Thời còn làm ở Hughes Aircraft, Lenny DiCicco kể với tôi việc cậu ta đã kết thân với một nữ bảo vệ. Do đó, tôi định tới thăm Lenny vào đêm cô gái kia trực và nói rằng tôi là nhân viên DEC. Khi tôi tới, cô ấy nháy mắt và cho tôi vào, không buồn hỏi tới thẻ ID.
Lenny ra đón tôi từ ngoài sảnh, không nén nổi sự hào hứng nhưng cũng không kém phần kiêu căng tự mãn. Cậu ta dẫn tôi tới máy tính VAX của Hughes, thiết bị có thể đăng nhập vào Arpanet và được kết nối với một loạt các trường đại học, phòng nghiên cứu, đối tác chính phủ... Gõ vài dòng lệnh, cậu ta nói mình đang truy cập vào hệ thống máy tính có tên là Dockmaster, do Trung tâm An ninh Máy tính Quốc gia (NCSC), một đơn vị thuộc Cơ quan An ninh Quốc gia (NSA) sở hữu. Trong niềm hân hoan, chúng tôi biết rằng đây là cơ hội tiến gần nhất có thể tới NSA.
Khi huênh hoang về khả năng tấn công bằng kỹ thuật xã hội của mình, Lenny khoe rằng cậu ta đã giả vờ là một thành viên của đội IT thuộc NCSC và lừa phỉnh được một nhân viên ở đó có tên là T. Arnold để lộ thông tin đăng nhập vào hệ thống của anh ta. Lenny gần như nhảy nhót trong niềm hứng chí và tự hào. Cậu ta vốn là một kẻ cuồng công nghệ và giờ thì có vẻ giống như một kẻ vừa chơi thuốc khi nói rằng: “Tớ cũng giỏi tấn công bằng kỹ thuật xã hội hệt như cậu vậy, Kevin ạ!”
Chúng tôi tìm kiếm trong khoảng một tiếng nhưng chỉ thu được vài thông tin không mấy thú vị.
Rất lâu sau này, một tiếng đồng hồ đó đã trở thành nỗi ám ảnh trong tôi.
* * *
Tôi chắc rằng cách nhanh nhất để nâng cao kỹ thuật máy tính nhằm đạt được công việc mà tôi hằng ao ước chính là làm việc cho General Telephone. Tôi cũng biết rằng công ty đang tích cực tuyển sinh viên tốt nghiệp từ một trường kỹ thuật có tên là Trung tâm Giảng dạy Máy tính. Từ nhà tôi lái xe tới trung tâm này khá tiện và tôi có thể có được chứng chỉ tốt nghiệp chỉ sau sáu tháng học.
Quỹ Liên bang Pell và khoản vay sinh viên đã giúp tôi có tiền trang trải để thực hiện mục tiêu của mình, thêm vào đó là một chút hỗ trợ của mẹ cho các khoản phụ phí. Trường học yêu cầu các sinh viên nam phải mặc âu phục và đeo cà vạt tới lớp hằng ngày. Tôi chưa từng mặc lại trang phục kiểu đó kể từ lễ trưởng thành bar mitzvah năm 13 tuổi. Giờ đây tôi đã 23, bự lên khá nhiều và bộ âu phục cũ hẳn là đã quá chật. Mẹ mua cho tôi hai bộ đồ mới.
Tôi thích lập trình bằng các dạng “hợp ngữ”[1], thường khó hơn nhiều bởi lập trình viên phải thông thạo nhiều chi tiết kỹ thuật, nhưng bù lại, họ sẽ thu được các mã hiệu quả hơn nhiều trong điều kiện sử dụng ít không gian bộ nhớ hơn. Lập trình bằng ngôn ngữ bậc thấp này rất thú vị. Tôi có cảm giác mình được kiểm soát các ứng dụng của mình nhiều hơn. So với việc sử dụng các ngôn ngữ bậc cao như COBOL, tôi có thể lập trình gần với ngôn ngữ máy tính hơn. Chương trình ở lớp thường đưa ra các thử thách có chút khó khăn, nhưng cũng rất hấp dẫn. Tôi được làm những gì mình yêu thích: học thêm về các hệ máy tính và lập trình. Đôi khi trên lớp bàn tới chủ đề hacking, tôi chỉ lắng nghe, vờ như không biết.
Dĩ nhiên, tôi vẫn tiếp tục hack. Tôi đã chơi trò mèo đuổi chuột với Pacific Bell, tên mới của Pacific Telephone sau khi cải tổ, được một thời gian. Mỗi lần tôi tìm ra cách mới để đột nhập vào bộ chuyển mạch của công ty, luôn có ai đó nghĩ ra phương thức khác để chặn tôi lại. Tôi dùng các số điện thoại mà RCMAC sử dụng để kết nối vào các bộ chuyển mạch khác nhau nhằm thực hiện các cuộc gọi dịch vụ, sau đó họ sẽ phát hiện ra, rồi thay đổi số dial-up hoặc hạn chế chúng để tôi không thể thực hiện cuộc gọi. Tôi lại loại bỏ các hạn chế đặt ra khi họ không chú ý. Mọi việc cứ tiếp diễn như vậy trong vài tháng trời. Sự can thiệp không ngừng của họ khiến thú vui hacking vào bộ chuyển mạch của Pacific gần như là công việc hằng ngày của tôi.
Sau đó, tôi nghĩ ra một phương thức tiếp cận ở mức độ cao hơn: tấn công vào Hệ thống Trung tâm Điều khiển Chuyển mạch (SCCS). Nếu làm được, tôi sẽ nắm quyền kiểm soát tương đương với việc ngồi trực tiếp ngay trước hệ thống chuyển mạch, làm bất kỳ việc gì tôi muốn mà không cần tiến hành tấn công bằng kỹ thuật xã hội với nhóm kỹ thuật viên mù mờ ngày qua ngày. Quyền truy cập và sức mạnh tối thượng sẽ nằm trong tay tôi.
Tôi bắt đầu bằng một đợt tấn công vào SCCS ở Oakland, Bắc California. Trong cuộc gọi đầu tiên, tôi dự định sẽ nói rằng tôi đến từ Trung tâm Hỗ trợ Hệ thống Điện tử (ESAC), cung cấp hỗ trợ về mặt kỹ thuật cho toàn bộ phần mềm SCCS triển khai trên toàn công ty. Tôi tìm hiểu thông tin trước, chọn tên một nhân viên chính thức của ESAC và đưa ra yêu cầu: “Tôi cần truy cập vào SCCS ở Oakland nhưng bộ công cụ Dữ liệu đang trong thời kỳ bảo dưỡng, vậy nên tôi cần đăng nhập qua đường dây điện thoại.”
“Không thành vấn đề.”
Người đàn ông vừa nói chuyện cho tôi biết số dial-up và một chuỗi mật khẩu, sau đó vẫn giữ máy, hướng dẫn tôi thao tác qua từng bước.
Ồ, đây là một hệ thống có chế độ bảo mật “gọi lại” (dial-back), tức là bạn phải nhập số điện thoại và đợi máy tính gọi lại cho bạn. Giờ thì sao đây?
“Anh này, hiện tôi đang có việc ra ngoài,” tôi tuôn ra những gì xuất hiện trong đầu lúc đó. “Vậy nên tôi không nhận cuộc gọi được.”
Thực may mắn đây là một lý do nghe có vẻ hợp lý. “Được thôi, tôi sẽ thiết lập bỏ qua bước gọi lại khi anh đăng nhập bằng tên đăng nhập của mình,” anh ta cam đoan, đồng thời hủy bỏ chế độ bảo mật phức tạp của công ty vốn yêu cầu tôi phải đưa ra được một số điện thoại ủy quyền để gọi lại.
Lenny cũng tham gia vào nỗ lực đột nhập SCCS. Mỗi lần tấn công giúp chúng tôi có được quyền truy cập vào 5-6 trạm chuyển mạch của văn phòng trung tâm với toàn quyền kiểm soát. Do vậy, chúng tôi có thể làm bất kỳ điều gì mà một kỹ thuật viên thuộc văn phòng trung tâm có thể làm khi ngồi trước máy. Chúng tôi có thể theo dấu đường dây, tạo số điện thoại mới, ngắt kết nối của bất kỳ số điện thoại nào, thêm hay bớt một vài tính năng cuộc gọi, cài đặt lưu số gọi đến và truy cập vào dữ liệu lưu lại này.
Lenny và tôi tốn rất nhiều thời gian cho việc này, từ cuối năm 1985 tới cuối năm 1986. Cuối cùng, chúng tôi đã đột nhập được vào toàn bộ trạm chuyển mạch của Pacific Bell, sau đó là Manhattan, Utah và Nevada cũng như nhiều nơi khác trên khắp cả nước. Trong số này có công ty điện thoại Chesapeake and Potomac (C&P) chuyên cung cấp dịch vụ cho khu vực Washington, DC., bao gồm tất cả các phòng ban của chính quyền Liên bang đặt tại DC. cũng như Lầu Năm góc.
NSA là một nơi hấp dẫn mà tôi khó có thể cưỡng lại. Dịch vụ điện thoại của NSA được cung cấp bởi một trạm chuyển mạch của công ty điện thoại ở Laurel, Maryland mà chúng tôi đã chiếm được quyền truy nhập. Số điện thoại công bố của NSA là 301 688-6311. Sau vài lần kiểm thử ngẫu nhiên các số khác nhau với dãy số đầu tương tự, tôi có linh cảm rằng toàn bộ số điện thoại có chung dãy số đầu này đều thuộc về NSA. Sau đó, tôi thiết lập một mạch có thể giúp tôi nghe được các cuộc gọi ngẫu nhiên nhờ sử dụng hàm kiểm tra mà các kỹ thuật viên chuyển mạch thường gọi là “Nói và Giám sát”. Tôi thử một đường dây và có tiếng một người đàn ông cùng một người phụ nữ đang trò chuyện với nhau. Khó có thể tin được tôi đang nghe một cuộc đàm thoại của NSA, thật là vừa phấn khích lại vừa lo lắng. Thật mỉa mai làm sao: Tôi đang nghe lén một cơ quan chuyên nghe lén lớn nhất thế giới.
Được rồi, tôi đã chứng tỏ khả năng của mình… giờ đã đến lúc biến thật nhanh. Tôi không lưu lại quá lâu để nghe xem họ nói gì, mà tôi cũng chẳng muốn biết. Nếu cuộc gọi có tính nhạy cảm, hẳn họ đã sử dụng đường dây bảo mật hơn và dù có vậy thì điều này cũng quá nguy hiểm. Khả năng bị tóm sẽ là rất nhỏ nếu như tôi chỉ thử đúng một lần và không bao giờ lặp lại.
Chính phủ chưa từng phát hiện ra tôi có thể đột nhập vào đường dây của họ. Và tôi cũng không định kể chuyện đó ở đây nếu như không phải thời hạn hiệu lực để truy cứu trách nhiệm đã qua từ rất lâu rồi.
Với Lenny và tôi, mỗi lần đột phá thành công vào một SCCS lại đem tới sự phấn khích vô cùng – hệt như việc lên cấp bậc trong trò chơi điện tử.
Đây là lần tấn công có ý nghĩa nhất trong sự nghiệp hacking của tôi bởi mức độ kiểm soát và quyền lực to lớn mà chúng tôi có được đối với hệ thống điện thoại trên hầu hết nước Mỹ. Và chúng tôi chưa từng lợi dụng điều đó. Với chúng tôi, sự phấn khích chỉ đơn giản nằm ở việc có được quyền lực mà thôi.
Pacific Bell cuối cùng đã phát hiện ra sự việc. Tuy nhiên, chúng tôi không bị bắt hay bị buộc tội bởi sau này tôi nghe nói, lãnh đạo công ty lo sợ khi tính tới hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra nếu hành vi của tôi được công bố và người khác có thể bắt đầu làm theo.
Trong khi đó, lần truy nhập vào Dockmaster của Lenny đã bị phát giác. NSA lần theo vụ tấn công Hughes trước đó, truy ra được phòng máy tính Lenny đã dùng vào đêm tôi ghé thăm. Trước tiên là bộ phận an ninh của Hughes truy vấn Lenny, sau đó, cậu ta bị triệu đến gặp FBI trong một cuộc điều tra chính thức. Lenny thuê một luật sư đi cùng mình tới buổi gặp này.
Lenny nói với các đặc vụ FBI rằng cậu ấy và tôi chưa hề làm gì với Dockmaster. Bên quản lý của Hughes đã tra hỏi Lenny vài lần và cậu ta chưa từng khai ra tôi. Dù vậy rất lâu sau đó, để tự bảo vệ mình, cậu ta thừa nhận tôi đã tấn công vào Dockmaster vào đêm tôi ghé qua Hughes. Khi được hỏi tại sao lại che giấu sự can dự của tôi ngay từ đầu, Lenny nói hắn sợ vì bị tôi dọa giết nếu dám tiết lộ. Rõ ràng là hắn ta đã quá tuyệt vọng trong việc tìm cách nói dối các đặc vụ FBI.
Thông tin lưu lại đã chỉ rõ Kevin Mitnick đăng ký vào Hughes với tư cách khách mời của Lenny. Dĩ nhiên, hắn ta đã bị đuổi khỏi Hughes ngay lập tức.
Hai năm sau, tôi bị buộc tội nắm giữ mã số đăng nhập bí mật vào NSA. Trên thực tế, tôi chỉ có dữ liệu đầu ra của lệnh “whois” – cho thấy danh sách tên và số điện thoại của người dùng đăng ký bằng tài khoản trên Dockmaster – đó đều là những dữ liệu dễ có nếu ai đó truy nhập vào Arpanet.
Thuở đó, tại phòng máy của trường học không phải chỉ toàn nam sinh. Trong đám con gái học cùng có một cô gái dáng người nhỏ nhắn, dễ thương tên là Bonnie. Tôi không hẳn là tên nhóc cuốn hút nhất, tính đến đống mỡ dư trên người, hậu quả của những năm tháng lấy đồ ăn nhanh làm món chính khi còn ngồi xe buýt tới trường. Tôi thừa khoảng 25kg, “béo phì” có lẽ vẫn còn là một cách mô tả lịch sự.
Dù vậy, tôi vẫn nghĩ Bonnie thực sự dễ thương. Khi chúng tôi cùng ở phòng máy làm bài tập thực hành, tôi gửi tin nhắn cho nàng từ cuối phòng, đề nghị nàng đừng tắt những chương trình tôi đang chạy ở mức ưu tiên cao, và nàng trả lời khá thân thiện. Tôi mời nàng ăn tối. Nàng đáp: “Xin lỗi, mình đã đính hôn.” Nhưng nhờ hacking, tôi học được rằng mình không thể bỏ cuộc dễ dàng, sẽ luôn có cách nào đó. Vài ngày sau, tôi lại mời nàng ăn tối, và nói rằng nàng có nụ cười thật đẹp. Bạn biết không, lần này nàng đồng ý.
Sau đó, nàng kể với tôi rằng nàng nghĩ vị hôn phu của mình đang nói dối về tình hình tài chính của anh ta – việc anh ta sở hữu xe gì và còn nợ bao nhiêu. Tôi nói với nàng: “Mình có thể tìm hiểu nếu cậu muốn.” Nàng nói, “Giúp mình nhé, được không?”
Hồi còn học cấp ba, tôi đã từng may mắn tấn công vào TRW, một công ty báo cáo tín dụng. Cũng không có gì trí tuệ cho lắm. Một đêm, tôi mò tới phía sau đại lý xe Galpin Ford ở Thung lũng San Fernando và lục tìm trong đống rác. Chỉ mất khoảng 15 phút nhưng cuộc thám hiểm nho nhỏ của tôi khá ra trò. Tôi tìm được cả đống báo cáo tín dụng của những người mua xe từ môi giới. Điều khó tin nhất là trong mỗi tờ giấy in ra đều có mã đăng nhập của Galpin vào TRW. (Đáng kinh ngạc hơn nữa là nhiều năm sau đó, họ vẫn liên tục in mã đăng nhập lên các bản báo cáo của mình.)
Thời đó, TRW rất tận tâm đối với khách hàng. Nếu bạn gọi điện tới và đọc tên người bán cũng như mã đăng nhập chính xác, đồng thời giải thích rằng bạn không hiểu rõ lắm về quy trình làm việc, một người phụ nữ tốt bụng sẽ hướng dẫn bạn từng bước một để có được bản báo cáo tín dụng của ai đó. Việc này rất hữu ích đối với khách hàng và cũng rất hữu ích đối với một hacker như tôi.
Do đó, khi Bonnie nói nàng muốn nhờ tôi kiểm tra tình hình tài chính của bạn trai, tôi đã có đủ các mánh khóe mình cần. Một cuộc gọi tới TRW cùng vài giờ thao tác trên máy tính đã giúp tôi có được bản báo cáo tín dụng của hắn ta cũng như tài khoản ngân hàng và danh mục tài sản sở hữu. Sự nghi ngờ được chứng thực: Hắn ta còn khuya mới đạt tới mức độ dư dả như vẫn tỏ vẻ, một số tài sản của hắn cũng đã bị đóng băng. Bản báo cáo của DMV cho thấy hắn vẫn sở hữu chiếc xe mà hắn nói với Bonnie mình đã bán. Tôi cảm thấy hơi tệ – tôi không định phá hỏng mối quan hệ của nàng. Nhưng sau đó, nàng đã chia tay vị hôn phu.
Mất khoảng 2-3 tuần để nàng vượt qua được sự đổ vỡ và chúng tôi bắt đầu hẹn hò. Dù lớn hơn tôi tới 6 tuổi và từng trải hơn tôi rất nhiều trong chuyện này, nàng vẫn nghĩ rằng tôi thực thông minh và bảnh trai, cho dù có hơi thừa cân. Đây là mối quan hệ nghiêm túc đầu tiên trong đời; tôi thấy mình như đang ở trên mây.
Bonnie và tôi đều thích ăn đồ Thái và đi xem phim. Nàng còn dụ được tôi leo núi, một thú vui vốn khác xa với những gì tôi vẫn muốn làm và chỉ cho tôi những con đường mòn xinh đẹp quanh ngọn núi San Gabriel. Nàng rất ấn tượng với khả năng trích nhặt thông tin từ mọi người của tôi. Còn có một sự tình cờ khiến tôi cười ngất: Bạn gái mới của tôi được nhận lương và học bổng từ một trong những đối tượng hacking chủ yếu của đời tôi, công ty điện thoại GTE.
Sau khi hoàn thành khóa học chứng chỉ kéo dài nửa năm tại phòng máy của trường, tôi quyết định ở lại thêm một thời gian. Adriel, quản trị viên (admin) hệ thống VMCMS của trường, đã cố tóm được tôi khi tôi thử giành quyền quản trị hệ thống. Cuối cùng, anh ấy đã bắt quả tang tôi nhờ náu mình sau tấm rèm phòng thiết bị đầu cuối, trong lúc tôi đang nhòm ngó bên trong thư mục của anh. Tuy vậy, thay vì tống tôi ra khỏi chương trình, anh rất ấn tượng với những kỹ năng cho phép tôi hack vào máy tính của trường. Do đó, anh đề nghị nếu tôi có thể viết một chương trình giúp các máy tính cỡ trung của IBM có độ bảo mật tốt hơn, anh sẽ coi đó như một “dự án danh dự”. Nhà trường đang trang bị cho các sinh viên kiến thức vượt chuẩn về máy tính, nhưng lại nhờ một sinh viên giúp cải thiện khả năng bảo mật của trường. Đây là nhiệm vụ lớn đầu tiên của tôi. Tôi coi nó như một lời khen và chấp nhận yêu cầu. Sau khi hoàn thành dự án, tôi được tốt nghiệp với tầm bằng danh dự.
Về sau, Ariel và tôi trở thành bạn bè.
Trung tâm Giảng dạy Máy tính có một sức hấp dẫn lớn đối với sinh viên theo học chương trình của họ: Một số công ty lớn sẽ tuyển dụng các sinh viên tốt nghiệp tại đây. Một trong số này có GTE, công ty của Bonnie, mục tiêu hacking của tôi trong nhiều năm. Thật tuyệt làm sao!
Sau buổi phỏng vấn với phòng IT của GTE, tôi lọt vào vòng trong với ba người khác từ phòng Nhân sự và được nhận vào vị trí lập trình viên. Giấc mơ đã trở thành hiện thực. Không còn phải hacking nữa – tôi không cần tới nó. Tôi sẽ được trả lương để làm việc mà tôi yêu thích, tại nơi mà tôi hằng mong muốn.
Công việc bắt đầu bằng buổi hướng dẫn nhân viên về tên và chức năng của các hệ thống máy tính trong GTE. Ố ồ! Đây là một công ty điện thoại: Tôi có thể đảm nhiệm vai trò giáo viên ở đây ấy chứ. Nhưng dĩ nhiên, tôi chỉ ngồi ở đó, ghi ghi chép chép hệt như mọi người.
Công việc mới tuyệt vời, những cuộc hẹn chớp nhoáng với bạn gái vào bữa trưa, khoản thu nhập chính thức – tôi đã có tất cả. Bước qua các văn phòng làm việc, tôi mỉm cười trước hàng trăm tên đăng nhập và mật khẩu viết trên các mẩu giấy nhớ dán ngay trước mắt. Tôi hệt như một gã cai nghiện trong chuyến thăm nhà máy cất rượu Jack Daniel, tự tin nhưng cũng đầy choáng váng bởi câu hỏi “Sẽ ra sao nếu..?” vang lên trong đầu.
Bonnie và tôi thường ăn trưa với một người bạn của nàng, một gã làm ở Phòng An ninh. Tôi luôn cẩn thận quay mặt thẻ ID của mình ra sau. Gã hiển nhiên cũng không để ý tên đầy đủ của tôi khi mới giới thiệu, vậy tội gì tôi phải để gã đọc được nó trên thẻ ID, như vậy thì khác gì tấm bảng nhấp nháy dòng chữ “Kẻ thù công khai số một của công ty điện thoại”?
Nhìn chung, đây chính là một trong những khoảng thời gian tuyệt vời nhất trong đời tôi – ai cần tới hacking cơ chứ?
Nhưng chỉ sau một tuần, vị sếp mới ném cho tôi một tin khủng bố. Ông ta đưa cho tôi tờ giấy đăng ký bảo mật để đăng ký lấy thẻ đăng nhập toàn quyền, đồng nghĩa với quyền ra vào trung tâm dữ liệu 24/7, vì tôi sẽ phải trực trong trường hợp khẩn cấp. Ngay lập tức, tôi biết mình sẽ bị tống cổ. Ngay khi nhân viên Phòng An ninh GTE nhìn vào giấy đăng ký của tôi, họ sẽ nhận ra tên tôi và tự hỏi làm thế quái nào tôi có thể vượt qua mọi quy trình kiểm tra lý lịch để được nhận vào làm ở vị trí lập trình viên.
Vài ngày sau, tôi đi làm trong cảm giác thấp thỏm lo âu. Sáng hôm đó, cấp trên cho gọi tôi đến và sếp của ông ta, Russ Trombley, đưa tôi tiền lương đã làm và khoản bồi thường nghỉ việc. Họ nói họ phải để tôi đi vì kết quả kiểm chứng với những người giới thiệu trong hồ sơ không tốt lắm. Rõ ràng là lấy cớ. Tôi vốn chỉ đưa ra tên những người sẽ nói tốt về tôi.
Tôi được đưa về chỗ ngồi để thu thập đồ dùng cá nhân. Trong vòng vài phút, một đội bảo vệ từ Phòng An ninh kéo đến, bao gồm cả người đã từng ăn trưa với tôi và Bonnie. Vài người trong số họ bắt đầu lục soát hộp đựng đĩa mềm của tôi xem có tài sản công ty không. Bất kể là gì. Không có gì ngoài vài phần mềm hợp pháp. Cả đội an ninh áp giải tôi ra cửa, tới tận xe ô tô. Liếc qua gương chiếu hậu khi lái xe xa dần, tôi thấy tất cả đều vẫy tay tạm biệt mình.
Sự nghiệp của tôi tại GTE kéo dài tổng cộng chín ngày.
Sau này, tôi biết rằng mấy người trong Phòng An ninh Pacific Bell đã chế giễu đồng nghiệp của họ tại GTE một trận lớn, thật nực cười khi một công ty nào đó có thể ngu ngốc tới mức nhận một phreaker tai tiếng như Kevin Mitnick vào làm việc – người mà Pacific Bell đã lưu trữ hồ sơ trong nhiều năm trời.
Một bước lùi, một bước tiến. Một thầy giáo ở Trung tâm Giảng dạy Máy tính, đồng thời là chuyên viên bảo mật thông tin tại Ngân hàng Security Pacific National đã gợi ý tôi có thể thử xin việc ở đó xem sao. Tôi tham dự ba cuộc phỏng vấn trong suốt vài tuần, buổi phỏng vấn cuối cùng là với Phó Chủ tịch ngân hàng. Sau đó là thời gian dài chờ đợi. Cuối cùng, tôi cũng nhận được cuộc gọi: “Một trong những ứng viên khác có cả bằng đại học, nhưng chúng tôi quyết định anh mới là người chúng tôi muốn.” Mức lương của tôi là 34.000 đô-la, với tôi đây là một khoản tuyệt vời.
Họ gửi một thông báo nội bộ tới tất cả nhân viên: “Chào mừng nhân viên mới Kevin Mitnick, anh ấy sẽ bắt đầu làm việc từ tuần sau.”
Hẳn các bạn còn nhớ tờ Los Angeles Times từng đăng một bài báo viết về lần tôi bị bắt thời niên thiếu và ghi đầy đủ cả họ tên tôi, một sự vi phạm pháp luật và xâm phạm quyền riêng tư cá nhân vì lúc đó tôi vẫn chỉ là trẻ vị thành niên. Tệ thay, một trong số nhân viên ở Ngân hàng Security Pacific National vẫn còn nhớ bài báo đó.
Một ngày trước khi vào làm, tôi nhận được một cuộc gọi kỳ lạ của Sandra Lambert, người đã nhận tôi vào làm và cũng là người sáng lập ra tổ chức an ninh có tên Hiệp hội An ninh Hệ thống Thông tin (ISSA). Buổi nói chuyện gần như một cuộc thẩm vấn:
SL: “Anh có chơi Hearts không?”
Tôi: “Trò chơi bài ấy hả?”
SL: “Đúng.”
Lòng tôi trĩu nặng, bữa tiệc có lẽ đã kết thúc.
SL: “Anh là người dùng ham radio với dấu hiệu gọi WA6VPS?”
Tôi: “Vâng.”
SL: “Anh có lục thùng rác sau mấy tòa văn phòng không?”
Tôi: Ậm ừ. “Chỉ khi nào tôi đói thôi.”
Nỗ lực tỏ ra hài hước của tôi thất bại. Lambert nói tạm biệt và kết thúc cuộc gọi. Tôi nhận được cú điện thoại từ Phòng Nhân sự ngay ngày hôm sau để hủy bỏ việc nhận tôi vào làm. Một lần nữa, quá khứ đã ngáng chân tôi thật đau đớn.
Một thời gian sau, các cơ quan ngôn luận nhận được báo cáo từ Ngân hàng Security Pacific National thông báo họ đã tổn thất 400 triệu đô-la trong vòng một quý. Báo cáo đó chỉ là một trò chơi khăm, không hoàn toàn do ngân hàng gửi bởi họ không hề mất xu nào trong quý đó. Dĩ nhiên, nhóm lãnh đạo nghĩ ngay rằng tôi là người đứng sau trò này. Tôi không hề biết gì tới tận vài tháng sau đó trong buổi điều trần tại tòa, khi bên khởi tố tố cáo với tòa rằng chính tôi đã thực hiện hành vi phá hoại này. Tôi chỉ nhớ mình có nói với Lewis De Payne về việc hủy lời mời làm việc. Nhiều năm sau, tôi hỏi liệu có phải cậu ta đã đứng sau vụ công bố giả mạo đó không. Nhưng cậu ta phản đối kịch liệt. Sự thực là, tôi không hề làm chuyện này. Đây không phải là phong cách của tôi: Tôi chưa từng có bất kỳ ý định trả thù xấu xa nào.
Cho tới giờ, bản báo cáo giả mạo đó vẫn là một trong những truyền thuyết về Kevin Mitnick.
Mặc cho mọi chuyện, tôi vẫn còn Bonnie, một trong những điều tuyệt vời nhất trong đời tôi. Nhưng bạn đã bao giờ cảm thấy khi một điều gì đó quá tốt đẹp, nó khó có thể tồn tại bền lâu chưa?
❀ ❀ ❀
[1] 37* Hợp ngữ (assembly language): Ngôn ngữ lập trình bậc thấp dùng để viết các chương trình máy tính. Ngoài ra nó còn đặc biệt được sử dụng để viết hệ điều hành. (BTV)