Rất nhiều gia đình Do Thái dù không mộ đạo vẫn muốn tổ chức lễ trưởng thành Bar mitzvah cho con trai họ và tôi nằm trong số đó. Buổi lễ bao gồm việc đứng trước đám đông và đọc một đoạn trong Kinh Torah – bằng tiếng Hebrew. Dĩ nhiên, tiếng Hebrew sử dụng một bảng chữ cái hoàn toàn khác biệt với các ký tự kiểu ב ,ךּ ,שּׁ, do đó, người đọc phải mất vài tháng mới có thể thành thạo một đoạn Kinh Torah.
Tôi đăng ký vào một trường Hebrew ở Sherman Oaks nhưng bị đuổi vì tội lười biếng. Mẹ tìm được một vị chỉ huy ban thánh ca để kèm riêng cho tôi, vì vậy tôi không thể né tránh bằng cách lén đọc sách công nghệ dưới gầm bàn nữa. Tôi xoay xở học vừa đủ để hoàn thành nhiệm vụ trong buổi lễ và đọc to đoạn Kinh Torah của mình trước cả giáo đường mà không vấp váp quá nhiều cũng như tự làm xấu mặt bản thân.
Sau buổi lễ, tôi bị cha mẹ mắng vì đã bắt chước giọng đọc và điệu bộ của rabbi[1]. Nhưng đó chỉ là vô thức. Sau này, tôi mới nhận ra đây là một kỹ thuật vô cùng hiệu quả vì con người thường bị cuốn hút bởi những người có nét giống họ. Vậy là ngay từ khi còn rất nhỏ, dù chưa nhận thức rõ nhưng tôi đã luyện tập cái được gọi là “tấn công bằng kỹ thuật xã hội”[2] – một phương thức thao túng người khác, dù vô tình hay cố ý, nhằm tác động đến họ và khiến họ thực hiện những điều thông thường không làm, trong đó bao gồm cả việc thuyết phục mà không khiến họ mảy may nghi ngờ.
Trong đống quà đặc trưng của họ hàng và những người tham dự buổi tiệc sau lễ trưởng thành ở nhà hàng Odyssey, tôi thu được một tấm trái phiếu chính phủ Mỹ với con số lớn đến kinh ngạc.
Tôi là một tên mọt sách. Một lần săn sách đã dẫn bước tôi tới tiệm Survival ở Bắc Hollywood. Đây là một tiệm sách nhỏ nằm trong một khu dân cư nhớp nhúa bẩn thỉu. Chủ tiệm, một người phụ nữ trung niên tóc vàng thân thiện, đã đề nghị tôi gọi cô bằng tên riêng thay vì họ. Bên trong cửa tiệm hệt như một chiếc rương kho báu. Thần tượng của tôi thời đó là Bruce Lee, Houdini, Jim Rockford – gã thám tử tư do James Garner thủ vai trong The Rockford Files (tạm dịch: Hồ sơ của Rockford), người có thể bẻ khóa, thao túng mọi người và khoác lên mình bất kỳ thân phận nào trong nháy mắt. Tôi muốn mình có thể làm tất cả mọi thứ chất như Rockford đã làm.
Tiệm sách Survival chứa đầy những cuốn sách mô tả cách để làm được mọi thứ giống như Rockford và cả nhiều thứ khác. Từ năm 13 tuổi, tôi đã dành rất nhiều dịp cuối tuần tại đây, nghiên cứu hết cuốn sách này đến cuốn sách khác suốt cả ngày – chẳng hạn như The Paper Trip (tạm dịch: Hành trình giấy) của Barry Reid với nội dung kể về cách tạo ra một thân phận mới bằng giấy khai sinh của ai đó đã qua đời.
Cuốn The Big Brother Game (tạm dịch: Trò chơi Anh Cả) của Scott French đã trở thành Thánh Kinh của tôi. Cuốn sách hướng dẫn cụ thể cách có được bằng lái xe, giấy sở hữu tài sản, lịch sử tín dụng, thông tin ngân hàng, số điện thoại không đăng ký và cả thông tin từ sở cảnh sát. (Rất lâu sau này, khi một người Pháp viết tiếp câu chuyện, anh ta đã gọi điện đề nghị tôi viết một chương về các phương pháp tấn công bằng kỹ thuật xã hội nhắm tới các công ty điện thoại. Tại thời điểm đó, tôi và đồng sự đang viết cuốn sách thứ hai, The Art of Intrusion (tạm dịch: Nghệ thuật xâm nhập), tôi quá bận nên không thể nhận dự án này dù khá thích thú vì sự trùng hợp này cũng như khá vui vì đã được mời.)
Tiệm sách chứa đầy những cuốn sách “ngầm” dạy bạn những điều lẽ ra không được biết – với một kẻ luôn mang trong mình khao khát có được thứ tri thức từ trái táo cấm, chúng chính là một kho vàng. Tôi đắm chìm trong những kiến thức này, để rồi cuối cùng chúng trở nên vô giá trong suốt thời gian trốn chạy gần hai thập niên sau đó.
Ngoài sách ra, còn có một món đồ hấp dẫn khác trong cửa tiệm: những dụng cụ bẻ khóa giảm giá. Tôi mua vài loại khác nhau. Bạn có nhớ câu chuyện hài cổ này: “Làm thế nào để đến được Carnegie Hall? Luyện tập, luyện tập, luyện tập”?[3] Đó chính là những gì tôi đã làm để thành thạo nghệ thuật bẻ khóa. Đôi khi, tôi cũng xuống khu vực có dãy tủ chứa đồ của người thuê nhà trong tòa chung cư, cạy mở vài chiếc khóa bấm, đổi chỗ cho nhau rồi khóa lại. Lúc ấy, tôi chỉ nghĩ đó là một trò đùa vui vẻ, giờ nghĩ lại, một số người hẳn đã phát điên và rơi vào một đống rắc rối cộng thêm việc phải mua một chiếc khóa mới sau khi xoay xở vứt bỏ chiếc khóa cũ. Tôi đoán là trò đùa chỉ vui khi bạn còn là một tên nhóc con.
Năm 14 tuổi, một hôm tôi đi chơi cùng bác Mitchell, ngôi sao sáng của đời tôi thuở ấy. Chúng tôi ghé qua Cục Cấp phép Phương tiện Cơ giới (DMV) và thấy rất đông người ở đó. Tôi đứng ngoài đợi trong khi bác Mitchell bước thẳng vào quầy thu ngân – lướt thẳng qua mặt tất cả những người đang xếp hàng. Nhân viên sở, một người phụ nữ với vẻ mặt chán nản, ngước lên đầy ngạc nhiên. Bác Mitchell cũng chẳng buồn đợi cô ta xong việc đang làm với người đàn ông bên cửa sổ mà cất lời luôn. Bác chỉ nói vài lời, sau đó cô nhân viên kia gật đầu, ra hiệu cho người đàn ông nọ bước sang một bên, rồi xử lý việc gì đó mà bác Mitchell yêu cầu. Bác tôi có một loại tài năng đặc biệt trong cách đối xử với mọi người.
Có vẻ tôi cũng được thừa hưởng gen đó. Đây là lần đầu tiên tôi ý thức được về phương pháp tấn công bằng kỹ thuật xã hội.
Mọi người nói gì về tôi thời còn học cấp ba ở trường Monroe? Các thầy cô có lẽ sẽ nói rằng tôi chỉ luôn làm những điều kỳ quặc. Trong khi bạn bè làm việc trong các tiệm sửa chữa tivi thì tôi lại nối gót Steve Jobs và Steve Wozniak tạo ra một chiếc hộp xanh cho phép tôi thao túng hệ thống điện thoại, thậm chí là để gọi điện miễn phí. Tôi luôn mang bên mình chiếc ham radio cầm tay và nói chuyện vào đó suốt giờ ăn và giờ nghỉ.
Một cậu bạn đồng môn đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Steven Shalita là một anh chàng kiêu căng không ngừng mơ tưởng sau này trở thành một cảnh sát mật – xe của hắn gắn đầy ăng-ten radio. Hắn thích thể hiện mấy trò bịp bằng điện thoại, và thực sự có thể làm ra những điều kỳ diệu. Shalita biểu diễn cách người khác gọi điện cho hắn mà không để lộ cho họ biết số điện thoại thực của mình bằng cách dùng mạch kiểm tra của công ty điện thoại gọi là “loop-around” (vòng lặp vòng quanh); hắn có thể gọi đến một trong những số điện thoại của một vòng (loop) trong khi người khác đang gọi số thứ hai của vòng đó. Hai người gọi sẽ kết nối với nhau một cách thần kỳ. Hắn có thể có được tên và địa chỉ của bất kỳ số điện thoại nào, dù họ có đăng ký hay không, nhờ gọi tới Cục Tên và Địa chỉ Khách hàng (Customer Name and Addres – CAN) của công ty điện thoại. Chỉ với một cuộc gọi, hắn đã có được số điện thoại chưa từng đăng ký của mẹ tôi. Quá tuyệt! Hắn có thể có được số điện thoại và địa chỉ của bất kỳ ai, thậm chí là một ngôi sao điện ảnh với số không đăng ký. Cứ như thể mấy gã ở công ty điện thoại sinh ra để phục vụ hắn vậy.
Tôi bị mê hoặc, thích thú và ngay lập tức trở thành chiến hữu của Shalita, luôn háo hức tìm cách học được tất cả những mánh khóe thần kỳ nhất đó. Nhưng Shalita chỉ có hứng thể hiện mánh khóe của mình thay vì chỉ cho tôi cách, làm sao hắn có thể áp dụng các kỹ năng tấn công bằng kỹ thuật xã hội với những người hắn đang trò chuyện.
Không lâu sau đó, tôi đã học được gần như mọi thứ mà Shalita sẵn lòng chia sẻ về phone phreaking,[4] đồng thời dành hầu hết thời gian rảnh để khám phá mạng viễn thông, tự mày mò và học được cả những gì Shalita không biết. Các phreaker có một mạng xã hội riêng. Tôi bắt đầu làm quen với những người có chung sở thích và đến các buổi giao lưu, dù phải nói rằng vài người trong số họ khá lập dị – xa rời xã hội và chẳng có gì thú vị.
Có vẻ tôi khá có khiếu với trò tấn công bằng kỹ thuật xã hội của phreaking. Liệu tôi có thể thuyết phục kỹ thuật viên của công ty điện thoại lái xe tới một “CO” (văn phòng trung tâm – trung tâm chuyển mạch của khu dân cư, nơi kết nối các cuộc gọi đến và đi từ điện thoại) vào nửa đêm để kết nối một mạch “khẩn cấp” chỉ vì anh ta nghĩ tôi thuộc một CO khác, hay là nhân viên gác đường dây trong vùng không ư? Quá dễ. Tôi vốn biết mình có tài trong khoản này, nhưng chính Shalita đã dạy cho tôi biết năng lực này có sức mạnh tới cỡ nào.
Mẹo rất đơn giản. Trước khi bắt đầu tấn công phi kỹ thuật vì mục đích nào đó, bạn phải thăm dò trước. Bạn cần kết nối các mẩu thông tin rời rạc về công ty này với nhau, bao gồm các ban ngành hay đơn vị kinh doanh hoạt động thế nào, chức năng là gì, nhân viên trong đó có quyền truy nhập những thông tin nào, quy trình chuẩn để đưa ra yêu cầu ra sao, họ thường đưa ra yêu cầu với ai, ở điều kiện nào thì các thông tin mong muốn được tiết lộ, cả tiếng lóng và các thuật ngữ thường dùng trong công ty nữa.
Tấn công bằng kỹ thuật xã hội thường hiệu quả đơn giản vì mọi người có xu hướng tin tưởng ai đó vốn tạo dựng được sự tín nhiệm, ví dụ như một nhân viên ủy quyền của công ty. Đó chính là lúc cần nghiên cứu. Khi đã chuẩn bị đầy đủ để có được số điện thoại không công khai, tôi gọi điện cho một trong những đại diện phòng kinh doanh của công ty điện thoại và nói: “Tôi là Jake Roberts từ Cục Không Công khai. Tôi cần nói chuyện với người phụ trách.”
Khi người phụ trách cầm máy, tôi giới thiệu bản thân một lần nữa và nói: “Chị đã nhận được thông báo về việc chúng ta thay đổi số điện thoại chưa?”
Cô ta kiểm tra một chút, sau đó quay lại và nói: “Chúng tôi chưa biết việc đó.”
Tôi nói: “Chị đang dùng số 213 687-9962 đúng không?”
“Không,” Cô ta đáp. “Chúng tôi dùng số 213 320-0055.”
Tèn ten!
“Được rồi,” tôi trả lời. “Chúng tôi sẽ gửi thư báo cấp 2 liên quan đến việc thay đổi” – đây là tiếng lóng của công ty điện thoại mà các quản lý thường dùng. “Tạm thời cô cứ tiếp tục dùng số 320-0055 nhé.”
Nhưng khi gọi cho Cục Không Công khai, tôi mới biết hóa ra tên tôi nằm trong danh sách những người được ủy quyền và phải có số điện thoại nội bộ thì mới được cung cấp thông tin khách hàng. Một người thực hiện tấn công bằng kỹ thuật xã hội còn non tay hoặc thiếu khả năng có lẽ sẽ bỏ cuộc. Điều không hay là việc này sẽ làm dấy lên nghi ngờ.
Vận dụng khả năng ứng khẩu của mình, tôi nói: “Quản lý của tôi nói anh ấy đã đưa tên tôi vào danh sách. Tôi sẽ báo lại là cô vẫn chưa nhận được thư báo.”
Còn một chướng ngại khác: Bằng cách nào đó, tôi phải trình ra được số điện thoại nội bộ của công ty.
Tôi phải gọi tới ba phòng kinh doanh khác nhau để tìm ra một vị quản lý thứ cấp là nam giới – người mà tôi có thể giả mạo được. Tôi nói với anh ta, “Tôi là Tom Hansen tới từ Cục Không Công khai. Chúng tôi đang cập nhật lại danh sách các nhân viên có thẩm quyền. Anh có cần ở trong danh sách không?”
Đương nhiên anh ta nói có.
Sau đó, tôi nói anh ta đánh vần tên và cho tôi biết số điện thoại. Dễ như ăn kẹo vậy.
Cuộc gọi kế tiếp là tới RCMAC – Trung tâm Ủy quyền Lưu trữ Thay đổi,[5] một đơn vị của công ty điện thoại có nhiệm vụ thêm vào hoặc bỏ đi các dịch vụ điện thoại khách hàng, chẳng hạn như các tính năng gọi điện tùy chỉnh. Tôi gọi điện trên danh nghĩa quản lý phòng kinh doanh, dễ dàng thuyết phục viên thư ký thêm dịch vụ chuyển tiếp cuộc gọi tới đường dây của viên quản lý bởi số điện đó thuộc về công ty Pacific Telephone.
Mọi chuyện diễn ra cụ thể như sau: Tôi gọi điện cho kỹ thuật viên ở văn phòng trung tâm. Nghĩ rằng tôi là kỹ sư sửa chữa hiện trường, anh ta nối máy cho tôi vào đường dây của quản lý thông qua một thiết bị cầm tay của nhân viên đường dây và gọi tới số tôi đã đưa, nhờ đó, chuyển tiếp thành công cuộc gọi từ điện thoại của quản lý vào mạch vòng “loop-around” của công ty điện thoại. Mạch vòng là một mạch đặc biệt có hai con số gắn liền với nó. Khi hai bên gọi vào mạch vòng nhờ quay các số tương ứng, họ sẽ được kết nối một cách thần kỳ như thể là họ đã gọi cho nhau.
Tôi quay số vào mạch vòng và kết nối ba chiều bằng một số chỉ đổ chuông. Khi Cục Không Công khai gọi điện tới máy vị quản lý được ủy quyền kia, cuộc gọi sẽ được chuyển tiếp vào vòng, và người gọi có thể nghe tiếng điện thoại chờ kết nối. Tôi để bên kia nghe vài lần chuông đổ, sau đó trả lời: “Steve Kaplan của công ty điện thoại Pacific Telephone xin nghe.”
Lúc này, người bên kia đầu dây có thể cung cấp cho tôi bất kỳ thông tin không công khai nào mà tôi cần. Sau đó, tôi gọi điện lại cho tay kỹ thuật viên và hủy chế độ chuyển tiếp cuộc gọi.
Thử thách càng lớn, tôi càng thấy hào hứng. Mẹo này đã hiệu quả trong nhiều năm và tới giờ có lẽ vẫn có tác dụng.
Qua một loạt các cuộc gọi khác nhau – người ta sẽ nghi ngờ nếu tôi gọi cho Cục Không Công khai để hỏi số điện thoại của nhiều người nổi tiếng một lúc – tôi đã có được số điện thoại và địa chỉ của Roger Moore, Lucille Ball, James Garner, Bruce Springsteen và nhiều người khác. Đôi khi, họ quả thực đã nhấc máy, tôi sẽ chào vài câu đại loại như: “Chào Bruce, dạo này anh thế nào?” Việc này chẳng gây hại gì cho ai, chỉ đơn giản là tôi thấy thích thú khi có được bất kỳ số điện thoại nào mình muốn mà thôi.
Có một khóa học về máy tính ở trường cấp ba Monroe. Tôi vốn không đủ điều kiện đăng ký do chưa qua môn Toán và Khoa học như yêu cầu, nhưng thầy Christ phụ trách môn đã nhận tôi vào học sau khi thấy sự hào hứng của tôi và biết tôi đã tự học được khá nhiều. Tôi nghĩ hẳn sau đó thầy sẽ thấy hối hận về quyết định này của mình: Tôi là một tay gây rối khó chịu. Tôi thường ăn trộm mật khẩu kết nối vào máy tính cỡ trung[6] của trường mỗi khi thầy đổi mật khẩu mới. Tuyệt vọng và cố gắng tỏ ra trên cơ tôi, thầy đã dập lỗ mã mật khẩu trên băng giấy máy tính[7], một phương thức lưu trữ dữ liệu thường dùng trước thời đĩa mềm (floppy disk). Như vậy, thầy có thể đưa giấy vào máy đọc băng mỗi lần cần đăng nhập máy tính. Nhưng thầy Christ để mẩu giấy đục lỗ đó trong túi áo sơ mi và không khó để nhìn ra các chấm lỗ qua lớp vải áo mỏng. Một vài người bạn cùng lớp đã giúp tôi đoán được dải lỗ trên băng và biết được mật khẩu mới nhất của thầy sau mỗi lần thầy thay mới. Thầy chưa từng phát hiện ra điều này.
Thế rồi nhà trường lắp điện thoại trong phòng thí nghiệm máy tính – một dạng điện thoại kiểu cũ với vòng quay số. Chiếc điện thoại này được lắp đặt chỉ để gọi cho các số nội bộ trong phòng giáo dục địa phương. Bằng việc gọi điện cho người phụ trách chuyển mạch: “Tôi là Christ đây. Tôi cần nối máy ra ngoài,” tôi đã có thể dùng điện thoại kết nối vào máy tính của Đại học Nam California (USC) để chơi điện tử. Sau vài cuộc gọi như vậy, khi người phụ trách bắt đầu nghi ngờ, tôi chuyển sang các mẹo phreaking, trực tiếp gọi điện tới phòng chuyển mạch của công ty điện thoại và đề nghị hủy các thiết lập hạn chế, để có thể nối máy tới USC bất kỳ khi nào muốn. Cuối cùng, thầy Christ cũng phát hiện ra việc tôi đã xoay xở để thực hiện rất nhiều cuộc gọi không giới hạn.
Không lâu sau, thầy tự hào tuyên bố với cả lớp rằng thầy sẽ dứt khoát chặn đứng tôi, và khoe một chiếc khóa được chế tạo đặc biệt dành cho điện thoại quay số: Khi khóa chốt ở vị trí số “1”, vòng quay sẽ không thể xoay tới các vị trí số khác.
Ngay khi thầy gắn khóa trước mặt cả lớp, tôi nhấc tay cầm ống nghe điện thoại lên và bắt đầu ấn vào móc chuyển đổi: Chín lượt bấm nhanh để quay số “9” kết nối mạng bên ngoài, Bảy lượt bấm nhanh để quay số “7”. Bốn lượt bấm nhanh cho số “4”. Chỉ trong vòng một phút, tôi đã kết nối tới USC.
Với tôi, đây chỉ là một trò láu cá. Nhưng thầy Christ tội nghiệp đã bị bẽ mặt trước cả lớp. Thầy đỏ mặt tía tai tóm lấy chiếc điện thoại trên bàn và ném thẳng xuống cuối lớp.
Thời đó, khi tôi đang tự học về RSTSE (đọc là RIS-tisEE), một hệ điều hành do Digital Equipment Corporation (DEC – Công ty trang thiết bị số) sản xuất, chuyên dùng trong các máy tính cỡ trung của trường học ở vùng trung tâm Los Angeles. Cơ sở Cal State của trường Northridge (SCUN) gần đó cũng dùng hệ điều hành RSTSE cho máy tính của họ. Tôi đặt lịch hẹn với ngài Wes Hampton, trưởng khoa Khoa học Máy tính của trường, và nói: “Cháu thực sự muốn học về máy tính. Liệu cháu có thể mua một tài khoản để sử dụng máy ở đây không?”
“Không, máy chỉ dành cho các sinh viên của trường thôi.”
Bỏ cuộc dễ dàng không phải là tính cách của tôi. “Phòng thí nghiệm máy tính ở trường cấp ba của cháu sẽ đóng cửa vào cuối ngày, tầm 3 giờ chiều. Liệu ngài có thể xây dựng một chương trình giúp các học sinh cấp ba học trên máy tính của trường ngài không?”
Lúc đó, ông từ chối nhưng sau đấy đã gọi lại cho tôi. “Chúng tôi đã quyết định cho phép cậu dùng máy ở đây,” ông nói. “Chúng tôi không thể cung cấp cho cậu tài khoản bởi cậu không phải là sinh viên, do vậy tôi sẽ cho cậu dùng tài khoản cá nhân của tôi. Tài khoản là ‘5,4’ và mật khẩu là ‘Wes.’”
Người đàn ông này là trưởng khoa Khoa học Máy tính, và đối với ông ấy đây là một mật khẩu an toàn ấy hả – tên riêng ư? An ninh mạng cơ đấy!
Tôi bắt đầu mày mò tự học ngôn ngữ Fortran và các ngôn ngữ lập trình cơ bản. Chỉ sau vài tuần ở lớp học máy tính, tôi đã viết một chương trình để đánh cắp mật khẩu của mọi người: Một sinh viên cố gắng đăng nhập vào một cửa sổ trông hệt như cửa sổ đăng nhập quen thuộc nhưng hóa ra đó là chương trình giả mạo hệ điều hành của tôi, được thiết kế để lừa các sinh viên nhập vào đó tài khoản và mật khẩu (tương tự như hình thức tấn công phising[8] ngày nay). Thực ra, một quản lý phòng thí nghiệm CSUN đã giúp tôi sửa lỗi các dòng mã – anh ta cho rằng việc một cậu học sinh cấp ba cố gắng tìm cách đánh cắp mật khẩu của người khác đúng là một chuyện khôi hài. Khi chương trình nhỏ của tôi hoàn thiện và bắt đầu chạy trong phòng thí nghiệm, bất kể khi nào có người đăng nhập, tên và mật khẩu của họ sẽ được bí mật lưu lại trong một tập tin.
Tại sao ư? Tôi và bạn bè đều nghĩ thật tuyệt khi có được mật khẩu của tất cả mọi người. Không có kế hoạch gây họa nào cả, chỉ đơn thuần là thu thập thông tin vì thích vậy thôi. Chỉ vì đây là một trong những thử thách mà tôi không ngừng đặt ra cho bản thân trong suốt những năm tháng tuổi trẻ, từ khi tôi bắt đầu nhìn thấy trò ảo thuật đầu tiên. Liệu tôi có thể làm được như vậy không? Liệu tôi có học được cách qua mặt mọi người không? Liệu tôi có thể có được thứ quyền lực lẽ ra không nên có không?
Một thời gian sau đó, một quản lý phòng thí nghiệm đã tố cáo tôi với người quản lý hệ thống. Sau đó, ba bảo vệ an ninh trường đã xồng xộc lao vào phòng thí nghiệm. Họ bắt giữ tôi cho tới khi mẹ tôi đến đón.
Trưởng khoa, người đã cho tôi quyền sử dụng phòng thí nghiệm và cho phép tôi đăng nhập vào tài khoản của ông, đã nổi điên. Nhưng ông chẳng thể làm được gì: Thời đó vẫn chưa có luật chính thức về máy tính để phạt tôi. Dù vậy, đặc quyền dành cho tôi đã kết thúc và tôi được yêu cầu tránh xa khu vực trường học.
Mẹ tôi được cảnh báo: “Từ tháng sau, California sẽ chính thức ra luật định mới, khi đó hành vi của Kevin sẽ là phạm pháp.” (Tới tận bốn năm sau đó, Quốc hội Mỹ mới thông qua đạo luật liên bang về tội phạm máy tính, nhưng có lẽ chuỗi hành vi của tôi cũng góp phần đẩy nhanh việc đó.)
Dù sao đi nữa, tôi cũng không chùn bước trước những lời dọa dẫm. Không lâu sau khi chuyện đó xảy ra, tôi đã tìm ra cách để làm chệch hướng các cuộc gọi từ những người ở Rhode Island tới tổng đài cung cấp số điện thoại và nối chúng tới máy của tôi. Tôi đã bày trò giỡn chơi với mấy người đang cần tìm số điện thoại như thế nào ư? Một cuộc gọi điển hình sẽ diễn ra như sau:
Tôi: Thành phố nào thưa ngài?
Người gọi: Providence.
Tôi: Tên gì thưa ngài?
Người gọi: John Norton.
Tôi: Cơ sở kinh doanh hay nhà riêng?
Người gọi: Nhà riêng.
Tôi: Số điện thoại là 836, 5 một-nửa 66
Tới lúc này, người gọi thường sẽ ngơ ngác hoặc nổi xung lên.
Người gọi: Tôi quay một-nửa thế nào?
Tôi: Ngài hãy ra ngoài kiếm cái điện thoại mới có số một-nửa trên đó ấy.
Phản ứng của họ thực sự rất tức cười.
Thời đó, có hai công ty điện thoại riêng biệt cung cấp dịch vụ trên các khu vực khác nhau ở Los Angeles. Công ty General Telephone and Electronics (GTE) phụ trách phía bắc Thung lũng San Fernado nơi chúng tôi sống. Bất kỳ cuộc gọi nào có khoảng cách hơn 19km đều bị tính ở mức giá dành cho cuộc gọi đường dài. Dĩ nhiên, tôi không muốn tạo áp lực lên hóa đơn điện thoại của mẹ, do đó tôi đã thực hiện vài cú điện thoại qua miếng vá tự động của máy ham radio địa phương.
Một ngày nọ, tôi đã nổi xung lên với tay trực bộ chuyển tiếp sóng[9] chỉ vì “những cú điện thoại quái đản” của tôi, theo cách mà ông ta gọi. Ông ta để ý thấy tôi thường nhấn những chuỗi dài các số khi sử dụng miếng vá tự động. Tôi cũng không định giải thích rằng những dãy số đó là để gọi các cuộc gọi miễn phí thông qua một nhà cung cấp dịch vụ cuộc gọi đường dài có tên là MCI. Dù không biết rõ tôi thực sự làm gì, nhưng ông ta không thích tôi sử dụng miếng vá tự động theo kiểu kỳ lạ như vậy. Một người nghe được cuộc tranh cãi này đã liên lạc với tôi qua sóng vô tuyến điện. Cậu ta giới thiệu mình tên là Lewis De Payne và cho tôi số điện thoại. Tôi gọi điện cho cậu ta ngay tối hôm đó. Lewis nói cậu ta rất ấn tượng với những gì tôi đã làm.
Chúng tôi hẹn gặp và trở thành bạn bè, mối quan hệ kéo dài tới hai thập kỷ. Thừa hưởng dòng máu Argentina, Lewis là một kẻ nghiền công nghệ[10], trông khá mảnh khảnh với mái tóc đen ngắn, bóng mượt và vuốt ngược ra sau cùng hàng ria mép mà có lẽ cậu ta nghĩ có thể khiến mình trông già dặn hơn. Trong các dự án hacking, Lewis là người khiến tôi tin tưởng nhất dù con người cậu ta đầy mâu thuẫn. Lịch sự nhưng luôn muốn nắm quyền kiểm soát. Gã mọt sách với thứ thời trang áo cổ lọ và quần loe lỗi thời nhưng cũng đầy lịch thiệp. Không quá sôi nổi nhưng lại ngạo mạn, kiêu căng.
Lewis và tôi đều có khiếu hài hước. Tôi cho rằng bất kỳ sở thích nào nếu không mang lại niềm vui và tiếng cười thì đều không đáng mất thời gian và tâm sức. Lewis và tôi bắt được sóng của nhau. Ví dụ như “Trò hack McDonald’s”. Chúng tôi phát hiện ra cách điều chỉnh vô tuyến điện sóng 2m giúp giọng nói của mình có thể phát ra từ loa đặt tại khu vực gọi đồ ăn drive-through[11] trong các quán ăn nhanh. Chúng tôi lái xe tới gần McDonald’s, đỗ xe gần đó để có thể quan sát mà không bị phát hiện, sau đó điều chỉnh tần số của chiếc radio cầm tay khớp với tần số của nhà hàng.
Một xe cảnh sát rẽ vào đường drive-through. Khi tới gần loa, Lewis và tôi sẽ đọc thông báo: “Rất xin lỗi. Ở đây chúng tôi không phục vụ cảnh sát. Anh hãy chuyển qua Jack in the Box đi!” Còn có một người phụ nữ dừng xe và nghe giọng phát thanh qua loa (của tôi): “Hãy cho tôi xem ngực cô, đổi lại chiếc Big Mac này sẽ miễn phí!” Cô ta phản ứng khá dữ dội, tắt xe, vớ lấy thứ gì đó sau cốp và chạy vào trong… tay cầm theo chiếc gậy bóng chày.
“Nước táo tặng kèm” là một trong những trò khoái trí nhất của tôi. Sau khi khách hàng gọi đồ, chúng tôi giải thích rằng máy làm đá bị hỏng, do đó, chúng tôi sẽ tặng nước quả miễn phí. “Chúng tôi có nước nho, nước cam, và… a xin lỗi, có vẻ như chúng tôi đã hết nước nho và cam. Anh có thích nước táo không?” Khi khách hàng nói có, chúng tôi sẽ bật đoạn ghi âm một người đang tè vào cốc, và nói: “Được rồi. Nước táo của anh đã xong. Mời anh lái xe tới cửa sổ để nhận.”
Chúng tôi khoái trá khi khiến mọi người phát điên vì không thể gọi được đồ. Mỗi khi có khách hàng dừng xe và đặt đồ, một người bạn của chúng tôi sẽ lặp lại yêu cầu của họ qua loa bằng thứ giọng Ấn Độ rất nặng, khó mà nhận ra anh ta đã nói từ gì. Vị khách trả lời rằng anh ta không hiểu, và bạn tôi lại nói gì đó mà vị khách kia cũng không thể hiểu, cứ lặp đi lặp lại như vậy – cho đến khi khách hàng phát điên, hết người này tới người khác.
Phần tuyệt nhất là mọi lời chúng tôi nói tại cửa drive-through sẽ phát ra om sòm trên loa, và nhân viên bên trong cửa hàng không thể chèn tiếng họ vào. Thỉnh thoảng, chúng tôi thấy mấy vị khách ngồi bàn ngoài vừa ăn bánh kẹp vừa cười sặc sụa. Không ai phát hiện ra chuyện gì đã diễn ra.
Có lần, người quản lý chạy ra ngoài để xem ai đã bày trò với chiếc loa phát. Ông ta liếc quanh khu đỗ xe, rồi gãi đầu. Không có ai xung quanh. Mọi chiếc xe đều trống không. Không có ai núp sau những tấm biển. Ông ta bước tới chiếc loa và nghiêng người tới gần, liếc nhìn như thể trông đợi có thể phát hiện ra một người tí hon nào đó ở trong.
“Ông nhìn cái quái gì thế?” Tôi gào lên như thể đang giận dữ.
Ông ta có lẽ đã lăn đùng ngã ngửa.
Đôi khi, cũng có những người sống ở khu chung cư quanh đó đứng trên ban công cười bò trước trò giỡn của chúng tôi. Cả những người đi bộ trên đường cũng không nhịn được cười. Vài lần, Lewis và tôi cũng rủ thêm bạn bè theo, vì trò này thực sự rất khôi hài.
Thôi được, tôi biết việc tôi làm thật trẻ con, nhưng dạo đó tôi cũng chỉ 16, 17 tuổi thôi mà.
Một số hành động bừa bãi của tôi không hề vô thưởng vô phạt. Tôi có một nguyên tắc riêng, đó là không đột nhập vào các công ty điện thoại, dù điều đó có thể giúp tôi đăng nhập vào hệ thống và đọc được vài tài liệu hướng dẫn kỹ thuật của họ. Dĩ nhiên, đối với tôi, đây là “định hướng” hơn là nguyên tắc.
Một buổi tối năm 1981, khi 17 tuổi, tôi chơi với một tay phreaker khác có tên Steve Rhoades. Chúng tôi quyết định sẽ lẻn vào phòng trung tâm Sunset-Gover của công ty điện thoại Pacific Telephone ở Hollywood. Vì chúng tôi đã hack vào mạng lưới điện thoại trước đó, nên việc trực tiếp thâm nhập vào một công ty điện thoại là thử thách cuối cùng. Để vào được bên trong, chúng tôi cần ấn đúng mã số cửa. Nhờ tấn công bằng kỹ thuật xã hội, việc có được mã số cũng không phải là vấn đề gì to tát. Chúng tôi tiến thẳng vào trong.
Lạy Chúa – quá tuyệt! Đối với chúng tôi, đây là sân chơi cuối cùng. Nhưng chúng tôi nên tìm cái gì đây?
Một người đàn ông to lớn trong trang phục bảo vệ đi kiểm tra quanh tòa nhà và tóm được chúng tôi. Anh ta chẳng khác nào một gã vệ sĩ trong các câu lạc bộ đêm hay tiền vệ bóng bầu dục chơi trong Giải Bóng Bầu dục Mỹ – trông rất đáng sợ. Anh ta chỉ cần đứng yên đó, hai tay buông lơi đã đủ dọa người khác sợ đến tụt quần. Nhưng không hiểu sao, tình huống càng căng thẳng, tôi lại càng trở nên bình tĩnh.
Dù không có vẻ già dặn giống một nhân viên công ty, nhưng tôi vẫn chủ động tiến đến. “Chào anh,” tôi nói. “Anh thế nào?”
Gã bảo vệ nói: “Tốt, thưa ngài. Tôi có thể xem thẻ ID của ngài được không?”
Tôi kiểm tra các túi. “Chết tiệt! Chắc tôi để trên xe rồi. Để tôi chạy ra lấy nhé.”
Anh ta không dễ mắc lừa. “Không, mời cả hai anh cùng lên tầng trên với tôi.”
Chúng tôi không tranh cãi.
Anh ta đưa chúng tôi lên Trung tâm Kiểm soát Chuyển mạch ở tầng 9, nơi các nhân viên khác đang làm việc.
Tim đập thình thịch. Thở không ra hơi.
Vài tay kỹ sư chuyển mạch tiến đến xem có chuyện gì xảy ra. Tôi nghĩ lựa chọn duy nhất lúc này là tháo chạy để thoát khỏi gã bảo vệ, nhưng dù vậy thì khả năng trốn được cũng rất mong manh. Tôi thấy tuyệt vọng, như thể tôi chỉ cách những chấn song nhà tù một bước nữa thôi.
Nhưng tại thời điểm đó, tôi đã biết đủ tên và các chức vụ ở Pacific Telephone để thử thêm vài mánh khóe. Tôi giải thích: “Tôi làm việc tại COSMOS ở San Diego, và tôi đang chỉ cho một người bạn thăm quan văn phòng trung tâm một chút. Anh có thể gọi cho sếp của tôi để kiểm tra.” Và tôi đưa cho anh ta tên của một người giám sát ở COSMOS. Ơn giời, tôi có một trí nhớ khá tốt. Dù tôi biết chúng tôi trông không giống như người thuộc về nơi này và câu chuyện tôi bịa ra đúng là nhảm nhí.
Gã bảo vệ tìm tên của người giám sát trong sổ danh bạ liên công ty, tìm số máy bàn và gọi điện. Reng, reng, reng. Anh ta xin lỗi vì đã gọi điện vào giờ này và giải thích tình huống xảy ra.
Tôi nói: “Để tôi nói chuyện với cô ấy.”
Anh ta đưa điện thoại cho tôi. Tôi dí sát ống nghe vào tai, hy vọng anh ta không nghe thấy tiếng người nói trong điện thoại và phát huy khả năng ứng biến của mình: “July, xin lỗi cô nhưng tôi đang đưa bạn đi thăm một vòng trung tâm chuyển mạch và để quên thẻ ID trong xe. Anh bảo vệ chỉ muốn xác minh việc tôi thuộc trung tâm COSMOS ở San Diego. Tôi hy vọng cô không để bụng.”
Tôi ngừng vài nhịp, giả vờ đang lắng nghe câu trả lời. Cô ta gào lên trong điện thoại. “Anh là ai? Tôi có biết anh không? Anh đang làm gì ở đấy?”
Tôi lại bắt đầu. “Chỉ là đằng nào tôi cũng phải ở đây vào buổi sáng vì vụ sổ tay hướng dẫn đào tạo mới. Tôi còn có buổi gặp xét duyệt với Jim vào 11 giờ thứ Hai nữa, nếu cô muốn tham gia. Chúng ta vẫn giữ lịch hẹn ăn trưa vào thứ Ba chứ?”
Tôi ngừng lại một chút. Cô ta vẫn tiếp tục quát mắng.
“Chắc rồi! Xin lỗi vì đã làm phiền cô,” tôi nói.
Và rồi tôi gác máy.
Gã bảo vệ và mấy tay kỹ sư chuyển mạch trông có vẻ bối rối; họ nghĩ tôi sẽ đưa lại máy cho bảo vệ để vị giám sát này có thể khẳng định mọi chuyển vẫn ổn. Các bạn có thể tưởng tượng được khuôn mặt của gã bảo vệ lúc đó: Liệu anh ta có dám gọi điện làm phiền cô ấy lần thứ hai không?
Tôi nói với anh ta: “Cô ấy khá bực vì bị đánh thức vào lúc hai rưỡi sáng.”
Sau đó tôi nói: “Tôi chỉ muốn chỉ cho bạn mình vài thứ nữa thôi. Tôi sẽ ở đây thêm chừng 10 phút.”
Tôi bước ra ngoài, Rhoades theo ngay sau.
Hiển nhiên là tôi muốn chạy nhưng tôi biết mình không thể.
Chúng tôi tiến đến thang máy. Tôi đập nút đi xuống tầng trệt. Chúng tôi thở phào khi bước ra khỏi tòa nhà, sợ thót tim nhưng thực hạnh phúc vì đã thoát khỏi đó.
Và tôi biết điều gì sẽ xảy ra sau đó. Người phụ nữ kia sẽ điên cuồng gọi điện khắp nơi lúc nửa đêm, cố gắng tìm ra ai đó biết số điện thoại phòng bảo vệ của trung tâm Sunset-Gower.
Chúng tôi vào xe. Tôi lái qua vài dãy nhà mà không bật đèn xe, sau đó dừng lại và ngồi yên, nhìn ra phía cửa trước của tòa nhà.
Chỉ khoảng 10 phút sau, gã bảo vệ lực lưỡng lao ra, nhìn khắp xung quanh và biết rằng chúng tôi đã đi rất xa. Dĩ nhiên, hắn đã nhầm.
Tôi đợi đến khi hắn quay vào trong rồi mới lái xe đi và chỉ bật đèn xe sau khúc rẽ đầu tiên.
Một cú suýt chết. Nếu gã bảo vệ gọi cho cảnh sát, chúng tôi sẽ bị định tội đột nhập, và thậm chí tệ hơn là trộm cắp. Steve và tôi có lẽ đã bị tống ngay vào trại cải tạo dành cho thanh thiếu niên.
Tôi sẽ không quay lại công ty điện thoại sớm đâu, nhưng tôi đã quyết tâm phải tìm ra được điều gì đó – một điều lớn lao – để thử thách năng lực của mình.
❀ ❀ ❀
[1] 7* Rabbi: Thầy giảng đạo người Do Thái. (BTV)
[2] 8* Tấn công bằng kỹ thuật xã hội (social engineering): Phương pháp phi kỹ thuật được dùng để đột nhập vào hệ thống hoặc mạng công ty. Đó là quá trình đánh lừa người dùng của hệ thống, hoặc thuyết phục họ cung cấp thông tin có thể giúp các hacker đáng bại bộ phận an ninh. Có hai hình thức tấn công chính: Dựa vào kỹ thuật khai thác mối quan hệ giữa người với người (human-base) và dựa vào sự trợ giúp của máy tính (computer-base). (BTV)
[3] 9* Carnegie Hall là hội trường biểu diễn hòa nhạc nổi tiếng thế giới tại New York, Mỹ. Câu chuyện cười về Carnegie có nội dung về một người đi đường hỏi một nghệ sĩ đàn vừa bước ra khỏi taxi: “Làm thế nào để đến được Carnegie Hall?” Nghệ sĩ đàn đã trả lời không hề do dự: “Luyện tập”. (ND)
[4] 10* Phone phreaking (Lừa bịp qua điện thoại, hay còn gọi tắt là phreaking): Trò sửa đổi hệ thống điện thoại trái phép để thực hiện các cuộc gọi đường dài mà không phải trả phí; một dạng đùa nghịch phạm pháp. Người thực hiện hành vi này được gọi là phreaker. (Wikipedia)
[5] 11* Các hệ thống chuyển mạch điện tử thường dùng một bộ nhớ gọi là Vừa Thay đổi (Recent Change). Lý do là vì sự thay đổi người dùng và số điện thoại của họ khá thường xuyên, nên dữ liệu này được ghi vào một vùng đặc biệt của bộ nhớ. Trung tâm RCMAC có nhiệm vụ cập nhật Dữ liệu Vừa Thay đổi nếu có yêu cầu. (ND)
[6] 12* Máy tính cỡ trung (minicomputer): Những máy tính có kích thước lớn hơn máy tính cá nhân. Chúng thường được sử dụng trong kiểm soát quá trình sản xuất, chuyển mạch điện thoại và kiểm soát thiết bị phòng thí nghiệm. (BTV)
[7] 13* Băng giấy máy tính (punched tape): Băng đục lỗ bằng giấy, đây là phương thức lưu trữ dữ liệu bao gồm một dải giấy dài trên đó đục các lỗ mô phỏng dữ liệu. (ND)
[8] 14* Phising (tạm dịch: Tấn công giả mạo): Một phương thức lừa đảo nhằm giả mạo các tổ chức uy tín như ngân hàng, trang web giao dịch trực tuyến và các công ty thẻ tín dụng để lừa người dùng chia sẻ thông tin tài chính như tên đăng nhập, mật khẩu giao dịch hay những thông tin nhạy cảm khác của họ. (BTV)
[9] 15* Bộ chuyển tiếp sóng (repeater): Thiết bị dùng để thu và chuyển tiếp sóng vô tuyến điện. Đối với wifi, đây là thiết bị dùng để thu và khuếch đại sóng wifi. (BTV)
[10] 16* Từ gốc “geeky”: Tiếng lóng ám chỉ những người đam mê công nghệ và máy tính, có trình độ kiến thức nhất định. (ND)
[11] 17* Drive-through: Dịch vụ mua đồ trực tiếp ngay trên xe ô tô có làn đường riêng biệt, qua đó khách hàng có thể đặt món ở một cửa sổ và nhận đồ ở cửa sổ kế tiếp. (ND)