp nến, rồi nhét nó vào trong tay tôi.
“Đây” cô ta nói. “Đây là hóa đơn. Cô đưa cho Dougal giúp tôi nhé? Ông ấy là người chịu trách nhiệm thanh toán. Đừng đưa cho ai khác, nếu không phải mấy tuần lễ nữa tôi mới được trả tiền.”
“Vâng, dĩ nhiên rồi.”
Cô ta ôm tôi thật chặt, rồi vừa tiễn tôi ra cửa vừa khuyên tôi phải giữ ấm.
Tôi đứng trú dưới mái hiên nhà để chờ Jamie cột cái hòm vào yên ngựa. Cơn mưa đã nặng hạt hơn, nước mưa chảy xuống từ mái hiên trông như một tâm màn rách tơi tả.
Tôi nhìn tấm lưng rộng lớn và hai cánh tay lực lưỡng của Jamie khi anh ta nhẹ nhàng nhắc cái hòm nặng nề lên. Rồi tôi liếc nhìn về phía giàn gông, nơi thằng bé của xưởng thuộc da vẫn bị ghim chặt, bất chấp sự cổ vũ, khuyến khích từ đám đông đang tụ lại. Đành rằng đây không phải là một cô gái trẻ đáng yêu với mái tóc màu ánh trăng, nhưng những hành động của Jamie trong phiên tòa ở đại sảnh của Colum khiến tôi nghĩ rằng anh ta không thể làm ngơ với cảnh ngộ khốn khổ của thằng bé.
“Ờ, anh MacTavish?” Tôi ngập ngừng. Không có tiếng đáp lại. Biểu cảm trên khuôn mặt điển trai không hề thay đổi; khuôn miệng rộng vẫn mím hờ, đôi mắt xanh chăm chú nhìn vào sợi dây anh ta đang buộc.
“À, Jamie?” Tôi thử gọi to hơn và anh ta lập tức ngẩng lên. Vậy là họ của anh ta thực sự không phải là MacTavish. Tôi tự hỏi không biết họ thật của anh ta là gì.
“Vâng?” Anh ta nói.
“Anh, ờ, cũng khá cao to nhỉ?” Tôi nói. Anh ta nở nụ cười nửa miệng và gật đầu, rõ ràng đang thắc mắc tôi hỏi thế là có ý gì.
“Đủ cao lớn để làm hầu hết mọi việc,” anh ta trả lời.
Được khuyến khích, tôi ghé lại gần anh ta hơn để không bị bất cứ kẻ lang thang nào ngoài quảng trường nghe thấy.
“Và các ngón tay rất khỏe?” Tôi hỏi.
Anh ta nắm tay vào rồi lại duỗi ra và cười tươi hơn. “Vâng, đúng thế. Cô cần tách hạt dẻ sao?” Anh ta nhìn tôi với ánh mắt vui vẻ và tinh nghịch.
Tôi liếc nhanh qua anh ta tới tốp khán giả trên quảng trường.
“Tôi nghĩ việc đó giống như lấy một vật gì ra khỏi ngọn lửa hơn.” Tôi ngẩng lên để nhìn thẳng vào đôi mắt màu xanh dương đầy nghi vấn của anh ta. “Anh có thể làm được không?”
Anh ta đứng nhìn tôi một lúc, miệng vẫn mỉm cười, rồi nhún vai. “Được, nếu cái đinh đủ dài để có thể tóm chặt. Nhưng cô có thể kéo đám đông đi không? Sự can thiệp của người ngoài sẽ không nhận được ánh mắt thiện cảm, mà tôi lại còn là người lạ nữa chứ!”
Tôi đã không lường trước được rằng lời đề nghị của mình có thể đây anh ta vào tình thế nguy hiểm, vì thế tôi bỗng do dự, nhưng anh ta có vẻ dám thử, bất chấp hiểm nguy.
“Chà, nếu chúng ta tới gần hơn, rồi tôi ngất xỉu trước cảnh tượng đó, anh có nghĩ…?”
“Cô ngất xỉu vì không quen nhìn thấy máu hả?” Một bên lông mày nhướng lên đùa bỡn và anh ta nhoẻn miệng cười, “Ừ, được đó. Nếu cô có thể giả vờ ngã ở chân bệ đỡ thì còn tốt hơn nữa.”
Tôi thực sự cảm thấy hơi nôn nao khi nghĩ đến hình ảnh ấy, nhưng hóa ra nó không đáng sợ như tôi lo lắng. Cái đinh vuông vắn và không có mũ dài đúng năm phân, đâm vào sát mép của vành tai trên. Hầu như không có máu, và nhìn mặt thằng bé, có thể thấy rõ mặc dù nó vừa sợ hãi vừa khó chịu nhưng không bị đau đớn lắm. Tôi bắt đầu nghĩ có lẽ Geilie đã đúng khi cho rằng đây là một hình phạt khá nhẹ nếu căn cứ vào tình trạng tổng thể của hệ thống luật pháp Scotland hiện giờ, nhưng quan điểm của tôi về tính man rợ của nó không hề thay đổi.
Jamie len lỏi qua đám khán giả. Anh ta lắc đầu với thằng bé vẻ khiển trách.
“Ái chà, cậu nhóc,” anh ta nói, chậc lưỡi. “Hiếm khi rơi vào tình cảnh bối rối thế này, đúng không?” Anh ta đặt bàn tay to lớn, rắn chắc lên mép cái gông, lấy cớ là để nhìn cái tai kĩ hơn. “Ôi dào, cậu nhóc,” anh ta nói, vẻ chê bai, “có khó gì đâu. Giật đầu ra một cái là xong thôi. Này, để anh giúp chú mày nhé?” Anh ta giơ tay ra như thể định tóm lấy tóc cậu bé để giật đầu cậu ta ra. Cậu bé hét lên sợ hãi.
Nhận ra tín hiệu, tôi bước lùi lại, cố ý giẫm lên chân người phụ nữ đứng đằng sau, khiến bà ta kêu oai oái vì đau khi bị gót giày của tôi nghiến vào.
“Mong bà thứ lỗi,” tôi hổn hển nói. “Tôi… chóng mặt quá! Làm ơn…” Tôi quay mặt khỏi giàn gông, bước hai, ba bước, giả bộ lảo đảo một cách khéo léo và tóm vào tay áo của những người bên cạnh. Mép bệ đỡ chỉ cách có mười lăm phân; tôi bám chặt vào một cô gái có vóc dáng mảnh mai mà tôi đã nhắm sẵn và ngã chúi người qua đó, lôi cô ta ngã theo mình.
Chúng tôi lăn trên cỏ ướt trong mớ váy vóc lùng nhùng và những tiếng kêu ré. Cuối cùng tôi cũng buông áo cô ta ra, nằm sõng soài một cách khoa trương, mưa lộp độp rơi xuống mặt tôi.
Cô gái đã ngã đè lên người tôi khiến tôi không thở được, và tôi cố gắng hít thở, lắng nghe tiếng rì rầm của những giọng nói đầy lo âu đang tụ lại xung quanh. Những suy đoán, khuyên nhủ và những thán từ bày tỏ sự bàng hoàng trút xuống tôi còn dày đặc hơn cả những giọt nước rớt xuống từ trên bầu trời, rồi một đôi tay quen thuộc nâng tôi ngồi dậy. Khi mở mắt, tôi nhìn thấy trước mặt mình là một cặp mắt xanh đây vẻ quan tâm. Một cái nháy mắt nhẹ nhàng cho tôi biết nhiệm vụ đã hoàn thành, và thực tế, tôi có thể thấy thằng bé ở xưởng thuộc da đang áp chặt cái khăn vào tai, chuồn đi với tốc độ cực nhanh về phía căn gác xép của mình mà chẳng ai nhận thấy, bởi đám đông đã chuyển hết sự chú ý sang sự kiện mới mẻ này.
Đám dân làng, vừa mới đây thôi còn đòi lấy máu của cậu bé, giờ lại vô cùng tử tế với tôi. Tôi được nâng dậy một cách nhẹ nhàng và đưa về nhà của Duncan, nơi tôi nhận được nào trà, nào rượu brandy, những chiếc chăn ấm và vô vàn sự cảm thông. Tôi chỉ có thể rời đi khi Jamie thẳng thừng tuyên bố rằng chúng tôi phải về, rồi bế bổng tôi lên khỏi trường kỷ và đi thẳng ra ngoài cửa, chẳng thèm đếm xỉa đến những lời phản đối của chủ nhà.
Ngồi đằng trước trên lưng con ngựa của anh ta, tay dắt dây cương con ngựa của tôi, tôi cố gắng cảm ơn sự giúp đỡ của anh ta.
“Không có gì,” anh ta nói, gạt đi những lời cảm ơn ấy.
“Nhưng đó là một chuyện mạo hiểm đối với anh mà,” tôi khăng khăng. “Khi tôi đề nghị anh làm việc đó, tôi đã không nhận ra anh có thể gặp nguy hiểm.”
“À,” anh ta nói lấp lửng. Một thoáng sau, anh ta lại nói tiếp với đôi chút thích thú. “Cô không nghĩ tôi nhát gan hơn một cô nàng Sassenach bé nhỏ đây chứ?”
Anh ta thúc lũ ngựa chạy nước kiệu khi bóng hoàng hôn phủ xuống vệ đường. Chúng tôi không nói gì nhiều suốt chặng đường còn lại, và khi về tới lâu đài, anh ta để tôi lại ở cổng với một lời bỡn cợt nhẹ nhàng: “Chúc ngủ ngon, cô Sassenach.” Nhưng tôi cảm thấy tình bạn giữa chúng tôi đã bắt đầu thân thiết hơn một chút.
[1] Tên một loại nấm.
[2] Nguyên văn: Square, vừa có nghĩa là quảng trường, vừa có nghĩa là hình vuông.
[3] Charles Dickens (1812 -1870): nhà văn nổi tiếng người Anh, tác giả của những cuốn tiểu thuyêt tuyệt vời như Oliver Twist, Bài ca mừng Giáng sinh, v.v…
[4] Nguyên văn: locksman, có nghĩa đen là người coi cửa cổng, người giữ chìa khóa cổng.
[5] Chứng viêm, tây ở cạnh móng tay, móng chân.
[6] Một loài thực vật thấp, có hoa, có mùi hôi, mọc ở vùng đầm lầy.